Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2022

1 NGƯỜI LÍNH “DU KÍCH VIỆT NAM” CHỈ TRONG 1 ĐÊM ĐÁNH CHÌM 2 TÀU VẬN TẢI QUÂN SỰ 5000 TẤN VÀ 4800 TẤN - NỖI KHIẾP SỢ CỦA KẺ THÙ!!

         Táo bạo đánh chìm tàu địch.
Đúng lúc đang đón Giao thừa chuẩn bị bước sang năm mới, Xuân Kỷ Dậu 1969, Thượng sĩ Hoàng Kim Nông, Tổ trưởng tổ chiến đấu thuộc Đại đội 1, Đoàn Đặc công 126 Hải quân (sau này là Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân) và chiến sĩ Nguyễn Văn Nhượng được cấp trên giao nhiệm vụ tiêu diệt tàu vận tải quân sự tại Cửa Việt, Quảng Trị. Thời điểm ấy, Cửa Việt có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, vì là nơi tiếp nhận, chứa trữ vũ khí, trang bị địch chuyển từ biển vào.

Theo tin trinh sát, Nông được biết, trên bờ, địch bố trí hơn 1.000 lính để tuần tra, bố phòng, canh gác; xung quanh chúng còn rào 3 hàng thép gai điện tử. Dưới sông, chúng dùng tàu tuần tiễu liên tục lùng sục, ném lựu đạn, bắn xả, ngăn không cho chiến sĩ người nhái của ta tiếp cận, đánh phá tàu. Nếu thoát được ba vòng thép gai điện tử thì cũng rất dễ dính phải lựu đạn thả rông dưới biển của địch. Mặc dù biết nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm, nhưng cả hai không hề run sợ. 

Đêm 20-2-1969, biển Cửa Việt tối đen như mực, trời rét căm căm, Nông và đồng đội bí mật ngụy trang, dễ dàng luồn qua ổ phục kích của địch và 3 lớp hàng rào, áp sát bờ sông Thạch Hãn. Mặc dù trời đêm, nhưng các chiến sĩ quan sát rõ tàu địch. Quanh tàu, địch liên tục ném lựu đạn xuống nước để ngăn chặn người nhái bám vào. 

Sau một thời gian quan sát thấy địch chỉ ném lựu đạn mạn tàu phía ngoài, còn mạn tàu phía trong cảng chúng không để ý, Nông đưa ra một quyết định táo bạo, đầy bất ngờ đó là bơi đường vòng vào trong cảng rồi sau đó lại bơi ra tiếp cận mục tiêu. Đúng lúc cả hai bí mật bơi ra giữa sông thì một làn đạn từ tàu địch bắn xối xả. Chiến sĩ đi cùng bị thương vào chân không thể tiếp tục bơi được nữa, Nông phải dùng dây buộc đồng đội vào người cùng với 4 quả mìn rồi rướn mình bơi tiếp. 

Vào gầm cảng, anh mới cởi dây ra, để Nhượng bám lấy trụ cầu, rồi tiếp tục bí mật bơi ra một đoạn để xác định vị trí đặt mìn vào hai chiếc tàu to nhất. Sau khi lấy hơi, Nông lặn sâu xuống nước áp sát mạn tàu địch, rồi cài mìn hẹn giờ mỗi tàu hai quả. Xong xuôi, Nông bơi ngược ra gầm cảng, buộc Nhượng vào người rồi lại tiếp tục bơi về vùng an toàn.

Sáng hôm sau, đơn vị được cơ sở báo: Một chiếc tàu trọng tải 5.000 tấn, một chiếc tàu trọng tải 4.800 tấn của địch đã bị nổ tung và chìm xuống biển. Cách đánh này sau đó đã được rút kinh nghiệm, nhân rộng, khiến địch không chống đỡ nổi. Sau chiến công này, Thượng sĩ Hoàng Kim Nông vinh dự được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất./.
Yêu nước ST.

CÁC NGƯỜI HÃY THÔI NÓI!

         Hàng năm cứ đến tháng 4 về là y như rằng các đối tượng ở hải ngoại và những “nhân sĩ, trí thức” theo “xã hội dân sự” trong nước lại tập trung ra rả những luận điệu cũ rích, nhai đi nhai lại đến mòn cả răng những bài xưa, lối cũ, khiến cho “ngưu ma vương” cũng cúi đầu chịu bái phục. Biết thế nào trong thời gian tới những luận điệu kể trên cũng sẽ được phát, vậy nên để sẵn mấy lời trước gọi là “thần cơ diệu toán”. 

Thứ nhất, các người hãy thôi ca ngợi cái gọi là “anh hùng tử khí hùng bất tử” khi nói về những tướng lĩnh của ngụy quân Sài Gòn đã tự sát, trước trong và sau ngày 30/4/1975, đừng ca ngợi họ là “tuẫn tiết vì nước”.

Một số tướng như Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ đã tự sát, họ tự sát là vì nỗi ô nhục khi đang tâm, tình nguyện làm nô bộc cho Hoa Kỳ; chém vào tổ quốc này những vết chém ngang lưng, chia đôi sơn hà của tổ tiên để lại, giúp cho người Mỹ mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. Không đau, không nhục sao được khi mà người Việt Nam lại phò trợ ngoại bang để thôn tính chính quê cha đất tổ của mình, chỉ vì hám danh hám lợi. Tuẫn tiết ư? Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu thủ thành, thành mất tướng cũng tuẫn tiết theo thành, chết là để sống mãi với non sông đất nước, thế mới gọi là tuẫn tiết vì nước. Còn những tướng ngụy kia họ đại diện cho ai, lý tưởng là gì thì đến chính họ còn không hiểu, đứng vấy bẩn lên hai từ thiêng liêng “tuẫn tiết”. Cũng có thể họ sợ đồng bào miền Nam sẽ trả thù vì những tội ác mà họ gây ra cho đồng bào hoặc đó chỉ là hậu quả của việc người Mỹ tuyên truyền về cái gọi là “cộng sản sẽ tắm máu nếu chiếm được Sài Gòn”. Chết vì nhục, vì sợ chứ tuẫn tiết nỗi gì!

Thứ Hai, các ngươi thôi ca ngợi “quân lực VNCH” với khẩu hiệu “tổ quốc, danh dự, trách nhiệm”!

Tổ quốc ở đâu khi các người rước Hoa Kỳ và đồng minh vào để băm vằm, cày xới lên cơ thể của đất nước? Tổ quốc có thể hiểu là đất nước do tổ tiên từ bao đời đã lấy máu đào để bảo vệ, xây dựng và để lại cho con cháu, truyền từ đời này sang đời khác; các người hết làm ưng khuyển cho Pháp, lại làm đầy tớ của Mỹ, muốn chia đôi, xẻ thịt giang sơn mà tổ tiên để lại thì thử tổ quốc ở đâu trong trường hợp này?

Danh dự, “làm trai sống ở trong trời đất/phải có danh gì với núi sông”, danh dự cái gì khi các người nhận giặc làm cha, bán rẻ linh hồn cho ngoại bang và mặc cho chúng cấu xe non sông này, danh dự gì khi các người khấu đầu trước giặc nhưng lại đạp lên đầu nhân dân Việt Nam.

Trách nhiệm, “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, nghĩa là đất nước khi thịnh vượng cũng như lúc suy vong thì mỗi người đều có trách nhiệm để xây dựng và bảo vệ, các người bán đứng tổ quốc không chỉ một, hai mà đến ba lần (Pháp, Nhật, Mỹ), là gia nô ba họ của ngoại bang thì đào đâu ra cái gọi là trách nhiệm với đất nước. Trách nhiệm với tổ quốc là phải như những người cộng sản, họ quyết tử cho tổ quốc quyết sinh và bây giờ đang xây dựng một Việt Nam ngày càng giàu mạnh, cơm ngon, áo đẹp.

Thứ ba, các người thôi nói “Cộng sản là độc tài, bao năm giải phóng nhưng đất người vẫn đói nghèo”!

Vâng, cộng sản là “độc tài”, độc tài ở đây có nghĩa là đầy tài năng và độc đáo trong cách xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Không tài, không độc đáo mà lần lượt đánh bại Pháp, Nhật, Mỹ, Tàu, Pôn Pốt để bảo vệ tổ quốc; không tài không độc đáo mà xây dựng một Việt Nam có cơ đồ to lớn như hôm nay. Nên nhớ, sau khi mới giải phóng, quy mô nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 180/190 nước, và bây giờ (2021) Việt Nam nằm trong 33 nền kinh tế lớn nhất thế giới, thu nhập thuộc hàng trung bình, đến cuối năm năm GDP bình quân đầu người khoảng 3.700 USD, nếu tính theo giá sức mua tương đương là khoảng 11.000 USD; quy mô nền kinh tế đến hết 2021 sẽ thứ 3 Đông Nam Á (sau Indonesia và Thái Lan)…Đừng bảo Việt Nam là đói nghèo nữa, có thể so với một số quốc gia phát triển thì chúng tôi chưa bằng nhưng đem so với đám ăn bám, ký sinh trùng trên cơ thể ngoại bang, khát nước toàn tập thì chúng tôi là ánh trăng rằm còn các người chưa bằng con đom đóm, lập lòe, lúc ẩn lúc hiện. 

Bầu cử Đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp năm 2021 đã diễn ra thành công rất tốt đẹp, người dân Việt Nam hào hứng đi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, cầm lá phiếu bầu ra người đủ đức, tài vào các vị trí chủ chốt của đất nước. Người dân tự chọn người mà mình tín nhiệm để đại diện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình và dân tộc mình, sao gọi là “độc tài”. Độc tài mà lấy nhân dân làm trung tâm, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh; kể cả thời bình mà máu các chiến sĩ, cán bộ, đảng viên vẫn đổ khi cứu hộ cứu nạn, khi giữ gìn an ninh, trật tự, phòng biên…

Thứ tư, các ngươi thôi kêu gào “lấy lại đất tổ, không làm khổ dân”!

Nước Việt hùng anh và đời đời văn hiến vẫn đang thuộc quyền làm chủ của cháu Hồng, con Lạc, có mất cho Tây, cho tàu đâu mà “phục quốc” mà kêu gào “lấy lại đất tổ”. Câu đó phải để những người cộng sản nói, không có cộng sản thì lấy ai đánh Pháp, đuổi Mỹ để lấy lại đất tổ trong tay ngoại bang, không có cộng sản Việt Nam thì lấy ai giữ vững chủ quyền khi mà các ngươi đã từng hiến miền Nam Việt Nam cho Mỹ, làm mất rất nhiều đảo vào tay Campuchia, Đài Loan, Malaysia ở Trường Sa và vùng biển phía Nam, và mất cả quần đảo Hoàng Sa 1974; những đảo đó, nếu lấy lại được thì chắc chắn cũng chỉ có những người cộng sản Việt Nam mới đủ tư cách và trí tuệ, hào khí để lấy lại trong tương lai. 

Những kẻ 47 năm quan vẫn chống phá quê hương đất nước, vẫn hận thù, hằn học với sự phát triển của đất nước mới là giống vô loài (tất nhiên chỉ là thiểu số). Dân tộc Việt Nam đoàn kết dưới ánh sáng của ngọn đuốc vĩnh cửu do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, soi đường; quốc dân đồng bào ta vẫn luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng quang vinh. Chúng tôi vẫn nắm tay nhau sánh bước tiến lên, mặc cho đàn chó bên đường vẫn sủa những tiếng thất thanh./.
Yêu nước ST.

Từ việc Đảng ta đề ra Quy định 37, đó là lẽ tự nhiên, là việc làm thường lệ, nhưng cũng rất quan trọng cấp thiết hiện nay

Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về những điều đảng viên không được làm. Những điều không được làm đó không chỉ là vấn đề “trái tai gai mắt”, mà đó là sự suy thoái, thậm chí là vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước nên cần có quy định để ngăn chặn, phòng ngừa. Tuy nhiên, bên cạnh sự đồng tình của đa số cán bộ, đảng viên về sự cần thiết phải ban hành Quy định này, có ý kiến cho rằng, nên chăng, cứ giữ nguyên quy định cũ, bởi đã ăn sâu vào tiềm thức đảng viên, vấn đề quan trọng là mỗi đảng viên có tự giác chấp hành nó trong thực tiễn hay không, v.v. Thực ra, ý kiến trên không phải không có cơ sở, nhất là mong muốn đưa những điều đảng viên không được làm thực sự đi vào cuộc sống; trở thành nếp sống hằng ngày đối với cán bộ, đảng viên. Nhưng ngẫm lại thì ý kiến đó chưa thật đúng và đầy đủ. Bởi lẽ, với tốc độ phát triển của xã hội ngày nay, một quy định ban hành cách đây hơn 10 năm sẽ có nhiều điều không còn phù hợp. Hơn nữa, đây lại là những điều liên quan trực tiếp đến từng cán bộ, đảng viên và sức mạnh nội sinh của Đảng, nếu không có định hướng, quy định chặt chẽ, khoa học,… thì khó có thể đạt hiệu quả trong thực tiễn. Vì thế, Quy định 37 của Đảng như một lẽ tự nhiên, là việc làm thường lệ, nhưng cũng rất quan trọng cấp thiết. Với nội hàm đầy đủ, chặt chẽ, lô gic vừa có tính kế thừa, vừa được bổ sung, sửa đổi những nội dung mới phù hợp, Quy định số 37 được xem như khung tiêu chuẩn; là mệnh lệnh mới của Đảng đối với mỗi cán bộ, đảng viên; dù bất cứ ở cương vị nào đều phải tự giác chấp hành, không có sự ưu ái, thiên vị hay ngoại lệ. Trong gia đình, "Gia có Gia quy", cha mẹ sinh con ra, ai cũng muốn con mình luôn khỏe mạnh, ngoan ngoãn, trưởng thành, có ích cho gia đình và xã hội nên thường chú tâm dạy bảo cho con những điều hay lẽ phải, lấy hành vi tốt của người này để khuyên con bắt chước làm theo, lấy hành động xấu của người kia đặng nhắc con nên tránh. Và, việc dạy con không được làm những điều “trái tai gai mắt” đã được cha mẹ định hình từ lúc bé. Từ chuyện không được làm của xã hội để ngẫm về những điều đảng viên không được làm theo Quy định số 37. Những điều không được làm đó không chỉ là vấn đề “trái tai gai mắt”, mà đó là sự suy thoái, thậm chí là vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước nên cần có quy định để ngăn chặn, phòng ngừa. Tuy nhiên, bên cạnh sự đồng tình của đa số cán bộ, đảng viên về sự cần thiết phải ban hành Quy định này, có ý kiến cho rằng, nên chăng, cứ giữ nguyên quy định cũ, bởi đã ăn sâu vào tiềm thức đảng viên, vấn đề quan trọng là mỗi đảng viên có tự giác chấp hành nó trong thực tiễn hay không, v.v. Thực ra, ý kiến trên không phải không có cơ sở, nhất là mong muốn đưa những điều đảng viên không được làm thực sự đi vào cuộc sống; trở thành nếp sống hằng ngày đối với cán bộ, đảng viên. Nhưng ngẫm lại thì ý kiến đó chưa thật đúng và đầy đủ. Bởi lẽ, với tốc độ phát triển của xã hội ngày nay, một quy định ban hành cách đây hơn 10 năm sẽ có nhiều điều không còn phù hợp. Hơn nữa, đây lại là những điều liên quan trực tiếp đến từng cán bộ, đảng viên và sức mạnh nội sinh của Đảng, nếu không có định hướng, quy định chặt chẽ, khoa học,… thì khó có thể đạt hiệu quả trong thực tiễn. Vì thế, Quy định 37 của Đảng như một lẽ tự nhiên, là việc làm thường lệ, nhưng cũng rất quan trọng cấp thiết. Với nội hàm đầy đủ, chặt chẽ, lô gic vừa có tính kế thừa, vừa được bổ sung, sửa đổi những nội dung mới phù hợp, Quy định số 37 được xem như khung tiêu chuẩn; là mệnh lệnh mới của Đảng đối với mỗi cán bộ, đảng viên; dù bất cứ ở cương vị nào đều phải tự giác chấp hành, không có sự ưu ái, thiên vị hay ngoại lệ. Cũng chẳng có gì khó hiểu, khó làm theo Quy định số 37 cả, nếu như mọi cán bộ, đảng viên xác định rõ vai trò, vị trí của nó để tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, nâng cao năng lực công tác, thực sự gương mẫu đi đầu, đề cao trách nhiệm thực hiện thật tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Cùng với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”, không để suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Với tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, hành động nêu gương tốt của đảng viên sẽ được nhân lên, lan tỏa những giá trị tốt đẹp cho toàn xã hội. Từ việc Đảng ta đã đề ra Nghị quyết, Điều lệ, Chỉ thị, Quy định,… thì mọi cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối chấp hành. Song, dù Nghị quyết, Điều lệ, Chỉ thị, Quy định,… của Đảng có chi tiết, cụ thể đến đâu cũng không thể bao phủ hết thực tiễn sinh động của cuộc sống. Do đó, điều quan trọng hơn cả vẫn từ ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi của mỗi đảng viên, theo phương châm: “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Những ai không như thế, thì đã tự đưa mình ra “ngoài vòng pháp luật”, trở thành những người phai nhạt lý tưởng cách mạng, phản bội lại Đảng, phụ bạc lòng tin của nhân dân dù rằng họ cố tìm mọi cách quanh co, lấp liếm, hòng đổ lỗi cho hoàn cảnh hay bất cứ lý do nào khác.

CÂU NÓI BẤT HỦ CỦA HUYỀN THOẠI QUYỀN ANH MUHAMMAD ALI!

         Muhammad Ali vận động viên quyền Anh, được tạp chí thể thao Sports Illustrated và BBC tôn vinh là "vận động viên của thế kỷ".
Ali được coi như một biểu tượng mọi thời đại trong làng quyền anh thế giới vì những thành tích mà chưa ai có thể sánh được: Thắng 56 trận (37 knockouts, 19 tính điểm), Thua 5 (4 tính điểm, 1 TKO), Hòa 0.
Ông đã nhận được cả sự ủng hộ lẫn sự lên án của hàng triệu người dân Mỹ và thế giới sau khi chính thức cải đạo sang Hồi giáo dòng Sunni và tuyên bố đã gia nhập “Quốc gia Hồi giáo” – phong trào tôn giáo của những người Hồi giáo Mỹ gốc Phi. Sau đó, ông Ali lại gây “chấn động” hơn nữa khi có những bài phát biểu về vấn đề chủng tộc, công khai tình bạn với nhà hoạt động vì quyền lợi của người thiểu số Malcolm X và đặc biệt là chống lại lệnh nhập ngũ để tham chiến tại Việt Nam.
Ông từng bị nhận án 5 năm tù giam đồng thời bị phạt 10.000 đô la vào năm 1967 vì không chịu nhập ngũ tham gia chiến tranh tại Việt Nam.
Ông đã công khai phỉ báng và từ chối vào quân đội Mỹ, dựa trên niềm tin tôn giáo của mình và phản đối chiến tranh Việt Nam: Tại sao tôi phải đi 10 ngàn dặm để thả bom lên đầu những người Việt Nam vô tội trong khi ở người da đen ở Louisville (Mỹ) đang bị đối xử như những con chó và không có được những quyền cơ bản nhất của một con người.
Ông qua đời 2016 hưởng thọ 74 tuổi./.
Môi Trường ST.

CÔNG XÃ PARIS - TUẦN LỄ ĐẪM MÁU VÀ BÀI HỌC RÚT RA!

         Cách đây 151 năm, cuộc khởi nghĩa dẫn đến công xã nổ ra ngày 18/3/1871.
Ngày 26/3/1871 công xã ra đời, là hình thức nhà nước của giai cấp vô sản đầu tiên. Sau 2 tháng tồn tại, do sự bao vây, đàn áp của liên minh giữa quân đội tư sản Pháp và quân xâm lược Đức, lại bị những kẻ tiểu tư sản trong hàng ngũ phản bội, công xã đã bị dìm trong bể máu và thất bại.

“Tuần lễ đẫm máu” diễn ra từ 21/5 đến 28/5/1871. Ngay sau khi tái chiếm Paris, chính quyền tư sản Pháp đã xử bắn hơn 10.000 chiến sỹ công xã (ảnh), hơn 40.000 người bị đưa đi đày, lao động khổ sai và hầu hết đều bị sát hại.

Tuy thất bại, nhưng công xã Paris đã cung cấp những kinh nghiệm quan trọng giúp phong trào Marxit xây dựng nền tảng lý luận và chính trị để lãnh đạo cách mạng một cách vững chắc, thể hiện cao nhất trong việc Đảng Bolshevik của Lenin đã đúc kết kinh nghiệm Công xã để giành và giữ chính quyền trong Cách mạng tháng Mười năm 1917. 

Marx, Engels và Lenin đã kết luận rằng nhà nước không phải là “công cụ để hòa giải các giai cấp” mà là sản phẩm của đấu tranh giai cấp và là công cụ chuyên chính để giải quyết sự không thể hòa hợp của các đối kháng giai cấp. 

Kinh nghiệm của Công xã Paris và sự phân tích về nhà nước của các nhà Marxit vĩ đại có ý nghĩa sâu rộng. Cho thấy quan điểm cải lương, hy vọng sử dụng nhà nước tư bản để giảm bớt sự đối kháng giai cấp và mang lại hòa bình và thịnh vượng lâu dài, là sai lầm và vô vọng (theo kiểu “XHCN dân chủ”, “Nhà nước phúc lợi” Bắc Âu mà một số nước Mỹ Latinh hiện đang muốn áp dụng theo). Quan điểm vô chính phủ cũng vậy, khi kêu gọi giải tán mọi hình thức quyền lực nhà nước - do đó phản đối việc hình thành nhà nước công nhân đối lập với bạo lực phản cách mạng của giai cấp tư sản thống trị.

Lenin nhấn mạnh kết luận của Marx rằng “giai cấp công nhân không thể chỉ nắm giữ bộ máy nhà nước chế tạo sẵn và sử dụng nó cho các mục đích riêng của mình”. Mà thay vào đó, giai cấp công nhân phải xây dựng nhà nước của chính mình, như công nhân Paris đã làm năm 1871. Điều này trước hết có nghĩa là, xây dựng một đảng để làm cho giai cấp công nhân thấm nhuần ý thức chính trị và lịch sử và sự cần thiết của một chính sách cách mạng. Đồng thời, nhà nước đó không được phép buông lỏng chuyên chính, phải tập hợp sức mạnh để trấn áp tận gốc sự chống đối của tư sản, đồng thời tuyệt đối không được phép mơ hồ, thỏa hiệp với tầng lớp tiểu tư sản luôn nghiêng ngả và sẵn sàng phản bội lợi ích của giai cấp vô sản.

Chuyên chính ngày nay được thể hiện dưới hình thức “nhà nước pháp quyền”, nhưng bản chất vẫn là chuyên chính, với nhà nước tư sản là chuyên chính tư sản và nhà nước vô sản là chuyên chính vô sản. Những bài học đó, mãi còn nguyên giá trị với các cuộc cách mạng vô sản và các giai đoạn của cách mạng. 

Với Việt Nam ta, điều đó đã tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết Đại Hội XIII, với yêu cầu “tăng cường bản chất công nhân của Đảng”, xây dựng liên minh công - nông - trí bền vững, trên lập trường cách mạng của giai cấp công nhân./.
Môi Trường ST.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí cần thiết phải làm rõ đúng - sai, công khai hành xử

Dư luận thời gian gần đây đặc biệt quan tâm và vô cùng phấn khởi trước thái độ không khoan nhượng của Đảng và Nhà nước ta về việc chống tham nhũng, lãng phí. So với trước đây, “Bao Công” thời nay xuất hiện ngày càng nhiều, đặc biệt từ nhiệm kỳ Đại hội XII, nhất là từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng. Điều đó cho thấy, không có bao che, dung túng, không có vùng cấm, không có một sự “ưu ái” nào cho bất cứ ai. Nói cách khác là không có sự chống lưng, đỡ đầu nào đối với các hành vi vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Có được sự chuyển biến tốt đẹp ấy, phải chăng có nguyên nhân cốt lõi là Đảng và Nhà nước ta đã thật sự coi tham nhũng, lãng phí như một thứ “giặc nội xâm” và kiên quyết triệt phá. Vì thế, rất nhiều lượt đoàn cán bộ của Trung ương Đảng, bộ, ngành đi sâu sát cơ sở để kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Qua đó, kịp thời cổ súy, động viên những việc làm đúng, có tính sáng tạo, chất lượng, hiệu quả cao để nhân rộng, nêu gương, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội để các nơi khác học tập, làm theo; đồng thời, phát hiện những việc làm sai, gây hậu quả xấu ở các địa phương, cơ sở để uốn nắn, chấn chỉnh. Kiểu “Khang Hy vi hành” như trước đây đã mang lại hiệu quả thật sự là đánh giá đúng tình hình, nhận xét đúng chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt, nắm bắt đầy đủ những vướng mắc, kiến nghị ở cơ sở, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Đây là cơ sở chính trị để Đảng và Nhà nước ta kịp thời điều chỉnh chủ trương, chính sách phù hợp với thực tiễn đất nước và khu vực. Đúng và sai, đồng nghĩa với tốt và xấu. Chỉ vỏn vẹn hai từ ấy thôi, mà trong cuộc sống đời thường biết bao nhiêu điều cần thiết phải đưa ra mổ xẻ, phân tích để làm cho ra nhẽ đâu là chân thật, đâu là dối trá. Nhưng thói đời không đơn giản như nhiều người nghĩ, bởi còn quá nhiều mưu mô, chước quỷ để trốn tránh ánh sáng công lý, còn quá nhiều âm mưu, thủ đoạn nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta của các thế lực thù địch và bọn phản động trong nước, gây tác hại khó lường đến cuộc sống bình thường của người dân, theo kiểu “đẹp khoe xấu che”, “gió chiều nào xoay chiều ấy”, “núp bóng chờ thời”, v.v. Bởi vậy, trong cuộc sống đời thường luôn đan xen cái đúng và sai, mà trớ trêu là không phải ai cũng có thể nhận ra ngay, hoặc khi nhận ra sự sai trái thì việc đã rồi !. Cho nên, thời gian qua nhiều cán bộ bị dính chàm vướng vòng lao lý cũng từ nguyên nhân không chịu hoặc chậm nhận ra sai sót, khuyết điểm của mình. Tất nhiên có nhiều nguyên nhân, nhưng sâu xa vẫn là do thiếu thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi làm rõ đúng - sai, phải công khai hành xử, đây vừa là mục đích, vừa là yêu cầu cần phải đạt được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhất là đối với việc kiểm tra, thanh tra, giám sát của cấp ủy, chính quyền và các cơ quan chức năng. Trong đó, công khai xử lý là biểu hiện thái độ rõ ràng, minh bạch, dứt khoát không bao che, dung túng, không “giơ cao đánh khẽ” của những “Bao Công” thời nay, để mọi vụ việc phải được nhìn nhận theo hướng khách quan - toàn diện - lịch sử - cụ thể và phát triển. Tuyệt nhiên, không để xảy ra tình trạng bị tác động tiêu cực làm “méo mó” trong tiếp nhận vụ việc, bảo đảm rõ đúng - sai, rồi công khai xử lý mới thu phục được lòng dân. Có như thế, niềm tin của cán bộ và quần chúng nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa mới được củng cố, phát triển bền vững.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về đoàn kết dân tộc

 


Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, cách mạng muốn thành công thì đoàn kết dân tộc là nhân tố cực kỳ quan trọng, là vấn đề sinh tử của cách mạng. Bởi lẽ, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Giai cấp vô sản muốn hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình thì trước hết phải tự mình trở thành dân tộc. Liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng.

Lênin cho rằng, sự liên kết giai cấp, trước hết là liên minh công nông là hết sức cần thiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản. Nếu không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó - tức giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được.

Đoàn kết toàn dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở lý tưởng, mục tiêu cách mạng. Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp vô sản đồng thời thực hiện giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại khỏi mọi ách áp bức, bóc lột. Do đó, xét về cơ bản lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và lợi ích của dân tộc là thống nhất với nhau. Sự thống nhất về những lợi ích cơ bản đó là điều kiện, cơ sở xây dựng và phát huy đoàn kết dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Đảng Cộng sản là hạt nhân của khối đoàn kết toàn dân tộc. Đảng Cộng sản mỗi nước trước hết phải xây dựng khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác làm cơ sở, nền tảng của khối đoàn kết toàn dân tộc.

Đại đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc ta

 


Đại đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, được hun đúc trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước; là một trong những nhân tố quyết định sự trường tồn của dân tộc và là bài học lớn của cách mạng nước ta. Cách mạng Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới nhằm thực hiện mục tiêu: "Phấn đấu đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, tình hình thế giới đang thay đổi hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đề ra, đòi hỏi tiếp tục phát huy sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giải phóng mọi tiềm năng, phát huy mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế; phát huy sức mạnh của truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc và ý chí kiên cường của người Việt Nam.

Chính sách dân tộc trên lĩnh vực bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt nam hiện nay

 


    -Nhằm tuyên truyền giáo dục, vận động đồng bào ở vùng có tài nguyên để nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường, sinh thái, đa dạng sinh học.

    -Sử dụng khai thác và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái vùng đồng bào DTTS theo quy định của pháp luật. Bảo vệ cải tạo và đảm bảo cho vùng có tài nguyên được đầu tư trở lại phù hợp

+Quyết định 2406/QĐ-TTg, ngày 18/12/2011 ban hành danh mục các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012-2015, trong đó có mục tiêu nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;

+ Nghị định số 99/2010/NĐ-TTg của Chính phủ, ngày 24/9/2010 Về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng…

*Về quốc phòng,an ninh

- Nhằm củng cố các địa bàn chiến lược, giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc và quan hệ dân tộc trong mối liên hệ tộc người, giũa các tộc người và liên quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa.

- Tập trung đầu tư nguồn lực xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân nhằm giữ vững trật tự an toàn xã hội và ổn định chính trị

+ Quyết định số 120/2003/QĐ-TTg ngỳa 11/6/2003 Về phê duyệt phát triển kinh tế- xã hội tuyến Biên giới Việt –Trung đến năm 2010

+Quyết định số 160/2007/QĐ-TTg, ngỳa 17/10/2007 Về phê duyệt phát triển kinh tế- xã hội tuyến Biên giới Việt –Lào và Việt Nam- Camphuchia đến năm 2010

+ Nghị quyết số 1059/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ngỳa 9/11/2015 Về kết quả giám sát và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật vè kết kợp kinh teé với QP-AN

 

Mục tiêu cao nhất của xã hội XHCN là giải phóng con người, giải phóng giai cấp, tạo mọi điều kiện để phát triển toàn diện con người.

 

 

+ CNXH, chủ nghĩa cộng sản đều có chung mục đích cao nhất là giải phóng con người, giải phóng giai cấp khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, tạo điều kiện để phát triển toàn diện con người; trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tư do của tất cả mọi người. Mục tiêu chung đó thể hiện bản chất nhân văn, nhân đạo cao cả của chủ nghĩa cộng sản.

+ Tính ưu việt của CNXH, chủ nghĩa cộng sản là xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra. Mác - Ăng ghen khẳng định, trong quá trình cách mạng, giai cấp công nhân khi đã trở thành giai cấp thống trị “thì đồng thời với việc tiêu diệt những quan hệ sản xuất ấy, nó cũng tiêu diệt luôn cả những điều kiện tồn tại của sự đối kháng giai cấp, nó tiêu diệt các giai cấp nói chung và cũng do đấy, tiêu diệt cả sự thống trị của chính nó với tư cách là một giai cấp”[1].



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t4, tr628

Chính sách dân tộc trên lĩnh vực văn hóa- xã hội ở Việt nam hiện nay

 


   - Tập trung vào các vấn đề xóa đói, giảm nghèo, phát triển giáo dục- đào tạo, văn hóa, y tế…nhằm nâng cao năng lực, tạo tiền đề và cơ hội để các dân tộc có đầy đủ các điều kiện tham gia vào quá trình phát triển, trên cơ sở đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào

    - Chú trọng ưu tiên đầu tư cho các vùng khó khăn, vùng có đông đồng bào DTTS, từng bước giảm chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc, các vùng, miền.

    -Cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các tuyến cơ sở, ưu tiên các huyện nghèo, các xã nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS. Nâng cao hiệu quả sử dụng bảo hiểm y tế đối với đồng bào DTTS, vùng miền núi, các hộ nghèo.

   -Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số.

   -Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc đi đôi với sử dụng ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào DTTS học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Phát hiện bồi dưỡng, tổ chức lực lượng sáng tác, sư tầm nghiên cứu văn hóa, văn học, nghệ thuật là người DTTS

+ Quyết định số 2086/QĐ-TTg ngỳa 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án hỗ trợ phát triển kinh tế- xã hội các DTTS rất ít người giai đoạn 2016- 2025

+ Quyết định số 62/2005/QĐ-TTg ngỳa 24/3/2005 Về chính sách hỗ trợ thực hiện giáo dục trung học

+ Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngỳa 27/7/2011 Phê duyệt đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020

+ Quyết định số 414/QĐ-TTg ngỳa 12/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ đồng bào DTTS phát triển KT-XH và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bòa DTTS giai đoạn 2019-2025

+ Nghị định số 146/2018/NĐ-CP của Chính phủ về hỗ trở 100% chi phí khám chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế cho đồng bào DTTS sống tại địa bàn khó khăn…

Tình hình Việt Nam trong 30 năm nghiệp đổi mới

 


Đất nước bị bao vây, cấm vận và thoát khỏi bao vây, cấm vận; bị rơi vào và từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội; hoàn thành những nhiệm vụ của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

- Trong 10 năm tiếp theo:

Đất nước ổn định, các khó khăn, thách thức dần được khắc phục; sản xuất phát triển, tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện; chính trị -xã hội ổn định, vai trò, vị thế quốc tế được nâng lên, thế, lực, sức mạnh tổng hợp đất nước được nâng cao.

- Trong 10 năm gần đây:

Đất nước thoát khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đạt tốc độ tăng trưởng khá, chính trị - xã hội ổn định, quan hệ quốc tế mở rộng.

Những khó khăn, thách thức vẫn còn nhiều: ảnh hưởng tiêu cực từ suy thoái kinh tế, khủng hoảng tài chính toàn cầu; những thách thức bất ổn về vĩ mô (tài chính, ngân hàng, cơ cấu kinh tế, lạm phát...), suy giảm đà tăng trưởng kinh tế trong nước; sự chống phá của các thế lực thù địch, nhất là chiến lược "Diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ; những diễn biến phức tạp trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nhất là trên Biển Đông...

Tình hình thế giới, khu vực những năm qua tác động đến Việt nam

 


- Từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX, CNXH hiện thực rơi vào thoái trào, các nước tư bản do điều chỉnh, thích ứng nên đã vượt qua một số khó khăn, phát triển. CNXH phải đổi mới, cải tổ để thoát khỏi khó khăn. Điều này thành xu thế khách quan ở nhiều nước XHCN.

 - Xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới diễn ra với quy mô ngày càng lớn và nhịp độ cao đã thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập của nước ta, cho phép nước ta  tranh thủ được các nguồn lực bên ngoài (vốn, công nghệ và thị trường) để phát triển kinh tế-xã hội. Bên cạnh đó, cũng đặt nước ta vào thế cạnh tranh quyết liệt bởi các nền kinh tế phát triển hơn trong khu vực và thế giới.

- Việt Nam và Hoa Kì bình thường hóa quan hệ từ đầu năm 1995 và nước ta đã trở thành thành viên của ASEAN từ tháng 7-1995. ASEAN đã trở thành một liên kết khu vực gồm 10 nước và là nhân tố quan trọng để thúc đẩy sự hợp tác toàn diện giữa các nước trong khối và với các nước ngoài khu vực.

Nước ta cũng tham gia vào Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), đẩy mạnh quan hệ song phương và đa phương. Từ tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).  

Điều đó đã cho phép nước ta đẩy mạnh buôn bán, mở rộng hợp tác với các nước trong và ngoài khu vực; thực hiện các chính sách tăng cường thu hút đầu tư, chuyển giao KHKT, giao lưu văn hóa, hợp tác phát triển nguồn nhân lực, …. giải quyết các vấn đề về Biển Đông và sông Mê Công. Tuy nhiên, nước ta cũng chịu sự cạnh tranh bởi các nước trong khu vực trong sản xuất và xuất khẩu

 - Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại vào cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI trên thế giới cho phép nước ta tiếp thu các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, đi tắt đón đầu công nghệ, tận dụng các nguồn lực bên ngoài để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều đó cũng đặt ra thách thức về nguy cơ tụt hậu nếu chúng ta không nắm bắt cơ hội phát triển.

- Hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, chủ đạo hiện nay trên thế giới.

- Khu vực Đông Nam Á, Châu Á- Thái bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động, nhưng tiềm ẩn nhièu tranh chấp, xung đột và đan xen lợi ích.

Là cán bộ phải luôn coi trọng chữ “tâm”, phải “có tâm, có tầm” không làm tổn hại đến uy tín của Đảng, niềm tin của nhân dân

Trong Truyện Kiều của Đại văn hào Nguyễn Du có đề cập “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Chữ tâm có nhiều nghĩa, nhưng chung quy lại có thể thấy ý nghĩa chủ đạo của nó phản ánh đạo đức, nhận thức, suy nghĩ, tình cảm của con người (lương tâm, tâm trí, tâm hồn, tâm trạng, tâm can, tâm địa,…). Trong Phật giáo cũng luôn coi chữ “tâm” là phạm trù quan trọng, cơ bản, chủ đạo của con người “tâm dẫn đầu các pháp”. Một người vừa có đức, vừa có tài thì được gọi là “có tâm, có tầm”. Trong quá trình tập trung sức người, sức của để phòng, chống đại dịch Covid-19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, đội ngũ bác sĩ, y sĩ ngành Y tế và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang đã không quản ngại hy sinh, khó khăn, gian khổ có mặt nơi tuyến đầu “chống giặc” Covid-19. Nhiều doanh nghiệp ủng hộ hàng trăm, hàng chục tỷ đồng; nhiều người dân ủng hộ tiền; có cụ bà chống gậy mang theo mớ rau, chục trứng đến các chốt ủng hộ cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ kiểm soát dịch, v.v. Người ta gọi những người đó là có “tâm”. Trong dịp kỷ niệm 95 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, cánh nhà báo chúng tôi nhận được nhiều lời chúc “tâm sáng, bút sắc”, hàm ý chúc những người làm báo khi tác nghiệp phải có tâm, có đức, công tâm, khách quan và viết cho hay, cho sắc sảo, v.v. Bàn về chữ “tâm”. Vừa qua, khi nói về lựa chọn nhân sự cho đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng thành công tốt đẹp, các chủ trương, chỉ tiêu, phương hướng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,… được thảo luận kỹ, thống nhất cao. Nhắc lại trong công tác chuẩn bị nhân sự tham gia Ban Chấp hành khóa tới, chuyện cái "tâm" không được sáng cần phải bàn luận, đánh giá, xem xét lại. Vẫn có việc tranh thủ bổ nhiệm cấp tốc con, cháu vào các vị trí cao hơn để kịp tính chuyện tham gia nhân sự Ban Chấp hành khóa tới. Bởi tham quá, cái “tâm” không sáng dẫn đến mọi tính toán đã bị đổ bể, bị trượt. Thiết nghĩ, “tâm, đức” của con người không phải là có sẵn, bất biến, mà phần lớn do tu dưỡng, rèn luyện mà nên. Như Bác Hồ từng nói: cán bộ phải rèn luyện đạo đức cũng như “Ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở khi đánh giá cán bộ phải thực tâm, “có con mắt tinh tường”: “đừng nhìn gà hoá cuốc”, “đừng thấy đỏ tưởng là chín”, đừng chỉ thấy “cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong”. Khi mà cái “tâm” không sáng thì hành động ắt sẽ không thiện, thậm chí là “tối”. Thực tế có không ít trường hợp đầu nhiệm kỳ, khi mới nhận chức là người có tinh thần trách nhiệm cao, công tâm, gương mẫu, tâm huyết, tận tụy với công việc,... nhưng cuối nhiệm kỳ, nhất là khi chuẩn bị “hạ cánh”, lại “tự chuyển hóa”, nảy sinh những tính toán lợi dụng chức quyền để trục lợi, vun vén bổng lộc cho gia đình, làm giảm uy tín của cán bộ lãnh đạo chủ chốt, mà còn làm tổn hại đến uy tín của Đảng, niềm tin của nhân dân.

Chính sách dân tộc trên lĩnh vực kinh tế ở Việt nam hiện nay

 


       Đây là một trong những vấn đề có vị trí đặc biệt trong chính sách dân tộc trong hoàn cảnh và điều kiện mới với mục tiêu tạo sự chuyển biến căn bản diện mạo và đời sống đồng bào DTTS

Nội dung chính sách kinh tế

    - Trú trọng ưu tư đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. Tập trung phát huy tiềm năng thế mạnh của vùng đồng bào DTTS, gắn với kế hoạch phát triển chung của cả nước, đưa vùng đồng bào DTTS cùng cả nước tiến hành CNH-HĐH đất nước.

    - Áp dụng chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, chuyển giao kỹ thuật, sử dụng đát đai, khuyến khích, hình thành những vùng kinh tế, đa dạng hóa ngành nghề, phát triển công nghiệp chế biến, đẩy mạnh giao lưu hàng hóa, mở mang dịch vụ. Có chính sách ưu đãi đặc biệt thu hút đầu tư vào vùng sâu, vùng xa.

    -Áp dụng cách quản lý đặc thù về đầu tư đối với miền núi trong từng khu vực cụ thể

Chính sách về kinh tế được thể hiện qua các văn bản:

+Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngỳa 27/12/2008 Về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 Huyện nghèo

+ Chương trình xây dựng nông thôn mới

+ Chương trình giảm nghèo bền vững

+ Nghị quyết số 12/NQ-CP của Thủ tướng Chính phủ, Triển khai thực hiện nghị quyết số 88/2019/QH14 ngỳa 18/11/2019 của Quốc hội về phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và Miền núi, giai đoạn 2021-2030.

Chính sách dân tộc trên lĩnh vực chính trị ở Việt nam hiện nay

 


     - Đối tượng cán bộ, người có uy tín. Tập trung vào các nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, tuyển dụng cán bộ công chức, viên chức người DTTS và cán bộ công tác trong hệ thống chính trị tại các địa phương vùng DTTS và miền núi; Phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng DTTS để phát huy vai trò trách nhiệm của họ trong sự nghiệp phát triển KT-XH;

     - Tính tích cực trong thực hiện chủ trương, đường lối. Giữ gìn an ninh trật tự của địa phương;Tích cực vận động các gia đình và cộng đồng thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

     - Xây dựng hẹ thống chính trị vững mạnh. Tăng cường củng cố xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh. Phát huy vai trò của các tổ chức đảng cơ sở, chi bộ đảng trong vùng đồng bào DTTS và đảng viên là người DTTS, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Chống thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những biểu hiện của tư tưởng “dân tộc hẹp hòi”.

Chính sách về chính trị đối với các DTTS được thể hiện ở các văn bản sau:

+ Quyết định số 34/2006/QĐ-TTg, ngày 8/2/2006 Phê duyệt đề án Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã phường, thị trấn người DTTS giai đoạn 2006-2010

+ Quyết định số 106/2007/QĐ-TTg, ngày 13/2/2007 Phê duyệt đề án Một số giải pháp tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và tạo nguồn cán bộ hệ thống chính trị cơ sở Tây Bắc giai đoạn 2007-2010.

Thực hiện nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc ở Việt nam

 


Bình đẳng giữa các dân tộc: Tất cả các dân tộc, dù đông người hay ít người, đều có tư cách chính trị - xã hội - pháp lý như nhau trong các quan hệ tộc nguời, trong quyền hạn và nghĩa vụ đối với đất nước. Như vậy, nội dung của bình đằng dân tộc, với tư cách là quyền, phải được thực hiện trong mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội.

Ví dụ: Quyền bình đẳng về chính trị của các dân tộc thiểu số ngày càng nâng cao. Trong nhiệm kỳ 2016-2021, người DTTS giữ các cương vị Đảng, Nhà nước ngày càng tăng (TBT, Chủ tịch Quốc Hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bí thư, chủ tịch tỉnh; Ủy viên BCT v.v…)

Đoàn kết giữa các dân tộc: là sự đoàn kết trong nội bộ cùa từng dân tộc thiểu số; giữa dân tộc thiểu số và dân tộc đa số; giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc trên thế giới vì hòa bình và tiến bộ xã hội. Đoàn kết dân tộc là chiến lược của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, cần hạn chế những tác động làm tổn hại đến sự đoàn kết như: các biểu hiện của tư tưởng dân tộc lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tự ti mặc cảm dân tộc, cục bộ bản vị, vị kỷ dân tộc, dân tộc cực đoan...

Những vấn đề cơ bản thực hiện chính sách dân tộc

 


Thực hiện chính sách dân tộc là việc đưa quyết sách của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống, trên cơ s cụ thể hóa các quyết sách thông qua việc: Thông tin, hướng dẫn, phân công trách nhiệm, chuẩn bị các nguồn lực cần thiết bảo đảm thực hiện đúng tiến độ, mục tiêu, yêu cầu quy định của chính sách

Thực hiện chính sách dân tộc thể hiện mục tiêu công bằng xã hội, là bản chất của chế độ XHCN; thể hiện tình cảm, trách nhiệm của cả nước đối với những đóng góp của đồng bào dân tộc trong sự nghieẹp cách mạng giành và giữ nền độc lập dân tộc. xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Do đặc điểm tự nhiên và dân cư, tổ chức thực hiện chính sách ở vùng dân tộc, miền núi có nhiều điểm khác biệt với khu vực nông thôn đồng bằng; những yếu tố về thời gian, môi trường sống và phong tục, tập quán cũng không giống nhau nên cách thức thông tin chính sách, nguồn lực cần được chú ý. Các khu vực dân cư khác nhau có những cách tiếp cận khác nhau, cần được cụ th hóa trong những kế hoạch đầy đủ, phù hợp.

Trong thực hiện chính sách, đánh giá chính sách là một nội dung quan trọng nhằm xác định hiệu lực, kết quả, hiệu quả của chính sách, so sánh, đối chiếu với những mục tiêu đặt ra, là cơ sở để xem xét chính sách có phù hợp hay không, cần điều chỉnh hay bãi bỏ. Đánh giá chính sách đòi hỏi phải thực hiện ở tất cả các khâu, giai đoạn, theo sát tiến trình vận động của chính sách. Đây là một quá trình liên tục, tương thích với sự vận động của chu trình chính sách. Đánh giá giữa kỳ và cuối kỳ là hai hoạt động có tính bắt buộc nhằm tăng hiệu quả giám sát hoạt động chính sách cũng như dế chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo.

Thực hiện chính sách dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống chính sách quốc gia, không thể tách rời với sự phát triển chung của đất nước, bảo đảm lợi ích quốc gia cả về khía cạnh chính trị, kinh tê và hội. Thực hiện chính sách dân tộc còn thể hiện mục tiêu công bằng xã hội, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; thể hiện tình cảm, trách nhiệm của cả nước đối với những đóng góp của đồng bào dân tộc trong sự nghiệp cách mạng giành và giữ nền độc lập dân tộc, xây đựng và bảo vệ Tồ quốcxã hội chủ nghĩa, đồng thời phải bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả và tính phù hợp. Do vậy, việc xây dựng chính sách dân tộc phải bảo đảm trên cơ sở các định hướng:

Dựa tren nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng * Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc, từ khi ra đời đén nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định, vấn đề dấn lộc có vị trí chiến lược. Trong từng giai đoạn cách mạng, vấn để dãn tộc được nhận thức và giải quyết theo các quan điểm cụ thể phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lén chủ nghĩa xã hội (1991), Đảng ta đã khẳng định: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng đân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc[1].

Qua các kỳ đại hội, Đảng luôn nhất quán chủ trương, nguvên tắc trong đường lối, chính sách dân tộc, đó là xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng giữa cộng đồng các dân tộc, phát triển toàn điện về kinh tế - chính trị - xã hội, đảm bảo các quyền và tiếp cận các quyền của đồng bào dân tộc thiểu số trên mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trên cơ sở hệ thống pháp luật quốc gia và một số chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào đân tộc.

 



 

Thực hiện nguyên tắc các dân tộc giúp đỡ lẫn nhau ở Việt nam hiện nay


Tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển là sự trân trọng lẫn nhau giữa các dân tộc; ghi nhận và đảm bảo lợi ích, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc, trên cơ sở tôn trọng, các dân tộc giúp nhau cùng phát triển. Đây là quan điểm phát triển biện chứng của việc gắn chính sách dân tộc với xu thế tiến bộ chung của đất nước tiến lên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với đường lối đồi mới cùa Đảng và Nhà nước. Theo quan điểm này, cùng với các chỉnh sach của Đảng, Nhà nước, các dân tộc anh em cùng chung trách nhiệm yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, bằng nhiều hoạt động cụ thề góp phần đẩy nhanh sự phát triền ở từng vùng, ừong từng dân tộc trên tất cả các mặt kinh tế - xã hội, môi trường một cách bền vững. Đồng thời đây cũng là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, mọi ngành, mọi cấp và cả hệ thống chính trị.

Có thể thấy rõ rằng, trong giai đoạn đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán chủ trương, nguyên tăc trong đường lối, chính sách dân tộc, đó là xây dựng khối đoàn kêt, bình đẳng giữa cộng đồng các dân tộc, phát triển toàn diện về kinh tế - chính trị - xã hội, bảo đảm các quyền và tiếp cận các quyen của đong bào dân tộc thiểu số trên mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tê, văn hóa, xã hội trên cơ sở hệ thống pháp luật quốc gia và một số chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số. 

Nắm vững khái niệm chính sách dân tộc để thực hiện tôt chính sách dân tộc ở Việt Nam

 


Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam là những quyết sách của Đảng, Nhà nước tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc để phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo quốc phòng an ninh ở vùng DTTS nhằm nâng cao đời sống của đồng bào DTTS, hướng tới mục tiêu bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển giữa các vùng và các dân tộc ở Việt Nam.

Chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam là một bộ phận quan hệ hữu cơ với công tác dân tộc, được quy định bởi quan điểm về vấn đề dân tộc, xử lý vấn đề dân tộc và cách thức thực hiện công tác dân tộc

Dưới góc độ chính trị - xã hội,  chính sách dân tộc là tổng hợp những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được đ ra tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ dân tộc và mang bản chất giai cấp ca Nhà nước trong phạm vi đối nội và đi ngoại.

Dưới góc độ quản lý nhà nước, chính sách dân tộc là hệ thống nhng quyết sách của Đng. Nhà nước được thực thi thông qua bộ máy hành pháp để quản lý và phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đối với các dân tộc và vùng đồng bào dân tộc nhm thiết lập sự bình đẳng và hòa nhập phát triển, củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Chính sách dân tộc cũng là chính sách phát triển nhm mục đích: thiết lập nên những thành tựu phát triển về kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc và vùng dân tộc, hướng tới mục tiêu cao nhất là sự bình đẳng về mọi mặt, đặc biệt về mặt chính trị, kinh tế và văn hóa giữa các vùng và các dân tộc ờ Việt Nam.