Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2022
1 NGƯỜI LÍNH “DU KÍCH VIỆT NAM” CHỈ TRONG 1 ĐÊM ĐÁNH CHÌM 2 TÀU VẬN TẢI QUÂN SỰ 5000 TẤN VÀ 4800 TẤN - NỖI KHIẾP SỢ CỦA KẺ THÙ!!
CÁC NGƯỜI HÃY THÔI NÓI!
Từ việc Đảng ta đề ra Quy định 37, đó là lẽ tự nhiên, là việc làm thường lệ, nhưng cũng rất quan trọng cấp thiết hiện nay
CÂU NÓI BẤT HỦ CỦA HUYỀN THOẠI QUYỀN ANH MUHAMMAD ALI!
CÔNG XÃ PARIS - TUẦN LỄ ĐẪM MÁU VÀ BÀI HỌC RÚT RA!
Phòng, chống tham nhũng, lãng phí cần thiết phải làm rõ đúng - sai, công khai hành xử
Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về đoàn kết dân tộc
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, cách mạng muốn thành công thì đoàn kết
dân tộc là nhân tố cực kỳ quan trọng, là vấn đề sinh tử của cách mạng. Bởi lẽ,
cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra
lịch sử. Giai cấp vô sản muốn hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình thì trước hết
phải tự mình trở thành dân tộc. Liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực
lượng to lớn của cách mạng.
Lênin cho rằng, sự liên kết giai cấp, trước hết là liên minh công nông
là hết sức cần thiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản. Nếu không có
sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của
nó - tức giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được.
Đoàn kết toàn dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở lý
tưởng, mục tiêu cách mạng. Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp vô sản
đồng thời thực hiện giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân
loại khỏi mọi ách áp bức, bóc lột. Do đó, xét về cơ bản lợi ích của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và lợi ích của dân tộc là thống nhất với nhau. Sự
thống nhất về những lợi ích cơ bản đó là điều kiện, cơ sở xây dựng và phát huy
đoàn kết dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Đảng Cộng sản là hạt nhân của khối đoàn kết toàn dân tộc. Đảng Cộng sản
mỗi nước trước hết phải xây dựng khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và các tầng lớp lao động khác làm cơ sở, nền tảng của khối đoàn kết
toàn dân tộc.
Đại đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc ta
Đại đoàn kết là truyền thống cực kỳ
quý báu của dân tộc ta, được hun đúc trong suốt quá trình dựng nước và giữ
nước; là một trong những nhân tố quyết định sự trường tồn của dân tộc và là bài
học lớn của cách mạng nước ta. Cách mạng Việt Nam đã bước
sang một giai đoạn mới nhằm thực hiện mục tiêu: "Phấn đấu đến năm 2045
nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, tình
hình thế giới đang thay đổi hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đề ra, đòi
hỏi tiếp tục phát huy sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc; giải phóng mọi tiềm năng, phát huy mọi nguồn lực, mọi thành phần
kinh tế; phát huy sức mạnh của truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc và ý chí
kiên cường của người Việt Nam.
Chính sách dân tộc trên lĩnh vực bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt nam hiện nay
-Nhằm tuyên truyền giáo dục, vận động đồng
bào ở vùng có tài nguyên để nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường, sinh thái, đa
dạng sinh học.
-Sử dụng khai thác và phát triển nguồn tài
nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái vùng đồng bào DTTS theo quy định của
pháp luật. Bảo vệ cải tạo và đảm bảo cho vùng có tài nguyên được đầu tư trở lại
phù hợp
+Quyết
định 2406/QĐ-TTg, ngày 18/12/2011 ban hành danh mục các chương trình mục tiêu
quốc gia giai đoạn 2012-2015, trong đó có mục tiêu nước sạch và vệ sinh môi
trường nông thôn;
+
Nghị định số 99/2010/NĐ-TTg của Chính phủ, ngày 24/9/2010 Về chính sách chi trả
dịch vụ môi trường rừng…
*Về
quốc phòng,an ninh
-
Nhằm củng cố các địa bàn chiến lược, giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc và
quan hệ dân tộc trong mối liên hệ tộc người, giũa các tộc người và liên quốc
gia trong xu thế toàn cầu hóa.
-
Tập trung đầu tư nguồn lực xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an
ninh nhân dân nhằm giữ vững trật tự an toàn xã hội và ổn định chính trị
+
Quyết định số 120/2003/QĐ-TTg ngỳa 11/6/2003 Về phê duyệt phát triển kinh tế-
xã hội tuyến Biên giới Việt –Trung đến năm 2010
+Quyết
định số 160/2007/QĐ-TTg, ngỳa 17/10/2007 Về phê duyệt phát triển kinh tế- xã
hội tuyến Biên giới Việt –Lào và Việt Nam- Camphuchia đến năm 2010
+
Nghị quyết số 1059/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ngỳa 9/11/2015 Về
kết quả giám sát và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật vè kết kợp
kinh teé với QP-AN
Mục tiêu cao nhất của xã hội XHCN là giải phóng con người, giải phóng giai cấp, tạo mọi điều kiện để phát triển toàn diện con người.
+ CNXH, chủ nghĩa cộng sản đều có chung mục đích cao
nhất là giải phóng con người, giải phóng giai cấp khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất
công, tạo điều kiện để phát triển toàn diện con người; trong đó sự phát triển
tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tư do của tất cả mọi người.
Mục tiêu chung đó thể hiện bản chất nhân văn, nhân đạo cao cả của chủ nghĩa
cộng sản.
+ Tính ưu việt của CNXH, chủ nghĩa cộng sản là xóa bỏ
mọi áp bức, bóc lột, bất công do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra. Mác
- Ăng ghen khẳng định, trong quá trình cách mạng, giai cấp công nhân khi đã trở
thành giai cấp thống trị “thì đồng thời với việc tiêu diệt những quan hệ sản
xuất ấy, nó cũng tiêu diệt luôn cả những điều kiện tồn tại của sự đối kháng
giai cấp, nó tiêu diệt các giai cấp nói chung và cũng do đấy, tiêu diệt cả sự
thống trị của chính nó với tư cách là một giai cấp”[1].
Chính sách dân tộc trên lĩnh vực văn hóa- xã hội ở Việt nam hiện nay
- Tập trung vào các vấn đề xóa đói, giảm
nghèo, phát triển giáo dục- đào tạo, văn hóa, y tế…nhằm nâng cao năng lực, tạo
tiền đề và cơ hội để các dân tộc có đầy đủ các điều kiện tham gia vào quá trình
phát triển, trên cơ sở đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
đồng bào
- Chú trọng ưu tiên đầu tư cho các vùng khó
khăn, vùng có đông đồng bào DTTS, từng bước giảm chênh lệch về trình độ phát
triển giữa các dân tộc, các vùng, miền.
-Cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân
dân ở các tuyến cơ sở, ưu tiên các huyện nghèo, các xã nghèo, vùng sâu, vùng
xa, vùng đồng bào DTTS. Nâng cao hiệu quả sử dụng bảo hiểm y tế đối với đồng
bào DTTS, vùng miền núi, các hộ nghèo.
-Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá
trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học,
nghệ thuật của các dân tộc thiểu số.
-Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết
của các dân tộc đi đôi với sử dụng ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích
thế hệ trẻ thuộc đồng bào DTTS học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng
nói, chữ viết của dân tộc mình. Phát hiện bồi dưỡng, tổ chức lực lượng sáng
tác, sư tầm nghiên cứu văn hóa, văn học, nghệ thuật là người DTTS
+
Quyết định số 2086/QĐ-TTg ngỳa 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề
án hỗ trợ phát triển kinh tế- xã hội các DTTS rất ít người giai đoạn 2016- 2025
+
Quyết định số 62/2005/QĐ-TTg ngỳa 24/3/2005 Về chính sách hỗ trợ thực hiện giáo
dục trung học
+
Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngỳa 27/7/2011 Phê duyệt đề án Bảo tồn, phát triển
văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020
+
Quyết định số 414/QĐ-TTg ngỳa 12/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường
ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ đồng bào DTTS phát triển KT-XH và đảm bảo
an ninh trật tự vùng đồng bòa DTTS giai đoạn 2019-2025
+
Nghị định số 146/2018/NĐ-CP của Chính phủ về hỗ trở 100% chi phí khám chữa bệnh
bằng thẻ bảo hiểm y tế cho đồng bào DTTS sống tại địa bàn khó khăn…
Tình hình Việt Nam trong 30 năm nghiệp đổi mới
Đất nước bị bao vây, cấm
vận và thoát khỏi bao vây, cấm vận; bị rơi vào và
từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội; hoàn thành những nhiệm vụ của
chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nước.
- Trong 10 năm tiếp theo:
Đất nước ổn định, các khó
khăn, thách thức dần được khắc phục; sản xuất phát triển, tăng trưởng nhanh,
đời sống nhân dân được cải thiện; chính trị -xã hội ổn định, vai trò, vị thế
quốc tế được nâng lên, thế, lực, sức mạnh tổng hợp đất nước được nâng cao.
- Trong 10 năm gần đây:
Đất nước thoát khỏi tình
trạng nước nghèo kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập
trung bình, đạt tốc độ tăng trưởng khá, chính trị - xã hội ổn định, quan hệ
quốc tế mở rộng.
Những khó khăn, thách
thức vẫn còn nhiều: ảnh hưởng tiêu cực từ suy thoái kinh tế, khủng hoảng tài
chính toàn cầu; những thách thức bất ổn về vĩ mô (tài chính, ngân hàng, cơ cấu
kinh tế, lạm phát...), suy giảm đà tăng trưởng kinh tế trong nước; sự chống phá của các thế lực thù địch, nhất là chiến lược "Diễn
biến hòa bình", bạo loạn lật đổ; những diễn biến phức tạp trong cuộc đấu
tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nhất là trên Biển Đông...
Tình hình thế giới, khu vực những năm qua tác động đến Việt nam
- Từ thập kỷ 80 của thế
kỷ XX, CNXH hiện thực rơi vào thoái trào, các nước tư bản do điều chỉnh, thích
ứng nên đã vượt qua một số khó khăn, phát triển. CNXH phải đổi mới, cải tổ để
thoát khỏi khó khăn. Điều này thành xu thế khách quan ở nhiều nước XHCN.
- Xu thế toàn cầu
hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới diễn ra với quy mô ngày càng lớn
và nhịp độ cao đã thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập của nước ta, cho phép nước
ta tranh thủ được các nguồn lực bên ngoài (vốn, công nghệ và thị trường)
để phát triển kinh tế-xã hội. Bên cạnh đó, cũng đặt nước ta vào thế cạnh tranh
quyết liệt bởi các nền kinh tế phát triển hơn trong khu vực và thế giới.
- Việt Nam và Hoa Kì bình
thường hóa quan hệ từ đầu năm 1995 và nước ta đã trở thành thành viên của ASEAN
từ tháng 7-1995. ASEAN đã trở thành một liên kết khu vực gồm 10 nước và là nhân
tố quan trọng để thúc đẩy sự hợp tác toàn diện giữa các nước trong khối và với
các nước ngoài khu vực.
Nước ta cũng tham gia vào
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), đẩy mạnh quan hệ song
phương và đa phương. Từ tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành
viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Điều đó đã cho phép nước
ta đẩy mạnh buôn bán, mở rộng hợp tác với các nước trong và ngoài khu vực; thực
hiện các chính sách tăng cường thu hút đầu tư, chuyển giao KHKT, giao lưu văn
hóa, hợp tác phát triển nguồn nhân lực, …. giải quyết các vấn đề về Biển Đông
và sông Mê Công. Tuy nhiên, nước ta cũng chịu sự cạnh tranh bởi các nước trong
khu vực trong sản xuất và xuất khẩu
- Cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ hiện đại vào cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI trên thế giới
cho phép nước ta tiếp thu các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, đi tắt
đón đầu công nghệ, tận dụng các nguồn lực bên ngoài để thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều đó cũng đặt
ra thách thức về nguy cơ tụt hậu nếu chúng ta không nắm bắt cơ hội phát triển.
- Hòa bình, độc lập dân
tộc, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, chủ đạo hiện nay trên thế giới.
- Khu vực Đông Nam Á,
Châu Á- Thái bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động, nhưng tiềm ẩn
nhièu tranh chấp, xung đột và đan xen lợi ích.
Là cán bộ phải luôn coi trọng chữ “tâm”, phải “có tâm, có tầm” không làm tổn hại đến uy tín của Đảng, niềm tin của nhân dân
Chính sách dân tộc trên lĩnh vực kinh tế ở Việt nam hiện nay
Đây là một trong những vấn đề có vị trí
đặc biệt trong chính sách dân tộc trong hoàn cảnh và điều kiện mới với mục tiêu
tạo sự chuyển biến căn bản diện mạo và đời sống đồng bào DTTS
Nội dung chính sách kinh tế
- Trú trọng ưu tư đầu tư phát triển kết cấu
hạ tầng, khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với
bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. Tập trung phát huy tiềm năng thế mạnh của
vùng đồng bào DTTS, gắn với kế hoạch phát triển chung của cả nước, đưa vùng
đồng bào DTTS cùng cả nước tiến hành CNH-HĐH đất nước.
- Áp dụng chính sách ưu đãi về thuế, tín
dụng, chuyển giao kỹ thuật, sử dụng đát đai, khuyến khích, hình thành những
vùng kinh tế, đa dạng hóa ngành nghề, phát triển công nghiệp chế biến, đẩy mạnh
giao lưu hàng hóa, mở mang dịch vụ. Có chính sách ưu đãi đặc biệt thu hút đầu
tư vào vùng sâu, vùng xa.
-Áp dụng cách quản lý đặc thù về đầu tư đối
với miền núi trong từng khu vực cụ thể
Chính sách về kinh tế được thể hiện qua các
văn bản:
+Nghị
quyết số 30a/2008/NQ-CP ngỳa 27/12/2008 Về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh
và bền vững đối với 61 Huyện nghèo
+
Chương trình xây dựng nông thôn mới
+
Chương trình giảm nghèo bền vững
+
Nghị quyết số 12/NQ-CP của Thủ tướng Chính phủ, Triển khai thực hiện nghị quyết
số 88/2019/QH14 ngỳa 18/11/2019 của Quốc hội về phê duyệt Đề án tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và Miền núi, giai đoạn 2021-2030.
Chính sách dân tộc trên lĩnh vực chính trị ở Việt nam hiện nay
- Đối tượng cán bộ,
người có uy tín. Tập trung
vào các nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, tuyển dụng cán bộ công chức, viên
chức người DTTS và cán bộ công tác trong hệ thống chính trị tại các địa phương
vùng DTTS và miền núi; Phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng
DTTS để phát huy vai trò trách nhiệm của họ trong sự nghiệp phát triển KT-XH;
- Tính tích cực trong
thực hiện chủ trương, đường lối.
Giữ gìn an ninh trật tự của địa phương;Tích cực vận động các gia đình và cộng
đồng thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước.
- Xây dựng hẹ thống
chính trị vững mạnh. Tăng cường củng cố xây dựng hệ thống chính trị cơ
sở vững mạnh. Phát huy vai trò của các tổ chức đảng cơ sở, chi bộ đảng trong
vùng đồng bào DTTS và đảng viên là người DTTS, nhất là ở vùng sâu, vùng xa,
vùng biên giới. Chống thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và
những biểu hiện của tư tưởng “dân tộc hẹp hòi”.
Chính sách về chính trị đối với các DTTS được
thể hiện ở các văn bản sau:
+
Quyết định số 34/2006/QĐ-TTg, ngày 8/2/2006 Phê duyệt đề án Đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức xã phường, thị trấn người DTTS giai đoạn 2006-2010
+
Quyết định số 106/2007/QĐ-TTg, ngày 13/2/2007 Phê duyệt đề án Một số giải pháp
tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và tạo nguồn cán bộ hệ thống chính trị
cơ sở Tây Bắc giai đoạn 2007-2010.
Thực hiện nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc ở Việt nam
Bình đẳng
giữa các dân tộc: Tất cả các dân
tộc, dù đông người hay ít người, đều có tư cách chính trị - xã hội - pháp lý
như nhau trong các quan hệ tộc nguời, trong quyền hạn và nghĩa vụ đối với đất
nước. Như vậy, nội dung của bình đằng dân tộc, với tư cách là quyền, phải được
thực hiện trong mọi lĩnh vực: chính trị, kinh
tế, văn hóa - xã hội.
Ví dụ: Quyền bình đẳng
về chính trị của các dân tộc thiểu số ngày càng nâng cao. Trong nhiệm kỳ 2016-2021,
người DTTS giữ các cương vị Đảng, Nhà nước ngày càng tăng (TBT, Chủ tịch Quốc
Hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bí thư, chủ tịch tỉnh; Ủy viên BCT v.v…)
Đoàn kết
giữa các dân tộc: là sự đoàn kết
trong nội bộ cùa từng dân tộc thiểu số; giữa dân tộc thiểu số và dân tộc đa số;
giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc trên thế giới vì hòa bình và tiến
bộ xã hội. Đoàn kết dân tộc là chiến lược của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, cần
hạn chế những tác động làm tổn hại đến sự đoàn kết như: các biểu hiện của tư tưởng
dân tộc lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tự ti mặc cảm dân tộc, cục bộ bản vị, vị
kỷ dân tộc, dân tộc cực đoan...
Những vấn đề cơ bản thực hiện chính sách dân tộc
Thực hiện chính sách dân tộc là việc đưa quyết sách của Đảng, Nhà nước
vào cuộc sống, trên cơ sở cụ thể
hóa các quyết sách thông qua việc: Thông tin, hướng dẫn, phân công trách nhiệm,
chuẩn bị các nguồn lực cần thiết bảo đảm thực hiện đúng tiến độ, mục tiêu, yêu
cầu quy định của chính sách
Thực hiện chính sách dân tộc thể
hiện mục tiêu công bằng xã hội, là bản chất của chế độ XHCN; thể hiện tình cảm,
trách nhiệm của cả nước đối với những đóng góp của đồng bào dân tộc trong sự
nghieẹp cách mạng giành và giữ nền độc lập dân tộc. xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Do đặc điểm tự nhiên và dân cư, tổ chức thực hiện chính sách ở
vùng dân tộc, miền núi có nhiều
điểm khác biệt với khu vực nông thôn đồng bằng; những yếu tố về thời gian, môi trường sống và phong tục, tập quán cũng không giống nhau nên cách thức
thông tin chính sách, nguồn lực cần được chú
ý. Các khu vực dân cư khác nhau có những cách tiếp cận khác nhau, cần được cụ
thể hóa trong những kế hoạch
đầy đủ, phù hợp.
Trong thực hiện chính
sách, đánh giá chính sách là một
nội dung quan trọng nhằm xác định hiệu lực, kết quả, hiệu quả của chính sách, so sánh, đối chiếu với
những mục tiêu đặt ra, là cơ sở để xem xét chính sách có phù hợp hay không, cần
điều chỉnh hay bãi bỏ. Đánh giá chính sách đòi hỏi phải thực hiện ở tất cả các
khâu, giai đoạn, theo sát tiến trình vận động của chính sách. Đây là một quá
trình liên tục, tương thích với sự vận động của chu trình chính sách. Đánh giá
giữa kỳ và cuối kỳ là hai hoạt động có tính bắt buộc nhằm tăng hiệu quả giám
sát hoạt động chính sách cũng như dế chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo.
Thực hiện chính sách dân
tộc, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc là một bộ phận hữu cơ
trong hệ thống chính sách quốc gia, không thể tách rời với sự phát triển chung
của đất nước, bảo đảm lợi ích quốc gia cả về khía cạnh chính trị, kinh tê và
hội. Thực hiện chính sách dân tộc còn thể hiện mục tiêu công bằng xã hội, là
bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; thể hiện tình cảm, trách nhiệm của cả
nước đối với những đóng góp của đồng bào dân tộc trong sự nghiệp cách mạng
giành và giữ nền độc lập dân tộc, xây đựng và bảo vệ Tồ quốcxã hội chủ nghĩa,
đồng thời phải bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả và tính phù hợp. Do vậy, việc
xây dựng chính sách dân tộc phải bảo đảm trên cơ sở các định hướng:
Dựa tren nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng * 1« Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân
tộc, từ khi ra đời đén nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định, vấn đề dấn
lộc có vị trí chiến lược. Trong từng
giai đoạn cách mạng, vấn để dãn tộc được nhận thức và giải quyết theo các quan
điểm cụ thể phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra.
Trong Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lén chủ nghĩa xã hội (1991), Đảng ta đã khẳng định: “Thực hiện chính sách
bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên
con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ,
tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng đân tộc lớn và dân tộc hẹp
hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc[1].
Qua các kỳ đại hội, Đảng
luôn nhất quán chủ trương, nguvên tắc trong đường lối, chính sách dân tộc, đó
là xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng giữa cộng đồng các dân tộc, phát triển
toàn điện về kinh tế - chính trị - xã hội, đảm bảo các quyền và tiếp cận các
quyền của đồng bào dân tộc thiểu số trên mọi mặt của đời sống chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội trên cơ sở hệ thống pháp luật quốc gia và một số chính sách
đặc thù đối với vùng đồng bào đân tộc.
Thực hiện nguyên tắc các dân tộc giúp đỡ lẫn nhau ở Việt nam hiện nay
Tôn
trọng, giúp nhau cùng phát triển là sự trân trọng lẫn nhau giữa
các dân tộc; ghi nhận và đảm bảo lợi ích, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ tập
quán, tín ngưỡng của các dân tộc, trên cơ sở tôn trọng, các dân tộc giúp nhau
cùng phát triển. Đây là quan điểm phát triển biện chứng của việc gắn chính sách dân tộc với xu thế tiến bộ chung của đất nước
tiến lên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với đường lối đồi mới
cùa Đảng và Nhà nước. Theo quan điểm này, cùng với các chỉnh sach của Đảng, Nhà nước, các dân tộc anh em cùng chung
trách nhiệm yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, bằng nhiều hoạt động cụ thề góp phần đẩy nhanh sự phát
triền ở từng vùng, ừong từng dân tộc trên tất cả các mặt kinh tế - xã hội, môi
trường một cách bền vững. Đồng thời đây cũng là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn
dân, mọi ngành, mọi cấp và cả hệ thống chính trị.
Có thể thấy rõ rằng, trong giai đoạn đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán chủ trương, nguyên tăc trong đường lối, chính sách dân tộc, đó là xây dựng khối đoàn kêt, bình đẳng giữa cộng đồng các dân tộc, phát triển toàn diện về kinh tế - chính trị - xã hội, bảo đảm các quyền và tiếp cận các quyen của đong bào dân tộc thiểu số trên mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tê, văn hóa, xã hội trên cơ sở hệ thống pháp luật quốc gia và một số chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Nắm vững khái niệm chính sách dân tộc để thực hiện tôt chính sách dân tộc ở Việt Nam
Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam là những quyết sách của
Đảng, Nhà nước tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc
để phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái,
đảm bảo quốc phòng an ninh ở vùng DTTS nhằm nâng cao đời sống của đồng bào
DTTS, hướng tới mục tiêu bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát
triển giữa các vùng và các dân tộc ở Việt Nam.
Chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam là một
bộ phận quan hệ hữu cơ với công tác dân tộc, được quy định bởi quan điểm về vấn đề dân tộc, xử lý vấn đề
dân tộc và cách thức thực hiện công tác dân tộc
Dưới góc độ chính trị - xã hội, chính
sách dân tộc là tổng hợp những quan điểm,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước được đề ra tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ dân
tộc và mang bản chất giai cấp của Nhà nước trong phạm vi đối nội
và đối ngoại.
Dưới góc độ quản lý
nhà nước, chính
sách dân tộc là hệ thống những quyết
sách của Đảng. Nhà
nước được thực thi thông qua bộ máy hành pháp để quản lý và phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đối
với các dân tộc và vùng đồng bào dân tộc nhằm thiết lập sự bình
đẳng và hòa nhập phát triển, củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Chính sách dân tộc cũng là chính
sách phát triển nhằm mục
đích: thiết lập nên
những thành tựu phát triển về kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc và vùng dân tộc, hướng tới mục tiêu cao nhất là sự bình đẳng về mọi mặt, đặc biệt về mặt chính trị, kinh tế và văn
hóa giữa các vùng
và các dân tộc ờ Việt Nam.






