Thứ Ba, 17 tháng 5, 2022

VIỆT NAM KHÔNG CHỌN BÊN MÀ CHỌN CHÍNH NGHĨA

 “Giữa độc lập và phụ thuộc, chúng tôi luôn chọn độc lập với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; giữa thương lượng và đối đầu, chúng tôi chọn thương lượng; giữa đối thoại và xung đột, chúng tôi chọn đối thoại; giữa hoà bình và chiến tranh, chúng tôi chọn hoà bình; giữa hợp tác và cạnh tranh, chúng tôi chọn hợp tác và cạnh tranh thì phải lành mạnh, bình đẳng, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhau".

"Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, tất cả cùng chiến thắng".

Phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Hoa Kỳ (CSIS), trước thềm Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN - Hoa Kỳ.


SỰ BỈ ỔI ĐẾN CÙNG CỰC CỦA ĐÁM RẬN CHỦ

 Ngày 4/5/2022, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã chính thức khai mạc. Một trong những nội dung quan trọng mà hội nghị đưa ra bàn bạc và thông qua Đề án thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đây tiếp tục thể hiện quyết tâm và chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong đấu tranh với “giặc nội xâm” này.

Thế nhưng, với bản chất nham hiểm vốn có, đám rận chủ tiếp tục xuyên tạc công tác phòng chống tham nhũng của nước ta. Cụ thể, trên các trang Việt Tân, RFA Đài Á Châu tự do, dân làm báo chúng cho đăng đàn các bài viết với nội dung: Công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta chỉ là một chiêu trò “mị dân”, sẽ không đạt được hiệu quả thiết thực; việc thành lập ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng ở cấp tỉnh là việc thừa thãi, gây lãng phí.

Đó là một luận điệu hết sức nguy hiểm của đám bồi bút hòng thực hiện mục đích chính trị đen tối là chống phá Đảng, Nhà nước, gây mất niềm tin của nhân dân với công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc bôi nhọ lãnh đạo. Từ đó, đòi hỏi mỗi chúng ta phải có đủ tỉnh táo và nhận diện nó, đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của kẻ thù.

Thứ nhất, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm giải quyết đã đã đạt được những hiệu quả thiết thực, được nhân dân hưởng ứng. Cụ thể, trong năm 2021 Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng tiêu cực đã kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật 618 đảng viên, xử lý kỷ luật 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban bí thư quản lý, thu hồi 81290 tỷ đồng và 811 ha đất, khởi tố, điều tra 390 vụ án với 1011 bị can về các tội tham nhũng… Những con số biết nói đó là minh chứng cho hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng. Ấy thế mà đám rận chủ lại rêu rao là “mị dân” - quả đúng là bỉ ổi đến cùng cực.

Thứ hai, để công tác phòng, chống tham nhũng thực sự có hiệu quả, người dân thực sự cảm nhận được kết quả của nó thì công tác này cần đẩy mạnh ở các địa phương, ở cấp cơ sở, nơi gần dân nhất. Việc thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh chính là cụ thể hóa Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”. Trước khi bước vào Hội nghị Trung ương lần này, gần như việc thành lập các Ban chỉ đạo nêu trên chắc chắn được thông qua khi trước đó, qua góp ý xây dựng đề án, 63/63 tỉnh ủy, thành ủy đều nhất trí với chủ trương này.

Thứ ba, với việc Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ được thành lập trong thời gian sắp tới, công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước sẽ ngày càng được tăng cường với những biện pháp quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương theo đúng tinh thần “không ngơi nghỉ”, “không có vùng cấm” và theo tinh thần mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh: “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”.

Trong thời gian tới, chắc chắn các đối tượng phản động sẽ tiếp tục chống phá Đảng, Nhà nước ta trong đó có công tác phòng, chống tham nhũng và kết quả hội nghị trung ương 5 khóa XIII. Mỗi chúng ta tiếp tục nâng cao cảnh giác, hết sức tỉnh táo, giữ “cái đầu lạnh” trước những luận điệu xuyên tạc của đám rận chủ./.


CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU SUY DIỄN, XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 Ngày 2/3, tại phiên họp khẩn cấp lần thứ XI, Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) đã thông qua nghị quyết kêu gọi Nga rút quân khỏi Ukraine. Sau khi nghị quyết trên được thông qua và thông tin các nước thành viên LHQ thể hiện quan điểm, trên một số diễn đàn Internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức phản động trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình. Ngày 1/3, phát biểu khi Đại hội đồng LHQ tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ XI thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã nhấn mạnh rằng: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế… Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”. Chính vì vậy: “Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế”.

Tiếp đó, ngày 3/3, tại họp báo thường kỳ, trả lời báo chí về việc bỏ phiếu của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã khẳng định: “Quan điểm của chúng tôi là Việt Nam luôn theo dõi sát sao và hết sức quan ngại về tình hình Ukraine. Chúng tôi cho rằng, ưu tiên hiện nay là cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường…”.

Như vậy, xuyên suốt trong các tuyên bố, phát ngôn, quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng; chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào của Việt Nam đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine. Những luận điệu cho rằng Việt Nam đứng bên này để chống bên kia, “cổ suý chiến tranh” là hoàn toàn sai trái, bịa đặt.

Đối với Việt Nam, cả Nga và Ukraine đều là đối tác quan trọng. Do đó, Việt Nam kêu gọi Nga và Ukraine giảm căng thẳng, ngừng bắn, bảo đảm an ninh an toàn, nhu cầu thiết yếu của người dân, bảo đảm an ninh an toàn cho cộng đồng người nước ngoài đang sống tại Ukraine, trong đó có người Việt Nam. Việt Nam luôn khẳng định lập trường không thay đổi, đó là Việt Nam không đứng về bên này chống bên kia hay ngược lại mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý, luật pháp quốc tế.


Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân“toàn dân, toàn diện” đã tạo được cơ sở chính trị - tinh thần để Bộ đội Phòng không - Không quân đánh Mỹ


Đây là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về vai trò quần chúng trong lịch sử, là sự kế thừa và phát triển truyền thống quân sự Việt Nam trong thời đại mới. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta luôn phải đương đầu với kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần, nhưng chúng ta đều chiến thắng. Bởi lẽ, nhân dân ta có lòng nồng nàn yêu nước, dân tộc ta có truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm, mỗi khi đứng trước họa xâm lăng thì “cả nước đồng lòng, toàn dân đánh giặc”, ông, cha ta luôn đặt lợi ích Tổ quốc lên trên hết để đoàn kết toàn dân kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”[1]. Để chiến thắng không quân Mỹ, Đảng ta vận dụng xây dựng đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện trong kháng chiến chống thực dân Pháp vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Trong cuộc đối đầu không cân sức với các lực lượng không quân Mỹ về tiềm lực quân sự, trình độ công nghệ hiện đại của vũ khí, trang bị, Bộ đội Phòng không - Không quân đã quán triệt sâu sắc tư tưởng lấy sức mạnh của chiến tranh nhân dân “toàn dân, toàn diện” để xây dựng thế trận phòng không nhân dân đánh trả không quân Mỹ. Quân chủng Phòng không - Không quân đã tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, đồng thời trực tiếp hướng dẫn cho các lực lượng phòng không địa phương và nhân dân miền Bắc từng bước xây dựng được thế trận phòng không nhân dân vững chắc, bảo đảm vừa đánh trả thắng lợi, vừa bảo vệ an toàn các mục tiêu chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa của đất nước. Tư tưởng lấy sức mạnh của chiến tranh nhân dân “toàn dân, toàn diện” để đánh thắng kẻ thù đã phát huy cao độ tiềm năng chiến đấu của lực lượng phòng không ba thứ quân, tạo nên hệ thống hỏa kực phòng không rộng khắp, tại chỗ, nhiều tầng, nhiều lớp, có sự bố trí tập trung trọng điểm theo không gian và thời gian; đồng thời bảo đảm có lực lượng thường xuyên đánh địch theo khu vực, tuyến trọng điểm; có lực lượng, hệ thống báo động phòng không nhân dân, sơ tán phòng tránh; có lực lượng bắn máy bay, lực lượng bắt giặc lái nhảy dù; có lực lượng khắc phục hậu quả sau mỗi lần đánh phá của địch, lực lượng giúp bộ đội xây dựng trận địa công sự.

Thế trận phòng không nhân dân được xây dựng vững chắc là kết quả trong suốt hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc. Bộ đội Phòng không - Không quân cùng với quân và dân miền Bắc đã phối hợp, hiệp đồng chiến đấu nhịp nhàng, tất cả các lực lượng đều phát huy hết khả năng chiến đấu tạo thành sức mạnh tổng hợp để đánh thắng không quân Mỹ, vừa đánh tập trung hiệp đồng tiêu diệt lớn, vừa đồng thời đánh liên tục, tại chỗ, rộng khắp trên các địa bàn. Với ý chí “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, lực lượng phòng không ba thứ quân cùng quân và dân miền Bắc, nòng cốt là lực lượng Phòng không - Không quân đã giáng trả cho không quân Mỹ những đòn đích đáng; đặc biệt đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ cuối năm 1972. Thắng lợi trong hai cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc là sự hội tụ đầy đủ nhất nghệ thuật xây dựng thế trận phòng không nhân dân “toàn dân, toàn diện”, nghệ thuật sử dụng lực lượng, bài binh bố trận, cơ động tác chiến theo một ý định cách đánh, phát huy cao độ sức mạnh toàn dân đánh giặc để giành thắng lợi.

Tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy sức mạnh của chiến tranh nhân dân “toàn dân, toàn diện” để chiến thắng kẻ thù đã khởi nguồn cho sự phát triển nghệ thuật tác chiến phòng không độc đáo, phát huy được sức mạnh toàn dân tham gia chiến đấu, với khẩu hiệu: “Toàn dân tham gia bắn máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái”, tạo nên một lưới lửa phòng không dày đặc, nhiều tầng, nhiều nấc, hoạt động nhịp nhàng, đánh địch liên tục từ xa đến gần, đánh địch ở mọi tầng cao, đánh từ nhiều phía, đánh trực diện, đánh từ phía sau, từ bên sườn, gây cho không quân Mỹ lúng túng, bị động, không thể cơ động tránh được lưới lửa phòng không, bảo đảm chiến đấu giành thắng lợi trong suốt hai cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đối với miền Bắc.

Lịch sử xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân chủng Phòng không - Không quân đã chứng minh, tư tưỏng quân sự Hồ Chí Minh là cơ sở chính trị - tinh thần của sự sáng tạo, phát triển nghệ thuật tác chiến phòng không trong kháng chiến chống Mỹ. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh Mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho Bộ đội Phòng không - Không quân chiến đấu và chiến thắng.

PHAO

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tr.77.

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa con người và vũ khí “người trước súng sau” là cơ sở chính trị - tinh thần phát huy trí tuệ bộ đội sáng tạo nghệ thuật quân sự, cách đánh thắng không quân Mỹ

 

Theo t­ư tưởng Hồ Chí Minh, sức mạnh chiến đấu của quân đội là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó con người giữ vai trò quyết định, vũ khí có vai trò đặc biệt quan trọng. Do vậy, trong xây dựng quân đội phải ưu tiên xây dựng con người, "người trước, súng sau” chính là khẳng định cái cốt lõi, nhân tố có vai trò quyết định thắng lợi trong chiến tranh. Xây dựng con người đáp ứng yêu cầu đánh thắng trong chiến tranh phải toàn diện từ chính trị, tư tưởng đến kỹ thuật và sức khỏe. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Nếu anh em t­­ư tưởng vững, chính trị vững, kỹ thuật khá, thân thể khoẻ mạnh thì nhất định thắng. Trái lại, nếu anh em chính trị khá nhưng quân sự kém, hoặc chính trị quân sự đều khá nhưng thân thể yếu đuối thì cũng không thắng được"[1].

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cuộc đối đầu của Bộ đội Phòng không - Không quân với các lực lượng không quân Mỹ mạnh nhất thế giới là cuộc đối đầu không cân sức. Trình độ hiểu biết kỹ thuật quân sự hiện đại và số lượng, chất lượng, trình độ công nghệ vũ khí, trang bị của Bộ đội Phòng không - Không quân so với các lực lượng không quân Mỹ chênh lệch nhau rất nhiều. Suốt hai cuộc chiến tranh leo thang phá hoại, không quân Mỹ đã triệt để sử dụng ưu thế về tiềm lực khoa học kỹ thuật quân sự hiện đại; thường xuyên thay đổi các thủ đoạn tập kích đánh phá, thủ đoạn tác chiến điện tử và huy động hầu hết các loại máy bay chiến thuật của Không quân, Hải quân, máy bay chiến lược B-52 để tham chiến. Trong khi đó vũ khí, trang bị của Bộ đội Phòng không - Không quân từ đầu năm 1965 đến hết chiến tranh hầu như không có gì thay đổi. Quán triệt thực hiện tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh ưu tiên xây dựng con người “người trước súng sau”, Bộ đội Phòng không - Không quân đã giáo dục, huấn luyện, đào tạo được đội ngũ những phi công, sỹ quan điều khiển, trắc thủ ra đa, tên lửa và pháo thủ có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm chiến đấu kiên cường; có kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng quân sự thuần thục, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật… làm cơ sở để sáng tạo ra cách đánh độc đáo, tạo lập được thế trận phòng không vững chắc mang lại hiệu quả chiến đấu cao.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, cuộc đấu trí, đấu lực giữa Bộ đội Phòng không - Không quân với các lực lượng không quân Mỹ luôn diễn ra hết sức cam go, quyết liệt, nhưng Bộ đội Phòng không - Không quân luôn giành được chiến thắng. Đó là chiến thắng của ý chí con người với nghệ thuật quân sự, cách đánh độc đáo, sáng tạo và hiệu quả. Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc, không quân Mỹ đã áp dụng các kiểu chiến thuật tác chiến điện tử, gây các dạng nhiễu chế áp đài ra đa, các loại tên lửa chống ra đa, tên lửa đối không, nhử mồi… Bộ đội Phòng không - Không quân đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật, phát huy tính năng tác dụng của khí tài, sử dụng lực lượng, bố trí đội hình chiến thuật hợp lý, phát huy kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội, bảo đảm bắt được mục tiêu và chiến đấu thắng lợi. Không quân Mỹ áp dụng chiến thuật bay thấp, tập kích bất ngờ vào ban đêm; Bộ đội Phòng không - Không quân tuy không có khí tài đánh đêm, nhưng đã bố trí một thế trận đón lõng, đánh chặn được hầu hết các đợt tập kích bất ngờ của không quân địch. Đế quốc Mỹ sử dụng máy bay chiến lược B-52 đánh phá miền Bắc, mỗi “pháo đài bay B-52” có một đội hình máy bay chiến thuật hộ tống bảo vệ, gây nhiễu vô tuyến trong và ngoài đội hình; Bộ đội Phòng không - Không quân đã vượt qua mọi gian khổ, dày công nghiên cứu cách bắt mục tiêu trong nền nhiễu B-52, phương pháp xạ kích, cách đánh và xây dựng thế trận đánh B-52 bảo vệ Thủ đô Hà Nội. Với nghệ thuật quân sự độc đáo, Bộ đội Phòng không - Không quân đã đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Thủ đô Hà Nội cuối tháng 12 năm 1972, làm nên chiến thắng vĩ đại “Hà Nội - Điên Biên Phủ trên không” chưa từng có trong lịch sử. Chiến thắng đó trước hết thuộc về ý chí và trí tuệ, là sự thành công trong xây dựng con người; nhờ ưu tiên xây dựng con người đã sáng tạo được nghệ thuật tác chiến phòng không độc đáo để giành thắng lợi trong chiến tranh.

PHAO

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tr. 320.

 

NÉT ĐẶC SẮC CỦA SỨC MẠNH CHÍNH TRỊ TINH THẦN, CỘI NGUỒN LÀM NÊN CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ

 

Lòng yêu nước, ý chí quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” là nét đặc sắc cơ bản, hàng đầu của sức mạnh chính trị - tinh thần, cội nguồn làm nên chiến thắng lịch sử Điên Biên Phủ.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp được sự hỗ trợ của các thế lực đế quốc đã quay trở lại xâm lược nước ta. Không chịu khuất phục, ngày 19/12/1946, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh dũng bước vào cuộc kháng chiến gian khổ, trường kỳ chống kẻ thù xâm lược, với ý chí quyết tâm “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[1] đã tạo ra một sức mạnh chính trị - tinh thần vô cùng to lớn để chiến thắng kẻ thù.

Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, nhân dân ta rất anh hùng, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền xuôi, từ trẻ đến già nghe theo lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ đã nhất tề kháng chiến, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng ra sức thi đua xây dựng hậu phương vững chắc, thi đua giết giặc lập công, đóng góp sức người, sức của bảo đảm mọi điều kiện cần thiết cho chiến trường, tiếp thêm ý chí quyết chiến, quyết thắng cho các lực lượng vũ trang ngoài mặt trận. Với ý chí quyết tâm kháng chiến giành thắng lợi, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp, buộc chúng ngày càng lún sâu vào thế bị động, lúng túng. Đến năm 1953, nhân dân và quân đội ta đã làm chủ trên chiến trường, tạo ra sự so sánh lực lượng có lợi cho ta.

Để cứu vãn tình thế, bước vào Thu - Đông năm 1953, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã cho ra đời Kế hoạch Na-va tăng viện lớn về binh lực và chi phí chiến tranh, mưu toan trong vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của ta, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam và bình định cả miền Nam Đông Dương. Kế hoạch Na-va là nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhằm giành lại thế chủ động có tính quyết định về quân sự trên chiến trường, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có lợi cho chúng trên bàn hội nghị. Để đạt được mục tiêu đó, Bộ chỉ huy chiến trường Đông Dương của Pháp được sự giúp đỡ của Mỹ đã lập kế hoạch đến năm 1954 quân chủ lực Pháp có 7 sư đoàn cơ động chiến lược với 27 binh đoàn làm nắm đấm thép giải quyết chiến trường.

Với sự tập trung ưu tiên cao độ của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ lên tới 16.000 quân chiếm 1/3 lực lượng cơ động của Pháp ở chiến trường Bắc Bộ, được trang bị vũ khí hiện đại, bố trí ở 49 cứ điểm trong thế liên hoàn các "trung tâm đề kháng", Điện Biên Phủ thực sự trở thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của chúng ở Đông Dương lúc đó. Theo đánh giá của Pháp và Mỹ thì Điện Biên Phủ là "pháo đài khổng lồ không thể công phá", là "cái bẫy hiểm độc" thực hiện tham vọng "nghiền nát" quân chủ lực Việt Minh. Trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, lòng yêu nước và tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã tạo nên tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, quyết tâm đánh thắng kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Sau nhiều tháng nỗ lực chuẩn bị chiến dịch và 55 ngày đêm công phá với tinh thần kiên cường, dũng cảm, sáng tạo vô song của quân dân ta, ngày 7 tháng 5 năm 1954, cờ chiến thắng của ta đã tung bay trên nóc hầm của tướng Đờ Ca-xtơ-ri. Toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ nơi thực dân Pháp dựa vào như "con đê xung yếu" cứu cánh cuối cùng của chúng ở Đông Dương đã bị quân và dân ta đánh bại hoàn toàn. Chiến thắng Điện Biên Phủ đi vào lịch sử như một huyền thoại về sức mạnh chính trị - tinh thần; trong đó ý chí quyết tâm kháng chiến là nét tiêu biểu, chiếm ưu thế vượt trội của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đè bẹp sức mạnh quân sự khổng lồ của thực dân Pháp xâm lược.

PHAO

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H, 2000, tr.480.

Chủ động phòng ngừa, sẵn sàng ứng phó kịp thời, có hiệu quả với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống

Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Thực tiễn những năm qua cho thấy, mặc dù các vấn đề về an ninh phi truyền thống đã diễn ra hết sức phức tạp và để lại hậu quả nặng nề, nhưng vẫn còn những tổ chức, lực lượng và người dân chưa nhận thức đầy đủ, chưa thấy rõ các nguy cơ, hậu quả do an ninh phi truyền thống gây ra nên ý thức, tinh thần chủ động, công tác chuẩn bị để phòng ngừa, ứng phó còn chủ quan, bị động; sự phối hợp giữa các tổ chức, lực lượng trong thực tiễn khi xảy ra tình huống còn lúng túng, thiếu hiệu quả. Hơn nữa, các mối đe dọa từ an ninh phi truyền thống ở nước ta hiện nay có thể do con người, hoặc thiên nhiên, hoặc kết hợp con người và thiên nhiên tạo ra, có thể hình thành ngay trong nước hoặc lây lan, ảnh hưởng từ bên ngoài do tính chất xuyên quốc gia tạo ra, hậu quả của nó gây ra rất nặng nề và kéo dài. Do đó, Đảng, Nhà nước xác định phải lấy chủ động tự phòng ngừa, ngăn chặn là chủ yếu, đồng thời tích cực chuẩn bị và ứng phó kịp thời, hiệu quả với những tác động của nó, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống.

Phương châm “chủ động phòng ngừa” được thể hiện bằng những những quan điểm, định hướng chiến lược của Đảng trong phát triển đất nước bền vững, nhất là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững; các chiến lược về quốc phòng, an ninh, bằng hoạt động quản lý chặt chẽ của Nhà nước theo pháp luật và chủ động, tích cực xây dựng, triển khai thực hiện chương trình, dự án quốc gia để chủ động đối phó với các thảm họa do thiên tai gây ra. Quan tâm xây dựng, phát triển các lực lượng chuyên trách để tổ chức phòng ngừa, ứng phó có phương án chuẩn bị trước, bảo đảm ứng phó kịp thời, hiệu quả; tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm minh với những hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng.

PHAO

Sự phát triển tư duy của Đảng về an ninh phi truyền thống

         Nhận thức về an ninh phi truyền thống và những đe dọa, thách thức từ an ninh phi truyền thống được bắt nguồn từ thực tiễn, gắn với quá trình đổi mới tư duy về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là một quá trình phát triển tư duy về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Đảng, thể hiện qua các kỳ đại hội.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra quan điểm về tăng cường quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa với nội dung toàn diện cả mặt địa lý tự nhiên và mặt chính trị - xã hội. Báo cáo Chính trị tại Đại hội nêu rõ: “Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc[1]. Trong đó, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa về mặt địa lý tự nhiên, bao gồm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ… về mặt chính trị - xã hội, bao gồm bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, những vấn đề an ninh phi truyền thống chưa được đề cập trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, quan điểm về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Đảng đã có bước phát triển, Đảng ta xác định, để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải trên cơ sở xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững mạnh. Báo cáo Chính trị tại Đại hội nêu rõ: “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động bất ngờ[2]. Những vấn đề về an ninh phi truyền thống như: an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội, bước đầu được đề cập trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, thuật ngữ “an ninh phi truyền thống” chính thức được đưa vào văn kiện Đại hội. Báo cáo Chính trị tại Đại hội, nêu rõ: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống[3]. Tuy vấn đề an ninh phi truyền thống đã được đề cập khá rõ ràng, nhưng mới ở mức độ “sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu”.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, tư duy về an ninh phi truyền thống đã có bước phát triển, Đảng ta đặt an ninh phi truyền thống bên cạnh an ninh truyền thống, trong cùng nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia. Báo cáo Chính trị tại Đại hội, xác định: Mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân  và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội[4]. Từ mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh, Đại hội XII của Đảng, xác định nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia là “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng[5]. Như vậy, tư duy về an ninh phi truyền thống của Đảng tại Đại hội XII đã có bước phát triển toàn diện hơn. Đảng ta đặt vấn đề an ninh phi truyền thống cùng với an ninh truyền thống trong tổng thể các nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia. Và các mối đe dọa an ninh phi truyền thống có thể chuyển hóa thành an ninh truyền thống, nếu không được giải quyết kịp thời và triệt để.

Thực tiễn những năm qua, nước ta đã tổ chức triển khai nhiều hoạt động phòng, chống tác động, ảnh hưởng của an ninh phi truyền thống đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, trước những tác động, ảnh hưởng ngày càng lớn của các mối đe dọa từ an ninh phi truyển thống, nhất là các hoạt động tội phạm công nghệ cao, vấn đề biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh; an ninh năng lượng, lương thực, nguồn nước; an ninh kinh tế, tài chính, tiền tệ; an ninh dân tộc, tôn giáo… vẫn đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước. Thực tiễn đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, chủ động phòng ngừa, ứng phó kịp thời, có hiệu quả với các đe dọa của an ninh phi truyền thống trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã dành nhiều tâm huyết, trí tuệ thảo luận, đề ra quyết sách quan trọng để giải quyết vấn đề an ninh phi truyền thống. Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII về tăng cường quốc phòng, an ninh, Báo cáo chính trị tại Đại hội khẳng định: “Tư duy về quốc phòng, an ninh, đối tác, đối tượng, bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển mới và ngày càng hoàn thiện. Sự kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại ngày càng chặt chẽ, hiệu quả. Chủ động đấu tranh kịp thời, hiệu quả, từng bước đẩy lùi các loại tội phạm; phòng ngừa và ứng phó kịp thời với các mối đe dọa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống; làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động”[6].

Đặc biệt, Đại hội đã đánh giá sâu sắc những tác động, ảnh hưởng và kết quả phòng, chống đại dịch Covid-19, trong đó nhấn mạnh: Trong năm 2020, đại dịch Covid-19 tác động mạnh đến nước ta, gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế - xã hội và sự phát triển của đất nước. Nhưng với sự nỗ lực cố gắng vượt bậc, đất nước đã đạt được những kết quả, thành tích đặc biệt hơn so với các năm trước. Trong khi kinh tế thế giới suy thoái, tăng trưởng âm gần 4%, kinh tế nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng 2,91%, là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Có được những thành tựu vượt bậc trên là do chúng ta đã phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; sự lãnh đạo nhạy bén, đúng đắn của Đảng; sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ; sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã kịp thời khống chế, cơ bản kiểm soát, ngăn chặn được sự lây lan của đại dịch Covid-19 trong cộng đồng; hạn chế tối đa những thiệt hại, tổn thất do dịch bệnh gây ra, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội cho nhân dân; từng bước khôi phục sản xuất kinh doanh, nỗ lực hoàn thành ở mức cao nhất các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của năm 2020 và cả giai đoạn 2016 - 2020. Chính từ những kết quả nổi bật trên, Việt Nam được thế giới ghi nhận, coi là điểm sáng trong việc thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép” vừa khống chế, ngăn chặn đại dịch Covid-19 thành công; vừa phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm đời sống và an toàn cho người dân. Những kết quả đó đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; khẳng định bản lĩnh, ý chí, truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, dân tộc ta.

Tuy nhiên, Đại hội XIII cũng chỉ ra những hạn chế trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia, trong đó có an ninh phi truyền thống, đó là: “Công tác nắm tình hình, dự báo chiến lược về quốc phòng, an ninh có lúc chưa thật chủ động; tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; an ninh trên một số địa bàn, lĩnh vực chưa thật vững chắc, nhất là an ninh mạng, an ninh trong đầu tư nước ngoài; nhiều yếu tố ảnh hưởng đến an ninh, an toàn con người chưa được quan tâm giải quyết triệt để; xử lý khiếu kiện đông người về đất đai và một số tình huống phức tạp nảy sinh ở mộ số địa bàn, cơ sở có lúc, có nơi còn bị động. Công tác quản lý, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng còn hạn chế”[7].

Nhận định về tình hình thế giới và đất nước những năm tới có liên quan đến vấn đề an ninh phi truyền thống, Đại hội XIII nhấn mạnh: Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch Covid-19. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng quyết liệt. Những vấn đề toàn cầu như bảo vệ hoà bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường... tiếp tục diễn biến phức tạp. Tại Đông Nam Á, môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông còn diễn biến phức tạp. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề an ninh phi truyền thống khác, nhất là an ninh mạng, ngày càng tác động mạnh, nhiều mặt, đe doạ nghiêm trọng đến sự phát triển ổn định, bền vững của thế giới, khu vực và đất nước.

Đối với nước ta, nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch Covid-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra; biến đổi khí hậu gay gắt, phức tạp... ngày càng tác động mạnh đến sự phát triển của đất nước. Trong khi đó các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt chống phá với những âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, thâm độc, rất khó để nhận diện, phòng chống. Do đó, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định và ứng phó kịp thời, hiệu quả với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn trong thời gian tới.

Từ thực tiễn đó, Đại hội XIII đã nhấn mạnh mục tiêu, phương hướng tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa[8].

Quan điểm đó tiếp tục cho thấy tư duy nhất quán của Đảng khi kết hợp chặt chẽ, toàn diện mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trên các phương diện địa lý - tự nhiên và chính trị - xã hội, lợi ích quốc gia - dân tộc trong một chỉnh thể thống nhất. Đặc biệt, Đại hội XIII đã có sự phát triển tư duy rất quan trọng về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trong đó có những vấn đề an ninh phi truyền thống. Báo cáo Chính trị tại Đại hội nêu rõ: “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân. Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh”. Quan điểm của Đại hội XIII thể hiện sự phát triển mới trong tư duy của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, khi đặt an ninh phi truyền thống là một nội dung quan trọng vì an toàn của con người, đặt an toàn của con người lên hàng đầu, con người giữ vị trí trung tâm của sự phát triển. Đây là minh chứng để khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

PHAO

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.117.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.108-109.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.233.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.147-148.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.148.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.69.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.87-88.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 155-156,

CHIẾN DỊCH XUYÊN TẠC LỊCH SỬ CỦA MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY, NHỮNG KẺ TỪNG BẮT TAY PHÁT XÍT ĐỨC XÂM LƯỢC LIÊN XÔ TRONG THẾ CHIẾN THỨ II!

        Hiện nay, một số nước phương Tây đẩy mạnh chiến dịch xuyên tạc lịch sử, biến Liên Xô từ quốc gia đóng vai trò quyết định tiêu diệt chủ nghĩa phát xít trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II thành “quốc gia xâm lược” châu Âu.

 Vì vậy, để bảo vệ chính nghĩa, chúng ta cần đi sâu nghiên cứu làm rõ giá trị thắng lợi của cuộc chiến đối với hòa bình thế giới.

Khái lược về chiến dịch xuyên tạc lịch sử Chiến tranh thế giới lần thứ II.

Lễ tưởng niệm 80 năm Ngày nổ ra Chiến tranh thế giới lần thứ II (01/9/1939 - 01/9/2019) được tổ chức tại thủ đô Warszawa, Ba Lan với sự hiện diện của gần 250 nhà lãnh đạo và quan chức cao cấp của 40 nước, nhưng Liên bang Nga (quốc gia kế thừa vị thế của Liên Xô) lại không được nước chủ nhà mời tham dự.

 Giải thích về sự việc này, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ba Lan, Shimon Shinkovsky Vel Senka cho biết, sở dĩ Nga không được mời là bởi các nước tham dự sự kiện này được chọn theo các tiêu chí dựa trên “sự thật lịch sử”. Vậy “sự thật lịch sử” ở đây là gì? Phải chăng đang có “một sự thật lịch sử khác”(!?) ngoài sự thật đã được thế giới công nhận cách đây 75 năm?

Tại lễ tưởng niệm này, tất cả đại biểu tham dự không hề nhắc đến vai trò và đóng góp có ý nghĩa quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến tiêu diệt chủ nghĩa phát xít ở châu Âu và chủ nghĩa quân phiệt ở châu Á. Những năm gần đây, một số nước phương Tây mượn cớ Liên Xô ký với Đức Hiệp ước Molotov-Ribbentrov vào ngày 23/8/1939 không tấn công lẫn nhau để cáo buộc Liên Xô “cấu kết với Đức gây ra Chiến tranh thế giới lần thứ II”.

 Thực tế lịch sử đã hoàn toàn bác bỏ cáo buộc đó, bởi tại thời điểm này, Đức cũng đã ký hiệp ước riêng với nhiều nước ở châu Âu: với Ba Lan Hiệp ước không tấn công lẫn nhau; với Anh Hiệp ước cho phép xây dựng Hạm đội hải quân mà quốc gia này bị cấm theo Hiệp ước Versailles; chung với Anh, Pháp và Italia Hiệp ước Munich buộc Tiệp Khắc phải cắt tỉnh Sudetenland cho nước Đức, v.v.

 Vậy mà, một số nước châu Âu cố tình “quên” lịch sử Chiến tranh thế giới lần thứ II, đập phá các tượng đài kỷ niệm chiến sĩ Hồng quân Liên Xô đã từng anh dũng chiến đấu, hy sinh trong cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quân phiệt. Thậm chí, có quốc gia châu Âu còn truy tặng các phần tử dân tộc cực đoan đã từng chiến đấu trong hàng ngũ phát xít Đức chống lại Hồng quân Liên Xô là “anh hùng dân tộc” và coi Liên Xô là “quốc gia xâm lược châu Âu” trong Chiến tranh thế giới lần thứ II.

Trên thực tế, Mỹ đứng đầu các nước phương Tây đã từng tiến hành chiến dịch xuyên tạc vai trò của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới lần thứ II ngay sau khi cuộc chiến này kết thúc vào năm 1945 và coi đó là một trong những biện pháp quan trọng của chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm làm tan rã Liên Xô.

 Sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, các nước phương Tây, đứng đầu là Mỹ đẩy mạnh chiến dịch này với nhiều chiêu trò mới. Mục đích của chiến dịch xuyên tạc này là biến Liên Xô từ “quốc gia giải phóng” châu Âu thành “quốc gia xâm lược” châu lục này.

 Từ đó, lôi kéo các nước thuộc châu Âu, các nước hậu Xô viết và một số nước trên thế giới hình thành mặt trận rộng rãi chống lại Liên bang Nga. Bởi họ cho rằng, ngày nay Moscow là “cản trở lớn nhất” đối với tham vọng của một số thế lực muốn tiếp tục duy trì quyền bá chủ thế giới.

 Tại Hội nghị an ninh quốc tế Munich năm 2007, Tổng thống V. Putin - nhà lãnh đạo đầu tiên trên thế giới chính thức tuyên bố phản đối tham vọng đó và nhấn mạnh chủ trương của Nga xây dựng một trật tự thế giới mới, trong đó các quốc gia dù “mạnh” hay “yếu”, “lớn” hay “nhỏ”, giàu hay nghèo,... đều phải được bình đẳng và tôn trọng như nhau.

Nhìn lại nguyên nhân dẫn tới Chiến tranh thế giới lần thứ II.

Theo Tổng thống V. Putin, nguyên nhân đầu tiên và cũng là nguyên nhân sâu xa dẫn tới Chiến tranh thế giới lần thứ II xuất phát từ Hiệp ước Versailles được Anh, Pháp và Mỹ soạn thảo để chấm dứt Chiến tranh thế giới lần thứ I. 

Đối với người Đức, Hiệp ước này là biểu tượng về sự bất công. Theo các văn kiện lịch sử, Hiệp ước Versailles quy định, nước Đức bại trận phải nhường lại vùng đất Alsace - Lorraine cho nước Pháp. 

Về kinh tế, trong 03 năm (1919 - 1921), Đức phải bồi thường chiến tranh cho các nước thắng cuộc 20 tỷ DM (đồng tiền Deutsche Mark Đức) có giá trị bằng vàng; chuyển giao cho các nước thắng trận tất cả tàu thương mại có tải trọng trên 1.600 tấn và 1/5 hải đội đường sông; phải đóng cho họ các tàu thương mại với tổng tải trọng 200.000 tấn/năm trong vòng 5 năm. Trong 10 năm, Đức phải chuyển 140 triệu tấn than đá cho Pháp, 80 triệu tấn cho Bỉ và 77 triệu tấn cho Italia; đồng thời, phải chuyển giao cho họ một nửa tổng sản phẩm công nghiệp hóa chất dự trữ.

 Về quân sự, Đức không được phép trang bị tàu ngầm hoặc tàu nổi có trọng tải trên 10.000 tấn và phải giải tán Bộ Tổng Tham mưu, v.v. Chính nỗi “quốc nhục” này là động lực hồi sinh, nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc cực đoan và phục thù ở nước Đức. Các thành viên của Đảng Quốc xã lợi dụng điều này để kêu gọi người Đức rửa hận và xóa bỏ Hiệp ước Versailles.

Nguyên nhân thứ hai, theo Tổng thống V. Putin, chính là một nghịch lý từ Hiệp ước Versailles. Đó là, các tập đoàn tài chính và công nghiệp của các quốc gia phương Tây, trước hết là Anh và Mỹ đã lợi dụng ý chí phục thù của Đức Quốc xã để biến họ thành cỗ máy quân sự mạnh nhất châu Âu phát động cuộc chiến tranh thế giới mới nhằm tiêu diệt Liên Xô - nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới.

 Theo các tài liệu đã được giải mật, để thực hiện tham vọng này, các tập đoàn tài phiệt của Mỹ và Anh ủng hộ toàn diện về chính trị, kinh tế và quân sự cho Đức Quốc xã đứng đầu là Adolf Hitler. Đến thời điểm trước khi bùng nổ Chiến tranh thế giới lần thứ II, các tập đoàn tài phiệt của Mỹ và Anh đã kiểm soát gần 80% tiềm lực công nghiệp của Đức Quốc xã.

Nguyên nhân thứ ba, là sự bất lực của Hội Quốc Liên trong việc ngăn chặn hiểm họa Chiến tranh thế giới lần thứ II. Hội Quốc Liên được thành lập trên cơ sở Hiệp ước Versailles, nhằm mục tiêu chủ yếu là ngăn ngừa chiến tranh thông qua cơ chế an ninh tập thể và giải trừ quân bị, giải quyết các tranh chấp quốc tế thông qua đàm phán và trọng tài.

 Tuy nhiên, do Anh và Pháp là các cường quốc chiến thắng trong Chiến tranh thế giới lần thứ I thao túng hoạt động của Hội Quốc Liên nên tổ chức này đã không thực hiện được chức năng bảo đảm hòa bình và an ninh chung của thế giới. Biểu hiện rõ nhất là Hội Quốc Liên đã phớt lờ lời kêu gọi nhiều lần của Liên Xô về việc xây dựng hệ thống an ninh tập thể công bằng và bình đẳng trên thế giới. Vì thế, Hội Quốc Liên đã không thể ngăn chặn các cuộc chiến tranh và xung đột ở nhiều nơi trên thế giới, điển hình là cuộc xâm lược Ethiopia của Italia, nội chiến ở Tây Ban Nha và cuộc xâm lược của Nhật Bản ở Trung Quốc.

Bảo vệ sự thật lịch sử về Chiến tranh thế giới lần thứ II vì hòa bình của nhân loại.

Mục tiêu xuyên suốt của chiến dịch xuyên tạc lịch sử Chiến tranh thế giới lần thứ II là tạo môi trường chính trị quốc tế thuận lợi cho hoạt động ráo riết chuẩn bị một cuộc chiến tranh thế giới mới nhằm ngăn chặn “nguy cơ xâm lược” từ Nga, trước hết là nhằm loại Nga ra khỏi thành viên của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc - một cơ chế quốc tế có ý nghĩa quyết định tình trạng chiến tranh hay hòa bình trên thế giới.

 Trong bối cảnh đó, nước Nga phải chuẩn bị sẵn sàng đối mặt với nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới mới. Mặc dù, điều kiện kinh tế còn khó khăn do bị bao vây, cấm vận, Tổng thống V. Putin vẫn chỉ đạo nghiên cứu phát triển các loại vũ khí mới, có khả năng vượt qua mọi lá chắn tên lửa để đáp trả hành động xâm lược. Ông từng khẳng định, học thuyết quân sự của Nga chỉ nhằm mục đích phòng thủ và Nga sẽ không bao giờ sử dụng đòn tấn công trước.

 Với học thuyết mới, bất kỳ tên lửa đạn đạo hay tên lửa hành trình của kẻ thù bay về phía Nga đều có thể xem là lý do để Moscow tiến hành tấn công hạt nhân trả đũa ngay lập tức.

Trên cơ sở tôn trọng sự thật lịch sử theo những gì vốn có của nó, nhân dân tiến bộ thế giới cần khẳng định, kiên quyết bác bỏ mọi mưu toan xem xét lại lịch sử Chiến tranh thế giới lần thứ II; nghi ngờ về vai trò quyết định của Liên Xô trong chiến thắng chủ nghĩa phát xít và quân phiệt. Đồng thời cho rằng, chính thắng lợi của Hồng quân Liên Xô trong Chiến tranh thế giới lần thứ II đã mở ra con đường giải phóng nhiều nước thoát khỏi hiểm họa chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa thực dân.

 Do đó, nhân loại cần phải nhận thấy rằng, việc tuyên truyền xuyên tạc lịch sử Chiến tranh thế giới lần thứ II trong bối cảnh chủ nghĩa phát xít mới và chủ nghĩa cường quyền đang trỗi dậy ở một số nước là hiểm họa đối với hòa bình và an ninh quốc tế.

Đúng vào dịp kỷ niệm 75 năm kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ II, Tổng thống Nga V. Putin đề xuất sáng kiến tổ chức cuộc gặp nguyên thủ 05 quốc gia Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, gồm: Nga, Mỹ, Pháp, Anh và Trung Quốc để cùng nỗ lực đối phó với các mối đe dọa nền hòa bình và an ninh toàn cầu, trước hết là ngăn chặn hiểm họa Chiến tranh thế giới lần thứ III. Giới phân tích gọi đề xuất này của Tổng thống V. Putin là sáng kiến về Hội nghị Yalta-2.

 Hội nghị Yalta-1 được ký vào năm 1945, giữa nguyên thủ ba nước Liên Xô, Mỹ và Anh để thiết lập trật tự thế giới sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, còn Hội nghị Yalta-2 sẽ thiết lập trật tự thế giới mới sau Chiến tranh lạnh./.
Yêu nước ST.

THƯƠNG THAY NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM NÓI TIẾNG NƯỚC NGOÀI!!!

 Không biết từ bao giờ, trên mạng xã hội tồn tại những con người có bệnh "tự nhục". Hễ cái gì của nước ngoài đều tốt nhất, đẹp nhất, hay nhất...còn của Việt Nam đều kém cỏi. 

Nực cười hơn, những người này bị "mù" một cách hết sức chủ động. Họ chỉ nhìn thấy những cái chưa đẹp, chưa hay, còn những điều hay ho đẹp đẽ thì không nhìn thấy, hoặc quy vào "làm màu, bệnh thành tích". Chúng ta dễ dàng có thể bắt gặp những bình luận thế này trên mạng:

Đội tuyển bóng đá Nam Việt Nam đạt giải nhì ở giải U23 Châu Á: " Giải nhì thì có gì đáng ăn mừng?", " Giải trẻ có gì phải khoe, giỏi thì đá với tuyển quốc gia kìa".

Khi chúng ta vô địch bóng đá Seagame 30: Thái Lan họ giấu bài, Thái Lan họ chưa có đủ quân, vân vân và mây mây.

Trong Seagame 31 đang diễn ra ở Việt Nam, khi các vận động viên của chúng ta đạt huy chương vàng thì họ dè bỉu "chủ nhà thiên vị, bệnh thành tích", nếu không vô địch thì chê "mang tiếng chủ nhà mà không vô địch được"... Thật khó sống với những kẻ bị bệnh tiêu chuẩn kép này.

Không chỉ trong lĩnh vực thể thao, mà ở mọi lĩnh vực của cuộc sống, những người này đều không thể công nhận sự thật rằng Việt Nam đang là một quốc gia ngày càng hùng cường, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, vị thế quốc tế cũng ngày một tăng cường. Trong suy nghĩ của họ, Việt Nam phải là quốc gia nghèo đói, lạc hậu, kém phát triển, tham nhũng tràn lan, cái xấu tràn ngập...mới phải. Trong khi nhiều người trong số họ vẫn đang sống, làm ăn, sinh hoạt, hưởng thụ những điều tốt đẹp mà đất nước này mang cho họ.

Than ôi, bệnh mù này nặng quá, mù có chọn lọc thì thuốc nào chữa nổi đây!!!


CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI NHẬN THỨC RÕ VAI TRÒ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN!

         Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù cơ bản nhất của Chủ nghĩa xã hội khoa học. Phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một trong những cống hiến vĩ đại nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có khả năng lãnh đạo nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột trong cuộc đấu tranh từng bước xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là lập trường chính trị của những người mácxít - lêninnít. Vì vậy, làm sáng tỏ và đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong bối cảnh hiện nay là vấn đề bức thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn, là trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta./.




Yêu nước ST.

PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG


Một là, cấp ủy các cấp xây dựng nghị quyết, kế hoạch, chỉ thị về lãnh đạo đấu tranh tư tưởng.

Bên cạnh phương thức lãnh đạo bằng nghị quyết, hầu hết cấp ủy các cấp hiện nay lãnh đạo bằng việc ra các kế hoạch, chỉ thị thực hiện Nghị quyết 35, trong đó có đề cập nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng. Theo chúng tôi, sẽ hiệu quả hơn nếu Ban chỉ đạo 35 của các cấp ủy xây dựng được kế hoạch đấu tranh tư tưởng.

Hai là, cấp ủy lãnh đạo đấu tranh tư tưởng thông qua tổ chức đảng và đảng viên.

Tổ chức đảng và đảng viên là những người tiên phong đưa Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị vào cuộc sống, vào thực tiễn đấu tranh tư tưởng. Trước hết, tổ chức đảng và đảng viên là người quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, xây dựng thành nghị quyết, kế hoạch thực hiện của cấp mình. Tổ chức đảng và đảng viên cũng là những người trực tiếp tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục quần chúng, xây dựng nhận thức đúng đắn cho mình và cho quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng. Tổ chức đảng và đảng viên cũng là những người trực tiếp, thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, phê phán những suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng sai trái, lệch lạc; chấn chỉnh những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đó là cơ sở để những cán bộ, đảng viên được phân công làm nhiệm vụ nòng cốt, chuyên trách đấu tranh tư tưởng, củng cố trận địa tư tưởng, phát huy tài năng và trí tuệ của mình vào thực tiễn đấu tranh tư tưởng hằng ngày, hoàn thành các mục tiêu đấu tranh tư tưởng mà Nghị quyết 35 đề ra.

Mỗi tổ chức đảng cần xây dựng lực lượng chuyên trách theo hướng tinh gọn, đủ mạnh để tiến hành đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây vừa phương thức lãnh đạo, vừa là một nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định trong Nghị quyết 35.

Ba là, cấp ủy lãnh đạo đấu tranh tư tưởng thông qua phát huy vai trò chính quyền nhân dân.

Cấp ủy lãnh đạo chính quyền cùng cấp cụ thể hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng về đấu tranh tư tưởng, đặc biệt là mục tiêu, quan điểm, nhiệm và giải pháp theo Nghị quyết 35 vào hoạt động quản lý Nhà nước, vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội, chính quyền các địa phương cần coi trọng tuyên truyền, giáo dục nhân dân nhận rõ về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực kinh tế; bao gồm những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận những quan điểm kinh tế của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách kinh tế của Đảng, Nhà nước ta; làm chệch hướng XHCN nền kinh tế nước ta, phá hoại nền kinh tế. Đồng thời, phải đẩy mạnh tuyên truyền về tác hại của sự chống phá đó đối với nền kinh tế nói chung, kích hoạt quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị trong nội bộ ta nói riêng.

Bốn là, cấp ủy lãnh đạo đấu tranh tư tưởng thông qua các đoàn thể chính trị - xã hội.

Phương thức này huy động sức mạnh tổng hợp vào công tác đấu tranh tư tưởng. Cấp ủy đảng trong các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt là Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Công đoàn... đều có lực lượng tuyên giáo làm nòng cốt, cần xây dựng chương trình, kế hoạch đấu tranh tư tưởng trong tổ chức mình, phù hợp với tâm tư, nguyện vọng và lợi ích chính trị của đoàn viên, hội viên.

Năm là, thường xuyên kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết công tác đấu tranh tư tưởng.

Kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết là một khâu rất quan trọng trong quy trình lãnh đạo của tổ chức đảng. Kiểm tra, giám sát là khâu không thể thiếu nhằm bảo đảm nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của cấp ủy đảng về đấu tranh tư tưởng được thực thi trên thực tế. Sơ kết, tổng kết để nhìn ra ưu điểm và hạn chế, nguyên nhân và cách khắc phục. Sơ kết, tổng kết còn giúp cấp ủy phát hiện điển hình tiên tiến, những mô hình hay, cách làm tốt để tiến hành công tác thi đua, khen thưởng; kịp thời làm công tác cổ vũ, động viên; làm lan tỏa những tập thể, cá nhân có thành tích tốt trên mặt trận đấu tranh tư tưởng. Việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm đấu tranh tư tưởng phải được duy trì thành nền nếp, thường xuyên, có hiệu quả thiết thực, định kỳ hằng năm, nửa năm hoặc qua các đợt đấu tranh cao điểm, qua từng nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng cụ thể. Từ những mô hình hay, những điển hình tốt, những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế là cơ sở để cấp ủy xây dựng nghị quyết, chỉ thị về lãnh đạo đấu tranh tư tưởng thu được thắng lợi lớn hơn.

Chỉ đạo công tác đấu tranh tư tưởng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Những luận điệu của các thế lực thù địch và các phần tử phản động, cơ hội chính trị nói trên tuy không có gì mới, nhưng nó được tung ra, truyền bá vào lúc này là hết sức độc hại, nguy hiểm, gieo rắc hoang mang, nghi ngờ, phân tâm, mất niềm tin trong nội bộ ta, tác động hòng làm đội ngũ ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”(1). Trong bối cảnh đó, nếu cấp ủy các cấp không coi trọng lãnh đạo công tác đấu tranh tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, ra sức góp phần làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam thì không thể đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chính vì lẽ đó, nắm chắc nội dung, phương thức lãnh đạo đấu tranh tư tưởng trở thành một nhiệm vụ then chốt của cấp ủy đảng các cấp hiện nay./.

  

Nội dung lãnh đạo đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái

 




Thứ nhất, lãnh đạo đấu tranh phản bác các luận điệu phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin.

Về lý luận, các thế lực thù địch, phản động đang ra sức phủ định tính khoa học, cách mạng, nhân văn và các giá trị cốt lõi phù hợp với thời đại của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng tập trung tấn công vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, như: về hình thái kinh tế - xã hội, về học thuyết giá trị thặng dư,
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân...

Về thực tiễn, lợi dụng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, chúng rêu rao lý luận về chủ nghĩa xã hội là sai lầm, ảo tưởng, rêu rao chủ nghĩa tư bản là đỉnh cao của nhân loại, sẽ tồn tại vĩnh hằng.

Thứ hai, lãnh đạo phản bác các luận điệu tấn công vào tư tưởng Hồ Chí Minh.

Các luận điệu tấn công vào tư tưởng Hồ Chí Minh theo hai hướng. Một mặt, các thế lực thù địch phủ nhận nội dung, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng đây chỉ là “mớ lý thuyết hỗn độn nhằm đề cao, sùng bái cá nhân”, là “một di hại to lớn của lịch sử”, “Hồ Chí Minh chỉ tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu”... Mặt khác, chúng lại ra sức tuyên truyền, đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác - Lênin, đòi đưa Chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Thứ ba, lãnh đạo phản bác, vạch trần các luận điệu chống phá quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Hiện nay, các thế lực thù địch tập trung tấn công vào những vấn đề như: lựa chọn mục tiêu, mô hình phát triển, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, hệ thống chính trị, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, lãnh thổ, đối ngoại...

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động cũng đang tập trung chống phá hệ thống pháp luật, đòi tách hệ thống pháp luật của Việt Nam “độc lập” khỏi sự lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Thứ tư, lãnh đạo phản bác các luận điệu phủ nhận thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Các phương tiện truyền thông của các thế lực thù địch chỉ tập trung đưa thông tin về những mặt tiêu cực, khoét sâu những hạn chế, sai lầm, khuyết điểm của hệ thống chính trị; phóng đại những sơ hở trong quản lý kinh tế - xã hội, xung quanh vấn đề đất đai, môi trường, phân hóa giàu nghèo, phóng đại một số biểu hiện suy thoái của cá nhân cán bộ, đảng viên, một số việc làm vô cảm, mất lòng dân của cơ quan Nhà nước, thổi phồng những khó khăn về kinh tế - xã hội của đất nước...

Chúng hạ thấp những thành tựu phát triển của đất nước, như: phủ nhận kết quả đạt được của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phủ nhận sự thay đổi tích cực trên tất cả các mặt của đất nước và đời sống xã hội của nhân dân, phủ nhận vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.

Chúng xuyên tạc cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, phủ nhận những cố gắng, nỗ lực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Thứ năm, lãnh đạo đấu tranh chống xuyên tạc lịch sử, phản bác các luận điệu “viết lại lịch sử”, hạ bệ thần tượng, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cấp cao.

Đặc biệt, chúng ra sức nói xấu, bôi nhọ đời tư, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Các Mác, Lênin, các lãnh tụ của Đảng, Anh hùng cách mạng, những người đã trở thành những tấm gương sáng trong lòng dân tộc Việt Nam.

Thời gian qua, công tác nghiên cứu lý luận của Đảng đã thu được rất nhiều thành tựu. Ban chỉ đạo Trung ương 94, Ban chỉ đạo Trung ương 213, Ban chỉ đạo 609 (nay hợp nhất thành Ban chỉ đạo 35). Hội đồng Lý luận Trung ương... đã chỉ đạo xuất bản nhiều ấn phẩm quan trọng cung cấp hệ thống luận cứ giúp cấp ủy, ban tuyên giáo các cấp sử dụng trong lãnh đạo, tổ chức đấu tranh tư tưởng. Những ấn phẩm như: “Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam”; “Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu biện “tự diễn biến”, ‘tự chuyển hóa” về chính trị trong Đảng”; “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt để phát triển đất nước”... do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự Thật xuất bản rất nên là sách “gối đầu giường” cho cấp ủy viên và lực lượng nòng cốt đấu tranh tư tưởng của các cấp ủy.