Lòng yêu nước, ý chí quyết tâm kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu
mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” là nét đặc sắc cơ bản, hàng đầu của sức
mạnh chính trị - tinh thần, cội nguồn làm nên chiến thắng lịch sử Điên Biên
Phủ.
Sau Cách
mạng tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp được sự hỗ trợ của các thế lực đế quốc
đã quay trở lại xâm lược nước ta. Không chịu khuất phục, ngày 19/12/1946, toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh
dũng bước vào cuộc kháng chiến gian khổ, trường kỳ chống kẻ thù xâm lược, với ý
chí quyết tâm “Chúng ta thà hy sinh
tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[1] đã tạo ra một sức mạnh chính
trị - tinh thần vô cùng to lớn để chiến thắng kẻ thù.
Thực
hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là
chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, nhân dân
ta rất anh hùng, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền xuôi, từ trẻ
đến già nghe theo lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ đã nhất tề kháng chiến, phát
huy cao độ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng ra sức thi đua xây
dựng hậu phương vững chắc, thi đua giết giặc lập công, đóng góp sức người, sức
của bảo đảm mọi điều kiện cần thiết cho chiến trường, tiếp thêm ý chí quyết
chiến, quyết thắng cho các lực lượng vũ trang ngoài mặt trận. Với ý chí quyết
tâm kháng chiến giành thắng lợi, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến
lược quân sự của thực dân Pháp, buộc chúng ngày càng lún sâu vào thế bị động,
lúng túng. Đến năm 1953, nhân dân và quân đội ta đã làm chủ trên chiến trường,
tạo ra sự so sánh lực lượng có lợi cho ta.
Để cứu
vãn tình thế, bước vào Thu - Đông năm 1953, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã
cho ra đời Kế hoạch Na-va tăng viện lớn về binh lực và chi phí chiến tranh, mưu
toan trong vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của ta, kiểm soát
lãnh thổ Việt Nam và bình định cả miền Nam Đông Dương. Kế hoạch Na-va là nỗ lực
cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhằm giành lại thế chủ động có tính
quyết định về quân sự trên chiến trường, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị
có lợi cho chúng trên bàn hội nghị. Để đạt được mục tiêu đó, Bộ chỉ huy chiến
trường Đông Dương của Pháp được sự giúp đỡ của Mỹ đã lập kế hoạch đến năm 1954
quân chủ lực Pháp có 7 sư đoàn cơ động chiến lược với 27 binh đoàn làm nắm đấm
thép giải quyết chiến trường.
Với sự
tập trung ưu tiên cao độ của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, quân đội Pháp ở Điện
Biên Phủ lên tới 16.000 quân chiếm 1/3 lực lượng cơ động của Pháp ở chiến
trường Bắc Bộ, được trang bị vũ khí hiện đại, bố trí ở 49 cứ điểm trong thế
liên hoàn các "trung tâm đề kháng", Điện Biên Phủ thực sự trở thành
một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của chúng ở Đông Dương lúc đó. Theo đánh giá của
Pháp và Mỹ thì Điện Biên Phủ là "pháo đài khổng lồ không thể công
phá", là "cái bẫy hiểm độc" thực hiện tham vọng "nghiền
nát" quân chủ lực Việt Minh. Trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên
Phủ, lòng yêu nước và tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã tạo nên
tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, quyết
tâm đánh thắng kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Sau nhiều
tháng nỗ lực chuẩn bị chiến dịch và 55 ngày đêm công phá với tinh thần kiên
cường, dũng cảm, sáng tạo vô song của quân dân ta, ngày 7 tháng 5 năm 1954, cờ
chiến thắng của ta đã tung bay trên nóc hầm của tướng Đờ Ca-xtơ-ri. Toàn bộ tập
đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ nơi thực dân Pháp dựa vào như "con đê xung
yếu" cứu cánh cuối cùng của chúng ở Đông Dương đã bị quân và dân ta đánh
bại hoàn toàn. Chiến thắng Điện Biên Phủ đi vào lịch sử như một huyền thoại về
sức mạnh chính trị - tinh thần; trong đó ý chí quyết tâm kháng chiến là nét
tiêu biểu, chiếm ưu thế vượt trội của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đè
bẹp sức mạnh quân sự khổng lồ của thực dân Pháp xâm lược.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét