Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

Nhận thức tốt về quan hệ giữa đổi mới kinh tể và đổi mới chính trị

 


Đây là mối quan hệ giữa hai lĩnh vực then chốt nhất của sự phát triển đất nước. Đổi mới kinh tế luôn được coi trọng nhưng không thể không đổi mới chính trị. Mặt khác, lại phải giải quyết mi quan hệ này trên cơ sở khoa học, thực tiễn, Tránh những quan điểm tả khuynh hoặc cực đoan trong đổi mới kinh tế lẫn chính trị. Đổi mi kinh tế và đối mới chính trị phải được nhận thức, cụ thể hóa một cách phù hợp, thường xuyên và lâu dài. Thực tế, chúng ta đã từng bước đổi mới chính trị, mà trọng tâm là đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, lý luận về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị chưa thật rõ. Trong thực tế, đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế. Đã đến lúc đòi hỏi Đảng cần xác định rõ mối quan hệ giữa kinh tế và đổi mới chính trị phù hợp với giai đoạn hiện nay, khắc phục một số biểu hiện lo mất ổn định, không dám mạnh dạn đổi mới chính trị cho đồng bộ với đổi mới kinh tế.

Nhận thức tốt về quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển

 


Từ Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, đổi mới là tất yếu, để ra khỏi khủng hoảng, xác lập ổn định và hướng tới phát triển. Như vậy, đổi mới, ổn định và phát triển có quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình phát triển của đất nước. Từ lý luận và thực tiễn công cuộc đổi mới đang đặt ra việc giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển. Đổi mới là tất yếu song không để xảy ra mất ổn định; đổi mới trong sự ổn định để phát triển đất nước. Ba phạm trù này luôn tác động qua lại lẫn nhau cần phải quán triệt đầy đủ sâu sắc và giải quyết trên tất cả các lĩnh vực, trong hệ thống chính trị các cấp, từ Trung ương đến cơ sở. Vừa qua, việc giải quyết mối quan hệ này chưa tốt: đổi mới được tiến hành liên tục, nhưng chưa đồng bộ, chưa kịp thời nên ảnh hưởng đến sự phát triển đất nước; yếu tố ổn định cần được bảo đảm ngay cả trong những lúc khó khăn, tuy nhiên, ở một số nơi quá "coi trọng" ổn định nên không dám đổi mới mạnh mẽ; yếu tố phát triển chưa đi vào chiều sâu, nhiều vấn đề lý luận về phát triển chưa được làm sáng tỏ. Vì thế, cần phải xử lý tốt hơn mối quan hệ này.

Xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng của Nhân dân ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đòi từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

 


Biểu hiện kiểu này xuất hiện ở những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị hoặc những cán bộ, đảng viên đã phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thiếu tin tưỏng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ có thái độ phủ nhận lịch sử, cho rằng những năm tháng hào hùng đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng là “thời kỳ đen tối”, “sai lầm” không thể chấp nhận. Những cá nhân này cũng hay lấy thực tế nước Đức thống nhất, lấy đòi sống ngưòi dân Hàn Quốc và Triều Tiên để minh chứng cho luận điệu về sự sai lầm của lịch sử khi Việt Nam chọn con đưòng cách mạng vô sản, từ đó ra sức xuyên tạc lịch sử, hạ bệ lãnh tụ Hồ Chí Minh, nói xấu Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa chân chính để chấp nhận “chủ nghĩa xã hội nhân đạo, dân chủ”…

Mượn danh vì dân chủ, đòi thực hỉện thể chế chính trị “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập”


Biểu hiện này thường gặp ở những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị. Họ mượn danh nghĩa là đấu tranh vì dân chủ nhưng lại có những lời nói, hành động chống lại nền dân chủ của nhân dân, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Thậm chí cá biệt có cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưỏng chính trị,đạo đức, lối sống, phụ họa theo các thế lực thù địch đòi tự do dân chủ vô nguyên tắc, coi  thường tổ chức. Hội nghị Trung ương 4, khóa XII, khi nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đã chỉ rõ đó là biểu hiện: “Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái”1.

Những người dân túy thể hiện thái độ không tôn trọng nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Họ dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, mượn danh để đòi đổi mới chính trị vô nguyên tắc, tuyên truyền đòi đa nguyên chính trị, tam quyền phân lập, dựng chuyện trong Đảng có phe này, phái kia, đổỉ lập Đảng với Quốc hội; đòi để Nhân dân tự chọn món ăn tinh thần,không cần định hướng, quản lý trong lĩnh vực văn hóa, tư tưỏng; đòi dân chủ một cách tự do, vô tổ chức, vô hạn độ, dân chủ không gắn với kỷ luật, kỷ cương. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ biếu hiện đó là: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn; một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.185. 

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

 


Yếu tố quyết định nhất của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tồ quốc xã hội chù nghĩa là phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và lãnh đạo toàn xã hội. Để phát huy vai trò, chức năng của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam phải thường xuyên được xây dựng thành một tổ chức trong sạch, vng mạnh trên các phương diện: chính trị, tư tưng, tổ chức và trong lối sống, đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên.

Nhà nước Pháp quyền là sự tiến bộ của nhân loại, trong đó có đặc điểm nổi bật là bảo đảm quyền tối cao của Pháp luật. Nhà nước Pháp quyền của nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình chủ yếu bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Xây dựng Nhà nước Pháp quyền hiện nay là xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát các cơ quan công quyền, đổi mới lập pháp, hành pháp và tư pháp; kiên quyết phòng ngừa, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Những người có quan đỉểm dân túy hay đưa ra những phát ngôn gây sốc, cùng với những hành vi và hình ảnh “mị dân” để lấy lòng dân chúng

 


Trong đi sống chính trị, kinh tế, xã hội ở Việt Nam, đã và đang xuất hiện những biểu hiện của sự phát ngôn, hành vi, hình ảnh của một s ít ngưòi mang tính dân túy. Tại một số diễn đàn, hội nghị, hi thảo, hay trong các sự kiện có đông dân chúng, có thể nhận thấy những biểu hiện dân túy thông qua các phát ngôn gây sốc của một s người có vị trí không đúng với đường li, chủ trương của Đảng, bỏ qua những quy định pháp lý, thiếu tính khả thi, vượt quá hoặc không đúng thẩm quyền của cá nhân. Ngay sau đó, những phát ngôn này được đăng tải trên một vài t báo, hoặc lan truyền trên mạng xã hội, thu hút sự quan tâm của công chúng.

Biểu hiện này đã được Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường li, Điều lệ Đảng một s cán bộ, đảng viên”[1]. Những biểuhiện đó tuy chỉ xuất hiện ỏ một số ít người nhưng cũng rất gần với những gì đã và đang xảy ra trên thế giới chỗ: những phát ngôn, hành vi, hình ảnh mang tính dân túy đã nhất thời lấy được lòng dân chúng vì những cá nhân này biết cách khai thác tâm lý chán ngán của người dân về hình ảnh mô phạm, cứng nhắc và nguyên tắc của các chính trị gia chính thống. Những cá nhân này thường sử dụng ngôn ngữ mạnh mẽ, cực đoan nhưng dễ hiểu với đa số mọi người, hứa hẹn về quyền lợi cho số đông, thổi bùng ý niệm về sự xung đột lợi ích giữa các nhóm đa số và thiểu số.

Ở một khía cạnh khác, những cá nhân, những con người hành xử mang tính dân túy như vậy cũng đã thu được những kết quả, trở thành “nhân vật của truyền thông”, thậm chí đã từng đạt đến vị trí cao trong nấc thang quyền lực. Trong đòi sống chính trị hay đòi thường, những người đó cũng có những tố chất tạo nên sức thu hút cá nhân, “hoạt ngôn”, tranh thủ được sự ủng hộ của không ít người bằng kiểu hành xử “của người phúc ta” và biết cách “đầu tư” xây dựng các tờ báo, phóng viên “thân hữu”, các cây bút mạng có ảnh hưởng. Họ cũng biết chọn thòi điểm để phát ngôn, thường là lúc người dân gặp khó khăn do suy thoái kinh tế hay xuất hiện sự bất ổn về an ninh. Trong giải quyết những vấn đề nóng, dễ gây bức xúc trong hội, họ cũng có hành vi xử lý nhanh nhạy sự việc, đưa lại những lợi ích cục bộ, trước mắt cho một bộ phận nhân dân, lại được một số phương tiện truyền thông tung hô nên dễ được xem như một thần tượng, một ngôi sao đang lên. Những phát ngôn, hành vi, hình ảnh kiểu đó là sự biểu hiện của sắc thái dân túy mới.



 

Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất


            Dân chủ hóa đời sống xã hội đang là xu thế chung của phát triển loài người, là một trong các trụ cột của phát triển. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Để thể hiện bản chất ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam phải xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ, mở rộng quyền dân chủ của công dân. Mặt khác, phải thường xuyên củng cố, tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó thực hiện tốt vai trò, chc năng của Mặt trận Dân tộc thống nhất trong việc phát huy các quyền công dân để phát triển đất nước. Thực hiện có hiệu quả các hình thức thực hành dân chủ: Dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp ở cơ sở và tự quản trong các cộng đồng dân cư. Đại đoàn kết toàn dân tộc vừa là nguồn lực chủ yếu, vừa là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta hiện nay. 

Xây dựng nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

 


Đây là phương hướng phát triển văn hóa Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế. Phát triển văn hóa gắn với xây dựng con người, nâng cao mọi mặt đi sống của nhân dân. Văn hóa được phát triển cùng với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển.

Dựng nước gắn liền với giữ nước là quy luật lịch sử của dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Trong thời kỳ phát triển mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Bảo đảm an ninh quốc gia ngày nay bao gồm: An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hoá, an ninh xã hội. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay không phải chỉ bảo vệ lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà còn phải bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, nhân dân, bảo vệ kinh tế, văn hoá, sự nghiệp đổi mới… Thực hiện đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Nội dung mới của phương hướng này là bên cạnh quan điểm về chính sách đối ngoại phải tuân thủ các nguyên tắc độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, Việt Nam luôn chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước. Bởi lẽ, Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu khách quan đang lôi cuốn nhiều nước tham gia. Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại là phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động về đường lối chính sách và bước đi trong hội nhập, tham gia mạnh mẽ hơn, đầy đủ hơn vào quá trình toàn cầu hoá vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

NHẬN DIỆN CÁC BIỂU HIỆN DÂN TÚY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Hiện nay, Việt Nam đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nưóc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Vì vậy, chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng một “chủ nghĩa” ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời đại bùng nổ thông tin, mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sng xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa; khi mà dân chủ được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trong khi nhận thức về dân chủ của một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân còn hạn chế, thực hiện dân chủ hình thức hoặc lợi dụng dân chủ để chia rẽ nội bộ; việc giải quyết một số vấn đề xã hội chưa hiệu quả, giảm nghèo chưa bền vững, chênh lệch giàu, nghèo và bất bình đẳng có xu hướng gia tăng thì những biểu hiện dân túy vẫn có cơ sở để xuất hiện.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa


Đây là bước phát triển mới về lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình đổi mới. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Định hướng kinh tế thị trường được thể hiện qua 4 đặc trưng cơ bản sau:

Mục tiêu phát triển kinh tế là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng…

 Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

 Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, giáo dục, y tế… giải quyết tốt các vấn đề xã hội, vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn, cùng các nguồn lực khác, thông qua phúc lợi xã hội.

             Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

VÌ SAO CHỦ NGHĨA DÂN TÚYCÓ XU HƯỚNG PHỤC HỔI VÀ PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN QUA

 


 Sự bất ổn của nền kinh tế thế giới, “siêu toàn cầu hóa” từ thập niên 90 của thế kỷ XX đã đưa đến nghịch lý: Công nghệ sản xuất phần lớn được đưa từ các quổc gia phát triển sang các quốc gia chậm phát triển hay đang phát triển và hàng hóa được chuyển theo chiều ngược lại. Do đó, lợi ích chủ yếu mang lại cho các công ty lớn hoặc công ty đa quốc gia, trong khi những người lao động tay nghề thấp ở các nước phương Tây mất việc làm, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên nhưng không có khả năng để tìm việc mới, gây tâm trạng bất bình, hệ quả sự suy thoái của tầng lớp lao động thấp ở các nước phương Tây khiến cho tệ nạn và mâu thuẫn xã hội nảy sinh. Họ có xu hướng đổ lỗi cho tầng lớp giàu có, cho giới tinh hoa chính trị, đặc biệt là cho toàn cầu hóa.

 Sự già hóa dân số, sự xung đột về văn hóa, đời sống bấp bênh của người lao động, nhất là của nhóm người yếu thế làm gia tăng sự bất mãn của người dân. Tình trạng già hóa dân số, thay đổi về lực lượng lao động ở các quốc gia phát triển dẫn đến phản ứng văn hóa cũng là nguyên nhân lý giải cho sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy. Việc ủng hộ chủ nghĩa dân túy là phản ứng của một bộ phận người dân đang cảm thấy vị thế của họ bị đe dọa; sự chia rẽ theo bản sắc, xoay quanh vấn đề nguồn gốc quốc gia, dân tộc hoặc tôn giáo... (nhóm văn hóa); và sự chia rẽ theo kinh tế, giai cấp xã hội (nhóm kinh tế). Sự phản đối giới tinh hoa có thể được tạo nên bởi cả nguyên nhân về kinh tế, văn hóa hoặc kết hợp cả hai nguyên nhân này. Điều hấp dẫn, lôi cuốn của các nhà dân túy là họ giúp những người bị gạt ra bên lề xã hội, những nhóm yếu thế được nói lên tiếng nói của mình.

Cách mạng khoa học công nghệ, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, tự động hóa đã thay đổi mọi mặt của đời sống, từ kinh tế đến quan hệ giữa con người với nhau; quá trình cá nhân hóa thông tin tăng cao, tin giả, tin sai lệch tràn lan, làm cho ngưòi dân hiểu không rõ vấn đề, hoang mang và dễ bị các luồng thông tin chi phối, dẫn dắt.

Chính sách xã hội phải đối mặt với nhiều thách thức, chi phí cho an sinh xã hội đối với người già, tàn tật, thất nghiệp, hưu trí tăng lên làm gia tăng đáng kể số nợ của chính phủ, những khoản nợ này lại đè nặng lên đời sống vốn đã khó khăn của không ít người dân và của xã hội, gây ra tâm lý bất mãn với hệ thống chính trị hiện thới.

Sự quan liêu, xa rời nhân dân của giới quan chức cầm quyền đã tạo ra khoảng cách lớn giữa lợi ích và tiếng nói của người dân hoặc của một số tầng lớp dân cư với giới chức cầm quyền hoặc những người có quyền lực trong xã hội.

Toàn cầu hóa đã tạo ra các dòng di cư vào các nước phát triển, trở thành thách thức đốỉ với các chính phủ, khoét sâu sự ngăn cách về tâm lý giữa người di cư với người bản địa, gây ra những khó khăn trong giải quyết việc làm, giữ gìn văn hóa truyền thống bản địa, gây sức ép với hệ thống an sinh xã hội, thậm chí còn là vấn đề mất an ninh, trật tự xã hội.

Như vậy, tình hình chính trị biến đổi sâu sắc, tình trạng bất bình đẳng gia tăng, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội chưa được giải quyết tốt, lợi ích chính đáng, hợp pháp của số đông người lao động chưa được quan tâm giải quyết hiệu quả... là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy ỏ các nước Âu, Mỹ hiện nay. Khi một bộ phận người dân bất mãn trong một thời gian dài, vượt quá giới hạn chịu đựng của họ mà không có những giải pháp chính trị, kinh tế, xã hội thích hợp, thì đó chính là mảnh đất màu mõ cho xu hướng dân túy bùng lên, đe dọa chủ nghĩa tự do, dân chủ truyền thông ỏ các nước phương Tây.

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường

 


Từ một nền sản xuất nhỏ nông nghiệp lạc hậu, tất yếu phải tiến hành công nghiệp hoá. Trong thời đại bùng nổ cách mạng khoa học và công nghệ, công nghiệp hoá phải kết hợp ngay từ đầu với hiện đại hoá, đồng thời phải bảo vệ tài nguyên, môi trường. Như vậy mới đảm bảo cho việc phát triển nhanh, bền vững, môi trường sống tốt hơn. Trong giai đoạn 2016 đến 2020 Đảng ta còn nhấn mạnh thêm vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng. Kết hợp phát triển giữa chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu. Giải quyết hài hòa giữa mục tiêu trước mắt với mục tiêu lâu dài, giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, v.v.. Chuyển nhanh mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu và vốn đầu tư sang phát triển đồng thời dựa cả vào vốn đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển; thực hiện phương thức quản trị mới, phát huy tiềm năng con người, để nâng cao giá trị gia tăng, tăng nhanh giá trị quốc gia. Cơ cấu lại nền kinh tế như cơ cấu lại đầu tư công, cơ cấu lại thị trường tài chính, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại kinh tế nông nghiệp..Đại hội XIII, xác định: Phấn đấu đến năm 1945- nước phát triển, thu nhập cao.

Việt Nam quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.


        Với tinh thần tăng cường hội nhập quốc tế cả chiều rộng và chiều sâu, đặc trưng này thể hiện quan điểm về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong điều kiện mới. Trong thế giới hiện đại, mỗi quốc gia là một bộ phận hợp thành cộng đồng quốc tế. Sự phát triển của Việt Nam được đẩy mạnh khi có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Quan hệ hữu nghị và hợp tác và phát triển tạo điều kiện cho các quốc gia hội nhập, tiếp thu những thành quả phát triển của mỗi bên, tích lũy kinh nghiệm và rút ngắn quá trình phát triển của mỗi nước. Đây chính là bản chất, là khát vọng thể hiện tính nhân văn cao cả có tính nhân loại của con người và bản chất cao đẹp nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, là một đặc trưng nổi bật của nội dung và mục tiêu xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là yếu tố, điều kiện để Việt Nam phát triển nhanh chóng trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. 

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dần, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo


Đây là đặc trưng hoàn toàn mới được bổ sung so với các đặc trưng trong Cương lĩnh 1991. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước quản lý và điều hành đất nước và xã hội bằng pháp luật thể hiện quyền lợi và ý chí của nhân dân. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân với nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật, tổ chức và quản lý xã hội bằng hệ thống pháp luật đó và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đảng mang bản chất, lý tưởng, nội dung xã hội chủ nghĩa, là đảng thực hiện mục tiêu và lý tưởng xã hội chủ nghĩa. 

Một số đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa dân túy

 


Có thể nhận diện chủ nghĩa dân túy dựa vào ba đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, đây một trào lưu tư tưởng theo đuổi những chính sách được dân chúng ủng hộ trong ngắn hạn nhưng không bền vững về lâu dài; đó thường là những chính sách xã hội như trợ giá hàng hóa, trả tiền lương hưu hậu hĩnh hoặc miễn phí chăm sóc y tế…

Thứ hai, đây là một xu hướng chính trị lấy danh nghĩa “nhân dân” làm căn bản cho tính chính danh của chế độ, tuy nhiên nhiều quan điểm của chủ nghĩa dân túy không coi “nhân dân” là toàn bộ dân số mà chỉ đứng trên quyền lợi và thể hiện tiếng nói của một bộ phận dân chúng.

Thứ ba, đây là một xu hướng chính trị sùng bái quyền lực cá nhân của nhà lãnh đạo. Các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân túy có khuynh hướng phát triển chung quanh họ những biểu hiện tôn vinh, sùng bái cá nhân; tuyên bố họ được giao sứ mệnh nắm giữ quyền lực, không phụ thuộc vào các thiết chế chính trị truyền thống như đảng phái, Quốc hội, Tòa án, báo chí. Họ cố gắng phát triển các mối quan hệ trực tiếp, không qua trung gian với “nhân dân” mà họ tự xưng là ngưòi đại diện, hướng những niềm hy vọng và nỗi sợ hãi của người dân vào một hành động tức thời. Chủ nghĩa dân túy kiểu này thường đi đôi với việc lên án toàn bộ giới lãnh đạo đang tồn tại - những người đại diện cho thiết chế chính trị truyền thống.

Ba đặc điểm nêu trên là cơ sở để phân biệt các phong trào khác nhau được dán nhãn “chủ nghĩa dân túy” trước đây và đang nổi lên hiện nay. Trước đây, các lãnh đạo theo chủ nghĩa dân túy ở Mỹ Latinh như Nestor và Cristina Kirchner (Áchentina)... cố gắng xây dựng sự sùng bái cá nhân chung quanh họ và nhấn mạnh vào các chương trình phúc lợi xã hội, được dân chúng ủng hộ, tuy nhiên những chính sách này không bền vững. Tương tự, cựu Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra và em gái Yingluck đưa ra hàng loạt các chính sách hỗ trợ người dân nghèo nên đã nhận được sự ủng hộ của cử tri ở tỉnh lẻ và nông thôn. Tuy nhiên, những chính sách “dân túy” này đã làm cho mâu thuẫn giữa ngưòi nghèo và giới tinh hoa giàu có của hệ thống chính trị bảo thủ trở nên sâu sắc, quyết liệt, kéo dài.

Ở nước Anh, những người lãnh đạo phong trào Brexit (ủng hộ nước Anh ra khỏi Liên minh châu Âu) hoàn toàn không nhấn mạnh vào một chương trình kinh tế mở rộng nào, cũng không có một nhà lãnh đạo hiển nhiên nào nhưng họ kêu gọi hướng tới bản sắc dân tộc Anh truyền thống, khơi dậy nỗi lo sợ văn hóa và bản sắc dân tộc sẽ bị ảnh hưởng, tác động bỏi những người nhập cư, cũng như sự bất bình của người dân Anh về sự phân bổ các lợi ích kinh tế. Cuộc trưng cầu dân ý tháng 6-2016 đã gây sốc cho toàn thế giới khi người Anh chọn rời EU thay vì ở lại. Làn sóng này còn lan sang hàng loạt nước châu Âu như Italia, Đức, Pháp, Hà Lan,...

Ở nước Mỹ, Tổng thống Donald Trump trong thời kỳ tranh cử đã vận dụng cả ba đặc điểm nêu trên của chủ nghĩa dân túy. Ông Trump đưa ra hàng loạt chính sách phù hợp với đông đảo quần chúng như ngăn chặn ngưòi nhập cư; rút khỏi các hiệp định thương mại tự do để bảo vệ nền sản xuất trong nước; khuyến khích người da trắng; đề cao vai trò của cá nhân... Tóm lại, cử tri Mỹ lo sợ điều gì, ông Trump trấn an họ đúng điều đó, dù có thể chính ông cũng chưa biết thực hiện những điều đã hứa như thế nào.

Như vậy, trong hàng loạt các phong trào được coi là chủ nghĩa dân túy, chúng ta có thể khu biệt được ít nhất là hai tập hợp rộng, ở Mỹ Latinh và Nam Âu, các nhà dân túy có xu hướng đứng về cánh tả, được sự ủng hộ của ngưòi nghèo và theo đuổi các chương trình xã hội có mục tiêu phân phối lại lợi ích nhằm khắc phục tình trạng bất bình đẳngvề kinh tế. Tuy vậy, họ không nhấn mạnh vào vấn đề sắc tộc hoặc không chống nhập cư một cách quyết liệt. Nhóm này bao gồm phong trào Kircherismo ở Áchentina... cũng như các đảng chính trị Podemos của Tây Ban Nha và Syriza của Hy Lạp.

Ở Bắc Âu, các nhà dân túy theo lập trường thiên về cánh hữu, nhấn mạnh yếu tô sắc tộc và phản đốỉ người nhập cư. Họ muốn bảo vệ các nhà nước phúc lợi truyền thống nhưng không coi trọng việc mở rộng nhanh chóng các dịch vụ hoặc trợ cấp xã hội. Các nhóm trong tập hợp này bao gồm phong trào ủng hộ Brexit, Mặt trận Quốc gia ỏ Pháp, Đảng Tự do ở Hà Lan, Đảng Nhân dân của Đan Mạch.

Nguồn gốc của chủ nghĩa dân túy


Chủ nghĩa dân túy (Populism) bắt đầu xuất hiện trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vào giữa thế kỷ XIX ỏ Pháp. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa dân túy là cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân, chủ yếu là nông dân, đòi ruộng đất và thủ tiêu các hình thức bóc lột của chế độ nông nô. Bản chất của chủ nghĩa dân túy là sự hỗn tạp những tư tưỏng dân chủ nông nghiệp với ưóc mơ xã hội chủ nghĩa, hy vọng bỏ qua chủ nghĩa tư bản - một biến dạng của chủ nghĩa xã hội không tưởng tiểu tư sản ở nước Nga, đó là hệ tư tưỏng của phái dân chủ nông dân. Cuộc khởi nghĩa tháng Sáu năm 1848 của giai cấp công nhân chống lại Chính phủ tư sản ỏ Pháp và Công xã Pari năm 1871có ảnh hưỏng hết sức quan trọng tới sự hình thành hệ tư tưỏng của chủ nghĩa dân túy. Nhưng thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” chỉ được sử dụng rộng rãi từ những năm 1890 ỏ Mỹ trong phong trào thúc đẩy người dân nông thôn và Đảng Dân chủ chng lại những người của Đảng Cộng hòa thường sống đô thị. Thuật ngữ này cũng được sử dụng ở Nga vào thế kỷ XIX để đề cập phong trào của các trí thức bất mãn với chế độ đương thời, đồng cảm với giai cấp nông dân, mơ ước xây dựng những “công xã nông thôn” cho giai cấp nông dân dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưỏng. Từ vai trò tích cực trong tập hợp nông dân đứng lên chng lại chế độ thng trị của xã hội Nga hoàng, theo sự phát triên của lịch sử, trào lưu tư tưỏng này đã cản trở sự phát triển của xã hội, là một tr ngại cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác vào nước Nga. Những sai lầm và bản chất phản động, đi ngược lại vi lý luận mácxít của trào lưu tư tưỏng này đã bị V.I. Lênin phê phán mạnh mẽ trong tác phẩm Những người bạn dân là thế nào, họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao (1894). Từ những năm 1950, thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” được sử dụng nhiều hơn để mô tả tất cả các phong trào chính trị khác nhau, từ chủ nghĩa phátxít, chủ nghĩa cộng sản châu Âu tới chủ nghĩa chống cộng McCarthy của Mỹ và chủ nghĩa Peron (Peronistas) của Áchentina.

Để hiểu được một cách đầy đủ và thống nhất về khái niệm “chủ nghĩa dân túy” là một vấn đề khó và phức tạp. Các khái niệm: chủ nghĩa dân túy, phong trào dân túy, hành động dân túy, phát ngôn dân túy... được đưa ra trong những bối cảnh hành động khác nhau, có cách hiểu khác nhau và sự tácđộng của nó cũng không giống nhau. Một số quan điểm coi “chủ nghĩa dân túy” là sự thất vọng về sụt giảm của địa vị hoặc tài sản; một số khác lại liên hệ nó với nỗi niềm hoài cổ của các nhà dân tộc chủ nghĩa. Có quan điểm coi nó như là một chiến lược chính trị, trong đó một nhà lãnh đạo có sức lôi cuốn, thu hút công chúng và gạt các tổ chức qua một bên (mặc dù không phải tất cả các phong trào dân túy đều có một nhà lãnh đạo như vậy). Năm 2004, nhà khoa học chính trị Cas Mudde (Đại học Georgia, Mỹ) đưa ra định nghĩa: chủ nghĩa dân túy là một “hệ tư tưỏng mỏng”, chỉ đơn thuần xây dựng nên một khuôn khổ: một dân tộc trong sạch chống lại một tầng lớp tinh hoa mục nát. Hệ tư tưỏng mỏng này có thể được gắn liền với tất cả các “hệ tư tưỏng dày” với nhiều nội dung đa dạng hơn, chẳng hạn như chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa dân tộc, tư tưỏng chống đế quốc hoặc chống phân biệt chủng tộc, nhằm giải thích thế giới và biện minh cho những mục tiêu cụ thể.

Nhà khoa học chính trị Jan-Werner Muller(Đại học Princeton, Mỹ) lại cho rằng: các nhà dân túy được xác định bởi tuyên bố của họ, rằng chỉ có họ đại diện cho nhân dân, còn tất cả những nhóm khác là bất hợp pháp. Ngoài ra, còn có những khác biệt quan trọng trong nội hàm của chủ nghĩa dân túy, chẳng hạn như sự khác biệt giữa các nhóm bao trùm và phân biệt. Chủ nghĩa dân túy phân biệt (Exclusive populism) tập trung vào việc loại trừ các nhóm bị kỳ thị (những ngưòi tị nạn, ngưòi digan...), thường phổ biến hơn ỏ châu Âu. Còn chủ nghĩa dân túy bao trùm ựnclusive populism) yêu cầu rằng chính trị phải được mở rộng cho các nhóm bị kỳ thị (ngưòi nghèo, các nhóm thiểu số...) và phổ biến hơn ỏ khu vực Mỹ Latinh.

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng nhìn chung khoa học xã hội xem chủ nghĩa dân túy như một khuynh hướng tư tưỏng và chính trị nhấn mạnh sự tương phản giữa “nhân dân” với tầng lớp “tinh hoa”, thể hiện trong những tuyên bố cho là mình đứng về phía “dân thường”1. Nó như một phong cách chính trị cụ thể, một hình thứchùng biện chính trị hay chiến lược để đạt được quyền lực[1]. Sự ra đòi của chủ nghĩa dân túy được đánh dấu với những biểu hiện dưòng như “phi chính trị”, bằng sự từ chốỉ giới “tinh hoa”, từ chốỉ những tư tưỏng đang thống trị để nói lên tiếng nói của người dân có vị trí xã hội thấp... Có quan điểm lại xem chủ nghĩa dân túy như một ý thức hệ, nhưng chỉ phản ánh dưới góc độ phong cách ngôn ngữ và một phương thức hành động, là cách thức của những kẻ cơ hội tìm cách để tạo dựng lòng tin với quần chúng.

Trong ngôn ngữ hằng ngày ở châu Âu, châu Mỹ và châu Á, “chủ nghĩa dân túy” thưòng dùng để chỉ tríchmột đảng phái hay một chính trị gia nào đó đang tìm kiếm sự thu hút, ủng hộ của dân chúng và dư luận bằng những lời hứa hẹn êm tai nhưng trống rỗng, thậm chí thiếu trách nhiệm đối với tương lai chính trị của đất nước, mang nặng cảm xúc nhất thời, thiếu tính bền vững chonhững mục tiêu chính trị lâu dài và giải pháp hiệu quả cho các vấn đề hiện tại.



[1] Frank Decker: Der neue Rechtspopulismus, Oplãden, 

Cần nhận thức đúng về chủ nghĩa dân túy hiện nay

 


Trong lịch sử, chủ nghĩa dân túy đã xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX ở châu Âu, châu Mỹ. Năm 1894, trong tác phẩm “Những người bạn dân là thế nào, họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao”, Lênin đã vạch rõ bản chất phản động về chính trị và sự cản trở của chủ nghĩa dân túy đối với việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác ở nước Nga.

Những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2016 trở lại đây, những hình thức mới của chủ nghĩa dân túy đã trỗi dậy tràn lan; chưa bao giờ cụm từ “chủ nghĩa dân túy” lại được nhắc đến nhiều như vậy trên chính trường và báo chí quốc tế, nhất là trong những dịp bầu cử, trưng cầu ý dân ở nhiều nước châu Mỹ, châu Âu. Chủ nghĩa dân túy đã trở thành mối đe dọa chính đối với an ninh chính trị, trật tự xã hội của thế giới nói chung và các quốc gia dân tộc nói riêng.

Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển.

 


Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc là những giá trị, mục tiêu và đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa. Tôn trọng và giúp nhau là yêu cầu, điều kiện cho sự phát triển của từng cá nhân, cộng đồng, dân tộc; là một tiêu chuẩn quan trọng của xã hội phát triển. Đoàn kết toàn dân, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc đã làm nên thành công của cách mạng Việt Nam trở thành nét đặc sắc của giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Xã hội xã hội chủ nghĩa không chỉ bảo đảm bình đẳng cho cá nhân công dân, mà còn cho tất cả các cộng đồng, các dân tộc trong một quốc gia. Mặt khác, “đoàn kết” là sức mạnh - đó là một chân lý. “Bình đẳng” và “đoàn kết” chính là nền tảng của sự “tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”. So với Cương lĩnh 1991, đặc trưng này được bổ sung thêm nội dung “tôn trọng” trong giải quyết các quan hệ tộc người ở Việt Nam nhằm tăng cường khối đại đoàn kết giữa các tộc người. Điểm mới này là thành quả của tổng kết thực tiễn từ việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện

 

 

Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, xét đến cùng là vì con người. Lịch sử của loài người là lịch sử đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột để vươn tới một xã hội cao đẹp nhất - xã hội đó chính là xã hội xã hội chủ nghĩa. Xã hội xã hội chủ nghĩa phải đem lại ấm no cho con người như là đòi hỏi tiên quyết. Nhưng bản tính con người là không bao giờ thỏa mãn với những gì đã đạt được. Con người phải được tự do - tự do không chỉ bó hẹp trong nghĩa được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, nô dịch, kìm hãm về mặt xã hội. Điều quan trọng hơn là nó được thăng hoa tiềm năng trí tuệ, tình cảm và năng lực vốn có để thực hiện những khát vọng cao đẹp của mình. Sự phát triển toàn diện con người là ước mơ, khát vọng của con người tự do.

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2022

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Lê Hồng Phong (6-9-1902/6-9-2022): Người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiến sĩ cách mạng kiên cường

 

Năm nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của đồng chí Lê Hồng Phong - Tổng Bí thư Đảng ta, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam, người chiến sĩ kiên cường của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.