Chủ
nghĩa dân túy (Populism) bắt đầu xuất hiện trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vào
giữa thế kỷ XIX ỏ Pháp. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa dân túy là cuộc đấu
tranh của quần chúng nhân dân, chủ yếu là nông dân, đòi ruộng đất và thủ tiêu
các hình thức bóc lột của chế độ nông nô. Bản chất của chủ nghĩa dân túy là sự
hỗn tạp những tư tưỏng dân chủ nông nghiệp với ưóc mơ xã hội chủ nghĩa, hy vọng
bỏ qua chủ nghĩa tư bản - một biến dạng của chủ nghĩa xã hội không tưởng tiểu tư sản ở nước Nga, đó là hệ tư tưỏng của
phái dân chủ nông dân. Cuộc khởi
nghĩa tháng Sáu năm 1848 của giai cấp công nhân chống lại Chính phủ tư sản ỏ
Pháp và Công xã Pari năm 1871có ảnh hưỏng hết sức quan trọng tới sự hình thành
hệ tư tưỏng của chủ nghĩa dân túy. Nhưng thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” chỉ được
sử dụng rộng rãi từ những năm 1890 ỏ Mỹ trong phong trào thúc đẩy người dân
nông thôn và Đảng Dân chủ chống lại những người của Đảng Cộng hòa thường
sống ở
đô thị. Thuật ngữ này cũng được sử dụng ở Nga vào thế kỷ XIX để đề cập phong
trào của các trí thức bất mãn với chế độ đương thời, đồng cảm với giai cấp nông
dân, mơ ước xây dựng những “công xã nông thôn” cho giai cấp nông dân dựa trên
nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưỏng. Từ
vai trò tích cực trong tập hợp nông dân đứng lên chống lại chế độ thống trị của xã hội Nga hoàng, theo sự phát
triên của lịch sử, trào lưu tư tưỏng này đã cản trở sự phát triển của xã hội,
là một trở ngại cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác vào nước
Nga. Những sai lầm và bản chất phản động, đi ngược lại với lý luận mácxít của trào lưu
tư tưỏng này đã bị V.I. Lênin phê phán mạnh mẽ trong tác phẩm Những
người bạn dân là thế nào, họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra
sao (1894). Từ những năm 1950,
thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” được sử dụng nhiều hơn để mô tả tất cả các phong
trào chính trị khác nhau, từ chủ nghĩa phátxít, chủ nghĩa cộng sản châu Âu tới
chủ nghĩa chống cộng McCarthy của Mỹ và chủ nghĩa Peron (Peronistas) của Áchentina.
Để hiểu được một cách đầy đủ và thống nhất về
khái niệm “chủ nghĩa dân túy” là một vấn đề khó và phức tạp. Các khái niệm: chủ nghĩa dân
túy, phong trào dân túy, hành động dân túy, phát ngôn dân túy... được đưa ra
trong những bối cảnh hành động khác nhau, có
cách hiểu khác nhau và sự tácđộng của nó cũng không giống nhau. Một số quan điểm
coi “chủ nghĩa dân túy” là sự thất vọng về sụt giảm của địa vị hoặc tài sản;
một số khác lại liên hệ nó với nỗi niềm hoài cổ của các nhà dân tộc chủ nghĩa.
Có quan điểm coi nó như là một chiến lược chính trị, trong đó một nhà lãnh đạo
có sức lôi cuốn, thu hút công chúng và gạt các tổ chức qua một bên (mặc dù
không phải tất cả các phong trào dân túy đều có một nhà lãnh đạo như vậy). Năm
2004, nhà khoa học chính trị Cas Mudde (Đại học Georgia, Mỹ) đưa ra định nghĩa:
chủ nghĩa dân túy là một “hệ tư tưỏng mỏng”, chỉ đơn thuần xây dựng nên một
khuôn khổ: một dân tộc trong sạch chống lại một tầng lớp tinh hoa mục nát. Hệ
tư tưỏng mỏng này có thể được gắn liền với tất cả các “hệ tư tưỏng dày” với
nhiều nội dung đa dạng hơn, chẳng hạn như chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa dân tộc,
tư tưỏng chống đế quốc hoặc chống phân biệt chủng tộc, nhằm giải thích thế giới
và biện minh cho những mục tiêu cụ thể.
Nhà
khoa học chính trị Jan-Werner Muller(Đại học Princeton, Mỹ) lại cho rằng: các
nhà dân túy được xác định bởi tuyên bố của họ, rằng chỉ có họ đại diện cho nhân
dân, còn tất cả những nhóm khác là bất hợp pháp. Ngoài ra, còn có những khác
biệt quan trọng trong nội hàm của chủ nghĩa dân túy, chẳng hạn như sự khác biệt
giữa các nhóm bao trùm và phân biệt. Chủ nghĩa dân túy phân biệt (Exclusive populism) tập trung vào việc loại trừ các nhóm bị kỳ thị (những ngưòi tị nạn, ngưòi digan...), thường phổ
biến hơn ỏ châu Âu. Còn chủ nghĩa dân túy bao trùm ựnclusive populism)
yêu cầu rằng chính trị phải được mở rộng cho các nhóm bị kỳ thị (ngưòi nghèo,
các nhóm thiểu số...) và phổ biến hơn ỏ khu vực Mỹ Latinh.
Mặc
dù có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng nhìn chung
khoa học xã hội xem chủ nghĩa dân túy như một khuynh hướng tư tưỏng và chính
trị nhấn mạnh sự tương phản giữa “nhân dân” với tầng lớp “tinh hoa”, thể hiện trong
những tuyên bố cho là mình đứng về phía “dân thường”1. Nó như một
phong cách chính trị cụ thể, một hình thứchùng biện chính trị hay chiến lược để
đạt được quyền lực[1].
Sự ra đòi của chủ nghĩa dân túy được đánh dấu với những biểu hiện dưòng như
“phi chính trị”, bằng sự từ chốỉ giới
“tinh hoa”, từ chốỉ những tư tưỏng đang thống trị để nói lên tiếng nói của người dân có vị trí xã hội thấp... Có quan điểm lại xem chủ
nghĩa dân túy như một ý thức hệ, nhưng chỉ phản ánh dưới góc độ phong cách ngôn
ngữ và một phương thức hành động, là cách thức của những kẻ cơ hội tìm cách để
tạo dựng lòng tin với quần chúng.
Trong
ngôn ngữ hằng ngày ở châu Âu, châu Mỹ và châu Á, “chủ nghĩa dân túy” thưòng
dùng để chỉ tríchmột đảng phái hay một chính trị gia nào đó đang tìm kiếm sự
thu hút, ủng hộ của dân chúng và dư luận bằng những lời hứa hẹn êm tai nhưng
trống rỗng, thậm chí thiếu trách nhiệm đối với tương lai chính trị của đất
nước, mang nặng cảm xúc nhất thời, thiếu tính bền vững chonhững mục tiêu chính
trị lâu dài và giải pháp hiệu quả cho các vấn đề hiện tại.
[1] Frank Decker: Der neue Rechtspopulismus, Oplãden,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét