Thứ Tư, 5 tháng 10, 2022

GIẢI PHÁP GÓP PHẦN CÔNG TÁC ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG, PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau đây: Một là, bổ sung, hoàn thiện nội dung, phương thức đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, không gian mạng phát triển như vũ bão, thông qua “thế giới ảo”, các thế lực thù địch không đơn thuần sử dụng các phương pháp truyền thống, chúng triệt để lợi dụng không gian mạng xã hội để chống phá với các hình thức, phương thức ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Do vậy, đòi hỏi nội dung, phương thức đấu tranh của chúng ta cũng phải đổi mới, bổ sung, từng bước hoàn thiện cho phù hợp. Nội dung, phương thức đóng vai trò rất quan trọng trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Nội dung đấu tranh phong phú, phương thức đa dạng, biện pháp phù hợp, cụ thể, sáng tạo thì công tác đấu tranh mới có hiệu quả cao. Hai là, thực hiện có hiệu quả các giải pháp công nghệ, xử lý nghiêm các vi phạm trên không gian mạng. Cùng với các giải pháp tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp công nghệ như: Bảo vệ tốt thông tin cá nhân, kỹ thuật phát tán thông tin trên không gian mạng, kỹ thuật phân tích điều tra, ngăn chặn, bóc gỡ khóa tài khoản của đối phương,… có vị trí rất quan trọng, góp phần quyết định thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng hiện nay. Ba là, cần xác định công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài, tránh tư tưởng xem nhẹ, buông lỏng, mất cảnh giác. Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi, phản bác các thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần xác định là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, lâu dài, khó khăn và quyết liệt, do vậy cần tuyệt đối tránh tư tưởng xem nhẹ, lơ là, buông lỏng, mất cảnh giác. Cần lấy chính các phương tiện truyền thông mới và không gian mạng làm phương tiện và nền tảng chủ đạo để khắc chế thủ đoạn dùng không gian mạng để chống phá ta của các thể lực thù địch theo phương châm “lấy độc trị độc”, tận dụng những ưu thế của phương tiện truyền thông mới để phản tuyên truyền lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch. Bốn là, giữ vững và phát huy vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận. Giữ vững và phát huy vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận, các cơ quan tuyên giáo, báo chí của Đảng; mở rộng các kênh, lực lượng thông tin rộng khắp, làm chủ không gian thông tin trong nước và không gian mạng. Có cơ chế chỉ đạo thông tin thống nhất, hiệp đồng thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến. Kết hợp thông tin phản bác của các cơ quan báo chí chính thống với các kênh truyền thông khác, theo phương thức lấy thông tin chủ đạo từ các cơ quan báo chí làm thông tin nguồn để lan tỏa trên không gian mạng, tận dụng tính năng siêu kết nối xã hội của các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội, tích hợp tính năng chia sẻ thông tin của các báo, tạp chí điện tử đến một số ứng dụng truyền thông xã hội lớn. Coi trọng công tác dự báo khoa học về những xu hướng truyền thông mới tác động trực tiếp tới sự thay đổi về thủ đoạn, cách thức, phương tiện chống phá kiểu mới của các thế lực thù địch, phục vụ trực tiếp cho việc lãnh đạo, chỉ đạo sát, đúng, trúng, có tầm nhìn chiến lược, chủ động trong mọi tình huống. Kết hợp các giải pháp về nội dung với các giải pháp kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ an ninh bao gồm việc chặn lọc, vô hiệu hóa, đấu tranh với các nhà cung cấp các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài, gỡ bỏ thông tin xấu độc, răn đe, xử lý hình sự để tạo hiệu quả đấu tranh tổng lực. Năm là, xây dựng hệ thống bài viết chuyên luận chuyên sâu phản bác những quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận và thực tiễn khoa học với hệ thống luận cứ, luận chứng chặt chẽ, có sức thuyết phục. Chú trọng xây dựng hệ bài chuyên luận chuyên sâu phê phán, phản bác, bẻ gãy từ gốc những luận điệu xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận và thực tiễn khoa học với hệ thống luận cứ, luận chứng chặt chẽ, có tính thuyết phục cao giúp độc giả hiểu sâu sắc, thấy rõ bản chất vấn đề, từ đó có niềm tin khoa học vững chắc vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Sáu là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội theo định hướng, chỉ đạo thống nhất; đồng thời, giao mỗi ban ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị phải xây dựng lực lượng, hệ thống, kế hoạch tuyên truyền. Thường xuyên nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, trong các tổ chức đoàn thể, khắc phục tình trạng mơ hồ về chính trị trong cán bộ, đảng viên và trong quần chúng nhân dân. Thường xuyên gắn kết chặt chẽ công tác tư tưởng, tuyên truyền giáo dục chính trị với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ “tính hai mặt” của mạng xã hội, hiểu biết đầy đủ những thủ đoạn hoạt động và nội dung chống phá của các thế lực thù địch, mức độ nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đề cao trách nhiệm trong đấu tranh là vấn đề hết sức quan trọng. Thường xuyên nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội trong quần chúng nhân dân, định hướng thông tin chính xác, kịp thời nhằm tạo khả năng “miễn dịch”, “tự đề kháng” trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, phản bác, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, kích động, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bảy là, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức, đa dạng hình thức đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội. Đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh,… trên mạng xã hội; trong đó chú trọng tuyên truyền, giáo dục truyền thống, định hướng giá trị, bồi dưỡng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho thế hệ trẻ một cách khoa học, thiết thực, sâu rộng, có tính thuyết phục cao, qua đó nâng cao khả năng đề kháng và phản bác của cán bộ, đảng viên và người dân trước những luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh và đa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền, lựa chọn đúng nội dung và luôn có những thông tin mới trong tuyên truyền, tăng cường thông tin đối ngoại. Tiến hành điều tra dư luận xã hội để kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cơ sở để xây dựng nội dung tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trước các vấn đề xã hội, tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh trên mạng xã hội. Tám là, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các chỉ thị của Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tiếp tục triển khai thực thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 16-9-2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI “về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng”, Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17-6-2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới, Thông báo số 17/TB-VPTW, ngày 23-8-2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng; đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và tuyên truyền, phổ biến, giáo dục thực hiện Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12-6-2018. Tuyên truyền sâu rộng về những hành vi bị cấm trong Luật an ninh mạng, nhất là các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống phá Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2022

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 05 THÁNG 10 NĂM 1945!

         “… Không biết tự quyết, tự định cái gì, như vậy làm sao công tác phát triển được. Có mắt ta phải trông, có óc ta phải nghĩ, có tay ta phải làm chứ. Nhưng tự động không phải tự tiện”!
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Tinh thần chủ động trong Ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 59, ngày 05 tháng 10 năm 1945.
     Ngày 02 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; từ đây chính quyền cách mạng được thiết lập từ Trung ương đến cơ sở, song chính quyền mới phải đối diện với muôn vàn khó khăn, gian khổ, đặc biệt về công tác cán bộ vừa thiếu, vừa yếu, kinh nghiệm trong quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế. Để khắc phục, chấn chỉnh những bất cập, khó khăn trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài để huấn thị đội ngũ cán bộ các cấp.
     Cán bộ và công tác cán bộ luôn là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại của cách mạng. Xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong từng thời kỳ được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, với việc ban hành nhiều quyết sách quan trọng về cán bộ và công tác cán bộ; kiên trì, kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện và đã đạt được những kết quả quan trọng. Phần lớn đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức, lối sống giản dị, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, hoàn thành nhiệm vụ được giao; nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế… Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đến nay vẫn còn một số hạn chế, bất cập, nhất là việc điều động, bổ nhiệm vi phạm nguyên tắc, lợi ích nhóm, tệ nạn chạy chức, chạy quyền diễn ra ở một số cơ quan, địa phương… gây bức xúc trong dư luận.
     Công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng; một nội dung cơ bản của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì nhiệm vụ xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch; có tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu trong cả lời nói và việc làm, khả năng tư duy sáng tạo, năng lực lãnh đạo, chỉ huy giỏi; trình độ, kiến thức chuyên môn ngày càng cao; có uy tín trong tập thể; sức khỏe và độ tuổi phù hợp, luôn gần gũi, sâu sát với bộ đội, làm nòng cốt trong xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, đảm bảo cho Quân đội không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

 PHÊ PHÁN NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM


Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam.


Vì thế, việc nhận diện kịp thời và phê phán có cơ sở khoa học, chỉ rõ mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.


Không ngộ nhận, thờ ơ trước những quan điểm sai trái, phản động


Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.


Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ.


Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH .


Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.


Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay.


Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB.


Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử


Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam.


Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên.


Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB.


Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu.


Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển.


Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.


Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(1).


Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN”(2) là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi.  


Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam.


Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về chính sách đối với đồng bào các dân tộc thiểu số

 Thời gian qua, bất chấp những thành quả vượt bậc trong thực hiện chính sách dân tộc nói chung, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, chống phá bằng nhiều thủ đoạn công khai, trực diện, hòng hạ thấp uy tín của Đảng. Đây là thủ đoạn không mới, nhưng rất nguy hiểm, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, nhất là của đồng bào các dân tộc thiểu số vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta cần nêu cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những thủ đoạn cơ bản, xuyên suốt mà các thế lực thù địch ra sức chống phá đối với cách mạng nước ta. Đây là vấn đề không mới, nhưng hết sức nguy hiểm, bởi nó đánh vào nền tảng sức mạnh tổng hợp của toàn dân và đất nước, làm suy yếu nước ta từ bên trong, tạo sự ly khai, cát cứ trên từng khu vực, địa bàn, nhất là trên các địa bàn chiến lược, gây sự bất ổn định về chính trị,... để dễ bề kêu gọi can thiệp từ bên ngoài.

Để thực hiện mưu đồ đó, chúng ra sức lợi dụng những khó khăn, bức xúc của đồng bào các dân tộc trong cuộc sống; lợi dụng những yếu kém trong quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở; đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng các phần tử cực đoan, bất mãn, cơ hội chính trị,... để xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận thành tựu công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước nói chung, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, bằng nhiều thủ đoạn ngày càng công khai và trực diện hơn. Gần đây, lợi dụng những khó khăn của đồng bào, nhất là ở những nơi bị ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, dịch bệnh,... chúng đẩy mạnh các luận điệu vu khống xuyên tạc, rằng: “Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị ngược đãi, phân biệt đối xử”(!). Đây là sự vu khống, bịa đặt một cách trắng trợn, lố bịch, không thể chấp nhận được, cần được vạch trần và đấu tranh bác bỏ.

Trước hết, cần khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với những nội dung cơ bản là: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển”. Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, trên cơ sở tiếp thu quan điểm về vai trò quần chúng nhân dân của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc; coi đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành công của cách mạng. Người cho rằng, các dân tộc đều bình đẳng, tôn trọng, cùng nhau phát triển: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”1. Kế thừa tư tưởng đó, trong tất cả các văn kiện Đại hội Đảng, nhất là thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn xác định, “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”2. Quan điểm về sự bình đẳng giữa các dân tộc còn được thể hiện nhất quán trong Hiến pháp của Nhà nước ta. Điều 5, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định rõ: “1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. 3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. 4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.

Nhằm làm cơ sở cho thực hiện tốt chính sách dân tộc, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành nghị quyết riêng (Nghị quyết số 24 ngày 12/3/2003) về Công tác dân tộc. Cùng với đó, Quốc hội đã ban hành các luật khung và luật chuyên ngành nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền cũng như chính sách hỗ trợ phát triển cho đồng bào dân tộc thiểu số. Riêng từ năm 2010 đến nay, Chính phủ đã xây dựng, ban hành 118 văn bản chính sách; 54 đề án, chính sách dân tộc trực tiếp hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong đó có các nhóm chính sách: về giảm nghèo bền vững; giáo dục, đào tạo; y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân; bồi dưỡng, đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số, miền núi và nhóm chính sách, cơ chế đặc thù về truyền thông và tuyên truyền vận động, phổ biến giáo dục pháp luật, v.v. Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 88/2019/QH14, ngày 18/11/2019 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 14/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1719/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Điều đó thể hiện sự nhất quán, quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với đồng bào dân tộc thiểu số, không có sự phân biệt đối xử như các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc.

Thành tựu về thực hiện chính sách dân tộc của Việt Nam là không thể phủ nhận. Theo đó, công tác phát triển giáo dục, đào tạo vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã có những tiến bộ; chất lượng và hiệu quả ngày càng được nâng cao. Với chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, những năm qua, quy mô, mạng lưới trường, lớp ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi được củng cố, phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số được học tập, ăn ở tại trường. Triển khai Đề án củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, đã có nhiều lớp học, phòng phục vụ học tập được nâng cấp và đầu tư xây dựng mới. Hiện nay, đã có 316 trường phổ thông dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố, với 109.245 học sinh, trong đó, có khoảng 40% số trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng giáo dục của các trường phổ thông dân tộc nội trú ngày càng được nâng lên qua từng năm học. Trường phổ thông dân tộc bán trú đã được thành lập ở 28 tỉnh, với quy mô 1.097 trường và 185.671 học sinh. Tỷ lệ học sinh bán trú hoàn thành cấp tiểu học đạt 98,9%; cấp trung học cơ sở đạt 92%. Có 15,2% số trường phổ thông dân tộc bán trú được công nhận đạt chuẩn quốc gia.

Cùng với đó, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy thoái, tình hình kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng trong giai đoạn 2011 - 2015, Nhà nước đã đầu tư khoảng 135.000 tỉ đồng (tăng gấp 3 lần so với 5 năm trước3) giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số. Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng dân tộc thiểu số và miền núi khá cao, giai đoạn 2016 - 2018 đạt bình quân 07% và tăng dần hằng năm. Đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hằng năm, bình quân toàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm 04%/năm; riêng các xã đặc biệt khó khăn, giảm trên 04%/năm trở lên; các huyện nghèo giảm 05% - 06%/năm trở lên. Giai đoạn 2015 - 2019, đã có 08/64 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của chính phủ thoát nghèo; 14/30 huyện nghèo hưởng cơ chế theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của chính phủ thoát khỏi tình trạng khó khăn; 124/2.139 xã, 1.322/20.176 thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đầu tư của Chương trình 135. Từ năm 2013 - 2020, bộ mặt nông thôn cả nước nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng được đổi thay rõ rệt; thu nhập và điều kiện sống của người dân được cải thiện và nâng cao. Đồng thời, Chính phủ tập trung xây dựng hàng vạn công trình hạ tầng cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, chủ yếu là đường giao thông, nhất là đường giao thông đến trung tâm các xã hầu hết được đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng; hệ thống điện, thủy lợi, cầu dân sinh, cầu treo, các công trình nước sạch, trường, lớp học, trạm y tế, nhà văn hóa, mạng lưới chợ, tạo thuận lợi có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nhiều trường, lớp học, trạm y tế xã được xây dựng mới, kiên cố hóa; trang thiết bị thiết yếu phục vụ dạy và học, khám chữa bệnh được đầu tư mới. Đến nay, 100% huyện có đường đến trung tâm huyện; 98,4% xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã và 97,2% thôn, bản có điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng điện đạt 93,9%; 100% xã có trường tiểu học và trung học cơ sở, 99,7% xã có trường mầm non, mẫu giáo; 99,3 % xã có trạm y tế; 65,8% số xã và 76,7% số thôn có nhà văn hóa hoặc nhà sinh hoạt cộng đồng.

Trái với luận điệu của các thế lực thù địch là “các dân tộc thiểu số đang bị đồng hóa, phân biệt đối xử vì khác biệt văn hóa,...”, trên thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng đến công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc. Để thực hiện chủ trương này, ngày 27/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1270/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” với nội dung tập trung ưu tiên bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số rất ít người. Nhờ đó, văn hóa truyền thống của các dân tộc được tôn vinh, từng bước được bảo tồn, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số được cải thiện, mức hưởng thụ văn hóa được nâng cao. Các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, như: không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Thánh địa Mỹ Sơn, Cao nguyên đá Đồng Văn,... được bảo tồn, tôn vinh, được công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Hiện nay, hầu hết các xã được phủ sóng phát thanh, truyền hình; Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các đài phát thanh, truyền hình địa phương đều có các chương trình bằng tiếng dân tộc, phù hợp với từng vùng, miền. Cùng với đó, tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số được tôn trọng. Nhà nước có nhiều chính sách bảo tồn, sử dụng và phát triển ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, như: quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên. Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn giáo trình dạy 12 thứ tiếng dân tộc thiểu số; cả nước có hơn 30 tỉnh, hơn 600 trường tổ chức dạy, với hàng trăm nghìn học sinh theo học tiếng dân tộc. Đặc biệt, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhìn chung ổn định, đúng pháp luật; quyền tự do tín ngưỡng được đảm bảo; đa số người dân theo các tôn giáo sống tốt đời đẹp đạo, tuân thủ pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Có thể khẳng định rằng, với hệ thống chính sách dân tộc được hoàn thiện, trên thực tế các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được bình đẳng về chính trị, văn hóa truyền thống được bảo tồn; chữ viết, tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào được tôn trọng, các quyền của công dân được bảo đảm, đã làm thay đổi cơ bản diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được cải thiện. Đồng bào tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, là những minh chứng hùng hồn phản bác lại luận điệu xuyên tạc, vu khống về cái gọi là “đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị ngược đãi, phân biệt đối xử”(!) của các thế lực thù địch.

Thúc đẩy “Xã hội dân sự” ở Việt Nam - hình thức chống phá nguy hiểm của các thế lực thù địch

 Xã hội dân sự đúng nghĩa là một bước tiến quan trọng của xã hội loài người trong tiến trình hướng tới một xã hội phi nhà nước. Tuy nhiên, một số tổ chức đã mượn danh “xã hội dân sự” nhằm làm phức tạp tình hình chính trị - xã hội, hướng đến mục tiêu thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam như đã từng xảy ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây. Vì vậy, cần đề cao cảnh giác, nhận diện đúng và vạch trần thủ đoạn chống phá nguy hiểm này.

Nhận diện về xã hội dân sự và tổ chức “xã hội dân sự”

Xét về bản chất, xã hội dân sự (Civil Society) là xã hội tự lập phi nhà nước, được hình thành, hoạt động trong không gian công cộng và tư nhân, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước. Không thể phủ nhận xã hội dân sự là một bước tiến của loài người trong tổ chức cộng đồng, bên cạnh sự tiến bộ của các thiết chế nhà nước ngày càng hợp lý (nhà nước chuyển từ cai trị sang phục vụ, nhà nước của dân, do dân, vì dân,…) thì xã hội cũng hình thành một loạt các thiết chế xã hội đa dạng, phong phú. “Điều này phù hợp với xu thế: nhà nước sẽ nhỏ đi và xã hội sẽ lớn lên, được C. Mác đề cập trong lý luận về chủ nghĩa xã hội”1. Theo đó, chặng đường tiến bộ đáng kể của nhân loại biểu hiện ở vai trò tự quản trong cộng đồng ngày càng mạnh lên. Vai trò tự quản ấy chính là nằm ở các tổ chức xã hội với các thiết chế riêng bên cạnh thiết chế nhà nước, đó là các bộ phận hợp thành của xã hội dân sự.

“Giá trị đáng ghi nhận của xã hội dân sự là những phát kiến, kiến nghị, đề xuất có cơ sở lý luận và thực tiễn, phù hợp với quan điểm, đường lối của đảng cầm quyền. Theo C. Mác: chủ quyền của nhân dân phải trở thành vấn đề trung tâm trong một xã hội dân sự đích thực, làm cơ sở cho một chế độ dân chủ và một nhà nước dân chủ chân chính”2. Đây là tư tưởng cách mạng sâu sắc, có tính định hướng cho việc nhìn nhận, đánh giá và xác định tính đúng đắn của một tổ chức được coi là xã hội dân sự đích thực hay giả danh để chống phá chính quyền nhân dân.

Hiện nay, xu hướng mang tính phổ biến trong quá trình phát triển của nhiều quốc gia là mối quan hệ hữu cơ giữa kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Theo đó, xã hội dân sự được cộng đồng quốc tế rất quan tâm, coi đó là một nhân tố của xã hội hiện đại, một tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của chế độ xã hội ở một quốc gia. Nhiều văn kiện của các tổ chức quốc tế và khu vực đã có các quy định về quyền con người, về xã hội dân sự, tổ chức “xã hội dân sự”. Nhiều tổ chức “xã hội dân sự” đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm thực thi dân chủ, nhân quyền; góp phần tích cực vào thúc đẩy dân chủ hóa và xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển các lĩnh vực giáo dục, y tế, v.v.

Ở Việt Nam, quyền con người, quyền công dân là thành quả cách mạng được thể chế hóa và phát huy trên thực tế. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là sự kế thừa, phát triển những giá trị quyền con người, quyền công dân của nhân loại trong thời đại mới. Trong các bản Hiến pháp (năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013) đều thể hiện rõ bản chất của chế độ ta là tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; là chế độ dân chủ do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Pháp luật Việt Nam đã quy định các điều kiện cụ thể để thành lập, hoạt động của tổ chức xã hội dân sự. Trên thực tế, bên cạnh các tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng, nhiều hội, tổ chức phi chính phủ đã và đang được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, hoạt động công khai, hợp pháp, mang lại những lợi ích đáng kể cho xã hội và cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn các hội, tổ chức quần chúng tự phát thành lập, không có tư cách pháp nhân, mang tính hình thức, chạy theo lợi nhuận kinh tế đơn thuần, hoạt động tùy tiện, kém hiệu quả, không phát huy được vai trò đại diện cho lợi ích của hội viên; cá biệt còn một số tổ chức có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật, gây phương hại đến an ninh quốc gia, buộc các cơ quan chức năng phải chấn chỉnh, xử lý. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch đã xuyên tạc, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền. Đó là sự đơm đặt vô căn cứ, mang nặng tính thù địch.

“Xã hội dân sự” trá hình - tiền đề của chế độ đa nguyên, đa đảng

Thực tế cho thấy, ngay từ ý tưởng cho đến quá trình thành lập và hoạt động, do tính chất nhạy cảm về chính trị - xã hội, nhiều tổ chức đã trượt khỏi bản chất, hình ảnh tích cực của xã hội dân sự đích thực, trở thành công cụ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá chế độ. Các tổ chức núp bóng “xã hội dân sự” này thường trá hình dưới danh nghĩa bảo vệ “dân chủ”, “nhân quyền”, nhằm hướng lái vào phê phán vai trò lãnh đạo của Đảng, họ cho rằng: chế độ độc đảng là “độc tài toàn trị”, là nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, sai lầm, v.v. Các thế lực thù địch còn tìm cách thao túng, lôi kéo, chi phối tổ chức “xã hội dân sự” cho mục tiêu của mình. Nhìn chung, các hoạt động chống phá dựa trên công cụ là tổ chức “xã hội dân sự” trá hình mà họ thường sử dụng, tập trung vào các thủ đoạn chủ yếu sau: Một là, đề cao vai trò “phản biện xã hội” của các tổ chức giả danh “xã hội dân sự”, hướng lái hoạt động của các tổ chức này dần đối lập về tư tưởng chính trị với Nhà nước ta. Hai là, thúc đẩy xu hướng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp. Một số tổ chức “xã hội dân sự” không đứng trên lập trường của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; hướng lái mục tiêu hoạt động nhằm phục vụ lợi ích của một số nhóm người, đối lập với lợi ích của quốc gia, dân tộc. Ba là, lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để hướng lái các tổ chức “xã hội dân sự” vào các hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích, vi phạm pháp luật. Bốn là, gia tăng các hoạt động móc nối, liên kết, hậu thuẫn cho những người “bất đồng chính kiến” trong nước hoạt động theo khuynh hướng “độc lập”, hình thành “xã hội dân sự” trái pháp luật, chống Nhà nước, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức chính trị đối lập, thiết lập chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm tiến tới mục tiêu thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cùng với đó, họ mượn cớ “phản biện xã hội”, “kiểm soát quyền lực”, nhân danh “dân chủ”, “nhân quyền” để mị dân bằng các hoạt động xây dựng quan hệ thương mại và phát triển,... gây phương hại đến an ninh quốc gia.

Sử dụng công cụ tổ chức “xã hội dân sự” và chiêu bài “đa nguyên chính trị” làm mũi nhọn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng

Với “yêu sách”, đòi mở rộng quyền tự do, dân chủ vô chính phủ ở các nước xã hội chủ nghĩa, chống lại nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện chế độ đa đảng và các tổ chức chính trị đối lập, các thế lực thù địch đã, đang thực hiện mưu đồ thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Gần đây, họ tập trung tuyên truyền luận điệu: độc quyền, thủ tiêu dân chủ là nguyên nhân của những sai lầm và yếu kém trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Họ tăng cường tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức, “đảng phái chính trị” đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, như: “Đảng Dân chủ của thế kỷ XXI”, “Thanh niên dân chủ Sơn Hà”, “Liên đảng Lạc Hồng”, “Đảng Thăng tiến Việt Nam”,... với mưu đồ tác động, thiết lập chế độ đa nguyên, đa đảng, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho sự thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục núp bóng tổ chức “xã hội dân sự” trá hình làm công cụ quan trọng để chống phá Đảng, Nhà nước ta, với các hướng: Một là, gia tăng hoạt động truyền bá “xã hội dân sự” nhằm gây áp lực xã hội đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; làm tiền đề cho sự ra đời, phát triển của các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình ở Việt Nam. Hai là, tiếp tục tác động, can thiệp vào vấn đề “dân chủ“ “nhân quyền”, coi đó như động lực để thúc đẩy sự phát triển của “xã hội dân sự” trá hình. Ba là, tập trung tuyên truyền, tác động để phá hoại nội bộ, thúc đẩy quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhằm gây dựng, phát triển lực lượng cho các tổ chức “xã hội dân sự” chính trị đối lập. Bốn là, gia tăng tác động nhằm chuyển hóa các tổ chức xã hội dân sự đích thực ở Việt Nam, nhất là các hội, các tổ chức phi chính phủ trở thành các tổ chức “xã hội dân sự” theo hướng đối lập với Nhà nước ta. Từ đó, trực tiếp chi phối, khích lệ các hoạt động chống phá chế độ, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Năm là, sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình làm công cụ tuyên truyền, tác động tư tưởng, kích động, lôi kéo, tập hợp một bộ phận quần chúng nhân dân, kết hợp với các hoạt động gây mất ổn định chính trị - xã hội nhằm chuẩn bị điều kiện để phát động các hoạt động gây rối, như: “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu”,... để thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam.

Kiên quyết đấu tranh với hoạt động thúc đẩy “xã hội dân sự” của các thế lực thù địch

Đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu trên, triệt tiêu mầm mống của các hoạt động gây rối, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Do đó, hệ thống chính trị và toàn xã hội cần thống nhất và nâng cao nhận thức, nhận diện đúng về “xã hội dân sự”; phân biệt và đánh giá đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự đích thực; không nhầm lẫn, đánh đồng với các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình. Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc cổ súy, lợi dụng, núp bóng tổ chức “xã hội dân sự” vào mục đích thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống âm mưu chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị.

Cùng với đó, các cơ quan chức năng cần làm tốt công tác nắm tình hình, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp tập trung lãnh đạo, định hướng các tổ chức xã hội dân sự đích thực tuân thủ và chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các tổ chức xã hội dân sự phát huy tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, giữ vững ổn định chính trị - xã hội; thường xuyên đề cao cảnh giác trước âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị tác động, lôi kéo, kiên quyết bảo vệ Đảng, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đóng góp tích cực vào những thành tựu chung của đất nước trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế.

Làm gì để bảo vệ uy tín, thanh danh của Đảng

 Với phương châm: “mưa dầm thấm lâu”, hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã, đang trở nên vô cùng nguy hiểm, ảnh hưởng tới uy tín, thanh danh và nền tảng tư tưởng của Đảng, giảm sút niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Do đó, đấu tranh ngăn chặn, phản bác hoạt động chống phá, bảo vệ Đảng, chế độ cần được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ; trong đó, tập trung thực hiện một số nội dung, giải pháp chủ yếu sau:

 Một làtăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đối với nhiệm vụ quan trọng này. Chúng ta biết, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta trước đây, hiện nay và sau này sẽ không bao giờ thay đổi, thậm chí còn ráo riết và ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Điều đó cho thấy, bảo vệ nền tảng tư tưởng và uy tín, thanh danh của Đảng là vấn đề cốt lõi, quan trọng bậc nhất đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ, cũng như vận mệnh chính trị của đất nước, dân tộc. Vì thế, phải đặt công tác này dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, của cấp ủy, chính quyền các cấp cùng sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị. Cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, ngành ở Trung ương và địa phương cần tiếp tục quán triệt Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; triển khai quyết liệt, thực chất, thường xuyên với ý chí, quyết tâm cao, có sức thuyết phục, tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với nội dung đa dạng, phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Quá trình thực hiện, chú trọng phát huy trí tuệ, tâm huyết của tập thể, các tầng lớp nhân dân, nhất là các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trong đấu tranh với hoạt động xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị. Các cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng chuyên sâu theo chức năng, nhiệm vụ chủ động làm việc, yêu cầu các nhà mạng ngăn chặn, bóc gỡ các trang web, blog có nội dung xấu độc và xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm theo quy định của pháp luật.

Hai làđổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận. Các cấp, ngành, địa phương, cả hệ thống chính trị, nhất là cơ quan tuyên giáo, báo chí, truyền thông tăng cường đổi mới phương thức thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước; vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch,… làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhận thức rõ bản chất, mục đích của những thông tin, luận điệu xuyên tạc, chống phá. Từ đó, nêu cao cảnh giác, có khả năng nhận diện và “miễn dịch” trước các thông tin xấu độc, xuyên tạc, chống phá, nhất là dịp diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng. Đồng thời, chủ động cập nhật, cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin chính thống về các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương, Đại hội Đảng toàn quốc; công khai, minh bạch thông tin về chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết các vấn đề phức tạp, gây bức xúc, nhất là những vấn đề nhạy cảm cả trước, trong và sau khi diễn ra sự kiện để định hướng nhận thức, hành động cho các tầng lớp nhân dân. Các cấp, ngành, địa phương mà nòng cốt là cơ quan tuyên giáo, báo chí, truyền thông tích cực tổ chức lực lượng viết bài đấu tranh phê phán, phản bác với lập luận sắc bén, thuyết phục nhằm bác bỏ thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, thanh danh, vai trò lãnh đạo của Đảng. 

Ba làtiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Thực tế cho thấy, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là một trong những nguyên nhân dẫn đến những khuyết điểm, sai lầm, vi phạm pháp luật, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cao cấp diện Trung ương quản lý, đã làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các tổ chức, lực lượng và cả hệ thống chính trị tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với nhiều biện pháp quyết liệt đồng bộ, theo tinh thần “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tập trung thực hiện có hiệu quả Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Tăng cường các biện pháp quản lý, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đề cao đấu tranh tự phê bình và phê bình; chấp hành nghiêm quy định của công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, tăng cường kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực; kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy lãnh đạo những cán bộ, đảng viên yếu kém, không đủ phẩm chất, năng lực, quan liêu, sách nhiễu. Thông qua đó, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Bốn làchú trọng phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Đây là thực tiễn, minh chứng sinh động nhất để phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá vô căn cứ của các thế lực thù địch; đồng thời, khẳng định vai trò, vị thế, uy tín lãnh đạo của Đảng đối với đất nước và toàn xã hội. Vì vậy, trên cơ sở quán triệt chủ trương, đường lối, nghị quyết lãnh đạo của Đảng, các cấp, các ngành, địa phương đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đi đôi với củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Để khắc phục sự phát triển chênh lệch giữa các vùng, miền, Đảng, Nhà nước chú trọng quan tâm, đề ra chủ trương, chính sách ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, biển, đảo. Giải quyết kịp thời, dứt điểm các mâu thuẫn phức tạp nảy sinh trong quá trình phát triển ngay từ địa phương, cơ sở, không để xuất hiện, hình thành các “điểm nóng” để kẻ địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá, bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy.

Đấu tranh với hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị bảo vệ nền tảng tư tưởng, uy tín, thanh danh của Đảng là “cuộc chiến” đầy cam go, thách thức, song với sự quyết tâm, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta nhất định thành công, tạo cơ sở thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nhận diện những chiêu trò xấu, độc của các thế lực thù địch để đấu tranh bảo vệ uy tín, thanh danh của Đảng

 Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách chống phá, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, thanh danh của Đảng, nhất là dịp diễn ra các sự kiện lớn của đất nước, nhằm tạo tiếng vang, thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội và cộng đồng quốc tế. Vì thế, nhận diện và kiên quyết đấu tranh bảo vệ uy tín, thanh danh của Đảng; định hướng nhận thức tư tưởng, hành động cho cán bộ, đảng viên và nhân dân là vấn đề căn bản, cấp thiết, lâu dài.

Nhận diện những chiêu trò xấu, độc

Thời gian qua, lợi dụng, khoét sâu vào những hạn chế, khuyết điểm trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để xuyên tạc, chống phá, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước,... là một trong những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch. Một mặt, họ phủ nhận và cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, không còn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại; mặt khác  tăng cường cổ súy cho “xã hội dân sự”, kêu gọi thành lập các tổ chức chính trị đối lập, tạo tiền đề thực hiện “đa nguyên, đa đảng”. Đồng thời, tích cực truyền bá lối sống phương Tây, bao biện rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn áp bức, bóc lột; vu cáo Việt Nam “đàn áp” dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy phong trào “bất tuân dân sự”; kích động, chia rẽ nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước, xúi giục, lôi kéo nhân dân tham gia biểu tình, gây rối, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo cơ sở thực hiện “canh tân đất nước”, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Đặc biệt, vào dịp diễn ra các sự kiện chính trị lớn, như: Đại hội Đảng toàn quốc, hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, bầu cử đại biểu Quốc hội,… chúng tăng cường xuyên tạc nội dung dự thảo các văn kiện Đại hội, nghị quyết các hội nghị; bịa đặt, bôi nhọ đời tư, uy tín, danh dự của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhất là các đồng chí được đề cử, ứng cử vào Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban kiểm tra Trung ương khóa mới. Khi muốn “hạ bệ” cá nhân nào đó, họ tập trung khoét sâu vào những hạn chế, khuyết điểm của các ban, bộ, ngành, lĩnh vực mà cá nhân đó phụ trách, hoặc dựng chuyện, bịa đặt, bóp méo bản chất các vụ việc liên quan rồi quy kết trách nhiệm cá nhân, không đủ tiêu chuẩn quy hoạch nhân sự đại hội. Họ còn rêu rao rằng: ở cả Trung ương và địa phương “các phe cánh trong Đảng luôn thanh trừng lẫn nhau”, “Đại hội Đảng là nơi đấu đá, tranh giành quyền lực của các phe phái”; từ đó, kích động, chia rẽ đoàn kết nội bộ, gây nhiễu loạn thông tin, hoang mang tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, nhân dân.

Trong công tác cán bộ, họ cho rằng: việc quy hoạch cán bộ chủ chốt của Đảng đã “tước đi quyền tự do, dân chủ trong ứng cử, đề cử và bầu cử”. Đại hội bầu ra các vị trí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị chỉ mang tính hình thức, thực chất là “củng cố, thâu tóm quyền lực” cho phe cánh của đồng chí A, đồng chí B, v.v. Thế mới có chuyện, mỗi khi có cán bộ được bổ nhiệm, nhất là cán bộ trẻ, họ lại “truy lùng” xem đó là con, cháu của ai? mà không cần biết phẩm chất, năng lực của cán bộ đó. Gần đây nhất, trong thời gian diễn ra Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII) đã xuất hiện nhiều bài viết “nở rộ như nấm sau mưa” trên các trang mạng xã hội tung tin đồn thổi, bình luận về nội dung hội nghị, rằng: sẽ có cuộc tranh giành quyền lực, đấu đá giữa các phe, nhóm tại hội nghị lần này và suy diễn, bình luận việc “rời ghế” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Điển hình, trang facebook Tiếng Dân News có bài “Những biến cố trước Hội nghị Trung ương 5”, “Hội nghị Trung ương 5 và nội tình của Đảng”; facebook Việt Tân có bài “Khảo sát ý kiến độc giả về tương lai chính trị của ông Nguyễn Phú Trọng”, v.v.

Một cách tinh vi hơn, các thế lực thù địch còn soạn thảo, phát tán các tài liệu trên internet, mạng xã hội núp bóng dưới chiêu trò “Thư ngỏ”, “Bản kiến nghị” của “nhân dân” để gieo rắc hoài nghi, lừa bịp dư luận,... hoặc thông qua các trang web, kênh phát thanh, truyền hình Việt ngữ (BBC, VOA, RFA, RFI,…) để đăng tải, phát các chương trình, bài viết, tài liệu, báo cáo, nghị quyết, dự luật của nghị viện, quốc hội một số nước, nhất là báo cáo về tình hình nhân quyền hằng năm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và một số tổ chức quốc tế, như: mạng lưới nhân quyền Việt Nam; Tổ chức người bảo vệ nhân quyền; Theo dõi nhân quyền quốc tế, v.v. Ngoài ra, họ còn lập hàng nghìn trang web, blog, mạng xã hội; hàng trăm tạp chí, báo, nhà xuất bản, hàng chục đài phát thanh có chương trình tiếng Việt phục vụ cho việc tuyên truyền, chống phá. Một số tổ chức phản động lưu vong: Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, Hội anh em dân chủ,... thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm trực tiếp, trực tuyến được livestream trên các nền tảng mạng xã hội nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo,… thu hút sự quan tâm của dư luận, kêu gọi quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng. Đây là điều đã được khẳng định và minh chứng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Song, nền tảng đó muốn lâu bền, vững chắc thì không chỉ thể hiện trên văn bản, giấy tờ, nghị quyết,… của từng tổ chức, mà điều quan trọng nhất là sự tồn tại, thấm sâu trong chính nhận thức, suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm và hành động thực tiễn – những biểu hiện cụ thể từ đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên. Điều đó được biểu hiện sinh động ở quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau giữa hai nhân tố này trong quá trình vận động, phát triển của cách mạng. Theo đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở phương pháp luận, thế giới quan, nội dung, tiêu chí để xây đắp, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Ngược lại, đạo đức cách mạng là cơ sở tiếp thu, “nuôi dưỡng” và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng. Do vậy, đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên có vai trò quan trọng, trực tiếp góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức là gốc, nền tảng của người cách mạng, Người cho rằng “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”1. Đặc biệt, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới “gánh được nặng và đi được xa”; trước những khó khăn, gian khổ, phức tạp không dao động, luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng đã lựa chọn. Vì vậy, tiêu chuẩn đầu tiên của người cán bộ là phẩm chất đạo đức, “đạo đức là gốc”, người cán bộ phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mới có thể trở thành người cán bộ chân chính, “mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”.

Đạo đức cách mạng, theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gồm nhiều yếu tố, tựu trung là: trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Trong đó, điều mấu chốt nhất là: quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Thấm nhuần điều đó, từ khi thành lập Đảng cho tới nay, tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên luôn thể hiện rõ phẩm chất đạo đức cách mạng; tích cực, chủ động học tập, thấm nhuần và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; nêu cao bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển phồn vinh của đất nước.

Tuy nhiên, trước những tác động tiêu cực đa chiều, nhất là mặt trái của kinh tế thị trường và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch,... một số cán bộ, đảng viên đã không giữ được phẩm chất đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực, địa bàn, cơ quan, đơn vị của một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cấp cao diễn ra nghiêm trọng, phức tạp, với nhiều biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Đặc biệt, một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng rèn luyện dẫn tới phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính tri, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước buộc phải xử lý, v.v. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến một số cán bộ, đảng viên hư hỏng, biến chất đòi phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Triệt để lợi dụng thực trạng này, các thế lực thù địch đẩy mạnh xuyên tạc, kích động chống phá, gieo rắc hoài nghi,... làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, v.v.

Đại hội XII của Đảng đã đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức ngang với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng cũng đã chỉ rõ sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên “là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”2. Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức được đặt ở một vị trí cao hơn.

Như vậy, đạo đức cách mạng là phẩm chất quan trọng hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên và có ý nghĩa quyết định tới sự tồn vong của Đảng, của chế độ nói chung và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói riêng; đòi hỏi, cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức cách mạng là giải pháp quan trọng để góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng. Để thực hiện tốt điều đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng của tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật có nguyên nhân căn bản từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Mặc dù được công tác, học tập trong môi trường có tính kỷ luật cao, tổ chức chặt chẽ; vẫn được giáo dục, tuyên truyền; vẫn tham gia đầy đủ các lớp học, các hội nghị; được quán triệt, học tập đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị,… nhưng do chưa nhận thức đúng vai trò của tự tu dưỡng nên một số cán bộ, đảng viên buông lỏng bản thân, không có, hoặc chưa có hoạt động tự tu dưỡng, rèn luyện đủ mạnh, khiến đạo đức người đảng viên, cán bộ không được bồi đắp, đi chệch hướng.

Việc rèn luyện đạo đức cách mạng không phải dễ dàng, bởi ai cũng muốn, thậm chí ham muốn được phát triển, có quyền lực, có điều kiện kinh tế, có cuộc sống sung túc, muốn được hưởng thụ, thậm chí còn muốn được xa hoa,… do vậy, đấu tranh để thắng những ham muốn của bản thân mình là một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và phải do tự mình “chiến đấu”. Khó, nhưng không phải không làm được. Tấm gương tự tu dưỡng, tự rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và biết bao đảng viên khác để đưa đất nước đến ngày hôm nay là minh chứng rõ nét. Sinh thời, Chủ tịch  Hồ Chí Minh chỉ rõ, kẻ địch cần chống trước hết là chống thói quen và truyền thống lạc hậu; đặc biệt là chống chủ nghĩa cá nhân đang ẩn chứa trong mỗi con người, khi có điều kiện tác động nó sẽ phát triển. Cho nên, mỗi cán bộ, đảng viên “trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình”. Và, phải chủ động đấu tranh loại bỏ hàng trăm thứ bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra vì nó là vật cản nguy hiểm cho việc xây dựng đạo đức cách mạng của quân nhân.

Hai là, tích cực nghiên cứu, học tập. Trước hết, phải thường xuyên học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không nắm vững, không thấm nhuần nền tảng tư tưởng của Đảng thì không thể tu dưỡng được đạo đức cách mạng, đồng thời cũng không thể bảo vệ, phát triển, thậm chí còn làm tổn hại tới nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc tự học tập là rất quan trọng, hiện nay, hoạt động này đang bị tác động tiêu cực từ nhiều mặt. Cản trở lớn nhất là sự phát triển của công nghệ giải trí, của mạng xã hội với vô vàn các nội dung khiến một số cán bộ, đảng viên thiên về “thỏa mãn” nhu cầu giải trí, sao nhãng việc nghiên cứu, học tập. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng cho mình kế hoạch tự học tập phù hợp, hiệu quả, khả thi và thực hiện nghiêm túc. Giải quyết hài hòa giữa nhu cầu thư giãn, giải trí, tái tạo sức lao động với nhu cầu trau dồi kiến thức nền tảng của người cán bộ, đảng viên. Để việc tự học tập đạt hiệu quả, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần cụ thể hóa những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đề ra phương hướng, mục tiêu, nội dung, giải pháp để tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, đối tượng. Kết hợp tuyên truyền, giáo dục với tạo điều kiện cho đảng viên tự học, tự rèn, tự soi, tự sửa để hoàn thiện bản thân; nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng cộng sản, lòng trung thành đối với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tình yêu thương con người; gương mẫu trong công tác, lối sống, khiêm tốn giản dị, dân chủ, đoàn kết và kỷ luật, nói đi đôi với làm; thương yêu đồng chí, đồng đội, không quan liêu, độc đoán chuyên quyền, gia trưởng.v,v. Cán bộ, đảng viên phải có trình độ chuyên môn và tác phong, phương pháp công tác tốt; luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, không dao động trước khó khăn, thử thách.

Ba là, thực hiện hiệu quả các nguyên tắc trong tự tu dưỡng đạo đức cách mạng. Đầu tiên là phải luôn nói đi đôi với làm, nêu gương tốt, làm việc tốt. Đây không chỉ là nguyên tắc rèn luyện mà còn là sự phân biệt giữa đạo đức cách mạng và phi đạo đức cách mạng. Vì vậy, lời nói của cán bộ, đảng viên phải đi đôi với việc làm và phải thực hiện tốt việc làm gương. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền”, “trước mắt quần chúng, không phải cứ viết lên trán hai chữ cộng sản mà ta được họ yêu quý. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”. Đạo đức ở đây không phải là đạo đức “tu thân” mà là đạo đức “dấn thân”, đạo đức trong hành động. Đã là hành động, nhất là hành động cách mạng, phải chú trọng đến hiệu quả. Nếu làm việc gì cũng không có hiệu quả thì không thể coi là một người có đạo đức. Muốn hướng dẫn cho quần chúng thì cán bộ, đảng viên phải làm mực thước. Muốn cho cơ quan, đơn vị đoàn kết, thì tập thể lãnh đạo phải thực sự dân chủ, đoàn kết, công tác cán bộ phải công tâm, khách quan, v.v. Cán bộ, đảng viên phải làm gương mọi mặt cho quần chúng noi theo.

Thực hiện lời dạy của Bác: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, việc làm gương phải thực hiện ở mọi nơi, mọi việc, từ cán bộ cấp cao tới cơ sở;tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm, trách nhiệm, chức trách, nhiệm vụ của mỗi người và sự đóng góp xây dựng của tập thể. Trong cuộc sống thường nhật, ai cũng có mặt mạnh, mặt hạn chế, không ai có thể đạt tới sự hoàn mỹ một cách tuyệt đối. Cho nên, mỗi đảng viên phải biết và dám dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật bản thân con người mình và dựa vào tập thể để thấy cái tốt, cái hay để phát huy, cái xấu, cái ác để khắc phục. Việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải gắn liền với thực tiễn hoạt động công tác; phải bền bỉ, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh.

Bốn là, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới những vi phạm của một số tổ chức, cá nhân thời gian qua, đó cũng là căn nguyên làm xói mòn đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, để tự tu dưỡng đạo đức cách mạng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì cần nhận thức đúng đắn và thống nhất về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Nắm chắc nội dung, yêu cầu của nguyên tắc trong tình hình mới; đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc này. Quá trình thực hiện dân chủ phải đi đôi với tập trung; phát huy dân chủ phải đồng thời gắn liền với chống dân chủ cực đoan, dân chủ không tuân theo kỷ cương, phép nước. Nguyên tắc tập trung dân chủ phải được thực hiện theo đúng Điều lệ Đảng và trong mối quan hệ đồng bộ với các nguyên tắc khác, như tự phê bình và phê bình, đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Theo đó, những vấn đề trọng yếu, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng nhất thiết phải được tập thể cấp ủy (ban thường vụ), chi bộ thông qua trước khi thực hiện. Từng đảng viên phải đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình, phát biểu thẳng thắn, trung thực, khách quan; thấy đúng phải kiên quyết bảo vệ, thấy sai dám đấu tranh bác bỏ. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, trên nguyên tắc luôn luôn đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân và tập thể cơ quan, đơn vị lên trên hết, trước hết. Không cơ hội, vụ lợi; chạy theo mục tiêu trước mắt, ngắn hạn để thu vén lợi ích cho bản thân, gia đình mà bỏ qua lợi ích tập thể. Chỉ khi nào cán bộ, đảng viên hết lòng, hết sức xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh thì khi đó chủ nghĩa cá nhân mới được đẩy lùi và đạo đức cách mạng mới được bồi đắp, phát huy.

Thực hiện hiệu quả việc tự tu dưỡng, rèn luyện là cơ sở, nền tảng để xây dựng và phát huy phẩm chất, đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đó cũng là yếu tố gốc rễ để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

VẤN ĐỀ TỰ DO NGÔN LUẬN ?

 


    Hẳn dư luận chưa quên, trước khi Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước ký Luật An ninh mạng (có hiệu lực từ ngày 1.1.2019) “cộng đồng mạng” sôi sục với nhiều luồng ý kiến trái chiều. Trong đó, có rất nhiều người được coi là “nhân sĩ, trí thức cấp tiến” đã không ngừng kêu gọi cơ quan lập pháp không thông qua luật này. Có người còn viết cả “tâm thư” gửi Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội để “cực lực phản đối” nội dung của luật. Có hai lý do chính, theo luồng ý kiến này, Luật An ninh mạng hạn chế quyền tự do ngôn luận, xâm phạm quyền riêng tư và doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông sẽ bị ảnh hưởng nặng nề.

    Thực tế gần hai năm qua cho thấy, Luật An ninh mạng, dù đã có hiệu lực nhưng không dấu hiệu nào cho thấy bộ luật này “cản trở quyền biểu đạt” hoặc gây khó dễ cho doanh nghiệp. Trái lại, bộ luật này chỉ làm cho mạng xã hội và những người sử dụng mạng xã hội có ý thức hơn mà thôi. Cần thiết phải nhắc lại rằng, tại thời điểm trước khi Quốc hội ban hành và có hiệu lực vào đầu năm 2019, tháng 10.2018, phóng viên Báo Tây Ninh thực hiện cuộc phỏng vấn đại biểu Quốc hội Trịnh Ngọc Phương (đoàn ĐBHQ đơn vị tỉnh Tây Ninh) xung quan nội dung cũng như ý kiến của dư luận về bộ luật này. Vị đại biểu Quốc hội khẳng định, Luật An ninh mạng đảm bảo phát triển kinh tế và không xâm phạm quyền tự do cá nhân. Để chứng minh, vị ĐBQH dẫn ra trường hợp của Singapore - quốc gia được coi là văn minh hàng đầu không chỉ của châu Á mà còn cả thế giới. Theo đó, năm 2017, Singapore ban hành Luật An ninh mạng, trong đó cho phép cơ quan an ninh mạng nước này theo dõi và quản lý an toàn không gian mạng của quốc gia. Cơ quan an ninh mạng được phép thực hiện các biện pháp chủ động để bảo vệ hạ tầng thông tin quan trọng và nhanh chóng ứng phó với các mối đe doạ. Chính phủ Singapore đã liệt kê 11 lĩnh vực được xem là hạ tầng thông tin quan trọng, trong đó có nước, y tế, hàng hải, truyền thông, thông tin, năng lượng và hàng không. Singapore cũng ký một tuyên bố chung với Đức để tăng cường hợp tác an ninh mạng giữa hai nước. Tại thời điểm đó, bằng thông tin của mình, vị ĐBQH cho biết, Việt Nam luôn nằm trong nhóm quốc gia bị tấn công mạng nhiều nhất trên thế giới. Tội phạm mạng như khủng bố, rửa tiền, lừa đảo trực tuyến, đánh bạc, tổ chức đánh bạc, môi giới mại dâm, buôn bán vũ khí, ma tuý… phát triển nhanh. Tình trạng nhiễu loạn thông tin trên không gian mạng, thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, vu khống, xúc phạm nhân phẩm, vi phạm thuần phong mỹ tục diễn ra tràn lan. Trong số gần 140 quốc gia ban hành luật an ninh mạng (tên gọi của luật ở mỗi nước có thể khác nhau) thì có 95 nước đang phát triển.

    Những thông tin nêu trên cho thấy, nếu không có những quy định về an ninh mạng nói chung, sử dụng mạng xã hội nói riêng, xã hội sẽ rối loạn bởi những kẻ có tâm địa xấu. Như đã đề cập, trước khi Luật An ninh mạng của Việt Nam được thông qua, nhiều “người của công chúng” liên tục phản đối. Thật trớ trêu, cách nay chưa lâu, một số người từng lớn tiếng phản đối Luật An ninh mạng lại phải cầu cứu cơ quan chức năng vì những tin nhắn, hình ảnh đời sống riêng tư trong tài khoản cá nhân bị kẻ gian đột nhập, lấy ra và tung lên mạng. Một nữ ca sĩ, sau khi “bị lộ” đã than với báo chí rằng “em chỉ muốn độn thổ vì quá xấu hổ”.

    Quyền tự do ngôn luận là một quyền phổ quát của loài người nhưng nó cũng có sự “khu biệt” về văn hoá. Có nghĩa, quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt không thể có một mẫu số chung giữa các quốc gia với nhau, nhất là những nước có sự khác biệt về văn hoá mà có người gọi “xung đột giữa các nền văn minh”. Một ý kiến, một thái độ, một bài viết hoặc một cử chỉ nào đó có thể hoàn toàn phù hợp với nền văn hoá này nhưng không thể xem là bình thường với nền văn hoá khác. Ngược dòng lịch sử, khi nước ta còn bị chia cắt, một nhân vật từng là người đứng đầu chính quyền được nước Mỹ hậu thuẫn ở miền Nam nói rằng, người Việt Nam không chấp nhận thứ tự do xô bồ của phương Tây, bởi sự khác biệt về lịch sử, văn hoá. Chúng ta biết, con người, trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó, thường bị bạo lực dưới một trong hai hình thức hoặc có khi cả hai: bạo lực thể xác và bạo lực tinh thần. Sự cố mà một số người mẫu, ca sĩ, cầu thủ bóng đá bị lộ thông tin riêng tư chính là hình thức bạo lực tinh thần. Thực tế đã có nhiều người, đủ mọi thành phần phải tìm đến cái chết vì bị khủng bố tinh thần. Công cụ để đối tượng xấu thực hiện hành vi bạo lực chính là mạng xã hội.

    Ở tầm vĩ mô hơn, chịu khó theo dõi, không khó khăn gì để thấy, nhiều người thiếu thiện chí đã triệt để sử dụng mạng xã hội để chống phá đất nước, phỉ báng, xúc phạm những người mà họ không thích, đặc biệt là các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước. Khi bài viết này đang hình thành, trên mạng xã hội xuất hiện một người Việt Nam (từng là luật sư) hiện sống tại Cộng hoà liên bang Đức đã phát sóng một đoạn video kêu gọi lật đổ chế độ hiện nay ở nước ta. Trong clip, người này liệt kê 6 bước cần thiết và vạch ra lộ trình để lật đổ chính quyền nhân dân. Trong số đó, “giải pháp” đầu tiên ông ta đưa ra là kêu gọi người dân trong nước sử dụng facebook để tấn công chính quyền dưới nhiều hình thức khác nhau. Một trong những hình thức cụ thể là, thông qua mạng xã hội này để thực hiện “cuộc cách mạng đường phố”… Có người tự hỏi, đang sinh sống tại nước Đức, sao ông ta không sử dụng mạng xã hội facebook để công khai kêu gọi lật đổ chính quyền nước Cộng hoà liên bang Đức? Sự thực, nếu cả gan làm điều tương tự như đang làm đối với Việt Nam, trong thời gian  “vài nốt nhạc” cảnh sát Đức sẽ không bỏ qua. Ngay ở trong nước, chỉ mới đây, một số kẻ nhân danh quyền tự do ngôn luận, đã bị cơ quan chức năng xử lý theo quy định pháp luật vì sử dụng mạng xã hội để phỉ báng, xúc phạm, người khác. Không riêng Việt Nam, trên thế giới này, không một quốc gia nào cho phép họ làm điều đó. Nhà báo Thuận Hữu, Tổng biên tập báo Nhân Dân, trong một phiên họp của Quốc hội đã phải thốt lên, “mạng xã hội chửi không từ  một ai”.

CHUYỆN Ở “THẾ GIỚI TỰ DO”

 

Mỹ là một trong những quốc gia thường xuyên kêu gọi tự do ngôn luận và áp đặt tiêu chuẩn tự do ngôn luận của mình cho nhiều quốc gia khác. Một số người cho rằng, sở dĩ Mỹ luôn làm điều này là do xứ cờ hoa không có luật báo chí. Đúng, nhưng thông tin vừa nêu chỉ mới phản ánh một nửa sự thật. Nước Mỹ không có luật báo chí nhưng không có nghĩa là mọi công dân Mỹ muốn làm gì thì làm, muốn viết thì viết, muốn nói gì thì nói. Tháng 2.2020, báo Nhân Dân có đăng bài viết của một luật sư người Việt hiện sống ở Mỹ, người này viết: “Năm 1917, Quốc hội Mỹ ban hành Luật Tình báo (The Espionage Act 1917), trong đó khẳng định tự do ngôn luận không có nghĩa là người dân có quyền vận động cho việc kêu gọi hay thành lập tổ chức lật đổ nhà nước Mỹ vì đó là tội phản quốc. Vậy rõ ràng, tự do ngôn luận phải nằm trong khuôn khổ an ninh quốc gia. Luật cũng xác định tự do ngôn luận không có nghĩa là ở trong rạp hát đứng lên hô hoán “cháy nhà” mà trên thực tế không có, như vậy là quấy rối trật tự chung. Và luật này giúp cho các cơ quan an ninh, tình báo, Bộ Quốc phòng Mỹ đối phó với những tổ chức và cá nhân xâm phạm đến an ninh quốc gia hoặc âm mưu lật đổ nhà nước Mỹ”. Vẫn theo tác giả bài viết, năm 1964, Tối cao Pháp viện Mỹ định nghĩa tự do ngôn luận không có nghĩa là có quyền bịa chuyện để vu khống phỉ báng cá nhân. Năm 1972, Quốc hội Mỹ thành lập Uỷ ban Truyền thông Liên bang, cơ quan này có thẩm quyền trên các cơ quan truyền thông, giúp tự do ngôn luận đi vào nề nếp, không gây xáo trộn trật tự xã hội. Sau đó, nước Mỹ cho ra đời tiếp Bộ Luật truyền thông, trong đó cấm công dân đưa tin giả.

Không chỉ tại Mỹ, nhiều quốc gia trên thế giới cũng có những quy định nghiêm ngặt để ngăn ngừa hậu quả của thông tin độc, bịa đặt. Theo số liệu thống kê của Liên Hợp Quốc, trên thế giới hiện có 138 quốc gia ban hành Luật An ninh mạng, trong đó có 23 quốc gia ban hành trên 40 văn bản luật và dưới luật về an ninh mạng. Tại châu Âu, Cộng hoà liên bang Đức - một nước được coi là đầu tàu của nền kinh tế của cả EU cũng ban hành nhiều quy định xử phạt nghiêm khắc đối với những người lợi dụng mạng xã hội vì lợi ích cá nhân, vi phạm an ninh quốc gia. Năm 2017, nước Đức ban hành “Luật cải thiện thực thi pháp luật trên các mạng xã hội”, người dân Đức gọi luật này bằng cái tên ngắn gọn, “Luật kiểm soát facebook”. Theo tinh thần của luật, nhà cung cấp mạng xã hội có nghĩa vụ xoá các nội dung bất hợp pháp, trái quy định được ghi trong luật. Sau 24 giờ kể từ khi người dùng mạng xã hội khiếu nại vì bị xúc phạm, vu khống, nhà cung cấp dịch vụ như Facebook, Twitter, YouTube.. phải xoá hoặc chặn nội dung bất hợp pháp. Trong hai năm 2018-2019, tại Đức, có tổng cộng  215.000 bài, video gây tranh cãi trên YouTube, trong đó có 58.000 bài đã bị xoá sau khi nhận được khiếu nại. Tại Cộng hoà Pháp, tháng 7.2019, Quốc hội nước này phê chuẩn một đạo luật để “chống lại hận thù trên internet”, cá nhân, tổ chức nào vi phạm, tuỳ theo mức độ sẽ bị phạt  tiền từ 250 nghìn đến hơn một triệu Euro, nặng hơn còn bị bỏ tù. Không chỉ xử phạt đối với người viết bài như nước Pháp, Cộng hoà Áo còn quy định trừng phạt những bình luận gây hận thù trên mạng xã hội. Nước Áo cũng yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội phải cung cấp danh tính của người có bình luận gây hận thù…

CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG "BỐN KHÔNG" TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

 


Quan điểm và chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam nhằm mục đích hòa bình, tự vệ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, đã xuất hiện nhiều quan điểm cho rằng, chính sách “bốn không” của Việt Nam đã không phù hợp, thực hiện chính sách “bốn không”, Việt Nam sẽ bị cô lập trong cộng đồng quốc tế.

 Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã nêu rõ, chủ trương của Việt Nam là không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

  Chính sách quốc phòng “4 không” của Việt Nam không phải bất biến, cứng nhắc mà luôn có sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn. Hiện tại, chúng ta hoàn toàn đủ khả năng để kiểm soát được tình hình an ninh, không để nảy sinh xung đột và xảy ra chiến tranh. Tuy nhiên, khi đất nước xảy ra nguy cơ chiến tranh thì Đảng, Nhà nước ta sẽ hoạch định những chiến lược, chính sách quốc phòng phù hợp.

 Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 chỉ rất rõ rằng: “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, chúng ta sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”. Hiện nay quan hệ ngoại giao nhà nước Việt Nam “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Quan hệ đối ngoại quốc phòng của ta ngày càng rộng mở, chúng ta có quan hệ quốc phòng với trên 80 quốc gia thuộc cả 5 châu lục, đặc biệt chúng ta có quan hệ quốc phòng với tất cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là những quốc gia có vai trò, có ảnh hưởng chủ chốt trong duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

 Đây là điều chưa từng có từ trước tới nay. Điều đó chứng tỏ chúng ta chẳng bị ai cô lập, trái lại, còn mở rộng không ngừng quan hệ đối ngoại. Điều đó là cơ hội thuận lợi để chúng ta ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

Lịch sử dân tộc ta trải qua mấy nghìn năm, công cuộc dựng nước luôn đi đôi với giữ nước. Chính sách quốc phòng "bốn không" được đúc kết từ truyền thống giữ nước đó và ngày càng chứng minh sự đúng đắn, phù hợp với Việt Nam.

 

Nhận diện hoạt động lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước

Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, luôn thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Do đó, cùng với vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chống phá Đảng và chế độ ta.

Các thế lực thù địch âm mưu biến tôn giáo thành “ngòi nổ” gây mất ổn định chính trị - xã hội hoặc thông qua vỏ bọc tôn giáo để tuyên truyền luận điệu xuyên tạc kích động, phá hoại tư tưởng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chiêu bài tôn giáo là một phần của chiến lược “diễn biến hoà bình” mà các tổ chức, cá nhân thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam thường sử dụng nhằm kích động xu hướng chia rẽ, ly khai, từ đó phát triển thành các cuộc tuần hành, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự, tạo sự bất ổn định về chính trị - xã hội, ảnh hưởng không nhỏ sự phát triển toàn diện của xã hội. Đây cũng là cái cớ để họ công khai can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn hiện nay, ngoài những hoạt động chống phá mang tính quy luật thì một trong những thủ đoạn mà số đối tượng chống đối cực đoan ở trong và ngoài nước thường tiến hành là tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số nhằm kích động tư tưởng ly khai, tự trị tại các địa bàn chiến lược về an ninh, quốc phòng. 

Thực tế cho thấy, tại các khu vực trọng yếu của đất nước như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các thế lực chống phá cực đoan ở trong và ngoài nước đã lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với vấn đề tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, xúi giục người dân di cư tự do, biểu tình, bạo loạn gây mất ổn định chính trị nhằm tạo cớ can thiệp, phá hoại độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Nổi lên thời gian qua là các vụ việc trọng điểm xảy ra trên địa bàn Tây Bắc, trong đó tập trung ở các tỉnh như Điện Biên, Lai Châu… Dưới sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch, các đối tượng chống đối trong nước ráo riết thực hiện mưu đồ lập ra tôn giáo riêng ở đồng bào dân tộc như lập ra “đạo Vàng Chứ” để qua đó lôi kéo, tập hợp lực lượng thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị”. Ở một số địa phương, tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc, các phần tử xấu còn lợi dụng các hiện tượng tôn giáo mới, tà đạo như Giê Sùa, Bà Cô Dợ, Hội thánh Đức Chúa trời, Sề Chu Hà Ly Cha và một số hiện tượng tôn giáo liên quan đến tục lễ thờ cúng các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng để tiến hành các hoạt động gây rối an ninh, trật tự. Thực tế, Giê Sùa, Bà Cô Dợ đều là tà đạo lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp phát triển lực lượng lập “Nhà nước Mông”. Thời gian qua, các đối tượng triệt để sử dụng phương thức, thủ đoạn thông qua điện thoại, mạng xã hội, các phần mềm trực tuyến để chỉ đạo số đối tượng cốt cán ở trong nước tích cực tuyên truyền, lôi kéo người Mông tại Việt Nam tham gia tà đạo nhằm kích động lập “Nhà nước Mông” với các luận điệu như: Đức Chúa trời Giê Hô Va đã chia đất cho người Mông nhưng người Mông không đoàn kết, nên đất đai đã bị các nước khác xâm chiếm; người Mông không có lãnh thổ, nhà nước riêng, suốt đời đi làm thuê cho các dân tộc khác…

Những vấn đề nêu trên đã và đang tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu vực, tạo thành những điểm nóng tôn giáo.

Hay như ở vùng Tây Nguyên trước đây, các đối tượng chống đối, cực đoan trong dân tộc cũng từng đòi thành lập đạo Tin lành Đề ga của đồng bào dân tộc bản địa để mưu đồ lập ra cái gọi là Nhà nước Đề ga độc lập. Tương tự ở Tây Nam Bộ, nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống, chúng cũng dựng nên cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm” với luận điệu vu khống Nhà nước ta đàn áp sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer Nam Bộ. Đây là thủ đoạn rất nham hiểm, trắng trợn của các thế lực thù địch hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại an ninh quốc gia, đe dọa độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Bên cạnh đó, thời gian qua, tại một số địa phương xuất hiện những mặt hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội như vấn đề đầu tư, ô nhiễm môi trường, giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa… Triệt để lợi dụng vấn đề này, các đối tượng chống đối cực đoan trong tôn giáo tìm mọi cách để ngụy tạo chứng cứ, thường xuyên tuyên truyền, xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và các ban, ngành chức năng có liên quan. Từ đó tạo tâm lý tiêu cực, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với các cấp uỷ đảng, chính quyền, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cao hơn nữa có thể kích động quần chúng tín đồ tụ tập đông người, gây rối an ninh, trật tự hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá chế độ. Không những vậy, một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo còn lợi dụng tình hình thiên tai hay đại dịch COVID-19 để tuyên truyền xuyên tạc, tạo “chiến tranh tâm lý”, gây hoang mang, lo lắng, hoài nghi trong nhân dân, nhất là việc xuyên tạc chất lượng của vaccine phòng COVID-19; xuyên tạc chính sách phòng, chống COVID-19 của Nhà nước ta; bôi nhọ các lực lượng thực thi pháp luật, hỗ trợ nhân dân chống dịch bệnh; thổi phồng những mất mát, tổn thất do dịch bệnh gây ra, quy nguyên nhân dịch bệnh do “chính quyền thờ ơ, vô cảm”, “đường lối của Đảng sai lầm”!

Mới đây, sau khi một số trang báo điện tử đưa tin về việc Mỹ tiêu hủy gần 400 triệu liều vaccine COVID-19 do vấn đề chất lượng, các đối tượng lập tức “đánh bùn sang ao”, cố tình bẻ lái sang vấn đề tiêm vaccine ở Việt Nam với luận điệu hết sức hoang đường khi ám chỉ Nhà nước ta không coi trọng sức khỏe và tính mạng của người dân, o ép người dân tiêm vaccine. Trong khi đó, thực tế đã chứng minh việc tiêm vaccine ở Việt Nam thời gian qua đã đem lại những tín hiệu tích cực, được nhân dân ủng hộ cao, qua đó đã tạo “tấm lá chắn” hữu hiệu nhất để chúng ta và nhân loại đẩy lùi dịch bệnh.

Rõ ràng, qua phân tích những vấn đề nêu trên cho thấy, chiêu bài tôn giáo được các thế lực thù địch và số đối tượng chống đối ở trong và ngoài nước triệt để lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước ta, là vấn đề mang tính quy luật. Hiện nay, thủ đoạn lợi dụng chống phá của các đối tượng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, lại được che đậy bởi vỏ bọc tôn giáo nên người dân khó phát hiện. Tính chất nguy hiểm ngày càng cao khi thủ đoạn này đã tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng của đồng bào theo đạo. Đây sẽ là tiền đề để khi có điều kiện, có thời cơ, các đối tượng sẽ đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, kích động, lôi kéo quần chúng tín đồ tham gia vào các hoạt động chống đối, vi phạm pháp luật.

Do đó, mọi chức sắc, tín đồ tôn giáo nói riêng và mỗi người dân Việt Nam nói chung hãy luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động lên án những mưu đồ xấu của kẻ địch. Đồng thời, tích cực tham gia đấu tranh, đẩy lùi việc lợi dụng vấn đề chính trị để chống phá ra khỏi đời sống tôn giáo, góp phần làm cho các hoạt động tôn giáo trở nên thuần khiết, tốt đẹp như bản chất vốn có. Nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác của người dân, phân biệt rõ hoạt động tôn giáo đúng nghĩa và hành vi lợi dụng tôn giáo để kích động chống phá của kẻ xấu. Mọi hoạt động tôn giáo phải tuân thủ giáo lý, giáo luật, tuân thủ luật pháp, đem lại đời sống đạo pháp đúng nghĩa, đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cho đồng bào trên cơ sở tuân thủ pháp luật của Nhà nước.