Thứ Ba, 1 tháng 11, 2022

Đưa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc bước sang giai đoạn phát triển mới

 (ĐCSVN) - Chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng diễn ra ngay sau khi kết thúc Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc là sự kiện đối ngoại đặc biệt quan trọng đối với cả Việt Nam và Trung Quốc, thể hiện sự coi trọng của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và cá nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình đối với vị thế, vai trò quốc tế của Việt Nam và cá nhân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. 

Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Nhà nước thăm chính thức Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ ngày 30/10 đến ngày 2/11/2022.

Chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng diễn ra ngay sau khi kết thúc Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc là sự kiện đối ngoại đặc biệt quan trọng đối với cả Việt Nam và Trung Quốc, thể hiện sự coi trọng của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và cá nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình đối với vị thế, vai trò quốc tế của Việt Nam và cá nhân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Chuyến thăm nhằm triển khai tích cực, mạnh mẽ đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng ta, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tin cậy chính trị giữa hai Đảng Cộng sản, hai Nhà nước và nhân dân hai nước; đồng thời củng cố quan hệ giữa hai đồng chí Tổng Bí thư và lãnh đạo cấp cao hai nước, phấn đấu đưa quan hệ hai nước bước sang giai đoạn phát triển mới, góp phần tích cực vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển.

Chuyến thăm chính thức Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Nhà nước ta nhằm đề cao đường lối đối ngoại, trong đó khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam coi trọng quan hệ với Trung Quốc là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại, mong muốn phát triển lâu dài, ổn định, ngày càng hiệu quả, thực chất theo tinh thần nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước.

Chuyến thăm cũng khẳng định sự ủng hộ vị trí của Đảng Cộng sản Trung Quốc là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, những tư tưởng và đường lối phát triển của Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc có lợi cho hòa bình, hợp tác, phát triển; vị trí “hạt nhân lãnh đạo” của Tổng Bí thư Tập Cận Bình được Đảng Cộng sản Trung Quốc xác lập; thúc đẩy chính sách của Trung Quốc về hữu nghị, hợp tác với Việt Nam, ủng hộ Việt Nam phát triển, có vị thế quốc tế ngày càng cao, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngày 18/1/1950 đã đi vào lịch sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc như một mốc son quan trọng. Sau khi được thành lập không lâu, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là quốc gia đầu tiên trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Trong chặng đường 72 năm qua, hai Ðảng, hai nước và nhân dân hai nước đã dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn và quý báu, góp phần vào thành công của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.

Hơn 7 thập niên qua, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc tuy có lúc thăng trầm, nhưng hữu nghị, hợp tác vẫn là dòng chảy chính, tình hữu nghị do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Ðông cùng các thế hệ lãnh đạo hai nước dày công vun đắp đã trở thành tài sản chung quý báu của hai dân tộc, góp phần duy trì xu thế phát triển ổn định quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam - Trung Quốc, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước. Ðặc biệt, kể từ khi bình thường hóa năm 1991 đến nay, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đã phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, an ninh, quốc phòng.

Trong những năm gần đây, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc duy trì xu thế ổn định và tích cực. Lãnh đạo hai bên đạt được nhiều nhận thức chung quan trọng, góp phần đưa quan hệ song phương lên tầm cao mới. Năm 1999, trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước đã xác định phương châm 16 chữ thúc đẩy quan hệ hai nước trong thế kỷ XXI là: "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai". Tháng 12/2000, Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm Trung Quốc, hai bên đã ký Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới. Sau đó, hai bên đã thỏa thuận đưa hai nước trở thành: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” (tinh thần “4 tốt”). Đặc biệt, trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh vào tháng 5/2008, hai bên nhất trí xác lập khuôn khổ quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là: "Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện" theo phương châm “16 chữ” và tinh thần “4 tốt”.

Hợp tác trên kênh Đảng, hai bên duy trì tiếp xúc cấp cao và thiết lập cơ chế hợp tác, giao lưu giữa các Ban Đảng ở Trung ương. Dù điều kiện đi lại giữa hai bên còn khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19, hai bên vẫn duy trì kênh trao đổi thường xuyên bằng nhiều hình thức linh hoạt, đạt hiệu quả cao. Từ năm 2020 - 2022, Tổng Bí thư hai Đảng đã 4 lần điện đàm (tháng 1/2020, tháng 9/2020, tháng 2/2021, tháng 9/2021). Hàng năm, hai Tổng Bí thư gửi quà và thư chúc mừng nhân dịp Tết cổ truyền của hai dân tộc và nhân dịp sinh nhật của nhau; gửi thư chúc mừng nhân dịp lễ quan trọng của hai nước. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc điện đàm với Chủ tịch nước Tập Cận Bình (tháng 5/2021). Thủ tướng Chính phủ hai bên có 3 lần điện đàm (tháng 6/2021, tháng 1/2022 và tháng 9/2022). Chủ tịch Quốc hội Việt Nam hội đàm trực tuyến với Ủy viên trưởng Nhân đại Trung Quốc (tháng 6/2021).

Những hoạt động này đã góp phần định hướng chiến lược, tạo động lực và đảm bảo chính trị cho quan hệ song phương phát triển lành mạnh, ổn định. Tại các sự kiện chính trị quan trọng của hai Đảng, đặc biệt là dịp Đại hội XIII của Đảng ta và dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 2021), hai bên đều có những hình thức chúc mừng đặc biệt, thể hiện sự coi trọng cao độ đối với quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Lãnh đạo các ban Đảng ở Trung ương cũng duy trì trao đổi, tiếp xúc thường xuyên dưới nhiều hình thức linh hoạt. Bên cạnh đó, hai bên đã triển khai hiệu quả Kế hoạch hợp tác hai Đảng giai đoạn 2016 - 2020, Kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ giữa hai Đảng giai đoạn 2016 - 2020, Thỏa thuận hợp tác đào tạo cán bộ cấp cao giữa hai Đảng giai đoạn 2017 - 2020. Tháng 4/2022, hai bên đã ký kết Kế hoạch hợp tác hai Đảng giai đoạn 2021 - 2025 và Kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ giữa hai Đảng giai đoạn 2021 - 2025.

Hai bên thường xuyên phối hợp tổ chức Hội thảo lý luận giữa hai Đảng, nhằm trao đổi kinh nghiệm và thực tiễn về công tác xây dựng Đảng, quản lý đất nước. Đến nay, hai bên đã tổ chức được 16 cuộc Hội thảo lý luận.

Hợp tác trên kênh Nhà nước tiếp tục được thúc đẩy hiệu quả, thực chất. Quan hệ giữa các ngành như ngoại giao, quốc phòng, an ninh tiếp tục được tăng cường. Hai bên đã thành lập Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc vào tháng 11/2006; đến nay đã tiến hành 14 phiên họp, đạt nhiều hiệu quả thiết thực. Ở hai phiên gần đây nhất, hai bên đã khắc phục khó khăn do dịch bệnh, tổ chức thành công theo hình thức họp trực tiếp tại Hà Nội vào tháng 9/2021 và Nam Ninh (Trung Quốc) vào tháng 7/2022.

Hợp tác về đối ngoại nhân dân, giao lưu nhân dân, đặc biệt là giao lưu giữa thế hệ trẻ hai nước Việt Nam - Trung Quốc ngày càng đi vào thực chất, giúp tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tăng cường tình hữu nghị giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước. Đến nay, hai bên đã tổ chức 3 cuộc Liên hoan Thanh niên Việt  – Trung; tổ chức được 19 cuộc “Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt Nam - Trung Quốc” bằng hình thức trực tiếp. Năm 2021 và 2022, hai bên đã tổ chức giao lưu, gặp gỡ hữu nghị thanh niên hai nước bằng hình thức trực tuyến. Cùng với đó là nhiều hoạt động giao lưu, hợp tác giữa thanh niên các địa phương hai nước, nhất là các địa phương biên giới.

Ngoài ra, hai bên cũng tổ chức nhiều hoạt động giao lưu khác như Liên hoan nhân dân biên giới Việt - Trung, Diễn đàn nhân dân Việt - Trung, Giao lưu hữu nghị giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc... Các hoạt động này đã góp phần củng cố nền tảng hữu nghị vững chắc cho quan hệ Việt Nam - Trung Quốc tiếp tục phát triển lành mạnh, ổn định.

Hợp tác giữa các địa phương của hai nước, nhất là các tỉnh, khu biên giới được tăng cường với nhiều hình thức đa dạng và có nhiều tiến triển tích cực. Gặp gỡ đầu Xuân giữa Bí thư các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang và Quảng Ninh (Việt Nam) với Bí thư Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc) được tổ chức luân phiên hàng năm. Hội nghị trực tuyến giữa Bí thư các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Hà Giang, Lào Cai với Bí thư Tỉnh ủy Vân Nam, góp phần tăng cường tình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc nói chung và các tỉnh, khu biên giới nói riêng, thúc đẩy giải quyết những khó khăn, vướng mắc, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển. Cùng với đó, hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc trên các diễn đàn đa phương tiếp tục được tăng cường.

Hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư đạt mức tăng trưởng mạnh. Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Trung Quốc duy trì đà tăng trưởng tốt trong bối cảnh dịch bệnh tác động tiêu cực đến thương mại của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Việt Nam liên tục là đối tác thương mại lớn nhất trong ASEAN (từ năm 2016), nước đối tác thương mại lớn thứ 6 trên thế giới (từ năm 2020) của Trung Quốc.

Năm 2021, tổng kim ngạch thương mại Việt Nam - Trung Quốc đạt 165,9 tỷ USD, tăng 24,6% so với năm 2020. Trong 8 tháng năm 2022, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt - Trung đạt 117,4 tỷ USD, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2021. Về đầu tư, lũy kế đến ngày 20/8/2022, Trung Quốc đứng thứ 6/139 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư FDI vào Việt Nam với 3.453 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký đạt 22,42 tỷ USD. Riêng 8 tháng của năm 2022, Trung Quốc đứng thứ 4/94 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 143 dự án, tổng vốn đạt 1,4 tỷ USD.

Hợp tác y tế, đặc biệt là phòng, chống dịch COVID-19 là một điểm sáng trong quan hệ hai nước. Trung Quốc là một trong những nước cung cấp vaccine nhiều và nhanh nhất cho Việt Nam. Đến cuối năm 2021, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam 7,3 triệu liều và cung cấp thương mại khoảng 45 triệu liều vaccine. Tại Phiên họp lần thứ 14 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương vào tháng 7/2022 vừa qua, Trung Quốc thông báo sẽ viện trợ thêm cho Việt Nam 10 triệu liều vaccine. Một số địa phương Trung Quốc như: Quảng Tây, Vân Nam, Quảng Đông... cũng ủng hộ lượng lớn vật tư y tế cho các địa phương Việt Nam. Trung Quốc cũng bày tỏ, nếu Việt Nam có nhu cầu, sẵn sàng ưu tiên đáp ứng tối đa trong khả năng có thể, bao gồm hợp tác về cung ứng và sản xuất vaccine, thuốc điều trị COVID-19, xây dựng Trung tâm Kiểm soát bệnh tật, cơ sở điều trị. Vừa qua, thông qua kênh Đảng, Trung Quốc tặng Việt Nam lô vật tư y tế trị giá 1,5 triệu Nhân dân tệ (khoảng 5,4 tỷ đồng).

Về biên giới lãnh thổ, tình hình biên giới trên đất liền và Vịnh Bắc Bộ cơ bản ổn định. Hợp tác ở Vịnh Bắc Bộ diễn ra khá thường xuyên, như tuần tra liên hợp nghề cá, tuần tra chung hải quân, thả cá giống bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở Vịnh Bắc Bộ... Hai bên tiếp tục triển khai các vòng đàm phán cấp Chính phủ và cấp chuyên viên theo các cơ chế đã thỏa thuận.

Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục duy trì trao đổi, đàm phán ở các cấp về vấn đề trên biển, đạt tiến triển nhất định trong lĩnh vực hợp tác ít nhạy cảm. Hai bên ký Thỏa thuận hợp tác về Dự án nghiên cứu so sánh môi trường địa chất và tai biến địa chất khu vực châu thổ sông Hồng, châu thổ sông Trường Giang; cam kết tiếp tục thúc đẩy, sớm đạt nhất trí đối với Thỏa thuận hợp tác tìm kiếm cứu nạn và Thỏa thuận thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển Việt Nam - Trung Quốc.

Những thành tựu đạt được trong việc phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện Việt Nam - Trung Quốc thời gian qua thể hiện mong muốn của nhân dân hai nước không ngừng vun đắp tình hữu nghị Việt - Trung, tài sản quý giá của hai dân tộc. Những thành tựu to lớn mà nhân dân hai nước giành được trong đổi mới, cải cách mở cửa cùng những đóng góp hiệu quả của hai nước vào các vấn đề quốc tế và duy trì hòa bình, an ninh ở khu vực.  

Chuyến thăm chính thức nước CHND Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Nhà nước ta lần này góp phần củng cố, mở rộng và nâng cao hiệu quả quan hệ giữa hai đảng, làm định hướng cho quan hệ giữa hai nước; tăng cường quan hệ trên các kênh Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc; tạo chuyển biến mới, tích cực trong hợp tác bình đẳng, cùng có lợi về kinh tế, thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác; nâng cao hợp tác quốc phòng-an ninh, tăng cường hợp tác tại các diễn đàn quốc tế; phát triển quan hệ giữa các tổ chức quần chúng, giao lưu nhân dân.

Chuyến thăm cũng củng cố nhận thức chung cấp cao về kiểm soát bất đồng, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982; giữ gìn hòa bình ở Biển Đông, thúc đẩy đàm phán về các vấn đề trên biển trong khuôn khổ song phương và ASEAN; thúc đẩy sự tôn trọng các lợi ích chính đáng, hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông phù hợp với luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982; củng cố đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Nhân dịp này, một lần nữa, chúng ta bày tỏ cảm ơn sâu sắc đối với sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của Ðảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc dành cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Chúc nhân dân Trung Quốc thu nhiều thành tựu to lớn hơn nữa, thực hiện thắng lợi mục tiêu cơ bản mà Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra, hoàn thành hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, tiến tới xây dựng đất nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa hiện đại, giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa và tươi đẹp vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Chúc chuyến thăm chính thức nước CHND Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Nhà nước ta thành công tốt đẹp, góp phần củng cố và thúc đẩy quan hệ láng giềng hữu nghị, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc bước vào giai đoạn phát triển mới, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới./.

Mạnh Hùng

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

 Theo đặc phái viên TTXVN, tối 1/11, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã về đến Hà Nội, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ ngày 30/10 - 1/11, theo lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tặng hoa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Ảnh: Văn Điệp/TTXVN 

Tiễn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại sân bay Bắc Kinh có các đồng chí: Lưu Kiến Siêu, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc; Phạm Sao Mai, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc và một số cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc.

Đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn tại Sân bay Nội Bài có các đồng chí: Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước; Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ cùng nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. 

Trong chuyến thăm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình; nhận Huân chương Hữu nghị của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa do Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thay mặt Đảng, Chính phủ Trung Quốc trao tặng; hội kiến với Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Khắc Cường, Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Nhân đại toàn quốc Lật Chiến Thư, Chủ tịch Chính hiệp toàn quốc Uông Dương. Tại các cuộc hội đàm, hội kiến, hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước; đi sâu trao đổi ý kiến và đạt được nhiều nhận thức chung quan trọng về quan hệ hai Đảng, hai nước Việt - Trung và tình hình quốc tế, khu vực hiện nay. Nhân dịp này, hai bên ký kết 13 văn kiện hợp tác giữa các ban, bộ, ngành, địa phương.

Kết thúc chuyến thăm, hai bên đã ra Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc về việc tiếp tục đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc. Hai bên cho rằng Việt Nam và Trung Quốc vừa là láng giềng tốt, bạn bè tốt, núi sông liền một dải, vừa là đồng chí tốt, đối tác tốt cùng chung chí hướng, chia sẻ vận mệnh chung, cùng dốc sức vì nhân dân hạnh phúc, đất nước giàu mạnh và sự nghiệp cao cả hòa bình và phát triển của nhân loại. 

Hai bên nhất trí, tiếp tục duy trì và tăng cường truyền thống tốt đẹp giao lưu cấp cao giữa hai Đảng, hai nước thông qua các hình thức như thăm lẫn nhau, cử đặc phái viên, điện thoại đường dây nóng, trao đổi thư điện, gặp gỡ thường niên và tiếp xúc tại các diễn đàn đa phương, kịp thời trao đổi ý kiến về các vấn đề quan trọng trong quan hệ hai nước cũng như tình hình quốc tế, khu vực; định hướng và chỉ đạo tầm cao chiến lược đối với sự phát triển ổn định, lành mạnh của quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc trong thời đại mới. 

Hai bên nhất trí phát huy tốt vai trò chỉ đạo, điều phối tổng thể của cơ chế gặp gỡ cấp cao hai Đảng và vai trò điều phối, thúc đẩy của cơ quan đối ngoại hai Đảng, tiếp tục thực hiện tốt “Kế hoạch hợp tác giai đoạn 2021 - 2025 giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc”, “Kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ giai đoạn 2021 - 2025 giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc”, tổ chức tốt Hội thảo lý luận giữa hai Đảng, tăng cường giao lưu, hợp tác giữa các cơ quan tương ứng của hai Đảng ở Trung ương và tổ chức Đảng các địa phương, nhất là các tỉnh/khu biên giới, tiếp tục triển khai giao lưu, học hỏi lẫn nhau về lý luận và kinh nghiệm xây dựng Đảng, quản lý đất nước, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tích cực khuyến khích giao lưu, hợp tác hữu nghị giữa Chính phủ, Quốc hội Việt Nam với Chính phủ, Nhân đại toàn quốc Trung Quốc và giữa Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc. 

Hai bên nhấn mạnh hai nước Việt Nam và Trung Quốc kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa với mục tiêu căn bản là mang lại sự phát triển phồn vinh và hạnh phúc cho nhân dân; cần phát huy ưu thế gần gũi về địa lý và bổ sung lẫn nhau về ngành nghề, tăng cường hợp tác thực chất, hiệu quả hơn nữa trên các lĩnh vực, đáp ứng tốt hơn lợi ích của nhân dân hai nước. Hai bên nhất trí về việc tăng cường giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai nước, tăng cường triển khai giáo dục về tình hữu nghị Việt - Trung tới người dân, nâng cao hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước, đặc biệt là thế hệ trẻ. Hai bên đi sâu trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển; cho rằng kiểm soát thỏa đáng bất đồng, duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông vô cùng quan trọng; nhất trí xử lý ổn thỏa vấn đề trên biển, đóng góp tích cực cho hòa bình, an ninh lâu dài ở khu vực...

Chuyến thăm chính thức Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thành công tốt đẹp, góp phần tích cực trong việc phát huy tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống Việt Nam - Trung Quốc, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc trong thời đại mới, thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển thịnh vượng của khu vực và thế giới. Hai Đảng và nhân dân hai nước rất vui mừng về những thành quả này.

Ngay sau khi kết thúc chuyến thăm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã gửi Điện cảm ơn Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Nội dung bức điện có đoạn viết: Tôi có ấn tượng hết sức sâu sắc về thành công của Đại hội XX với những tổng kết về mặt lý luận và thực tiễn, cùng những thành tựu nổi bật mà nhân dân Trung Quốc anh em đã giành được trong thời gian qua dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc với đồng chí Tập Cận Bình làm hạt nhân. Tôi và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng, Nhà nước Việt Nam hết sức hài lòng về kết quả phong phú của chuyến thăm, đặc biệt là những nội dung trao đổi giữa hai bên tại các cuộc hội đàm, hội kiến. Tôi tin tưởng chuyến thăm sẽ góp phần định hướng lâu dài cho quan hệ hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc tiếp tục phát triển tốt đẹp, ổn định, bền vững.

Nguyễn Hồng Điệp/TTXVN

GIỮ GÌN VÀ PHÁT TRIỂN “SỨC MẠNH MỀM” VĂN HÓA TRONG THỜI KỲ MỚI

Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng và đóng góp to lớn cho sự phát triển chung của nhân loại. Có những quốc gia, nền văn hóa đã và đang đóng góp cho sự phát triển bền vững của thế giới, nhưng cũng có quốc gia vì ít coi trọng văn hóa, nên hình ảnh quốc gia dân tộc dần “hao mòn”, thậm chí có nguy cơ “hòa tan”. Mỗi dân tộc có truyền thống và hình thức sinh hoạt văn hóa riêng. Ở Việt Nam, khi đất nước ngày càng phát triển, nhu cầu văn hóa càng không thể thiếu trong đời sống xã hội, văn hóa luôn luôn gắn liền với sự phát triển lịch sử dân tộc. Qua hằng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam đã và đang vượt qua bao nhiêu khó khăn, gian khổ, thách thức lớn, thậm chí hi sinh hàng triệu người để giành được độc lập, phát triển như hiện nay. Đóng góp cho thành công đó, một mặt là do Đảng, Nhà nước ta quan tâm đến văn hóa yêu nước. Bằng chứng đậm nét nhất là khơi dậy truyền thống yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước qua hàng nghìn năm Bắc thuộc và gần 100 năm chế độ thực dân đô hộ, nhân dân Việt Nam không bị “đồng hóa” mà được cha ông ta gìn giữ cho đến ngày nay. Tuy nhiên, đáng quan tâm hiện nay trên Internet, mạng xã hội không khó để tìm kiếm một tờ báo, bài viết đăng tải thông tin, hình ảnh, việc làm thiếu văn hóa, đi ngược lại với thuần phong, mỹ tục Việt Nam, nhưng lại được một bộ phận người dân tin tưởng, “thần tượng”, “thần thánh hóa”, trong đó đề cao lối sống thực dụng, hưởng thụ, sùng bái chủ nghĩa cá nhân, mê tín, dị đoan, vi phạm pháp luật. Cá biệt, có trang, hội, nhóm Facebook, Zalo, TikTok…vì nhiều mục đích khác nhau nhưng chủ yếu là thương mại, muốn nổi tiếng hoặc chống phá Đảng, Nhà nước đã đăng tải, chia sẻ, “Livestream” thông tin thiếu kiểm chứng để “giật gân”,“câu like”, xúc phạm danh dự, nhân phẩm tổ chức, cá nhân, tác động tiêu cực đến suy nghĩ, tâm lý, tư tưởng, tình cảm của dư luận, nhất là giới trẻ và người thiếu hiểu biết, về lâu dài làm lung lay nền tảng giá trị đạo đức, văn hóa xã hội và không đại diện cho một xã hội. Vấn đề này, Đảng ta rất quan tâm, trong mục tiêu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế hiện nay, Đảng ta mong muốn xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác, tôn trọng, đoàn kết cùng nhau phát triển ngày càng tốt đẹp. Trong đó, văn hóa là phương tiện, là nguồn cảm hứng thúc đẩy thực hiện mục tiêu đó. Dù theo nghĩa rộng, hay nghĩa hẹp, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có nêu: “khi nói đến văn hóa là nói đến những gì tinh hoa, tinh túy nhất, được chưng cất, kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình, tiến bộ”. Đại hội XIII của Đảng ta lần đầu tiên xác định “sức mạnh mềm” văn hóa: Việt Nam là nước có nền văn hóa, văn hiến lâu đời, có bề dày truyền thống hàng nghìn năm. Hiện nay, “cả nước có tới 166 bảo tàng, trong đó 4 bảo tàng quốc gia với hơn 3 triệu hiện vật; 3.486 tổng di tích được xếp hạng quốc gia, trong đó có 1.626 di tích lịch sử; 105 di tích quốc gia đặc biệt; 288 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; 27 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới”. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, dù trong chiến tranh hay hòa bình, văn hóa luôn là nguồn cổ vũ, khích lệ, huy động tinh thần cho nhân dân. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Bác Hồ có căn dặn: “Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” để giáo dục, động viên tinh thần quân và dân ta, nhất là người làm công tác văn hóa, nghệ thuật phải luôn luôn nêu cao tinh thần yêu nước, dũng cảm trong chiến đấu, xây dựng đất nước. Có quốc gia xây dựng quảng bá hình ảnh đất nước họ qua thước phim, sức cuốn hút người xem màn ảnh, truy cập, tìm kiếm video trên không gian mạng không chỉ là kịch bản với nội dung phong phú, diễn viên xinh đẹp mà do họ biết kết hợp hài hòa giữa truyền thống văn hóa với hiện đại, đi sâu vào khai thác tâm lý, tình cảm con người với con người, đó chính là ví dụ điển hình “sức mạnh mềm” của nền văn hóa, nhằm xây dựng hình ảnh, uy tín quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, bên cạnh việc phát huy sức mạnh tổng hợp quốc gia (về chính trị, kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, con người, nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, đối ngoại) thì nguồn lực văn hóa đang được các quốc gia coi là “sức mạnh mềm” để thúc đẩy, phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị thế, vai trò của đất nước trên trường quốc tế. Có thể khẳng định văn hóa là giá trị vật chất và tinh thần, “sức mạnh mềm” của văn hóa là cội rễ của sức mạnh nội sinh, là nguồn lực và động lực to lớn của đất nước. Quan tâm phát triển toàn diện, đồng bộ lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa đương đại phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh, tiến bộ để tiếp tục lan tỏa văn hóa Việt Nam ra quốc tế. Văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực được “đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”. Giao lưu, hợp tác xuyên quốc gia vẫn là xu thế chung trong tình hình quốc tế có nhiều cơ hội, thách thức mới hiện nay để duy trì hòa bình, ổn định, phát triển ở mỗi quốc gia. Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, định hướng, gìn giữ, phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong cương lĩnh chính trị xây dựng đất nước. Đó là sự khẳng định vai trò, ý nghĩa to lớn của nền văn hóa đối với sự phát triển của đất nước. Bảo vệ và phát triển văn hóa là trách nhiệm của công dân, không phân biệt thành phần, địa vị xã hội, trong và ngoài nước. Từ những việc làm nhỏ nhất, là người Việt Nam chúng ta cần chung tay bảo vệ, kế thừa và phát triển văn hóa gắn với đổi mới, sáng tạo, quyết tâm cao và tránh xa thói quen, tật xấu thiếu trách nhiệm, vô văn hóa, lối sống thực dụng “giang hồ”, hưởng thụ, sùng bái chủ nghĩa cá nhân, mê tín, dị đoan…để xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, giàu mạnh và văn minh

Toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc

 

Toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc 

    Trong chuyến thăm chính thức CHND Trung Hoa của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng từ ngày 30-10 đến 1-11-2022, hai bên đã ra “Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc về tiếp tục đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc”. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc: 

https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-den-bac-kinh-bat-dau-chuyen-tham-chinh-thuc-trung-quoc-709552

 KỲ TÍCH PK - KQ VIỆT NAM - 10 PHÚT HỦY DIỆT "PHÁO ĐÀI BAY" MỸ !

Kíp chiến đấu với kỳ tích “10 phút diệt hai chiếc B-52” năm 1972. (Từ trái sang: Nguyễn Đình Kiên, Nguyễn Xuân Đài, Ngô Ngọc Lịch, Mè Văn Thi, Nguyễn Văn Phiệt). Ảnh tư liệu.
QĐND - Trong Bảo tàng Phòng không-Không quân (PK-KQ) còn lưu giữ tấm ảnh 5 thành viên thuộc kíp chiến đấu của Trung đoàn 261 (Sư đoàn 361, Quân chủng PK-KQ). Hai người trong tấm ảnh ấy sau này đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, đó là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Tên lửa Phòng không 57 Nguyễn Văn Phiệt và sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên. Chúng tôi tìm gặp Đại tá, Anh hùng Nguyễn Đình Kiên và nghe ông kể về các nhân vật trong bức ảnh-những đồng đội từng cùng ông lập nên kỳ tích “10 phút diệt hai chiếc B-52” của Tiểu đoàn 57.
Năm 1966, Nguyễn Đình Kiên rời quê hương Nghi Liên, Nghi Lộc, Nghệ An ra Hà Nội theo học Trường Đại học Nông nghiệp. Giữa tháng 12-1966, nhà trường có đợt tuyển nghĩa vụ quân sự, anh trúng tuyển nhưng được miễn nhập ngũ vì là con trai duy nhất trong một gia đình liệt sĩ. Nhưng chỉ sau một đêm suy nghĩ, anh đã đến gặp đồng chí thuộc đơn vị tuyển quân để nộp đơn tình nguyện nhập ngũ. Cùng nhập ngũ năm đó, toàn trường có 200 sinh viên.
Về tuyển quân tại nhà trường năm ấy là các đơn vị phòng không. Cũng giống như số đông sinh viên ngày đó, chàng sinh viên Nguyễn Đình Kiên lúc mới về đơn vị cũng gặp nhiều khó khăn, do nhiều người nghĩ rằng họ chỉ là những “công tử bột”. Nhưng qua một thời gian ngắn huấn luyện, anh và đồng đội đã chứng minh mình là những người lính thực thụ. “Cơ duyên” để trở thành sĩ quan điều khiển đã đến với Nguyễn Đình Kiên, sau 6 tháng về đơn vị, anh được chọn đi học. Theo kế hoạch, các học viên sẽ về Trường Sĩ quan Phòng không, nhưng do chưa kịp mở lớp nên đơn vị đã xin cấp trên tự đào tạo.
Đại tá Nguyễn Đình Kiên kể: “Lớp học ngày ấy là một nhà dân, có khi là một nhà bạt dã chiến. Bàn ghế không có, chúng tôi phải ngồi trên ghế đẩu rồi kê sách lên đầu gối để viết. Những chiếc giường cá nhân ban ngày được dựng lên làm bảng, đêm lại ngả xuống lấy chỗ nằm. Mỗi người chỉ được cấp hai thếp giấy xỉn màu để ghi những nội dung cần thiết. Việc thực hành trên xe điều khiển là hiếm hoi, bởi không có khí tài riêng cho công tác huấn luyện, các bộ khí tài đều dùng để triển khai sẵn sàng chiến đấu ngoài trận địa”. Sau khóa học, Nguyễn Đình Kiên đã có những trận thử lửa cùng đồng đội, tham gia chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ và nhất là tham gia cuộc chiến 12 ngày đêm bảo vệ Hà Nội trong Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”.
Ông nhớ mãi lần đầu chứng kiến đồng đội mình đổ máu, đó là buổi trưa 4-9-1972, khi trận địa của tiểu đoàn bị trúng tên lửa không đối đất của địch, làm gần chục người có mặt trên xe điều khiển bị thương, riêng Nguyễn Văn Nhận bị thương nặng và hy sinh. Sau lễ an táng liệt sĩ Nhận tại Nghĩa trang liệt sĩ Đông Anh được vài ngày thì Nhàn-vợ Nhận, đang công tác ở Lạng Sơn đã ghé qua trận địa của đơn vị để thăm chồng, trước khi về quê ở Hải Dương sinh con. Anh em đơn vị không còn cách nào khác đành phải nói dối: “Nhận đang đi công tác”. Trong bữa cơm mời vợ đồng đội, mọi người ngồi trong mâm đều lặng lẽ nuốt nước mắt vào trong. Ngay chiều hôm đó, đơn vị cử một đồng đội cùng quê Hải Dương đưa chị về quê.
Sau sự cố thương vong ấy, đơn vị đã bổ sung Ngô Ngọc Lịch từ kíp 2 lên kíp 1. Lịch đã tiếp thu kinh nghiệm của lớp đàn anh một cách nhanh chóng để lập nên kíp chiến đấu Kiên-Lịch-Thi-Đài của Tiểu đoàn 57, do Nguyễn Văn Phiệt là Tiểu đoàn trưởng.
Ở vị trí sĩ quan điều khiển, Nguyễn Đình Kiên nhận thấy, bất kể lúc nào, 3 trắc thủ với mình luôn phải là một. Điểm thuận lợi của kíp chiến đấu là 3 trắc thủ đều rất trẻ. Trong số đó, Hạ sĩ, Trắc thủ góc tà Ngô Ngọc Lịch mới tròn 20 tuổi. Trắc thủ cự ly Mè Văn Thi là một người ít nói nhưng cẩn thận, tỉ mỉ. Đức tính khiêm nhường của anh làm mọi người trong kíp quý mến. Trong số 3 trắc thủ thì Nguyễn Xuân Đài- Trắc thủ phương vị-là người có kinh nghiệm chiến đấu dày dạn. Từng nhập ngũ cùng năm và chiến đấu nhiều trận với Nguyễn Đình Kiên nên Nguyễn Xuân Đài rất am hiểu tính tình và cách đánh của người sĩ quan điều khiển.
Vào dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, các thành viên kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 57, những đồng đội từng trực tiếp “hạ gục” B-52 trên bầu trời Thủ đô đã có dịp gặp lại nhau tại Sở chỉ huy Sư đoàn 361. Sau bốn mươi năm, họ đã cùng nhau làm rõ thời gian, địa điểm, cùng diễn biến của những trận điều khiển “rồng lửa” hạ gục B-52. Qua ký ức, từng trận đánh, từng gương mặt đồng đội và những mẩu chuyện xúc động đã hiện lên. Trong 12 ngày đêm chiến đấu với B-52 cuối tháng 12-1972, các thành viên kíp chiến đấu đã lập nên kỳ tích trong trận đánh diễn ra vào rạng sáng 21-12 ở trận địa Đại Đồng (Thuận Thành, Bắc Ninh). Đó là một trận đánh khó quên, tạo nên một kỷ lục mới của Bộ đội Tên lửa, bởi trong 10 phút, kíp chiến đấu đã tiêu diệt hai chiếc B-52 và Tiểu đoàn 57 trở thành tiểu đoàn tên lửa duy nhất có hai cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, đó là Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt và Sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên.
Năm 2010, Tiểu đoàn 57 lại vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân vì những thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
ST

ƠN THẦY

Công cha nghĩa mẹ ơn thầy Không gì sánh nổi đong đầy tình thương Mẹ cha dãi nắng dầm sương Nhường cơm xẻ áo dọn đường con đi Thầy cô rèn giũa chi li Mong sao trò giỏi mỗi khi trả bài Miệt mài hướng tới tương lai Say sưa gieo hạt nối dài ước mơ Thương cho lứa tuổi trẻ thơ Vẫn còn nhiều bé bơ vơ ngoài đường Hàng ngày không được đến trường Mưu sinh bán số đáng thương vô cùng Những gì thầy dạy cô mong Giờ em thấu hiểu qua dòng thời gian Ơn thầy cô mãi ngút ngàn Khắc ghi tạc dạ tỏa lan muôn đời! Tác giả: Hồng Soi

NGƯỜI LÁI ĐÒ

Một đời người - một dòng sông Mấy ai làm kẻ đứng trông bến bờ "Muốn qua sông phải lụy đò" Đường đời muôn bước cậy nhờ người đưa Tháng năm dầu dãi nắng mưa Con đò tri thức thầy đưa bao người Qua sông gửi lại nụ cười Tình yêu xin tặng người thầy kính thương Con đò mộc - mái đầu sương Mãi theo ta khắp muôn phương vạn ngày Khúc sông ấy vẫn còn đây Thầy đưa tiếp những đò đầy qua sông... Tác giả: Thảo Nguyên

Cảnh giác với thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi, nham hiểm

 Phương thức tuyên truyền, chống phá ngày càng tinh vi, nham hiểm

Hiện nay, Việt Nam trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển mạng di động nhanh nhất thế giới; với khoảng 75 triệu người dân sử dụng internet cho các mục đích thông tin liên lạc, giao lưu văn hóa, học tập, giải trí và kinh doanh điện tử.

Tuy nhiên, trên môi trường internet, bên cạnh các thông tin bổ ích, tích cực là những thông tin tiêu cực, độc hại không dễ kiểm soát, ngăn ngừa. Thực tế cho thấy, các đài VOA, BBC, RFI, RFA trước kia dùng sóng radio phát vào nước ta nên phần nào bị hạn chế tiếp cận với người nghe, nhưng nay nhờ sử dụng kỹ thuật số nên khả năng chống phá tăng lên gấp nhiều lần. Chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh livestream phát trực tiếp có thể truyền tải thông tin “xấu, bẩn, độc” đến hàng vạn người nghe, người xem trên khắp thế giới.

Theo thời gian, phương thức tuyên truyền, chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Trước đây, các luận điệu tuyên truyền "cách mạng màu", xuyên tạc, xét lại lịch sử, bôi xấu hạ bệ lãnh tụ, phủ nhận công lao, vai trò của Đảng với đất nước thường khá rõ ràng, lộ liễu, thậm chí thô thiển, khó thuyết phục, không được nhân dân chấp nhận.

Mấy năm trở lại đây, trên các trang thông tin tiếng Việt của VOA, BBC, RFI, RFA cũng như một số trang mạng YouTube, Twitter, Facebook của các tổ chức Việt Tân, Triều đại Việt, Tiếng dân, Phố Bolsa TV, Nửa vòng trái đất TV, Hội anh em dân chủ... thường tổ chức những cuộc bàn tròn, đối luận, bình luận, hội luận, kể chuyện lịch sử mà các đối tượng thường sử dụng những thông tin, sự kiện có thật, nhưng được sửa chữa và thêm thắt nhiều tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi tung ra như một dạng thông tin chính thống.

Những thủ đoạn kiểu này thường được thực hiện theo kịch bản dàn dựng công phu để khi tiếp cận, không chỉ người trẻ thiếu hiểu biết, người dân nhận thức hạn chế mà cả những người có học vấn cao, thậm chí một số ít cán bộ trung, cao cấp nghỉ hưu cũng có thể bị mắc lừa. (trích báo QĐND)

Phát huy sức mạnh của nhân dân

Ngày 22-10-2018, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết số 35 nêu rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ nhân dân; bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc... Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân.
Thời gian qua, hàng triệu người dân trong nước khi tiếp cận được các thông tin bẩn đã vô cùng phẫn nộ với các chiêu trò kích động, bịa đặt, bôi xấu, hạ bệ lãnh tụ, xuyên tạc lịch sử, chống phá Đảng và Nhà nước. Bức xúc trước thực trạng đó, nhiều người dân đã dùng ngay chính những phương tiện cá nhân tự có và sử dụng các mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo của mình để đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc của những kênh “truyền thông bẩn” chủ yếu từ nước ngoài.
Ban đầu là hành động đơn lẻ của những cá nhân riêng lẻ. Sau một thời gian ngắn, vì cùng tư tưởng “chống giặc trên không gian mạng” nên những người dân dần liên kết với nhau một cách tự nguyện, từ tự phát trở thành tự giác, để phối hợp cùng đấu tranh, phản bác các kênh “truyền thông bẩn” và thông tin xấu độc. Họ thuộc nhiều thành phần, giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi, trong đó có cán bộ, công chức, giáo viên, nhà văn, nhà báo, nhà khoa học, bộ đội nghỉ hưu, sinh viên trên khắp mọi miền đất nước và cả một bộ phận người Việt Nam yêu nước đang sinh sống ở nước ngoài.
Nhiều người dân đã tổ chức các cuộc hội luận, đối luận, tranh luận trực tiếp trên không gian mạng với những đối tượng phản động, chống cộng cực đoan, “cờ vàng” ở nước ngoài và các thành phần “dân chủ cuội”, thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” ở trong nước.
Thật đáng mừng là các cuộc “chống giặc trên không gian mạng” của người dân đạt được hiệu quả khá tích cực, qua đó làm cho nhiều chủ kênh “thông tin bẩn” phải giảm bớt tần suất, mật độ xuyên tạc chống phá. Vì là trí tuệ tập thể, trí tuệ nhân dân, nhiều người bằng trình độ lý luận, kinh nghiệm hiểu biết thực tiễn, kiến thức lịch sử phong phú vốn có đã phản bác các luận điệu xuyên tạc một cách kịp thời, thuyết phục. Cũng nhờ các cuộc đấu tranh “chống giặc trên không gian mạng” nên nhiều người dân đã tự bổ sung kiến thức cả về lý luận chính trị, lịch sử, văn hóa xã hội cho bản thân.
Nếu trước đây, Đảng ta lãnh đạo toàn dân tiến hành chiến tranh nhân dân giành độc lập cho dân tộc và thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ; thì ngày nay, trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, chúng ta tiếp tục thực hiện chiến tranh nhân dân trên mặt trận tư tưởng.
Cùng các bài viết đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước trên những cơ quan báo chí: Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Nhân dân, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam... cũng như nhiều cơ quan báo chí trong cả nước thì hằng ngày, trên không gian mạng cũng diễn ra các cuộc đấu tranh quyết liệt của nhiều người dân đối với những phần tử phản động, thù địch, cơ hội chính trị.
Không ít luận điệu xuyên tạc bịa đặt, bóp méo, xét lại lịch sử của các nhóm phản động ở trong và ngoài nước vừa tung ra online ngay lập tức bị nhiều người dân phản bác bằng lý lẽ thông minh, lập luận sắc bén. Thật khâm phục thái độ làm việc nghiêm túc, khoa học của một cán bộ cao tuổi nghỉ hưu có thể trích dẫn ngay những câu nói của Bác Hồ về một vấn đề nào đó, Bác nói mấy lần, trong những hoàn cảnh nào, trích dẫn cụ thể, tên sách, tập, trang, dòng, cơ quan và năm xuất bản để phản bác thông tin xuyên tạc lãnh tụ.
Một thanh niên, một cô giáo dạy trung học cơ sở, một thương binh-cựu chiến binh, một cán bộ nghỉ hưu... đều đồng lòng góp sức, góp công, góp phần tham gia “bẻ gãy” các luận điệu xuyên tạc về Đảng, về lãnh tụ và bôi đen, bóp méo thành tựu công cuộc đổi mới ở Việt Nam...
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Tin ở dân, chăm lo cho dân, lấy dân làm gốc là một bài học lớn được rút ra từ chiều sâu lịch sử đất nước ta. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Bác Hồ và Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân, ý nghĩa cực kỳ quan trọng của công tác dân vận, thường xuyên chăm lo xây dựng và củng cố mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Chính nhờ thế mà mặc dù với số lượng không đông, Đảng ta vẫn có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, dù đó là kẻ thù nguy hiểm và hung bạo nhất”.
Đảng ta dựa vào nhân dân, tin tưởng vào lực lượng, trí tuệ của nhân dân, chăm lo cho cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là điều căn bản, cốt yếu tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc mà Đảng là hạt nhân. Từ đó khẳng định chúng ta chỉ có thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trước các thế lực thù địch, phản động khi chúng ta biết dựa vào và phát huy sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân.     (trích báo QĐND)    

Cảnh giác trước thủ đoạn nhân danh phản biện xã hội để kích động chống phá

Phản biện xã hội (PBXH) là sự tham gia của cá nhân, các tổ chứcvề một vấn đề, chủ trương, chính sách nào đó của Đảng, Nhà nước nhằm làm cho chủ trương, chính sách đó đầy đủ, đúng đắn, hoàn thiện hơn trong thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo nên sự đồng thuận, phục vụ tốt hơn những vấn đề quốc kế, dân sinh. PBXH thể hiện rõ trong việc nêu ý kiến góp ý, bổ sung, những vấn đề chưa tán thành của người dân đối với những chủ trương, chính sách, quyết định, phán quyết… của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức, cơ quan, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương. Mục đích của PBXH là làm sáng tỏ bản chất của vấn đề, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, những điểm chưa hợp lý, bất cập của những chủ trương, chính sách, phán quyết, quyết định đó. Như vậy, bản chất của PBXH là thực hành dân chủ, góp phần bổ sung, sửa chữa những khiếm khuyết, tồn tại, những sai sót, đem lại những lợi ích chính đáng, hợp pháp, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. PBXH có ý nghĩa chính trị sâu sắc, phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân và hơn thế, nó thể hiện sâu sắc dân chủ XHCN, bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN – quyền lực thuộc về nhân dân. PBXH tập hợp sức sáng tạo và trí tuệ của các giai tầng, tạo nên sức mạnh nội lực để giải quyết các vấn đề xã hội, là sự thể hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, một mặt còn là thước đo trình độ phát triển, trình độ văn minh Nhận thức đầy đủ ý nghĩa, vai trò của PBXH, Đảng và Nhà nước ta luôn trân trọng lắng nghe và tiếp thu những ý kiến phản biện của các tầng lớp nhân dân. Điều đó được thể hiện rõ trong quá trình xây dựng Hiến pháp, hệ thống luật, các cơ chế, chính sách về các vấn đề trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, cùng với sự đóng góp thiết thực, có ý thức xây dựng của các tầng lớp nhân dân thì một số thành phần đã lợi dụng PBXH để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân ta. Trong âm mưu thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các đối tượng lợi dụng quyền tự do ngôn luận, lợi dụng PBXH để tập hợp lực lượng chống đối chính trị, thúc đẩy sự đối kháng trong xã hội, tạo các lực lượng đối lập, nhân danh phản biện để phản đối, chống đối các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Âm mưu của các thế lực thù địch là bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở Việt Nam. Đặc biệt là trước và trong quá trình tổ chức đại hội nhiệm kỳ của Đảng, các kỳ bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp, các thế lực thù địch, phản động càng chống phá quyết liệt. Trong thời gian qua, trên mạng xã hội có không ít người tự cho mình là người “phản biện”, có tư tưởng “tiến bộ”, lấy danh nghĩa PBXH để nêu những ý kiến về các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, từ những vấn đề lớn của đất nước đến các chính sách, quyết sách cụ thể ở các bộ, ngành, địa phương. Họ đưa ra ý kiến với những cách thức như viết các “thư ngỏ”, “kiến nghị” gửi các cấp, các ngành, gửi các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đăng tải trên mạng xã hội, blog, web[1]site cá nhân… Họ trả lời phỏng vấn của các đài, báo nước ngoài với nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thổi phồng, bôi lem những tồn tại, hạn chế của đời sống xã hội. Trên cơ sở nêu vài nội dung mang tính phản biện nhưng lại thể hiện bằng ngôn ngữ miệt thị, chửi bới, công kích, bóp méo sự thật nên về thực chất là lợi dụng để xuyên tạc, chống phá chứ không còn ý nghĩa phản biện. Một số người tự xưng là “nhà lý luận” còn lợi dụng PHXH để kích động, tuyệt đối hóa tự do, dân chủ, rằng chúng ta đang xây dựng một xã hội “thiếu không gian tự do”, “tự do là không chính trị”, “dân chủ hóa, giải phóng con người là chiếc chìa khóa vạn năng”… Ở đây, khái niệm tự do đã bị hiểu theo nghĩa không còn tổ chức, không còn quy tắc, văn hóa, pháp luật, nghĩa là không còn gì ràng buộc. Và họ vội vã kết luận mang tính quy chụp, rằng nguyên nhân trì trệ về kinh tế là do trì trệ về chính trị, nguyên nhân các tồn tại, yếu kém là “do độc Đảng”! Như vậy, bằng con đường tiếp cận sai trái, họ đã đổ lỗi cho chế độ chính trị của Việt Nam, đổ lỗi cho Đảng, hướng lái quan điểm, tâm lý người dân để gây mâu thuẫn, kích động chống phá. Thử hỏi, ở mọi quốc gia, dân chủ đều phải gắn với kỷ cương, xã hội sẽ như thế nào nếu tự do, dân chủ một cách vô nguyên tắc, phi pháp luật? Thực tế đã cho thấy, không thể áp dụng một cách máy móc kiểu “tự do”, “dân chủ” ở nước này sang nước khác do những đặc điểm riêng về lịch sử xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, trình độ nhận thức của người dân. Nguy hiểm hơn, một số trường hợp sau khi rời các vị trí, chức vụ trong Đảng, Nhà nước thì vì tư lợi hẹp hòi, vì động cơ xấu, họ lại lợi dụng danh nghĩa phản biện để đưa ra những quan điểm trái khoáy, lấy cớ góp ý với Đảng, Nhà nước mà mục đích chính là nhằm làm mất niềm tin trong nhân dân, chia rẽ mối đoàn kết trong nội bộ. Đã có không ít vụ việc lấy danh nghĩa PBXH, họ đã đưa lên báo chí nước ngoài hoặc mạng xã hội nội dung không đúng sự thật, thiếu công tâm, phản biện sai lệch, kéo theo nhiều hậu quả khôn lường, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, gây hoang mang dư luận. Mục đích của những trường hợp trên nhằm thu hút sự chú ý của người đọc đối với những bài viết của họ và tấn công trực diện vào các chủ trương, đường lối, chính sách, uy tín của Đảng và Nhà nước, phủ nhận tất cả những thành quả mà đất nước đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thậm chí tung ra các bài viết, bình luận bằng các ngôn từ cay độc, vô văn hóa, vô đạo đức… Rõ ràng, PBXH nếu được thực hiện một cách có hiệu quả có thể giúp điều chỉnh xã hội từ vi mô tới vĩ mô, làm cho các chủ trương, chính sách ngày càng hoàn thiện, đem lại hiệu quả tốt hơn. PBXH là biểu thị cho tính dân chủ của xã hội. Nhưng nếu lợi dụng PBXH để kích động, thổi phồng, xuyên tạc nhằm gây nhiễu loạn thông tin, gây ra sự ngộ nhận, nhầm lẫn trong dư luận khiến nhiều người hiểusai về hiện tình đất nước, hiểu sai về Đảng, Nhà nước thì hành vi đó là phá hoại, cần phải đấu tranh, loại trừ. PBXH không chỉ là sự phân tích, chỉ ra những khiếm khuyết của các chủ trương, chính sách về các vấn đề xã hội mà thông qua PBXH, khi tạo được sự góp ý, hoàn thiện, nó còn là sự thể hiện đồng thuận xã hội, sự khuyến khích, cổ vũ của xã hội với những chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân. Chính vì vậy, làm tốt công tác PBXH sẽtạo được sức mạnh to lớn cho các phong trào hành động cách mạng. Để PBXH đem lại hiệu quả, ý nghĩa tích cực phải dựa trên nền tảng tri thức, thái độ khách quan, lấy lợi ích của cộng đồng làm mục đích hướng đến. Nếu không, PBXH sẽ dễ chỉ là ý kiến chủ quan, cảm tính và phiến diện, thậm chí cực đoan, không đóng góp với tiến trình phát triển của xã hội, của đất nước. Mỗi người dân khi tiếp cận các thông tin được cho là PBXH đăng tải trên không gian mạng cần trang bị cho mình “bộ lọc” và có chủ kiến khi tiếp cận các vấn đề phản biện. Đặc biệt, với người được các thế lực xấu tung hô, ca ngợi là “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”… thì phải cẩn trọng thanh lọc. Không nên vội vàng đọc mà tin ngay vào các ý kiến dạng phản biện của ai đó khi mình chưa xác định được đầy đủ về tính chính xác của thông tin, động cơ của việc nêu ý kiến đó. Do vậy, để nhận diện âm mưu, thủ đoạn lợi dụng PBXH để gây nhiễu thông tin, chống phá đất nước của các thế lực thù địch, phản động, trước mỗi thông tin được cho là PBXH, cần chú ý nguồn gốc thông tin đó ở đâu? Thực tế có những thông tin sai lệch không rõ nguồn, chỉ được viện dẫn rất vu vơ hoặc xuất phát từ “nghe nói”, đồn thổi! Đặc biệt, cần cảnh giác với thông tin được đưa ra từ những người vốn có thành kiến, có âm mưu, hành động chống phá Đảng, Nhà nước. PBXH cần phải thực hiện một cách công khai, nghiêm túc đối với các dự án luật, văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng. Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích các diễn đàn PBXH với ý thức trách nhiệm và tinh thần xây dựng, các ý kiến đóng góp có tính khoa học, thực tiễn, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, giải pháp để ngày càng đóng góp nhiều hơn, tốt hơn cho sự phát triển chung của đất nước. Ngược lại, mang danh PBXH để hành động chống phá, đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân là không thể chấp nhận. Những người lợi dụng danh nghĩa PBXH để xâm phạm lợi ích của Đảng, Nhà nước, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì tuỳ tính chất, mức độ sẽ bị xử lý trước pháp luật.

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG HỘI KIẾN THỦ TƯỚNG TRUNG QUỐC LÝ KHẮC CƯỜNG


Tiếp tục các hoạt động trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Trung Quốc theo lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình, sáng 1/11 theo giờ địa phương Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có cuộc hội kiến Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường:
Thủ tướng Lý Khắc Cường hết sức vui mừng được gặp lại Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư sang thăm chính thức Trung Quốc; Bày tỏ tin tưởng chuyến thăm Trung Quốc lần này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chắc chắn sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững trong giai đoạn mới.
Thủ tướng Lý Khắc Cường chúc mừng những thành tựu to lớn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong sự nghiệp Đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội, khẳng định Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển quan hệ với Việt Nam; nhấn mạnh hai nước có nhiều điểm chung. Thủ tướng Lý Khắc Cường bày tỏ tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhất định sẽ thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIII, các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc mừng thành công của Đại hội XX và những thành tựu to lớn mà Trung Quốc đã đạt được trong thời gian qua; chúc Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc thực hiện thành công Nghị quyết do Đại hội XX đề ra và thực hiện thắng lợi mục tiếu phấn đấu "100 năm lần thứ hai", xây dựng Trung Quốc thành quốc gia xã hội chủ nghĩa hiện đại, giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa, tươi đẹp.
Tổng Bí thư thông báo với Thủ tướng Lý Khắc Cường kết quả rất tốt đẹp của cuộc Hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình; đánh giá cao Chính phủ Trung Quốc đã có nhiều đóng góp quan trọng vào củng cố, phát triển mối quan hệ hai nước; đề nghị với vai trò quan trọng của mình, Chính phủ hai nước cần chỉ đạo các cơ quan, bộ, ngành triển khai thành công các thỏa thuận hợp tác được ký kết giữa hai bên trong chuyến thăm.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng gần gũi, có truyền thống hữu nghị lâu đời, có nhiều điểm tương đồng về chế độ chính trị và con đường phát triển. Hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước đã dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay. Việt Nam hết sức coi trọng và luôn ưu tiên hàng đầu phát triển quan hệ với Trung Quốc; trước sau như một, kiên trì chính sách “một nước Trung Quốc”.
Tại cuộc hội kiến, hai bên bày tỏ vui mừng trước xu thế phát triển tích cực, lành mạnh của quan hệ hai Đảng, hai nước trong thời gian qua. Hai bên nhất trí trong giai đoạn phát triển mới của hai Đảng, hai nước và bối cảnh quốc tế hiện nay, cần tăng cường hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, duy trì thường xuyên trao đổi, tiếp xúc cấp cao, tăng cường tin cậy chính trị, phục hồi phát triển; đẩy mạnh hợp tác về thương mại, đầu tư, tạo nền tảng vật chất, động lực cho sự phát triển của quan hệ hai nước; phối hợp đưa kim ngạch thương mại song phương tăng trưởng ổn định, bền vững; tăng cường hợp tác trong việc bảo đảm duy trì ổn định chuỗi cung ứng; phối hợp và tận dụng tốt các hiệp định thương mại tự do; tăng cường kết nối chiến lược phát triển góp phần phục hồi và phát triển kinh tế sau đại dịch.
Hai bên nhất trí tăng cường phối hợp tại các diễn đàn đa phương, khu vực quốc tế; cùng nhau nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực./.
st

LUẬN ĐIỆU SUY DIỄN, XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG

Tham nhũng là một hiện tượng tồn tại mang tính tất yếu và khách quan trong xã hội phân chia giai cấp và có nhà nước. Bản chất của tham nhũng gắn liền với quyền lực; người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng để tham nhũng, thu về những lợi ích bất chính. Tham nhũng chính là trở ngại lớn đối với sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước; làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, Đảng viên, Đảng và Nhà nước ta. Về lâu dài, điều này đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Do đó, công tác phòng, chống tham nhũng trong bất cứ thời đại nào cũng mang mục đích giữ ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân đối với giai cấp cầm quyền. Không nằm ngoài xu hướng vận động trên, công cuộc phòng chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta cũng theo quy luật tất yếu để giữ vững, đảm bảo sự tồn vong của chế độ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước thường xuyên đưa các thông tin, luận điệu về công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng xuyên tạc, bóp méo về công tác phòng chống tham nhũng của Đảng ta là cuộc “thanh trừng nội bộ”, “ẩu đả phe cánh” và nguồn gốc của tham nhũng xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta. Không dừng lại ở đó, chúng còn đưa ra các kết luận vô căn cứ như: Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng vì Đảng cũng suy thoái; tham nhũng hay tình trạng tham nhũng trong Đảng Cộng sản Việt Nam là “căn bệnh nan y không có thuốc chữa”; nguyên nhân tất yếu và nguồn cơn của của tham nhũng là do Đảng ta là chế độ một Đảng duy nhất cầm quyền và kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ … Thủ đoạn của các thế lực thù địch là hết sức thâm hiểm, chẳng hạn: Khi chúng ta xử lý kỷ luật một số cán bộ Đảng viên liên quan đến tham nhũng nhưng chưa áp dụng xử lý theo quy định của pháp luật Hình sự thì một số trang mạng cho rằng đây là kiểu “kỷ luật mềm”, chỉ là cái cớ chứ sự thực “Đảng vẫn bao che, dung túng”. Đến khi chúng ta xử lý hình sự những cán bộ, Đảng viên này thì chính những trang mạng này lại quay ngoắt ngòi bút phi nghĩa theo dã tâm của chúng và cho rằng đây là cuộc “đấu đá nội bộ” hay “thanh trừng phe cánh”. Âm mưu của các thế lực thù địch là rất tàn độc, để đạt được mục đích, chúng thay đổi luận điệu để đánh vào tâm lý, lòng tin của quần chúng nhân dân làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Mục đích của chúng là chia rẽ nội bộ trong Đảng, làm suy yếu sức mạnh và sức chiến đấu của Đảng, làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng từ đó tạo điều kiện để chúng thực hiện mưu đồ như: Phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ định các quan điểm, chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng ; phủ định giá trị lịch sử và thành quả cách mạng của dân tộc ta… Cần phải khẳng định rằng: Tham nhũng không chỉ xảy ra ở những nước có chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo như Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi, theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là một hiện tượng phổ biến, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong đó, “phần lớn tham nhũng xảy ra ở các quốc gia có chế độ đa đảng, “tam quyền phân lập”. Đồng thời, việc Đảng lãnh đạo hoạt động kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay là tính tất yếu, khách quan dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn rõ ràng, đầy đủ. Bởi lẽ, nếu Đảng không kiểm soát được quyền lực thì sẽ dẫn đến hậu quả hết sức khôn lường, tình trạng “tha hóa quyền lực” và lạm dụng quyền lực sẽ là nguồn cơn của vấn đề tham nhũng. Nếu để tình trạng này xảy ra sẽ tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức yếu kém, làm mục rỗng hệ thống chính trị, về lâu dài nó sẽ đe dọa sự tồn vong của chế độ. Trong những năm qua, công tác phòng chống tham nhũng của Đảng ta được thực hiện rất quyết tâm, mạnh mẽ để làm trong sạch Đảng ta. Điều này thể hiện rõ tại Nghị quyết Đại hội XIII: “Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng; “kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn”. Các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phòng, chống tham nhũng còn được đề cập trong các Văn kiện và được cụ thể hóa trong: Cương lĩnh, Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận… đây là cơ sở chính trị trong công tác phòng chống tham nhũng. Chúng luôn đưa ra những luận điệu, quan điểm mang tính quy chụp, xảo biện để định hướng dư luận theo ý đồ của chúng và luôn tìm mọi cách để chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó có những luận điệu xuyên tạc công tác phòng chống tham nhũng tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta. Chúng ta khẳng định công tác phòng chống tham nhũng của Đảng ta là một tất yếu, khách quan khoa học và nhất định sẽ thành công trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định rằng: “Chúng ta cần phải kiên quyết đấu tranh phản bác luận điệu của các thế lực thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, Đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”. Hơn nữa, việc tăng cường đấu tranh phòng chống tham nhũng cũng là cách để mỗi cán bộ, Đảng viên thêm vững tin vào Đảng, vào chế độ – một Đảng sinh ra không phải để làm quan phát tài, một chế độ luôn lấy sự phồn vinh của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Nhận thức được vấn đề này, mỗi cá nhân chúng ta cần nhận diện đúng những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch. Ý thức trong việc giác ngộ, nâng cao nhận thức bản thân để biết phân biệt được đúng, sai; không cổ súy, lan truyền thông tin xấu gây hại cho Đảng và Nhà nước góp phần chung vào sự nghiệp đổi mới, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

TỰ DO, DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM DUỚI GÓC NHÌN BÌNH ĐẲNG GIỚI

 Trên mạng xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã đăng tin,

bài cố tình xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của

Nhà nước ta về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có nói đến vấn đề bình

đẳng giới hiện nay như: Việt Nam phân biệt đối xử với phụ nữ, Việt Nam không có

bình đẳng giới, Việt Nam đàn áp những người “bất đồng chính kiến” là phụ nữ và

trẻ em... Thậm chí, những đối tượng trên còn nhận định phụ nữ Việt Nam không có

tự do, không có quyền gì quyết định cuộc đời.

Để làm được điều này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội ra sức xuyên tạc,

bóp méo sự thật; phủ nhận thành tựu, thực tiễn các giá trị lý luận, quan điểm,

đường lối của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó

có bình đẳng giới tại Việt Nam. Xuyên tạc, vu cáo ta vi phạm dân chủ, nhân quyền

trong bình đẳng giới, ngăn cản tự do ngôn luận, tự do hội họp; lợi dụng những hạn

chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất

nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi

kéo, kích động người dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh trật tự; tung

hô, cổ vũ, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản “kiểu Mỹ” và phương Tây;

xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, không bảo vệ

quyền phụ nữ, trẻ em, chèn ép “những người bất đồng chính kiến”…

Có thể thấy rõ, những thủ đoạn đổi trắng, thay đen, bóp méo, xuyên tạc lịch

sử, sự thật nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt

Nam của thế lực thù địch tuy không phải chiêu trò mới nhưng rất nguy hiểm.

Những luận điệu xuyên tạc với thủ đoạn chống phá tinh vi lợi dụng không gian

mạng nhằm “nhào nặn”, “vá víu” các sự kiện, tư duy ngụy biện xảo trá, đánh tráo

khái niệm, suy diễn méo mó làm ảnh hưởng hình ảnh, các nỗ lực của Việt Nam

trong thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền và bình đẳng giới.

Tự do, dân chủ, nhân quyền dưới góc nhìn bình đẳng giới ở Việt Nam

Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên

suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt

Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người như:

Vai trò của phụ nữ Việt Nam đã được thể hiện rõ nét từ Quốc hội khóa I, chỉ

với 10 đại biểu nữ (chiếm 3%) các nữ đại biểu đã thể hiện xuất sắc vai trò của

mình. Trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, bà Lê Thị Xuyến đã được

bầu làm Ủy viên Thường trực Quốc hội. Đến năm 1950, tại Đại hội Phụ nữ toàn

quốc lần thứ nhất, bà được bầu làm Hội trưởng. Trong những năm tháng kháng


chiến chống Pháp, bà Lê Thị Xuyến đã đảm nhiệm cùng lúc cả hai vị trí: Ủy viên

Thường trực Quốc hội và Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Nguyễn

Thị Thập là một trong mười nữ đại biểu đầu tiên của Quốc hội Việt Nam. Trong 18

năm bà là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đồng thời bà được bầu làm

Phó Chủ tịch Quốc hội và giữ cương vị này liên tục trong 21 năm, từ khóa III đến

khóa VI (1960-1981).

Quốc hội Việt Nam khóa XV được bầu ra ngày 23/5/2021 có 499 đại biểu,

trong đó có 151 đại biểu nữ, chiếm 30,26%. Đây là lần thứ hai số nữ đại biểu Quốc

hội của nước ta đạt trên 30% (lần đầu tiên là Quốc hội khoá V, đạt 32,31%). Số đại

biểu nữ tham gia Quốc hội ngày càng nhiều và đảm nhiệm những vị trí quan trọng

trong Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Tỉ lệ nữ ủy viên thường vụ và chủ

nhiệm các ủy ban của Quốc hội trong 3 khóa gần đây tăng lên. Số đại biểu nữ giữ

các vị trí lãnh đạo trong Quốc hội kỳ này chiếm gần 40%. Tại Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong số ủy viên Trung ương

Đảng chính thức được bầu có 18 đại biểu nữ (chưa tính 1 ủy viên dự khuyết), tăng

1 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa XII.

Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong các cấp chính quyền với số nữ đại biểu HĐND

cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng

3,2% so với nhiệm kỳ trước). Trong 63 Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung

ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 9 người là nữ tại các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái

Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và An Giang.

Đây là số lượng nữ Bí thư tỉnh ủy nhiều nhất từ trước đến nay.

Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ

sở, số nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng 2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%. Đối

với các đảng bộ trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ

trước.

Với những chủ trương, đường lối đúng đắn phù hợp với từng giai đoạn phát triển

của đất nước, nên trong lĩnh vực bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong

tham gia lãnh đạo quản lý nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng

quốc tế ghi nhận. Việt Nam đứng ở vị trí thứ 51 trên thế giới, thứ 4 ở châu Á và

đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về

tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội. Chỉ số bình đẳng giới không ngừng được cải thiện. Năm

2020, Việt Nam xếp vị trí 87 trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới

về thu hẹp khoảng cách giới. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong suốt nhiều

năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bình đẳng giới,

được thế giới công nhận là một trong 10 quốc gia thực hiện tốt nhất mục tiêu số 5

về thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các


mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Những thành tựu đạt được cũng

trở thành tiền đề, thành động lực mạnh mẽ để Việt Nam tiếp tục thực hiện các mục

tiêu về bình đẳng giới, góp phần đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững đến

năm 2030.

Với những thống kê trên, một lần nữa khẳng định những thành tựu mà Việt Nam

đã và đang nỗ lực đạt được trong việc đảm bảo quyền tự do, dân chủ, nhân quyền

nói chung và thúc đẩy bình đẳng giới nói riêng. Thực tiễn đó bác bỏ những luận

điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và các cá nhân, tổ chức chống đối trong và

ngoài nước.

THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC, HƯỚNG LÁI VỤ ÁN TẠI “TỊNH THẤT BỒNG LAI”

 Xung quanh vụ án “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà

nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” xảy ra tại “Tịnh thất Bồng

Lai”, xuất hiện luồng thông tin tiêu cực, không đúng sự thật do các đối tượng xấu

lan truyền hòng làm nhiễu dư luận.

Về vụ án này, ngày 21/7, HĐXX TAND huyện Đức Hòa (tỉnh Long An) đã

tuyên án sơ thẩm đối với 6 bị cáo. Theo đó, bị cáo Lê Tùng Vân (90 tuổi) bị tuyên

5 năm tù; các bị cáo Lê Thanh Nhất Nguyên (31 tuổi), Lê Thanh Hoàn Nguyên (30

tuổi), Lê Thanh Trùng Dương (27 tuổi) cùng mức án 4 năm tù; bị cáo Lê Thanh

Nhị Nguyên (24 tuổi) 3 năm 6 tháng tù và bị cáo Cao Thị Cúc (62 tuổi) 3 năm tù.

Trong phần luận tội, đại diện viện kiểm sát cho rằng, hành vi của các bị cáo là

nghiêm trọng, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo đã phạm tội có tổ

chức nhưng tại phiên tòa không có ý thức khai báo, không có thái độ ăn năn để

hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Vụ án “Tịnh thất Bồng Lai” liên quan các yếu tố mà các đối tượng xấu lợi

dụng xuyên tạc, chính trị hoá. Thứ nhất, đây là vụ án nhận được sự quan tâm đặc

biệt của dư luận. Những hành vi vi phạm tại đây diễn ra từ lâu, có tổ chức. Tuy

nhiên, cái tên “Tịnh thất Bồng Lai” chỉ thực sự “nóng” và nhận được sự chú ý của

cộng đồng khi “hiện tượng mạng” Nguyễn Phương Hằng đăng đàn tố cáo. Sau

những cuộc phát sóng trực tiếp (livestream) với hàng trăm ngàn người cùng theo

dõi ở một thời điểm của Nguyễn Phương Hằng thì mọi nhất cử, nhất động của

“Tịnh thất Bồng Lai” đều gây chú ý dư luận. Thứ hai, các bị cáo trong vụ án đã

mượn danh cơ sở tôn giáo để trục lợi.

Với phương châm lợi dụng vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ

để chống phá chế độ, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị

đã nhanh chóng hướng lái “chính trị hoá” vụ án “Tịnh thất Bồng Lai”. Về vấn đề

này, Ban Tôn giáo Chính phủ cho biết, qua trao đổi với Trung ương Giáo hội Phật

giáo Việt Nam cho thấy, “Tịnh Thất Bồng Lai” là cơ sở thờ tự không hợp pháp.

Theo báo cáo của UBND tỉnh Long An gửi Ban Tôn giáo Chính phủ, cơ sở trên có

một số sai phạm như: các công trình xây dựng đều do cá nhân đứng tên và xây

dựng trên đất ở nông thôn; bà Cao Thị Cúc là chủ cơ sở trên đã sử dụng đất trồng

lúa vào mục đích khác không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;

UBND xã cũng đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và buộc bà

Cúc khôi phục tình trạng ban đầu của đất. Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, vụ việc

này có dấu hiệu lợi dụng tôn giáo để trục lợi, mặc dù chủ cơ sở khẳng định chỉ thờ

tượng Phật tại gia, không phải sinh hoạt tôn giáo.


Ngay từ những giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên, các đối tượng xấu đã ra

sức “kêu oan”, “khóc mướn” cho các đối tượng trong vụ án và vu khống chính

quyền làm oan người vô tội. Họ cố tình che đậy bản chất vi phạm của “Tịnh thất

Bồng Lai”, biến các đối tượng trong vụ án thành “nạn nhân” của chế độ.

Ngoài ra, qua các video, clip được chính các bị cáo chia sẻ, lan truyền trên

kênh Youtube “5 chú Tiểu - Thiền Am bên bờ vũ trụ” và “Nhất Nguyên - Hoàn

Nguyên Official” trước khi bị bắt, có thể thấy các đối tượng trong “Tịnh thất Bồng

Lai” có hành vi xúc phạm đạo Phật, xuyên tạc giáo lý của Phật giáo, xúi giục mọi

người không tôn trọng tôn giáo và pháp luật.

Việc xét xử sơ thẩm vụ án “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích

Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” xảy ra tại “Tịnh thất

Bồng Lai” đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình xét xử

đảm bảo nguyên tắc tranh tụng công khai, dân chủ.  Nếu không đồng ý với bản án

sơ thẩm, các bị cáo hoàn toàn có quyền kháng cáo đến toà án cấp trên trực tiếp. Vì

vậy, chẳng có lý do gì để các “nhà dân chủ” vu khống rằng việc xét xử là thiếu

công bằng, bản án được đưa ra là “bất công”, “phi lý”!

Đảng, Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,

tôn giáo của người dân. Tuy nhiên, tự do tôn giáo phải đi liền với tôn trọng pháp

luật. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Không ai được phép xâm phạm tự do

tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, xúc

phạm đến tổ chức, cá nhân. Bản chất của “Tịnh thất Bồng Lai” là lợi dụng tôn giáo

để trục lợi. Việc thành lập và hoạt động của cơ sở này trái quy định của pháp luật,

không đúng với quy tắc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Ngay trong phiên toà sơ thẩm, bản thân các bị cáo cũng cho biết hoạt động

không theo tôn giáo nào. Thực tế, hoạt động của các bị cáo trong vụ án “Tịnh thất

Bồng Lai” đã ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự của địa phương và gây chia rẽ tôn

giáo. Việc xử lý các bị cáo, toà đã cân nhắc kỹ các yếu tố, đảm bảo có lý, có tình.

Do đó, những luận điệu cho rằng chính quyền “đàn áp tôn giáo” đang được các đối

tượng chống phá đưa ra là không thể chấp nhận.

Đằng sau những luận điệu xuyên tạc bản chất vụ án “Tịnh thất Bồng Lai” là

mục đích làm nhiễu loạn tình hình, gây phân tâm dư luận, kích động sự mâu thuẫn

trong xã hội hòng tạo ra sự mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Đồng thời, bằng các luận điệu sai trái, các thế lực bên ngoài đang cố tình bẻ lái,

dựng chuyện nhằm bôi nhọ hình ảnh, làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường

quốc tế và tìm kiếm những tác động từ bên ngoài hòng can thiệp vào công việc nội

bộ của Việt Nam. Những hoạt động này đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi

ích xã hội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gửi Điện cảm ơn Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình

 

----------
Toàn văn bức điện:
“Rời thành phố Bắc Kinh, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tôi xin gửi tới đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và qua đồng chí, đến các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc lời cảm ơn chân thành về những tình cảm hữu nghị, cùng sự đón tiếp nồng hậu, chu đáo, thắm tình đồng chí, anh em mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc cũng như cá nhân đồng chí đã dành cho tôi và đoàn đại biểu cấp cao Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Tôi có ấn tượng hết sức sâu sắc về thành công của Đại hội XX với những tổng kết về mặt lý luận và thực tiễn, cùng những thành tựu nổi bật mà nhân dân Trung Quốc anh em đã giành được trong thời gian qua dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc với đồng chí Tập Cận Bình làm hạt nhân. Tôi và đoàn đại biểu cấp cao Đảng, Nhà nước Việt Nam hết sức hài lòng về kết quả phong phú của chuyến thăm, đặc biệt là những nội dung trao đổi giữa hai bên tại các cuộc hội đàm, hội kiến. Tôi tin tưởng chuyến thăm sẽ góp phần định hướng lâu dài cho quan hệ hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Trung Quốc tiếp tục phát triển tốt đẹp, ổn định, bền vững.
Đất nước Trung Quốc tươi đẹp, phồn vinh, người dân Trung Quốc giàu lòng mến khách đã để lại những ấn tượng vô cùng sâu sắc trong tôi và các đồng chí trong đoàn. Chắc chắn những kết quả tích cực đạt được trong chuyến thăm lần này sẽ góp phần quan trọng vào việc tăng cường tình hữu nghị, sự tin cậy chính trị, tiếp tục đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc vì sự phát triển của hai nước, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chúc đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc sức khỏe và hạnh phúc.
Chúc quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam-Trung Quốc mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”.
TTXVN
Có thể là hình ảnh về 2 người, mọi người đang đứng và văn bản

HỘI NGHỊ LẦN THỨ SÁU BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII ĐÃ KHAI MẠC SANG NGÀY 3/ 10/ 2022 TẠI THỦ ĐÔ HÀ NỘI

 Buổi sáng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm việc tại Hội trường.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị.

Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước thay mặt Bộ

Chính trị điều hành phiên họp.

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư

thay mặt Bộ Chính trị báo cáo về Chương trình Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp

hành Trung ương Đảng khoá XIII.

Sau Phiên khai mạc, Trung ương thảo luận và quyết định một số nội dung về

công tác cán bộ, cụ thể như sau:

1. Trung ương cho ý kiến vào Tờ trình của Bộ Chính trị về việc xem xét, kỷ

luật đồng chí Phạm Xuân Thăng, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ

tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương vì những vi phạm sau:

Đồng chí Phạm Xuân Thăng đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống;

vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; vi phạm Quy định về những

điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm

trọng, làm thiệt hại lớn cho ngân sách của Nhà nước, nhân dân và xã hội; để xảy ra

vụ án tham nhũng tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh; gây dư luận xấu, làm

giảm uy tín của tổ chức đảng, chính quyền địa phương; đồng chí Phạm Xuân

Thăng đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra, Bộ Công an quyết định khởi tố, bắt tạm

giam.

Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả của vi phạm; căn cứ quy định

của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã biểu quyết, quyết định thi hành kỷ

luật Khai trừ Đảng đối với đồng chí Phạm Xuân Thăng.

2. Căn cứ quyết định hiện hành, ý kiến của các cơ quan liên quan và chủ

trương của Bộ Chính trị về bố trí công tác đối với cán bộ sau khi bị kỷ luật; trên cơ

sở đề nghị của cấp uỷ, tổ chức đảng, ý kiến của các cơ quan chức năng và xem xét

nguyện vọng của cán bộ; Ban Chấp hành Trung ương Đảng biểu quyết, thống nhất

để 3 đồng chí: Nguyễn Thành Phong, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban

Kinh tế Trung ương; Bùi Nhật Quang, Uỷ viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện

Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Huỳnh Tấn Việt, Uỷ viên Trung ương Đảng,

Bí thư Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương thôi tham gia Ban Chấp hành Trung

ương Đảng khoá XIII.

Buổi chiều: Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm việc tại tổ thảo luận về

Đề án tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt

Nam trong giai đoạn mới.