Thứ Năm, 4 tháng 5, 2023

HỌC KỲ QUÂN ĐỘI LÀ GÌ?

 


Học kỳ quân đội là mô hình giáo dục tổng hợp dành cho thanh thiếu niên thông qua chương trình rèn luyện trải nghiệm thực tế trong môi trường Quân đội. Đào tạo và huấn luyện kỹ năng thực hành xã hội, ý thức trách nhiệm đối với xã hội và gia đình và góp phần định hướng nhân cách cho thanh thiếu nhi.


Nội dung huấn luyện của Học kỳ quân đội xây dựng dựa trên sự tương tác giữa môi trường quân đội và các em thanh thiếu nhi. Môi trường được tạo ra có các yếu tố đặc trưng là tính kỷ luật, tính tập thể và tính tự giác, tự lập. Tập trung vào 3 nội dung huấn luyện chính: Nội dung Quân sự, Nội dung Kỹ năng và Nội dung bổ trợ.


Nội dung quân sự (60%): Bao gồm các nội dung huấn luyện với mục tiêu giúp các học viên trở thành những người lính thực thụ, với bản lĩnh ý chí kiên định, kỷ luật thép và tinh thần đồng chí đồng đội cao cả, thiêng liêng.


Nội dung kỹ năng sống (30%): Đây là nội dung nhằm trang bị cho các học viên những kiến thức cần thiết trong cuộc sống, rèn luyện ý chí và định hướng nhân cách, lối sống cho các chiến sĩ, nhằm giúp các chiến sĩ tạo lập bản thân tốt nhất trong các môi trường, hoàn cảnh khác biệt.


Nội dung bổ trợ (10%): Các hoạt động về văn thể mỹ, thể thao, tăng gia sản xuất, vui chơi giải trí lành mạnh. Nhằm hình thành các thói quen tốt, đồng thời để gắn kết tình cảm và xoa dịu nổi nhớ nhà của các em.


Học kỳ quân đội được tổ chức lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 2008 do Trung tâm Thanh thiếu niên Việt Nam – viết tắt VYC, đơn vị thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, xây dựng chương trình và tổ chức thử nghiệm cho 84 học viên tại Trung đoàn bộ binh 88, sư đoàn 302, Quân khu 7. Chương trình này đã gây tiếng vang lớn trong xã hội về phương pháp giáo dục kỹ năng đạo đức lối sống kết hợp với giáo dục quân sự. Năm 2009, VYC tiếp tục tổ chức thành công học kỳ quân đội bộ binh và học kỳ quân đội Hải quân cho 300 em. 


Từ những thử nghiệm HKQĐ thành công này, năm 2010 được sự chỉ đạo của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trung tâm thanh thiếu niên Việt Nam đã tổ chức tập huấn và chuyển giao phương pháp tổ chức mô hình HKQĐ cho tất cả các tỉnh, thành trên cả nước. 


Trung tâm thanh thiếu niên Việt Nam là đơn vị duy nhất tại Việt Nam liên tục tổ chức HKQĐ từ năm 2008 đến nay với đối tượng học viên tham gia từ nhiều tỉnh, thành trong nước và tổ chức các lớp HKQĐ tại nhiều đơn vị quân đội thuộc các quân chủng Bộ binh, Hải quân, Không quân, Tăng thiết giáp, Biên phòng, Đặc công…vv.


Những điều tuyệt vời mà học kỳ quân đội mang lại cho các em đó là:


Trải nghiệm thực tế nhiều hơn: Tham gia Học kỳ Quân đội, các em được trở thành một người chiến sỹ thực thụ, tất cả các chế độ sinh hoạt, huấn luyện được thực hiện một cách đặc biệt mà chỉ có trong Học kỳ Quân đội mới có. Đồng thời được tham gia các trò chơi tập thể, những lễ hội đặc sắc, những trận đánh giả và những buổi hành quân dã chiến đáng nhớ, được trải nghiệm trồng rau, nuôi heo,… Ngoài ra còn được đồng đội gọi với hai chữ thân thương là “Chiến Sĩ” và được khám phá vũ khí, khí tài Quân đội nhân dân Việt Nam.


Học hỏi nhiều kỹ năng: Bên cạnh việc rèn luyện với kỷ luật thép, xây dựng tinh thần đồng đội, rèn luyện bản lĩnh, ý chí cá nhân. Ở đây, các em cũng sẽ được giáo dục và rèn luyện kỹ năng qua những buổi nói chuyện chuyên đề về các kỹ năng sống cần thiết. Tại khóa học, các em sẽ được trang bị kiến thức về kỹ năng sống như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự vệ bản thân, phòng chống bạo lực học đường, kỹ năng phòng chống xâm hại, kỹ năng thoát hiểm… Đây là những kỹ năng cần thiết để giúp các bạn nhỏ có thể tự tin và trưởng thành hơn trong cuộc sống.


 Đoàn kết và ý thức kỷ luật: Ở đây, các em sẽ gặp gỡ nhiều bạn bè. Chính vì tính chất của khóa học Quân đội, với phương châm “Lấy cá nhân rèn tập thể” các em sẽ được học cách đoàn kết, tinh thần làm việc nhóm và giúp đỡ bạn bè . Đây cũng sẽ giúp các em trở nên tự tin trong giao tiếp, đồng thời xây dựng sự thân thiện và hòa đồng khi còn nhỏ. Song song với đó, khi tham gia Học kỳ Quân đội các em sẽ sinh hoạt theo đúng giờ giấc như một chiến sĩ và chấp hành theo nội quy, hình thành thói quen nghiêm túc, làm việc có giờ giấc, có kế hoạch, ngăn nắp, gọn gàng tỉ mỉ, những điều đó hình thành nên thói quen tốt cho bản thân.


Tự lập, tự giác và tự tin hơn: Khi tham gia Học kỳ Quân đội, các em sẽ rèn luyện được tính tự giác, tự lập và tự làm mọi việc. Các em sẽ tự chịu trách nhiệm với vệ sinh cá nhân của bản thân, hoàn thành theo đúng thời gian quy định. Tại đây, các em sẽ hình thành thói quen tự làm mọi việc mà không còn dựa dẫm vào bố mẹ. Bên cạnh đó, với thói quen sinh hoạt điều độ, xa rời smart phone, internet ở trong môi trường học tập này, các em sẽ có cơ hội bộc lộ mình nhiều hơn khi hòa vào tập thể. Các em cũng dần nhận thức được điểm mạnh và yếu của bản thân hơn.


Biết chia sẻ và yêu thương gia đình: Chương trình xây dựng các chuyên đề về cảm xúc gia đình, để các em hiểu được tình cảm bao la của cha mẹ dành cho con, đồng thời chính những ngày tháng xa gia đình các em mới cảm nhận được đầy đủ tình yêu thương của gia đình dành cho mình, những phút giây đầy lắng đọng, các em sẽ hồi lại những gì mình đã từng trải qua, những phút lầm lỗi đã khiến mẹ cha buồn. Tiếng nức nở và những giọt nước mắt đã khiến những trang thư, những nét chữ nhòa đi khi những dòng tâm sự từ sâu thẳm trái tim của các em gửi về cho bố mẹ.


Mạnh mẽ, bản lĩnh và có ý chí hơn: Một trong những yếu tố hấp dẫn các bạn trẻ khi tham gia chương trình Học kì Quân đội là việc đương đầu và chinh phục các thử thách. Với các bài huấn luyện nâng cao vượt qua nỗi sợ hãi, đương đầu với khó khăn với nhiều mức độ khác nhau nhằm đánh giá khả năng sự nỗ lực cá nhân cùng với tinh thần “Không từ bỏ” và “Ráng thêm chút nữa” đây chính là chìa khóa giúp các em nỗ lực, cố gắng, mạnh mẽ và bản lĩnh hơn. Các em dám đương đầu và vượt qua các khó khăn, thất bại trong cuộc sống.

HÃY HỌC HỎI MỌI LÚC MỌI NƠI

 


Không ai có thể giỏi trong mọi lĩnh vực, không ai có thể cái gì cũng biết. Kiến thức là vô hạn mà sức người chỉ có hạn, đừng bao giờ tự mãn, luôn học hỏi  mọi lúc mọi nơi,  núi cao còn có núi cao hơn. Mây tầng nào sẽ gặp mây tầng đó, bạn giỏi thì mới hy vọng gặp được người giỏi, nồi nào úp vung nấy, chín kiếp lại gặp 10 đời . 


Học thì thì phải đi đôi với hành, chủ yếu phải học ở trường đời, những va vấp sẽ cho bạn những bài học quý giá. Khi cuộc sống bạn đã trải qua thăng trầm, không có nỗi đau nào hơn thế, đến chết đi sống lại bạn cũng  từng trải qua. Khi đã vượt qua tất cả lúc đó bạn sẽ nhìn cuộc đời một cách bình thản. 


Làm ăn cũng vậy phải xác định đôi bên đều có lợi mới lâu dài. Khôn thì phải khôn ngoan đừng bao giờ khôn lỏi, người có tầm họ biết nhìn xa trông rộng, người đó họ mới làm được việc lớn, mới dễ thành công. Ở đời này cái gì cũng có giá của nó hết, chả ai cho không ai cái gì, làm gì cũng nên nghĩ đến hậu quả việc mình làm.

LỜI CĂN DẶN SÂU SẮC!

 


“Đồng bào, cán bộ và quân đội ta quyết không được vì thắng lợi mà chủ quan khinh địch. Cần phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác và chí khí chiến đấu"

Lời căn dặn của Bác trong thư khen quân và dân miền Bắc bắn rơi 1.000 máy bay Mỹ, Người viết ngày 30/4/1966 và đăng trên Báo Nhân dân số 4408, ngày 01/5/1966.

Đầu năm 1965, chiến lược “Chiến tranh Đặc biệt” của đế quốc Mỹ đã bị quân và dân ta đánh bại. Song, đế quốc Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chúng chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh Cục bộ”, tăng cường quân Mỹ vào miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng sức mạnh không quân và hải quân, hòng buộc phía Việt Nam phải ngồi vào đàm phán theo các điều kiện ép buộc do Mỹ soạn thảo. Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chuyển toàn bộ hoạt động của miền Bắc từ thời bình sang thời chiến, tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh, quyết tâm đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, phát huy vai trò hậu phương lớn với tiền tuyến lớn miền Nam, đánh bại chiến lược “Chiến tranh Cục bộ” và làm tròn nghĩa vụ quốc tế với cách mạng hai nước Lào và Campuchia. Với chiến công bắn hạ 1.000 máy bay Mỹ đã làm thất bại quyết tâm chiến lược của đế quốc Mỹ, không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh của quân và dân miền Bắc, cùng với quân và dân miền Nam quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thống nhất nước nhà.

Lời Bác căn dặn được quân và dân miền Bắc khắc ghi và thực hiện nghiêm, trở thành sức mạnh để tiếp tục đánh bại chiến dịch đánh phá bằng không quân của đế quốc Mỹ lần thứ 2, làm nên chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972 - đòn đánh quyết định cuối cùng, buộc chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút hết quân viễn chinh và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, mở ra thời cơ chiến lược lớn để quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông đất nước về một mối.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sỹ trong toàn quân luôn tuyệt đối tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chấp hành nghiêm chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, thành thục kỹ, chiến thuật tác chiến, làm chủ các loại vũ khí trang bị. Nâng cao cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn “Diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam để bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, quyết không để bị động, bất ngờ. Kiên quyết đấu tranh với các luận điệu chống phá, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của Quân đội trong thời bình và những nhận thức giản đơn, coi nhẹ nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố Quốc phòng-an ninh, nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân. St.

 

NGUY HẠI TỪ SỰ THỜ Ơ, VÔ CẢM CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

 


Trong khi dư luận nói nhiều đến tình trạng cán bộ, công chức sợ trách nhiệm, không dám làm khiến hàng loạt công việc đình trệ thì một hiện tượng khá phổ biến và cũng là “trọng bệnh” của đội ngũ cán bộ, công chức, đó là tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm với công việc, nhất là giải quyết công vụ. Đây là vấn đề đáng lo ngại bởi những hệ lụy mà nó gây nên.


1. Có việc liên quan đến giấy tờ nhà đất tôi buộc phải đến Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính (Bộ phận một cửa) của quận để thực hiện. Khu vực chờ đợi của người dân đông đúc, ngột ngạt, cũng không có nước uống. Để tiết kiệm thời gian, người dân chủ động phần kê khai trên hồ sơ trước nhưng bàn viết không có, cứ tự kê lên đùi mà viết. Cán bộ giải quyết công vụ ngồi ngăn cách với người dân qua vách kính chắn, thỉnh thoảng lại đưa điện thoại lên nhắn tin, ai thắc mắc thì hướng dẫn đại khái qua một ô kính nhỏ. Người có chút kinh nghiệm, tai thính thì ít hỏi lại, còn phần lớn người đi làm thủ tục lần đầu đều bỡ ngỡ: “Cái gì cơ? Viết vào đây ạ? Chỗ này viết gì anh, chị nhỉ? Rồi thỉnh thoảng lại có tiếng gắt gỏng, khó chịu kiểu ban phát từ người nhận hồ sơ. Chỉ cách nhau qua tấm kính mà cảm giác như công chức và người dân xa vời vợi. Trên thực tế, nhiều cán bộ nhận hồ sơ biết rõ giấy tờ có sai sót nhưng không nói ngay, có số điện thoại trên hồ sơ cũng chả gọi mà đến ngày trả kết quả mới nói là hồ sơ sai cần làm lại. Họ cứ vin vào các quy định cứng nhắc, thậm chí có người cố tình làm cho nó cứng nhắc hơn vì lý do khác.

Theo nghĩa hiểu chung nhất thì tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm nghĩa là mặc kệ. Đây là trạng thái trơ lì của cảm xúc, dửng dưng với những hiện tượng đời sống xung quanh, chỉ quan tâm đến quyền lợi của bản thân. Cách làm việc này không khác gì một cái máy, không khẩn trương, không vội, không vì ai và đặc biệt, không cảm xúc. Họ vẫn làm việc nhưng không có trách nhiệm với công việc, với những người xung quanh; miễn là đánh trống, ghi tên đủ 8 tiếng ngồi ở cơ quan. Cũng có thể chất lượng công việc không quá tệ nhưng hoàn toàn không có tư tưởng đổi mới hay đột phá, còn đòi hỏi họ dấn thân, dám nghĩ, dám làm thì thật xa xỉ. Đó là thứ văn hóa không nhúc nhích, đợi nhắc thì làm, không nhắc cũng vẫn làm nhưng chậm trễ khi xử lý các nhiệm vụ được giao.

 

Tựu trung lại, có thể lý giải cho hiện tượng tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm với công việc của cán bộ, công chức đến từ mấy nguyên nhân sau: Thứ nhất, đó là lối sống thực dụng, ngại va chạm, "dĩ hòa vi quý". Lối sống này khiến cán bộ, công chức có nhận thức và hành vi lệch lạc về trách nhiệm, về nghĩa vụ của mình, nhất là trong vai trò "công bộc" khi tiếp xúc và hành xử với dân; cho rằng mình có quyền ban phát, người khác phải cần mình mà không hiểu rằng, nghĩa vụ của mình là phục vụ, cao nhất là phục vụ nhân dân. Thứ hai, đó là những người luôn đòi hỏi cho cá nhân, nhất là lợi ích vật chất nhưng không bao giờ chịu hy sinh, thiệt thòi vì tập thể. Khi không được đáp ứng lợi ích đó, họ cứ dửng dưng không làm. Thứ ba, đó là những người thụ động. Mọi thứ với họ cứ làng nhàng, từ học hành, kiến thức, kỹ năng đến động cơ, thái độ, trách nhiệm trong công việc. Với họ “sớm chẳng vừa, trưa chẳng vội”, vì làm việc trong môi trường bao cấp nên lương đã có Nhà nước trả, không phải bận tâm đến cơm áo gạo tiền. Thứ tư, đó là những người có xuất thân từ những gia đình có điều kiện, hoặc về kinh tế, hoặc về chính trị. Họ chỉ cần có một chỗ làm việc, một vị trí trong cơ quan công quyền để lấy vị thế và được bảo đảm các quyền lợi cho cá nhân. Những người như thế cũng không mưu cầu sự thăng tiến, cũng không có động lực phấn đấu cho công việc. Việc làm giàu của họ thường ở môi trường khác, hoặc có người khác làm giàu cho họ. 

2. Tâm lý, thái độ thờ ơ gây ra bệnh vô cảm của công chức, một loại bệnh đang được xem là “trọng bệnh”. Ngành y không có khái niệm bệnh vô cảm nên cũng không đưa ra phác đồ điều trị. Đây là căn bệnh do lối sống, môi trường và cách hành xử của con người tạo ra. Hệ lụy của tình trạng thờ ơ, vô cảm của công chức là vô cùng tệ hại, mà tệ hại nhất là thủ tiêu động lực làm việc, vươn lên của tập thể. Những cán bộ, công chức thờ ơ, vô cảm thường rất lười đi cơ sở và xa rời thực tiễn cơ sở. Chính vì lười đi cơ sở, không chịu va chạm với thực tiễn nên không nắm được công việc, quan liêu trong lĩnh vực mình quản lý, giải quyết. Thậm chí nếu được giao chức năng tham mưu để ban hành những chủ trương, chính sách, quyết sách thì đó là những “quyết định trên trời” gây bức xúc dư luận.

Trong một tập thể có những người thờ ơ, vô cảm với công việc thường dễ lây lan tâm lý này sang những người khác. Bởi nếu anh “sớm chẳng vừa, trưa chẳng vội” mà không bị xử lý thì tôi cũng sẽ thế được, dần trở thành tâm lý đám đông. Khi con người không có động lực làm việc, giải quyết công việc không vì người khác thì sẽ không bao giờ dành hết trí lực cho công việc, không có tư tưởng nghĩ ra việc, tìm đến việc. Tệ hại là, số cán bộ, công chức thờ ơ, vô cảm, làng nhàng này lại không dễ gì đưa họ ra khỏi bộ máy công quyền. Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa (đoàn Đồng Tháp) từng phát biểu trước Quốc hội khi thảo luận về Bộ luật Lao động (sửa đổi) rằng: “Có những người mặc dù đã đến tuổi nghỉ hưu theo luật hiện hành, trong khi công việc làm năng suất không cao, "sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về", chỉ ở mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng không muốn nghỉ hưu, chờ cho đến đúng tuổi mới nghỉ”. Vì điều đó mà những người mới, nhất là những người trẻ có hoài bão, tâm huyết và trí tuệ, muốn được cống hiến trong bộ máy công quyền cũng khó có vị trí.

Trên thực tế, nghiên cứu khái quát của các nhà quản lý trong lĩnh vực công chức, viên chức đưa ra con số khoảng 30% cán bộ, công chức “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về”. Xin dẫn lại một phát biểu năm 2013 của Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khi ấy tại cuộc họp thứ nhất Ban chỉ đạo Đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức: “Trong bộ máy chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”. Điều này khiến cho bộ máy công quyền cồng kềnh trong khi công việc vẫn bị xem là chưa chạy. Trong khi đó, ngân sách nhà nước để nuôi bộ máy là không hề nhỏ mà đáng ra một phần số ngân sách này có thể tiết kiệm được.

Không chỉ vậy, những cán bộ có tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm trong giải quyết công vụ luôn ám ảnh người dân có suy nghĩ tiêu cực về đội ngũ cán bộ công quyền, những người được xem là công bộc của dân. Họ rất ngại đến cơ quan công quyền, trừ việc bất đắc dĩ. Tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm của công chức đã hình thành nên tư tưởng cho mình là người có quyền ban phát. Bởi thế lâu nay, khi người dân làm việc với cơ quan công quyền thường bị mặc định từ “xin” ở đó. Nguyện vọng, quyền lợi gì cũng mặc định trong “Đơn xin...”. Xin cho con đi học, xin giấy khai sinh, xin giấy khai tử, xin xác nhận hộ khẩu... Đây là quyền lợi chính đáng của người dân, đặc quyền của công dân được hưởng thụ dưới chế độ của Nhà nước ta. Vậy thì cán bộ cơ quan công quyền phải có nghĩa vụ thực hiện cho người dân chứ không phải là ban phát hay đặc quyền ở đó.

3. Dưới chế độ của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì cán bộ, công chức là công bộc của dân. Cũng có nghĩa, mọi cán bộ, công chức phải hết lòng, hết mình trong giải quyết công vụ, vì nhân dân phục vụ, tự mình đấu tranh với chính mình để loại bỏ tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm, cách làm việc làng nhàng không hiệu quả.

Trở lại từ lý luận, Các Mác từng có một luận điểm mang tính kinh điển, đã trở thành nền tảng, cơ sở khoa học khi nghiên cứu, giải quyết vấn đề bản chất con người: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”. Luận điểm này đã được ông luận giải một cách rất thuyết phục. Những cán bộ, công chức và chính mỗi người có tâm lý, thái độ thờ ơ, vô cảm với công việc nguyên nhân chính là do họ và họ là người quyết định điều đó trong môi trường đó. Môi trường làm việc rất quan trọng và có tác động lớn đến tình cảm, thái độ, trách nhiệm của mỗi người. Con người trong tập thể nếu không chịu va đập, không bị va đập, không qua trải nghiệm, gắn mình với thực tiễn sẽ ngày càng thờ ơ và ít sự cảm thông trong đời sống xã hội. Bởi thế, ở đâu môi trường làm việc yêu cầu cao, sự nghiêm túc, trách nhiệm, sự đánh giá công tâm, công bằng, thì ở đó mỗi cán bộ, công chức sẽ có động lực để thay đổi mình, buộc phải thay đổi mình.

Từ thực tiễn, chính các tổ chức, cơ quan, đơn vị trong bộ máy Nhà nước phải đánh giá đúng thực chất hiệu quả công việc của công chức do mình quản lý. Ai cũng thấy nhiều cán bộ, công chức làm việc không hiệu quả theo kiểu “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về” diễn ra ở các cơ quan công quyền nhưng tỷ lệ báo cáo đánh giá chất lượng cán bộ, công chức hằng năm của hầu hết các cơ quan, đơn vị thường trên 90% hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhiều cơ quan, tỷ lệ này rất cao, thậm chí gần 100%. Chính việc đánh giá cán bộ không đúng, phân loại nể nang, không bám vào tiêu chí đã dẫn đến tình trạng “đánh bùn sang ao”, cán bộ làm tốt cũng như chưa tốt. Bất cập này khiến người làm tốt bị mất động lực phấn đấu, trong khi người chưa hoàn thành, hoàn thành thấp nhiệm vụ vẫn nghiễm nhiên tại vị, vẫn được hưởng đầy đủ các chế độ của một công chức. Và đương nhiên, họ cũng không có động lực để thay đổi chính mình. Dù Luật Cán bộ, công chức quy định nếu cán bộ hai năm không hoàn thành nhiệm vụ thì sẽ loại ra khỏi đội ngũ nhưng trên thực tế hằng năm vô cùng ít cán bộ bị loại khỏi bộ máy công quyền với lý do là không hoàn thành nhiệm vụ. Vậy nên, cốt lõi để làm cho mọi cán bộ, công chức thay đổi thái độ, trách nhiệm làm việc của mình thì tổ chức phải đánh giá đúng hiệu quả công việc của họ.

ĐẤU TRANH VỚI BIỂU HIỆN TỰ KIÊU!


 

“ Công trạng của cá nhân chủ yếu là nhờ tập thể mà có. Vì vậy người có công trạng không nên tự kiêu mà cần khiêm tốn”.

Là lời căn dặn của Chủ tịch trong bài nói chuyện tại lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp Bộ Quốc phòng và các lớp trung cấp của các tổng cục vào tháng 5 năm 1957.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc rèn luyện đội ngũ cán bộ của Đảng nói chung, cán bộ quân đội nói riêng về “đức” và “tài”; trong đó, Bác luôn lấy “đức” làm gốc và đề cao đức tính khiêm tốn. Bởi khiêm tốn là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người. Người khiêm tốn luôn là người biết mình, hiểu người, không tự mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công, thành tích của cá nhân, cũng không bao giờ chấp nhận một tinh thần chủ bại mang nhiều mặc cảm của cuộc đời đối với mọi người. Khiêm tốn sẽ giúp mỗi người có được sự tỉnh táo, để nhận thức chân lý một cách đúng đắn, khách quan; đồng thời nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của mọi người. Khiêm tốn luôn là một đức tính tốt mà mỗi người cần trau dồi, rèn luyện, đặc biệt đối với người cán bộ, đảng viên, những người lập được thành tích, công trạng lớn.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn đề cao và thực hành đức tính khiêm tốn trong sinh hoạt, học tập, công tác và chiến đấu, trở thành một nét đẹp văn hóa ẩn sâu trong nhân cách người quân nhân cách mạng, trở thành lời thề danh dự “… thắng không kiêu, bại không nản” được nhân dân luôn tin tưởng, yêu mến, dành tặng cho danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” cán bộ, chiến sĩ toàn quân nêu cao tinh thần, trách nhiệm, thi đua “rèn đức, luyện tài”, tích cực “tự soi, tự sửa”, “Làm việc theo chức trách, nêu gương trong hành động”, đoàn kết tốt, khiêm tốn, học hỏi, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đối với đội ngũ cán bộ chủ trì, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị học và làm theo Bác luôn gương mẫu, đi đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, đề cao tính khiêm tốn, học hỏi, rèn luyện tác phong lãnh đạo, chỉ huy dân chủ, quần chúng, luôn tôn trọng và chân thành lắng nghe, tiếp thu sự phê bình từ cấp dưới và quần chúng. Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tự kiêu, tự đại, độc tôn chân lý, cửa quyền, hách dịch, thờ ơ, vô cảm…St.

 

DÙ Ở NƠI ĐÂU, VẪN LUÔN TỰ HÀO LÀ NGƯỜI VIỆT NAM

  


Mới đây, video ghi lại hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng Việt Nam tung bay trong gió ở trời Úc đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của cư dân mạng.


Theo đó, cô gái trong video là người Việt Nam, hiện đang sinh sống và làm việc tại Úc. Cô đã “đấu tranh” với sếp để được treo cờ Việt Nam mừng ngày 30/4 – Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. 


Có thể thấy, dù ở nơi đâu, người Việt Nam vẫn luôn một lòng hướng về Tổ quốc.❤️🇻🇳

 

Ý NGHĨA LỜI KÊU GỌI CỦA BÁC!


“Toàn dân đoàn kết muôn năm.

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”.

Là lời kêu gọi đồng bào Cao Đài, Hòa Hảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đăng trên Báo Cứu quốc, chi nhánh số 6, số 917, ngày 03 tháng 5 năm 1948.

Trong bối cảnh một số đồng bào theo đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo bị thực dân Pháp và các giáo sĩ phản động mua chuộc, lôi kéo, bắt làm lính, chống lại cách mạng, đi ngược lại lợi ích và truyền thống tốt đẹp của dân tộc... sau khi được vận động, giáo dục đã thức tỉnh, quay súng trở về với cách mạng, với Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết lời kêu gọi để kịp thời biểu dương những anh em đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo lầm đường theo địch, nay đã tỉnh ngộ; đồng thời, tập họp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân xâm lược.

Đại đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được nâng lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh, tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn, chiến thắng giặc ngoại xâm và giành thắng lợi có ý nghĩa lịch trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng bào theo các tôn giáo đã đoàn kết cùng đồng bào cả nước thực hiện ước nguyện của Bác Hồ là xây dựng đất nước ta “Sánh vai với các cường quốc năm châu”. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận đều chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng đường hướng hành đạo riêng, phù hợp với đạo lý của mình, như: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo; “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc” của Công giáo; “Sống Phúc âm phụng sự Thiên chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc” của Hội thánh Tin Lành; “Nước vinh, Đạo sáng” của Cao Đài... tất cả vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thực hiện lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã luôn đoàn kết, gắn bó với nhau như ruột thịt, trên tình thương yêu giai cấp, hết lòng giúp đỡ nhau, lúc thường cũng như lúc ra trận; không phân biệt dân tộc, tôn giáo, vùng miền... Đây chính là nhân tố có vị trí quan trọng bậc nhất tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta. Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tốt việc xây dựng tinh thần đoàn kết gắn bó giữa cán bộ với chiến sĩ, đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo trong tình thương yêu đồng chí, đồng đội, thực hiện toàn quân một ý chí. Bên cạnh đó, quân đội còn luôn thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, làm tốt công tác dân vận, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo, kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch tuyên truyền, chống phá chính sách đại đoàn kết của Đảng, Nhà nước... góp phần quan trọng xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, yêu mến dành tặng cho danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. St.

  

LỜI BÁC HỒ DẠY!

 


“BỘ ĐỘI CHƯA ĂN CƠM, CÁN BỘ KHÔNG ĐƯỢC KÊU MÌNH ĐÓI. BỘ ĐỘI CHƯA ĐỦ ÁO MẶC, CÁN BỘ KHÔNG ĐƯỢC KÊU MÌNH RÉT. BỘ ĐỘI CHƯA ĐỦ CHỖ Ở, CÁN BỘ KHÔNG ĐƯỢC KÊU MÌNH MỆT. THẾ MỚI DÂN CHỦ, MỚI ĐOÀN KẾT, MỚI TẤT THẮNG”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Đường số 18, tháng 4 năm 1951: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng Tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng”.

Mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ được hình thành, phát triển trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của Quân đội ta; là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cho đội ngũ cán bộ quân đội yêu cầu phải luôn chăm lo đến đơn vị, đồng cam cộng khổ với bộ đội thì bộ đội nhất định tin và nghe theo: “Đối với binh sĩ, thì lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh”. Và Người khẳng định: “Cán bộ có coi đội viên như chân tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”.

Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta, mối quan hệ cán-binh được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, đồng đội, được tôi luyện, thiết lập vững chắc qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Trên thực tế, đội ngũ cán bộ các cấp trong quân đội luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, gương mẫu để bộ đội học tập, noi theo; xây dựng tinh thần tự giác trong bộ đội, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng: “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”.

Trong giai đoạn hiện nay, quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội hằng ngày một cách chu đáo, không chỉ là trách nhiệm mà còn là tình cảm, sự nêu gương của cán bộ đối với bộ đội. Đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phải hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân với tay” thì cấp dưới sẽ kính trọng, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu, như óc”, như người thân trong gia đình; từ đó, bộ đội sẽ mang hết khả năng để thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh một cách tự giác và có hiệu quả cao nhất. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải luôn là hạt nhân đoàn kết; kiên quyết chống biểu hiện xa rời cấp dưới, quan liêu, hách dịch, vô cảm…; phải thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, góp phần giữ gìn và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới. St.

 

Ý NGHĨA NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG 10/3 ÂM LỊCH

 

Ngày giỗ Tổ Hùng Vương trở thành ngày lễ lớn của dân tộc Việt Nam để tưởng nhớ công ơn các vị vua Hùng đã có công dựng nước và giữ nước.

Giỗ Tổ Hùng Vương không phải chỉ đề cao niềm tự hào dân tộc mà còn nhắc nhở chúng ta phải tìm hiểu thấu đáo bản sắc dân tộc, nguồn cội của tổ tiên. Qua đó mỗi người không ngừng học tập, rèn đức luyện tài để phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước.

Có như vậy chúng ta mới xứng đáng với công lao của các thế hệ anh hùng dân tộc, với tổ tiên ta ngày trước. Giỗ Tổ Hùng Vương là dịp để chúng ta nhìn nhận lại những biến cố của đất nước qua các thời kỳ đồng thời đặt ra những nhiệm vụ mới cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước.

Trải qua các thời kỳ thăng trầm khác nhau và để có được thành quả như ngày hôm nay là nhờ công lao vĩ đại của cả một dân tộc anh hùng. Chúng ta tự hào là con Rồng cháu Tiên, là con cháu của các vị vua Hùng đã gây dựng nên đất nước Văn Lang, Âu Lạc và đánh thắng giặc ngoại xâm làm nền móng cho nước Việt Nam ngày nay.

Đó là những ngày đầu hoang sơ nhất mở ra một thời kỳ lịch sử huy hoàng cho dân tộc ta. Chúng ta phải ghi nhớ công lao to lớn đó và không ngừng học tập, đóng góp cho xã hội, cùng nhau xây dựng một đất nước Việt Nam ngày càng phát triển để sánh vai với các cường quốc năm châu.St

 

Chống lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chiêu bài của họ là đối lập tôn giáo với chế độ xã hội chủ nghĩa, tách các tôn giáo khỏi khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam. Để thực hiện điều đó, họ sử dụng các thủ đoạn xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, bịa đặt, vu cáo cấp chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo để kích động, chia rẽ trong nước và hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế… Họ coi các đối tượng cực đoan chống đối trong các tôn giáo là lực lượng nòng cốt để lôi kéo tập hợp quần chúng làm đối trọng với Đảng, Nhà nước và thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Cùng với việc hậu thuẫn cho các lực lượng này hoạt động chống phá đất nước, họ còn phối hợp chặt chẽ với các cá nhân, tổ chức quốc tế thiếu thiện chí để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam đàn áp mọi tôn giáo, thường bắt giữ những người biểu tình ôn hòa đòi hỏi "tự do" tín ngưỡng và "tự do" thờ phụng. Nhiều tổ chức tôn giáo không được Chính phủ công nhận và không cấp giấy phép sinh hoạt… Đây là những luận điệu bịa đặt cũ rích được lặp đi, lặp lại với ý đồ chính trị xấu xa.

Điều đó không chỉ gây khó khăn cho công tác tôn giáo mà còn là nguyên nhân và điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật để gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ, gây mất đoàn kết dân tộc và đe dọa ổn định chính trị - xã hội; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội.

Nhà nước ta bên cạnh việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng nghiêm cấm mọi hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Bất kỳ ai, nếu vi phạm pháp luật dù với bất cứ lý do gì đều sẽ bị xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật.

Có thể khẳng định, những luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là những đánh giá chủ quan, phiến diện của một số người thiếu thiện chí với Việt Nam. Những luận điệu sai trái này không thể làm khó Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh, mở rộng hợp tác, giao lưu trên trường quốc tế./.CST

Bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

 Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo. Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam được ví như “bảo tàng tôn giáo” của thế giới. Điều đó đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú và đặc sắc. Hiện nay, ở Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa Hảo.

Việt Nam có chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Điều đó đã quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật của nước ta.

Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL khẳng định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện, chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”.

Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật”. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”.

Các Hiến pháp của nước ta năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều thể hiện rõ quan điểm nhất quán và xuyên suốt là tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Năm 2016, Quốc hội ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Chính phủ có Nghị định hướng dẫn tổ chức thực hiện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng phù hợp với yêu cầu của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ mới của đất nước, đồng thời thể hiện sự tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm hơn nữa quyền tự do tôn giáo của nhân dân.

Hiện 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân. Đặc biệt, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức thành công ở Việt Nam, trong đó có các sự kiện kỷ niệm 500 năm Cải chánh đạo Tin lành (năm 2017), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak (năm 2019), Tổng hội dòng Đa Minh thế giới (năm 2019)… Những nỗ lực này của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.CST

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2023

Tăng cuờng quản lý triệt tiêu karaoke trá hình

 


Có thể thấy rằng những quán karaoke trá hình đã và đang trở thành những điểm nóng về tình hình ANTT, gây khó khăn trong công tác quản lý phòng chống tội phạm của cơ quan chức năng. Trước những biến tướng từ hoạt động kinh doanh karaoke, mới đây, Bộ VH-TT&DL vừa đưa Dự thảo Nghị định quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường ra lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, người dân.

Đặc biệt, dự thảo Nghị định quy định quán karaoke không được hoạt động từ 2-8 giờ sáng, phải tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, hợp đồng lao động, an toàn lao động, bảo hiểm, phòng chống tệ nạn xã hội và các quy định của pháp luật khác có liên quan. Với những quy định này hy vọng sẽ là lời cảnh báo cho các chủ cơ sở có ý định kinh doanh karaoke không lành mạnh.


Giải pháp ngăn chặn bạo lực học đường hiện nay

 


          Bạo lực học đường hiện nay đã trở thành một vấn nạn nhức nhối trong nhà trường và xã hội. Tình trạng này ngày càng phổ biến và diễn ra với mức độ nghiêm trọng hơn. Vậy có giải pháp khắc phục nào để giảm bớt tình trạng bạo lực học đường hiện nay?

- Đối với bản thân các em học sinh cần nâng cao nhận thức, ý thức về hành động và những hậu quả của hành động bạo lực đó. Tránh tham gia hay đua đòi theo những học sinh có cá tính mạnh, có những hành vi bạo lực.

Tăng cường giao lưu, chơi cùng nhóm bạn đồng hành giúp đỡ nhau trong học tập và khi cần thiết sẽ có sự hỗ trợ từ các bạn. Tránh chơi theo phong trào phân biệt đối xử, nên tổ chức nhiều sân chơi bổ ích để tạo sự gần gũi, tránh những hành vi bạo lực.

- Gia đình cần có thái độ bình tĩnh, ân cần chỉ bảo dần dần để các em nhận ra hành vi chưa đúng đắn của mình để thay đổi tích cực hơn. Trong gia đình con cái và bố mẹ cần có mối quan hệ tin tưởng- bình đẳng, lắng nghe tâm sự của con và có cách dạy con hợp lý.

Cha mẹ cần quan tâm tới các mối quan hệ bạn bè của con, nhưng cha mẹ không nên quản lí con quá khắt khe làm con có cảm giác bị chói buộc và không được thể chia sẻ cùng cha mẹ.

Cha mẹ hãy là những người bạn đồng hành đối với con hoặc tìm cho con những người bạn đáng tin tưởng mà con có thể chia sẻ trong cuộc sống.

- Nhà trường nên quan tâm tới học sinh, không cho phép chia bè, kéo cánh chế nhạo hành vi của một cá nhân trong lớp học dẫn tới các em bị chán nản vì dồn vào đường cùng mà dẫn tới hành vi xấu.

Đồng thời nhà trường cũng nên có những biện pháp mạnh với những học sinh chuyên gây gổ đánh nhau để làm gương cho những học sinh khác

Dạy cho học sinh kỹ năng kiểm soát bản thân trong cơn nóng giận, giảm bớt nóng giận khuyến khích học sinh thông báo những biểu hiện về bạo lực học đường cho giáo viên.

Yếu tố xã hội với bạo lực học đường hiện nay

 


Nguyên nhân xã hội chính là do ảnh hưởng từ những môi trường xung quanh như bạo lực phim ảnh, sách báo, game, đồ chơi có tính bạo lực trên mạng xã hội. Mạng Internet có tới 77% là trò chơi là đánh nhau, giết người, mang tính bạo lực cao các em không tránh được những ảnh hưởng xấu của các hình ảnh bạo lực.

Tuổi trẻ thường có tính bắt chước và thử nghiệm việc các em làm theo những hình ảnh, hình tượng đó là hoàn toàn dể hiểu.

Các ấn phẩm báo chí, sách, truyện tranh, video clip, hình ảnh mang tính bạo lực cũng góp phần hình thành nhu cầu bạo lực của trẻ em Việt Nam.

Yếu tố nhà trường với bạo lực học đường hiện nay

 

 


Nhà trường hiện nay coi trọng thành tích hơn là giáo dục nhân cách, nhà trường quá chú trọng việc nhồi nhét kiến thức mà quên đi việc “Tôn sư trọng đạo”, “Tiên học lễ hậu học văn”.

Không những thế, kỷ cương nề nếp cũng lỏng lẻo, nhiều thầy cô không còn là tấm gương cho học sinh noi theo dẫn tới tình trạng học sinh mất phương hướng, hành động sai trái.

Nhà trường ít quan tâm đến học sinh, giáo viên chủ nhiệm cũng không có nhiều thời gian để quan tâm đến mỗi cá nhân nên bạo lực học đường ngày càng diễn ra một nhiều.

Những em học sinh cá biệt cũng bị giáo viên và bạn bè xung quanh kì thị nên các em càng trở nên bất mãn và buông xuôi chuyện học hành lao theo các trò chơi vô bổ. Đây cũng được xem là nguyên nhân cơ bản nhất tạo nên thực trạng bạo lực học đường hiện nay.

Tác nhân gia đình với bạo lực học đường hiện nay

 


Do sự giáo dục chưa sâu sát của cha mẹ, xã hội xô bồ phụ huynh lại ít quan tâm tới con cái, cha mẹ thường nặng lời quát tháo con, xả stress bằng bạo hành gia đình.

Trẻ em dễ học theo tính xấu của người lớn, khi đang trong giai đoạn hình thành nhân cách thì chỉ cần một tác động xấu từ gia đình và xã hội cũng có thể gây ra các tổn thương khó chữa lành, từ đó hình thành nhân cách méo mó về giá trị sống.

Nguyên nhân học sinh với bạo lực học đường hiện nay

 


Những học sinh có biến chứng tâm lý khác, có IQ thấp, khuyết tật khả năng xử lý thông tin trí lực giảm sút, học lực kém, thất bại trong chuyện học hành, kiềm chế kém, dễ căng thẳng về xúc cảm có thái độ bất cẩn và hiếu thắng, thái độ chống đối mọi người xung quanh, thích hành vi bạo lực.

Học sinh có tiền sử sử dụng ma túy đá, rượu, thuốc lá hay các chất kích thích…

Bạo lực học đường hiện nay dễ xảy ra ở học sinh lứa tuổi dậy thì khiến các em phát triển mạnh về thể chất, hưng phấn cao, khả năng kiềm chế kém, cái tôi cá nhân cao nên sẽ không chịu khuất phục ai, dễ dàng ra tay xử lý bạn khi không vừa ý.

Nguyên nhân thì có nhiều nhưng cơ bản nhất là bản thân mỗi người chưa kìm nén được cảm xúc nhất thời của mình kéo theo dây chuyền làm ảnh hưởng chung đến ngành giáo dục. Từ học sinh đánh hội đồng nhau, học sinh bóp cổ cô giáo, thầy giáo bị đánh gãy xương mũi cho đến các sự vụ nghiêm trọng khác.

 

Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng



Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên để góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là nhiệm vụ rất quan trọng trong giai đoạn các bộ, ngành, địa phương quyết tâm  đưu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào thực tiễn cuộc sống xã hội.

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng thực hiện có hiệu quả nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các cấp ủy đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, thường xuyên nâng cao nhận thức, trách nhiệm về cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong tình hình mới. 

Hai là, chủ động bám sát các vấn đề, sự kiện, cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, tạo thế chủ động trong mặt trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội.

Ba là, thường xuyên đổi mới phương thức, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, chủ động đấu tranh phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.

Bốn là, tăng cường quản lý, chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách hiệu quả.

Thực hiện tốt những nội dung, định hướng cơ bản trên sẽ góp phần ngăn chặn hiệu quả, giảm tác hại từ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động trên internet, mạng xã hội và các phương tiện truyền thông, góp phần thực hiện tốt nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

 


          Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thực chất là bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với nền tảng tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân Việt Nam không chỉ bằng lý luận, lời nói hay nghị quyết mà phải hành động thực tiễn, “nói đi đôi với làm”, xây dựng, chỉnh đốn Đảng thành công để Đảng ta thực sự là một chính đảng, khoa học, cách mạng và nhân văn, của giai cấp công nhân Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.

          Vì vậy , hơn bao giờ hết, chúng ta phải chủ động, nhạy bén, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; các biểu hiện cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác; không để suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ ./.

Âm mưu tuyên truyền của các thế lực thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta

 


          Thời gian gần đây, nhất là những ngày gần tới Đại hội XIII của Đảng; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã đẩy mạnh tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam, bằng mọi âm mưu, thủ đoạn chúng tăng cường xuất bản, tán phát các loại ấn phẩm, tài liệu như: Các báo cáo, nghị quyết, dự luật của nghị viện, quốc hội một số nước phương Tây; các văn bản pháp lý của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ như: Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW)…; các ấn phẩm xuất bản, như: sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi… của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước; các trang web, các chương trình phát thanh, phát hình bằng tiếng Việt, …để xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng ta. Qua đó, chúng phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu đã đạt được trong các cuộc chiến tranh đã qua và trong công cuộc đổi mới, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội; nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần phải:

          - Thường xuyên bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị (khoá XII) đối với công tác đấu tranh phòng chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận;

          - Chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị.

          - Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Trong tổ chức thực hiện, cần duy trì tốt các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các cơ quan, đơn vị.

          - Tăng cường hoạt động quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả.