Thứ Ba, 8 tháng 8, 2023

Vạch trần luận điệu: “Quân đội phải trung lập về chính trị”

 

“Quân đội phải trung lập về chính trị” là luận điểm đã có từ lâu, mà các đảng chính trị đối lập ở những nước đi theo chế độ đa đảng thường sử dụng để hạn chế quân đội “can dự” vào những tranh giành chính trị của các đảng phái. Ngay từ năm 1905, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “... những câu nói của bọn tôi tớ của nền chuyên chế về tính trung lập của quân đội, về sự cần thiết phải giữ cho quân đội đứng ngoài chính trị v.v. là giả dối, rằng những lời nói đó không thể mong được binh lính đồng tình một chút nào”.

Trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, khi thấy rằng phương thức chống phá chủ nghĩa xã hội bằng biện pháp gây chiến tranh xâm lược không hiệu quả, chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh chống phá bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”. Một trong các thủ đoạn mà họ sử dụng là đưa khẩu hiệu “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị” vào các nước xã hội chủ nghĩa, nơi chỉ có một đảng (Đảng Cộng sản) lãnh đạo, nhằm thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang cách mạng, mà thực chất là nhằm tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vô hiệu hóa vai trò của quân đội là công cụ bạo lực của Đảng, của Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn này đã được họ áp dụng thành công ở Liên Xô trước đây; khi những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô tự rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, mắc những sai lầm rất nghiêm trọng, như: tự xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, làm cho Quân đội Liên Xô bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. 

Đối với nước ta, từ nhận định rằng, hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam còn nắm chắc quân đội, chưa thể xóa bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, chưa thể xóa bỏ được chế độ xã hội chủ nghĩa, nên các thế lực thù địch với cách mạng nước ta ráo riết thực hiện chiêu bài “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị”. Họ hy vọng rằng, một khi quân đội đã bị mê hoặc bởi khẩu hiệu đó, đội ngũ cán bộ quân đội đã dao động, mất phương hướng chính trị, họ sẽ ra tay lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo đúng kịch bản “không đánh mà thắng”(!). 

Năm 2013, lợi dụng việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức xin ý kiến nhân dân vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, các thế lực chống phá con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội xem đây là thời cơ để công khai đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Họ đưa ra nhiều luận điểm, như: “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị”, “quân đội phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không cần trung thành với bất kỳ tổ chức nào”, mà áp dụng cụ thể vào Việt Nam là “không phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”, v.v.. Đáng tiếc là, không ít người đã vào hùa với chúng, mà không tỉnh táo tự vấn mình rằng: tại sao những đề xuất về “quân đội phải trung lập về chính trị” lại được VOA, BBC, RFA, RFI... cùng những kẻ phản bội Tổ quốc, những người có thâm thù với cách mạng ở hải ngoại tung hô, cổ vũ nhiệt thành đến vậy (?). Khi bị chỉ trích những đề xuất đó là biểu hiện của sự “suy thoái về tư tưởng chính trị”, những người cổ xúy cho tư tưởng này vội “lấp liếm” rằng: “chúng tôi chỉ yêu cầu quân đội trung lập về chính trị, chứ đâu có đòi phi chính trị hóa quân đội”(?). 

Sự ngụy biện đó không đánh lừa được công luận; bởi xét về bản chất, yêu cầu “quân đội phải trung lập về chính trị” chỉ là một phiên bản của quan điểm đòi “phi chính trị hóa quân đội”. Nói đến “trung lập về chính trị”, nghĩa là “đứng giữa các lực lượng chính trị”, “đứng ngoài chính trị”, “không can dự vào chính trị”...; trong khi đó, Quân đội nhân dân Việt Nam đang được xây dựng theo phương hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở, nền tảng để xây dựng vững mạnh toàn diện. Hơn nữa, bản thân Quân đội nhân dân Việt Nam đang là lực lượng chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng Cộng sản Việt Nam, tức là đang “không đứng ngoài chính trị”; thì đòi hỏi “quân đội phải trung lập về chính trị” thực chất là đòi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam.

Để thực hiện mưu đồ đòi “quân đội phải trung lập về chính trị”, các thế lực thù địch sử dụng mọi biện pháp, cả về lý luận, tư tưởng lẫn hành động thực tiễn.

Trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng, họ thường lập luận rằng: quân đội là của nhà nước, nên chỉ phục tùng nhà nước, chứ không phục tùng và chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính đảng nào; hoặc: hoạt động của quân đội chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân, nên chỉ phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào, v.v. Nghe thoáng qua, không ít người ngộ nhận sự có lý của lập luận này, mà không hiểu rằng: đây là thủ đoạn lừa bịp, nhằm chuyển lập trường chính trị của quân đội cách mạng sang lập trường của bọn cơ hội chính trị, của giai cấp tư sản. 

Trong hành động thực tiễn, những người cổ xúy cho tư tưởng “quân đội phải trung lập về chính trị” yêu cầu một khi có biến động chính trị, thì quân đội hãy án binh, bất động, không đứng về phe nào. Đối với những nước đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa, chỉ có một Đảng Cộng sản lãnh đạo như nước ta, họ đòi xóa bỏ nguyên tắc “Đảng Cộng sản lãnh đạo quân đội”; hạ thấp, đi đến đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị  (nhất là chế độ chính ủy, chính trị viên) trong quân đội - một trong những yếu tố riêng có của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, nhằm đảm bảo cho Đảng Cộng sản giữ vững sự lãnh đạo đối với quân đội. Họ xuyên tạc các sự kiện chính trị trong lịch sử có quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài đơn vị quân đội và một bộ phận quân nhân trong quá trình làm nhiệm vụ; bôi nhọ đời tư của các tướng lĩnh, anh hùng lực lượng vũ trang... hòng qua đây, làm cho quân đội mất uy tín trong nhân dân, hạ thấp vị thế của quân đội trong xã hội..., từ đó mà vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng.

Đối với Việt Nam, để thực hiện mục tiêu nhất quán là xóa bỏ thành quả cách mạng và lái con đường phát triển của đất nước sang quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch đẩy mạnh các chiến dịch vận động đòi thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và lôgic tất yếu của tiến trình đó, nếu được thực hiện, sẽ là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Họ công khai đòi bỏ quy định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; bỏ quy định “lực lượng vũ trang nhân dân phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam” đã được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lợi dụng tình cảm của nhân dân ta với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, họ cố tình lờ đi hoàn cảnh lịch sử của sự kiện ngày 26/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Trường Võ bị Lục quân Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1) lá cờ “Trung với nước, hiếu với dân”, để xuyên tạc tư tưởng nhất quán của Người về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, bằng lý lẽ: “Cụ Hồ không yêu cầu quân đội phải trung thành với Đảng” (!). Đáng tiếc rằng, một bộ phận nhân dân, kể cả một số cán bộ, đảng viên ta đã dao động trước những lý lẽ này.

HAIVAN

Vận dụng quan điểm của V.I. Lê-nin để xây dựng và nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng

 

Quán triệt quan điểm “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên”, cùng với vận dụng quan điểm của V.I. Lê-nin, hướng tới xây dựng các tổ chức cơ sở đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, cần triển khai đồng bộ một số nhiệm vụ cơ bản sau:

Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm của đảng viên trong nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tích cực đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Nâng cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và đề cao danh dự, lòng tự trọng của đảng viên. Đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””. Phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; kịp thời phát hiện, khen thưởng, nhân rộng những tấm gương đảng viên xuất sắc, tiêu biểu trên các lĩnh vực để khuyến khích, tạo động lực cho mọi đảng viên ra sức phấn đấu, học tập, cống hiến vì sự nghiệp chung.

Hai là, thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh gắn với quan tâm chấn chỉnh tổ chức cơ sở đảng yếu kém. Tiếp tục sắp xếp, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đảng đồng bộ với việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, nhất là đổi mới bộ máy bên trong. Rà soát, bổ sung, sửa đổi hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của một số tổ chức cơ sở đảng. Nghiêm túc thực hiện quy chế làm việc cấp cơ sở.

Ba là, thực hiện chủ trương bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Bên cạnh việc nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác Đảng cho đội ngũ cán bộ cấp ủy ở cơ sở thì cần từng bước thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân ở những nơi đủ điều kiện; bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố hoặc trưởng ban công tác mặt trận.

Bốn là, tăng cường sự lãnh, chỉ đạo của cấp ủy tại chi bộ để nâng cao chất lượng sinh hoạt ở các loại hình chi bộ, bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu là việc làm trọng yếu, thường xuyên. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời xử lý các chi bộ, đảng viên vi phạm quy định, nguyên tắc sinh hoạt đảng. Chú trọng việc thực hiện các Nghị quyết và Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và gương mẫu thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, nhất là người đứng đầu các cấp.

Năm là, nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên, khắc phục tình trạng chạy theo số lượng, chưa coi trọng đúng mức chất lượng, xem nhẹ tiêu chuẩn, điều kiện. Xây dựng kế hoạch phát triển đảng viên hợp lý cả về lượng và chất, cơ cấu phù hợp với thực tế của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng để kết nạp vào Đảng những đoàn viên, hội viên ưu tú, trưởng thành trong lao động, học tập, nghiên cứu khoa học, trong lực lượng vũ trang. Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quy định, hướng dẫn để quản lý chặt chẽ đội ngũ đảng viên; thường xuyên rà soát, sàng lọc, đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.

HAIVAN

Tình hình công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở nước ta hiện nay

 

Hiện nay, toàn Đảng ta có 52.125 tổ chức cơ sở đảng với 5.192.533 đảng viên. Trực thuộc đảng ủy cơ sở có 2.478 đảng bộ bộ phận và 227.328 chi bộ thuộc các loại hình tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn; cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội; đơn vị sự nghiệp; doanh nghiệp; đơn vị quân đội, công an; đơn vị ở ngoài nước.

Việc xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng luôn được Đảng ta đặc biệt quan tâm, thể hiện rõ qua các kỳ Đại hội. Những năm gần đây, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản xây dựng, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở; bổ sung, sửa đổi và ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động của một số loại hình tổ chức cơ sở đảng. Đây là hệ thống những văn bản quan trọng, làm cơ sở để các cấp ủy, tổ chức đảng đề ra chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên.

Tại các cơ sở đảng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đảng viên được cấp ủy, tổ chức đảng đề cao. Việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng thường xuyên đổi mới, tổ chức dưới hình thức trực tuyến từ Trung ương đến cơ sở đã nhanh chóng tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn Đảng, sớm đưa các nghị quyết vào cuộc sống. Đơn cử, Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 8 khóa XII được truyền hình trực tuyến với 2.700 điểm cầu, hơn 405.000 cán bộ, đảng viên tham dự; Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được kết nối với 67 điểm cầu các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và đường truyền mở rộng đến hơn 7.400 điểm cầu cơ sở với gần 1 triệu đảng viên tham gia. Công tác tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” dần đi vào nền nếp; cấp ủy cấp trên gương mẫu thực hiện nghiêm túc, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, chú trọng gợi ý, dự chỉ đạo kiểm điểm đối với những tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý; coi trọng kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm của cấp dưới. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị được đẩy mạnh, trở thành nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên với nhiều cách làm hay, sáng tạo đem lại hiệu quả thiết thực.

Quán triệt Nghị quyết 18-NQ/TW về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Nghị quyết 19-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, công tác kiện toàn, sắp xếp tổ chức đảng được thực hiện đồng bộ với việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Qua sắp xếp đã giảm trên 3.000 tổ chức cơ sở đảng ở các loại hình, trong đó giảm 565 đảng bộ xã, phường, thị trấn và giảm trên 10.000 chi bộ trực thuộc đảng ủy xã, phường, thị trấn do sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã, sáp nhập thôn, tổ dân phố, góp phần tinh gọn hệ thống chính trị ở cơ sở, giảm chi ngân sách nhà nước cho hoạt động của các tổ chức đảng. Chú trọng nâng cao chất lượng cấp ủy cơ sở, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ chuyên trách công tác đảng. Giai đoạn 2015 - 2020, đã tổ chức trên 3.000 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng cho trên 325.000 lượt cấp ủy viên, bí thư cấp ủy và cán bộ chuyên trách làm công tác đảng.

Chất lượng sinh hoạt chi bộ từng bước được nâng lên; nhiều cấp ủy đã hướng dẫn nội dung sinh hoạt đối với từng loại hình chi bộ, ban hành tiêu chí cụ thể đánh giá chất lượng sinh hoạt chi bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát chuyên đề việc chấp hành nền nếp, đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng sinh hoạt. Hầu hết các chi bộ đều đưa việc tự phê bình và phê bình, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào nội dung sinh hoạt hằng tháng. Tăng cường sinh hoạt chuyên đề, tập trung nhiều hơn cho sinh hoạt chính trị tư tưởng, công tác đảng, từng bước khắc phục tình trạng đơn điệu, hình thức trong sinh hoạt đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng đã cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá phù hợp với từng loại hình tổ chức đảng, từng đối tượng đảng viên. Đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên thực chất hơn, sát với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Việc xây dựng đội ngũ đảng viên mới cho tổ chức đảng ở cơ sở được nâng lên cả về số lượng và chất lượng. Trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, Đảng ta đã kết nạp được 880.155 đảng viên, trình độ chuyên môn của đảng viên mới kết nạp được nâng lên, có đến 41,5% đảng viên có trình độ từ đại học trở lên, trong đó có 3% là thạc sĩ và 0,15% là tiến sĩ, cơ cấu hợp lý theo hướng trẻ hóa và tăng tỷ lệ nữ với 67,67% là đoàn viên, 43,72% là nữ. Đặc biệt, thành công trong việc thí điểm kết nạp 6.652 chủ doanh nghiệp tư nhân đủ tiêu chuẩn vào Đảng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, Đảng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận một số yếu kém nhất định trong công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, đó là: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn thấp, nhất là khả năng dự báo, đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết những vấn đề phát sinh ở cơ sở. Công tác xây dựng, phát triển tổ chức đảng, đảng viên trong các đơn vị kinh tế tư nhân, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo còn nhiều khó khăn, hạn chế. Sinh hoạt chi bộ ở một số nơi vẫn còn hình thức, sinh hoạt chuyên đề chưa được xem trọng, tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu. Công tác kết nạp đảng viên ở một số nơi còn chạy theo số lượng, chưa coi trọng đúng mức chất lượng; động cơ vào Đảng của một số quần chúng chưa đúng đắn. Tính tiên phong, gương mẫu và phẩm chất đạo đức của một bộ phận đảng viên giảm sút. Việc xét miễn, giảm công tác và sinh hoạt đảng chưa chặt chẽ, việc quản lý đảng viên đi làm ăn xa nơi cư trú còn khó khăn, phức tạp; số đảng viên xin ra khỏi Đảng, bỏ sinh hoạt đảng phải xóa tên có xu hướng tăng lên; việc rà soát, sàng lọc, đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng chưa được tiến hành thường xuyên.

HAIVAN

Quan điểm của V.I. Lê-nin về công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng

 

Theo V.I. Lê-nin, tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị lãnh đạo hoạt động của cơ quan, đơn vị. Sự vững mạnh của các tổ chức cơ sở đảng là điều kiện bảo đảm cho sự vững mạnh của toàn Đảng. Những quan điểm của V.I. Lê-nin về công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng là kinh nghiệm quý để Đảng ta vận dụng trong giai đoạn hiện nay.

Tổ chức cơ sở đảng là nơi nắm vững và bảo đảm cho mọi hoạt động ở cơ sở tuân thủ đúng chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần cụ thể hóa nghị quyết của Đảng, đấu tranh về quan điểm và rèn luyện đảng viên; gắn kết Đảng với quần chúng, vận động quần chúng thực hiện tốt chủ trương của Đảng. Thực hiện tốt công tác xây dựng tổ chức đảng ở cơ sở là điều kiện tiên quyết để Đảng vững mạnh. Theo V.I. Lê-nin, việc xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng là công việc thường xuyên, liên tục và phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Đó là:

Thứ nhất, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trở thành hạt nhân chính trị lãnh đạo thực hiện đường lối của Đảng ở cơ sở. Trong tác phẩm Làm gì?, V.I. Lê-nin cho rằng, để sự nghiệp cách mạng thành công “đòi hỏi phải có cho toàn nước Nga một tổ chức thống nhất gồm những người cách mạng, một tổ chức có khả năng đảm nhiệm việc lãnh đạo các tổ chức nghiệp đoàn của công nhân trong phạm vi toàn Nga”. Đặc biệt, khi đề cập đến vấn đề xây dựng đảng kiểu mới, V.I. Lê-nin khẳng định cần thành lập tổ chức đảng ở các công xưởng, nhà máy, các địa phương theo chế độ phân cấp rõ ràng. “Ở tất cả các tổ chức, các hội, các hiệp hội, không trừ một loại nào... phải tổ chức những tiểu tổ hay những chi bộ Cộng sản... những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng”. Sau khi thành lập, các chi bộ phải thực hiện cổ động, tuyên truyền,... thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với mọi tầng lớp quần chúng lao động. Thông qua thực tiễn ở cơ sở để kiểm nghiệm chủ trương, đường lối và bổ sung, phát triển đường lối của Đảng, lấy kết quả hoạt động thực tế làm thước đo đánh giá sự lãnh đạo của Đảng và các tổ chức đảng.

Thứ hai, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trở thành nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên; liên hệ chặt chẽ với quần chúng và lãnh đạo quần chúng thực hiện lý tưởng của Đảng. V.I. Lê-nin khẳng định: “Giáo dục đội tiên phong của giai cấp vô sản, đội tiền phong này đủ sức nắm chính quyền và dẫn dắt toàn dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, đủ sức lãnh đạo và tổ chức một chế độ mới, đủ sức làm thầy, làm người dẫn đường, làm lãnh tụ của tất cả những người lao động”. Trong đó, chất lượng đội ngũ đảng viên là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh của Đảng, vì vậy, V.I. Lê-nin yêu cầu các chi bộ “thông qua công tác muôn hình, muôn vẻ đó mà rèn luyện bản thân mình, rèn luyện đảng, giai cấp, quần chúng một cách có hệ thống”; qua lao động, thực tiễn đấu tranh cách mạng mà thử thách đảng viên để nâng cao uy tín của Đảng, tạo sự gắn bó, tin tưởng của nhân dân với Đảng. Trong bài viết Nhà nước của công nhân và Tuần lễ Đảng, V.I. Lê-nin cho rằng, cần “quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảng viên, đến việc thanh trừ “bọn luồn lọt vào Đảng” ra khỏi hàng ngũ mình, chứ không phải là quan tâm làm tăng thêm số lượng đảng viên”.

Thứ ba, bảo đảm tính đảng của tổ chức cơ sở đảng. Tính đảng được hiểu là sự thừa nhận một cách tự nguyện và trung thành tuyệt đối với nền tảng tư tưởng, mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà Đảng đã lựa chọn; tuân thủ một cách nghiêm ngặt tính tổ chức, tính kỷ luật của Đảng; là những chuẩn mực giữa lời nói và hành động trong các hoạt động xã hội. Trong bài viết Về việc phá hoại sự thống nhất, che đậy bằng những lời kêu gào thống nhất, V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Ở nơi nào mà đa số công nhân giác ngộ đoàn kết xung quanh những nghị quyết rõ ràng và chính xác, thì ở đó có sự nhất trí về tư tưởng và hành động, ở đó có tính đảng và đảng”. Tổ chức cơ sở đảng và từng đảng viên phải nhận thức sâu sắc nghị quyết, thấm nhuần tư tưởng của Đảng, bền bỉ phấn đấu, đặt lợi ích của Đảng, nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.

Thứ tư, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức đảng ở cơ sở. Theo V.I. Lê-nin, tập trung dân chủ nghĩa là kết hợp lãnh đạo, quản lý tập trung với tinh thần tích cực sáng tạo của quần chúng. Trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng xã hội mới ở nước Nga, V.I. Lê-nin luôn nhất quán quan điểm: “Chế độ tập trung dân chủ, một mặt, thật khác xa chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa, và, mặt khác, thật khác xa chủ nghĩa vô chính phủ”. Nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ là phương pháp và tác phong công tác của chính đảng vô sản cầm quyền, mà trước hết chính là nguyên tắc tổ chức của Đảng. Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự kết hợp hữu cơ giữa hai mặt dân chủ và tập trung; tập trung và dân chủ vừa đối lập nhau, vừa liên kết với nhau, mặt này là tiền đề, điều kiện cho mặt kia và ngược lại. Tập trung và dân chủ kết hợp với nhau tạo thành một chỉnh thể không thể thiếu của nguyên tắc tổ chức đảng vô sản, trong đó dân chủ là cơ sở của tập trung, còn tập trung là điều kiện để bảo đảm cho dân chủ được thực hiện. Phủ định hay loại trừ bất cứ mặt nào đều vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ.

HAIVAN

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay

 

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế bầu cử phù hợp với sự phát  triển của thực tiễn. 

Hoàn thiện quy định và lộ trình, bảo đảm tốt nhất điều kiện về nắm bắt  thông tin, nâng cao ý thức trách nhiệm về quyền làm chủ của nhân dân; lấy ý kiến cử tri về các ứng viên tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp trong quá trình bầu cử. 

Kết hợp chặt chẽ giữa định hướng chính trị, cơ cấu về tỷ lệ đại biểu với  quyền tự ứng cử, quyền đề cử của công dân; nâng cao số lượng cử tri tự ứng cử để phát huy tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân. 

Tiếp tục nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong quá trình tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu ứng cử viên và giám sát hoạt động bầu cử, bảo  đảm dân chủ và đúng luật định; khắc phục mọi biểu hiện hình thức, xem xét tiêu chuẩn, lai lịch chính trị, uy tín của ứng viên chưa chặt chẽ; bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong lựa chọn, giới thiệu được những đại biểu thật sự ưu tú tham gia vào các cơ quan quyền lực nhà nước. 

Tạo điều kiện thuận lợi nhất để các ứng viên tham gia vận động, tiếp xúc cử tri, trình bày kế hoạch hành động sau khi trúng cử; phát huy vai trò của phương tiện thông tin, truyền thông về nhiệm vụ bầu cử, qua đó, cử tri ở từng địa bàn sẽ trực tiếp nắm được thông tin về năng lực, trình độ, phẩm chất, uy tín của các ứng viên, từ đó lựa chọn được những đại biểu ưu tú. 

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền bất tín nhiệm đại biểu của nhân dân.

Vấn đề bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân được quy định ở Điều 7 của Hiến pháp năm 2013, Điều 40 của Luật Tổ chức Quốc hội 2014 và Điều 41 của Nội quy kỳ họp Quốc hội ban hành kèm theo Nghị quyết số 102/2015/QH13, ngày 24-11-2015, theo đó, việc bảo đảm quyền bãi miễn của nhân dân đã được thực thi gián tiếp thông qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội, trong thời gian tới, tiếp tục hoàn thiện cơ chế để nhân dân tham gia có hiệu quả hơn vào việc bãi miễn đại biểu không xứng đáng. 

Thứ ba, bổ sung các chế định pháp lý để phát huy quyền làm chủ của nhân  dân trong tham gia quản lý Nhà nước và xã hội. 

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý Nhà nước và xã hội là cách thức kiểm soát quyền lực nhà nước hoàn toàn phù hợp với tình hình hiện nay. Thông qua việc góp ý, phê bình, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của nhân dân sẽ ngăn ngừa được tình trạng lạm dụng quyền lực mưu lợi cá nhân của một bộ phận cán bộ, công chức. Các quyền này đã được chế định ở quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội... Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức; động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế; góp phần quản lý xã hội thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã  hội - nghề nghiệp, các hoạt động tự quản cộng đồng”.

HAIVAN

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước

 

Với cương vị là người đứng đầu Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong 24 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người khai sinh ra nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, mà còn là người thầy vĩ đại trong việc phát huy vai trò của nhân dân - chủ thể cao nhất, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được thực thi theo đúng tính chất quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân. Đến nay, việc phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền, người dân về kiểm soát quyền lực nhà nước, cũng như cơ chế phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước có lúc, có nơi vẫn còn bất cập. Do đó, việc nghiên cứu, vận dụng các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước là vấn đề cấp thiết, nhằm tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay. 

Kiểm soát quyền lực nhà nước được bàn đến với nhiều định nghĩa khác nhau, song theo nghĩa chung nhất, đó là một hệ thống cơ chế, thể chế được thực hiện bởi nhà nước và xã hội nhằm xem xét, giám sát, phát hiện, bảo đảm cho việc thực thi quyền lực nhà nước đúng mục đích, có hiệu quả.

Theo C. Mác và Ph. Ăng-ghen, trong xã hội có giai cấp đối kháng, quyền lực nhà nước nằm trong tay giai cấp thống trị; nếu chế độ nhà nước đó bị đập tan thì quyền lực nhà nước trở về tay nhân dân như chính cội nguồn ban đầu của nó, nhân dân là gốc, là chủ thể của quyền lực. Kế thừa và phát triển quan điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin khẳng định, kiểm soát quyền lực nhà nước là một trong những chức năng lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, V.I. Lê-nin cho rằng, nhân dân là chủ thể kiểm soát nên cần phải hết sức coi trọng và phát huy vai trò nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước. Người yêu cầu tổ chức cho toàn dân tham gia kiểm tra và kiểm soát hoạt động của nhà nước, “tổ chức việc kiểm tra và kiểm soát từ dưới lên, một cách dân chủ, do chính nhân dân, các hội liên hiệp của nhân viên, của công nhân và của những người tiêu dùng, v.v., thi hành”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cách mạng Việt Nam, đưa sự nghiệp đấu tranh của nhân dân ta đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác. Những quan điểm về kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua vai trò nhân dân được Người vận dụng, phát triển, gồm một số nội dung chính sau:

Thứ nhất, nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước bằng cách giám sát, phê  bình, giúp đỡ Chính phủ. 

Đề cao vai trò của nhân dân là quan điểm nhất quán, xuyên suốt sự nghiệp  cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi Người quan niệm, phải tổ chức sự kiểm soát quyền lực của nhà nước, mà muốn kiểm soát tốt thì phải có quần chúng giúp mới được. Người cho rằng, những người lãnh đạo chỉ trông thấy một mặt của công việc, của sự thay đổi theo cách từ trên xuống, nên bị hạn chế. Dân chúng trông thấy công việc, sự thay đổi của mọi người, trông thấy vấn đề theo cách từ dưới lên và cũng có hạn chế. Cho nên, Người lưu ý, muốn giải quyết vấn đề cho đúng, thì tất yếu phải hợp kinh nghiệm cả hai bên lại. Tại kỳ họp Hội đồng Chính phủ cuối năm 1966, Người đã nêu lên thực trạng tại một số nơi, ở cấp cơ sở, có những cán bộ phụ trách, do rơi vào chủ nghĩa cá nhân, thiếu tinh thần phục vụ nhân dân, đã làm những điều đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Do vậy, Người luôn nhất quán khẳng định, chúng ta phải tin ở sự phê bình, kiểm soát của nhân dân. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), Người viết: “Để cho dân chúng phê bình cán bộ, dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng. Đồng thời, do sự dùi mài của dân chúng, cán bộ và dân chúng đều tiến bộ, lại do đó, cán bộ và dân chúng đoàn kết chặt chẽ thêm”. Người luôn mong muốn nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc việc kiểm tra, kiểm soát nhà nước: “Chính phủ ta là Chính  phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm trọn nhiệm vụ của mình là: người đày tớ trung thành tận tụy của nhân dân”.  

Thứ hai, nhân dân kiểm soát quyền lực bằng quyền bầu cử, bất tín nhiệm và quyền khiếu tố với đại biểu do mình cử ra. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ở quần chúng, khai hội, phê bình và bày tỏ ý kiến, bầu cử các ủy ban, các hội đồng, v.v.; đó là những cách quần chúng kiểm soát những người lãnh đạo”. Vậy nên, sau khi nước nhà giành được độc lập, Người đã chủ động đề xuất với Chính phủ tổ chức Tổng tuyển cử trong cả nước. Theo Người, tổ chức Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có đức, có tài, để gánh vác công việc nước nhà... Cũng từ Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội - cơ quan  đại biểu cao nhất của nhân dân. Khi Quốc hội ra đời, sẽ cử ra Chính phủ và Chính phủ do nhân dân cử ra chính là Chính phủ của toàn dân.  

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bầu cử là quyền và nghĩa vụ cơ bản của nhân dân trong chế độ mới. Điều này được Người khẳng định ở Đại hội nhân dân Thủ đô chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội, ra mắt cử tri ngày 24-4-1960. Trong lời phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, việc lựa chọn những đại biểu như vậy là quyền lợi và cũng là nghĩa vụ của cử tri. Người đề cao giá trị mà lá phiếu cử tri mang lại, bởi nó là một dấu hiệu để khẳng định một sự thật rằng nhân dân đã thật sự làm chủ nước nhà. Trong tác phẩm Thường thức chính trị (năm 1953), Người nhấn mạnh: “Trong các cuộc bầu cử, công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, tôn giáo, mức tài sản, trình độ văn hóa, không phân biệt nòi giống đều có quyền tham gia. Đó là một cách rất hợp lý, để nhân dân lao động thực hành quyền thống trị của mình”. 

Mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, với những đại biểu không xứng  đáng, nhân dân có quyền bất tín nhiệm. Trong bài nói chuyện với các đại biểu thân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa vào đầu năm 1947, Người nêu lên tinh thần xây dựng Chính phủ vì nhân dân phục vụ, rằng nếu Chính phủ đó làm hại dân, thì nhân dân có quyền đuổi Chính phủ. Quan điểm của Người về quyền bất tín nhiệm đã được cụ thể hóa tại Điều thứ 20, Hiến pháp năm 1946: “Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra”. Điều này cũng được Người đề cập trong Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín  nhiệm của nhân dân. Nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại biểu của mình”. 

Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến quyền khiếu tố của nhân  dân, coi đây cũng là cách thức để nhân dân tham gia trực tiếp vào việc kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong Thư gửi đồng bào Liên khu IV (năm 1950), Người viết: “Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm. Khắp  nơi có đoàn thể nhân dân, như Hội đồng nhân dân, Mặt trận, Công đoàn, Hội Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, v.v.. Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với Chính phủ. Khi ai có điều gì oan ức, thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền  ấy”.

Thứ ba, nhân dân kiểm soát quyền lực thông qua xây dựng thể chế dân chủ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chế độ của ta là chế độ dân chủ, vì nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ, còn Chính phủ là đày tớ của nhân dân... Theo đó, mọi công việc của Chính phủ từ việc to, việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Người đề xuất “xây dựng hiến pháp dân chủ” để thể chế hóa quyền và nghĩa vụ của nhân dân. Lời nói đầu Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của dân tộc - được Quốc hội khóa I thông qua ngày 9-11-1946, là thành quả kết tinh trí tuệ của Ban dự thảo do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban, đã nêu rõ, nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và xây dựng nước nhà trên nền tảng dân chủ. Điều thứ 1, Hiến pháp năm 1946 còn ghi nhận quyền lực nhà nước cao nhất thuộc về nhân dân: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. 

Đánh giá về vai trò của Hiến pháp năm 1946 trong thể chế hóa chế độ dân chủ ở Việt Nam, Người khẳng định: “Chế độ do Hiến pháp năm 1946 xác nhận đã đảm bảo độc lập dân tộc và một nền dân chủ rộng rãi của nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến việc xây dựng thể chế dân chủ nhằm huy động vai trò của nhân dân tham gia quản lý nhà nước. Trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I, ngày 18-12-1959, Người nêu rõ: “Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà nước, ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”. 

HAIVAN

Giải pháp phát huy vai trò giám sát công tác tổ chức, cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong thời gian tới

 

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy để phát huy vai trò giám sát của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Trong đó, MTTQ Việt Nam sớm hoàn thiện Đề án trình Ban Bí thư ban hành Chỉ thị về tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng đối với công tác giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong thời gian tới. Đây là văn bản quan trọng để lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy các cấp tăng cường hoạt động giám sát nói chung và giám sát công tác tổ chức, cán bộ nói riêng của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực sự hiệu quả.

Thứ hai, MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần chủ động nghiên cứu kỹ các văn bản của Đảng, quy định của Nhà nước để từ đó đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cơ chế giám sát của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong tình hình mới. Giám sát công tác tổ chức, cán bộ là việc khó; vì vậy, đòi hỏi hệ thống pháp luật phải quy định toàn diện, đầy đủ, cụ thể và rõ ràng các vấn đề liên quan. Yêu cầu này tạo cơ sở pháp lý không chỉ cho hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, mà còn là cơ sở để các cơ quan, tổ chức, nhất là những đối tượng chịu sự giám sát phải thực hiện nghiêm.

Thứ ba, tăng cường sự phối hợp giữa MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên, các cơ quan, tổ chức khác trong thực hiện giám sát công tác tổ chức, cán bộ. Hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam chỉ có thể phát huy hiệu quả tốt khi có sự phối hợp và thực hiện một cách đồng bộ với các hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm sát của các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Vì vậy, cần tăng cường kết hợp giữa hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên với hoạt động thanh tra của các cơ quan nhà nước, hoạt động kiểm tra của Đảng và hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND các cấp... Như vậy, sẽ góp phần làm cho hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam ngày càng hiệu quả, huy động được các cơ quan, tổ chức và nhân dân tham gia, sẽ tạo sức mạnh trong giám sát.

Thứ tư, việc giám sát công tác tổ chức, cán bộ và giám sát đối với cán bộ, đảng viên phải được thực hiện thường xuyên; cần sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm việc triển khai các hoạt động giám sát công tác tổ chức cán bộ trong thời gian qua để lựa chọn những nội dung giám sát sao cho sát - đúng, có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với điều kiện thực tế của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thứ năm, để thực hiện tốt việc giám sát công tác cán bộ, MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần thu hút và sử dụng được những người thực sự có đức, có tài, có bản lĩnh, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong hoạt động giám sát. Tăng cường các biện pháp nâng cao trình độ đội ngũ lãnh đạo mặt trận các cấp, có chính sách quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và thu hút cán bộ có năng lực, trình độ, phẩm chất, đạo đức để thực hiện giám sát. Tập hợp, phát huy tối đa tiềm năng to lớn của các tổ chức thành viên và các cá nhân tiêu biểu, các nhân sĩ, trí thức, các nhà khoa học, các hội đồng tư vấn để họ cùng tham gia các hoạt động giám sát, giúp nâng cao chất lượng giám sát nói chung và giám sát công tác tổ chức cán bộ nói riêng của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Đối với các địa phương, cần quan tâm đẩy mạnh công tác tập huấn, trao đổi kinh nghiệm về phương pháp, cách làm hiệu quả, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về giám sát của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; các cán bộ làm công tác mặt trận ở cơ sở cần được trang bị tốt kiến thức về chính sách, pháp luật để thực hiện giám sát có hiệu quả.

HAIVAN

Đưa nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”

 

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Đồng thời, trong tầm nhìn định hướng phát triển của đất nước mà Đại hội XIII khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng của và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”.

Như vậy, Đảng ta yêu cầu phải “kiên trì thực hiện” phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và đến nay bổ sung  tiêu chí “dân dám sát”, “dân thụ hưởng”. Phương châm này là thể hiện tư tưởng dân chủ trong thể chế nhà nước “của dân, do dân, vì dân” và được phân chia bằng “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đã 35 năm kể từ khi Đảng ta đề ra và thực hiện đường lối đổi mới, trong đó đề ra khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tiếp đó là 25 năm (kể từ năm 1996) từ khi “khẩu hiệu” được gọi là “phương châm” và 23 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với 3 nghị định của Chính phủ 1 Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2007). Việc cụ thể hóa phương châm của Đảng bằng Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các Nghị định của Chính phủ đã tăng cường, mở rộng quyền làm chủ của người dân, nhất là ở cấp cơ sở thông qua các quy định, quy chế, hương ước cộng đồng… góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng tổ chức đảng cấp chính quyền, hệ thống chính trị ở cơ sở, nổi bật và hiệu quả nhất là việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Người dân ở địa bàn này “được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, được giám sát, được thụ hưởng” những chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp đầu tư cộng đồng, xây dựng nông thôn mới và những thành quả do mình đầu tư, bỏ công sức. Tuy nhiên, cho đến nay, do nhiều nguyên nhân, ở nhiều nơi, trong đó có cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dân chủ vẫn còn hình thức, quần chúng, người dân chưa được biết, được bàn, được kiểm tra, giám sát và chưa được thụ hưởng những chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, chưa được thụ hưởng những thành quả lao động, đóng góp về đất đai, tài nguyên thiên nhiên nơi địa bàn họ sinh sống, thậm chí họ còn hứng chịu những hậu quả do quá trình phát triển sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, ô nhiễm môi trường, lãng phí tài nguyên đất, nước, tiếng ồn… gây ra. Một trong những nguyên nhân chính làm hạn chế các quyền dân chủ của người dân, gây nên nỗi bức xúc xã hội, mâu thuẫn ở khu dân cư là do nhiều nội dung trong phương châm của Đảng chưa được cụ thể hóa, thể chế hóa, các quy chế, quy định, nghị định, quyết định của các cấp có thẩm quyền thực hiện chưa nghiêm; cán bộ, đảng viên, trong đó có lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu… chưa gương mẫu thực hiện các quy định, quyết định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Do vậy, với những đường lối, nghị quyết, quan điểm chỉ đạo, giải pháp… mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, xin đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục thể chế, cụ thể hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong quá trình thực hiện, đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Theo đó, tập trung một số giải giáp chính sau đây:

Thứ nhất, đặt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng như vị trí, vai trò của người dân trong tổng thể các quan điểm, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch, giải pháp… mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm 35 năm thực hiện, cụ thể hóa 4 tiêu chí (biết, bàn, làm, kiểm tra) nghiên cứu, quán triệt sâu sắc các tiêu chí, nhất là 2 tiêu chí (giám sát, thụ hưởng) trong tình hình nền dân chủ ngày càng mở rộng, phát triển, nhất là hình thức dân chủ trực tiếp của người dân.  

Thứ hai, các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, các ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cán bộ, đảng viên cần nghiên cứu, học tập, quán triệt lại các tiêu chí trong phương châm của Đảng để vận dụng vào cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương mình cho phù hợp. Không phải chỉ nghiên cứu nội hàm của tiêu chí mới được bổ sung - dân giám sát, dân thụ hưởng - mà cả nội hàm của tất cả 6 tiêu chí trong phương châm của Đảng. Bởi nội hàm các tiêu chí đó ngày càng mở rộng, phát triển, phong phú và phức tạp hơn trước đổi mới, biến chuyển của xã hội, đất nước. Chẳng hạn, tiêu chí “dân biết” hiện nay khác rất xa “dân biết” cách đây 20 hay 35 năm. Cũng như vậy, tiêu chí “dân kiểm tra, dân giám sát” có sự bổ trợ, liên quan với nhau và “dân thụ hưởng” có những nội hàm mới vì từ trước đến nay nói chung và về cơ bản dân ta đã được hưởng những thành quả của sự nghiệp đổi mới mà họ tham gia đóng góp.

Thứ ba, đối với cơ quan lập pháp là Ủy ban Thường vụ Quốc hội nói riêng, Quốc hội khóa XV nói chung, trong quá trình nghiên cứu, học tập, xây dựng chương trình hành động cần có nội dung xây dựng Luật, pháp lệnh liên quan đến việc vận dụng, cụ thể hóa phương châm của Đảng về “Dân” mà Đại hội XIII vừa đề ra.

Thứ tư, đối với Chính phủ, qua 23 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở, bên cạnh những thành tích, chuyển biến tích cực, các nghị định này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Chẳng hạn việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở loại hình cơ quan ở nhiều nơi, nhiều lúc còn hình thức, kém hiệu quả. Quy chế thực hiện dân chủ ở các doanh nghiệp nhà nước hiện nay có nhiều bất cập bởi hầu hết các doanh nghiệp nhà nước đã chuyển đổi thành công ty cổ phần, liên doanh, liên kết. Các đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập ngày càng phát triển và hoạt động rất rộng rãi, phức tạp cũng cần xây dựng, bổ sung Quy chế dân chủ, pháp lệnh hoặc luật về dân chủ cơ sở... Do đó, dù Quốc hội có nâng cấp từ Pháp lệnh thành Luật về thực hiện dân chủ ở xã hay xây dựng bộ luật về dân chủ nói chung, thì Chính phủ cùng cần xem xét, bổ sung, sửa đổi các nghị định về xây dựng và thực hiện các loại hình cơ sở còn lại.

Thứ năm, khi Đảng ta là đảng cầm quyền, thể chế của dân, do dân, vì dân ngày càng khẳng định và mở rộng, người dân sống và làm việc theo pháp luật… thì mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng phải được thể chế hóa thông qua chính sách, pháp luật của Nhà nước, công tác dân vận của các cấp chính quyền, của các cơ quan nhà nước, sự gương mẫu của cán bộ, công chức, viên chức là cực kỳ quan trọng. Công tác dân vận của chính quyền các cấp chính quyền trước hết là các chế độ, chính sách phải vì lợi ích, nguyện vọng của người dân; người dân hài lòng về hiệu quả công việc, thái độ, chất lượng phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Cán bộ lãnh đạo các cấp chính quyền, nhất là người đứng đầu thực hiện tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của dân... Tất cả những nội dung trên phải được lượng hóa bằng các tiêu chí cụ thể và có các giải pháp khoa học, công tâm, khách quan để “đo” sự hài lòng của người dân.

Thứ sáu, đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, có vai trò quyết định trong việc thể chế hóa phương châm của Đảng thành hiện thực cuộc sống.

“Đảng ta thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ”, trong khi đó “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (3), "Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém" (4), do đó suy đến cùng, các cấp ủy, tổ chức đảng là người chịu trách nhiệm trước hết và cao nhất trong việc cụ thể hóa, đưa phương châm của Đảng vào cuộc sống.

Quyết  định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” và Quyết định 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị ban hành “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, việc thực hiện còn chưa được như mong muốn, người dân ở nhiều nơi chưa được trực tiếp tham gia giám sát, phản biện, góp ý xây dựng tổ chức đảng, xây dựng chính quyền, phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực cán bộ, đảng viên, gia đình, họ hàng, người thân cả ở nơi công tác và nơi cư trú. Rất cần thể chế hóa bằng Luật, pháp lệnh của Nhà nước bảo đảm dân chủ thực chất, hiệu quả hơn.   

Một số quy chế, quy định, quyết định, chỉ thị... của của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Trung ương Đảng liên quan mối quan hệ giữa Đảng - Dân ban hành đã lâu hoặc cũng chưa được thể chế hóa chặt chẽ, nghiêm ngặt, dựa vào sự tự giác của tập thể, cá nhân nên hiệu lực, hiệu quả chưa cao, cần được rà soát, rút kinh nghiệm, thể chế hóa, bảo đảm thực hiện nghiêm minh, thực chất, hiệu quả: Quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định về người đứng đầu cấp ủy tiếp và đối thoại với dân; Quy định những điều đảng viên không được làm; Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân; Quy định đảng viên sinh hoạt hai chiều...

Riêng một vấn đề rất then chốt của các tổ chức, cấp ủy đảng và cũng là vấn đề được quần chúng nhân dân quan tâm theo dõi là vấn đề nhân sự của các cấp ủy, các cấp chính quyền, Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị… vẫn là “điểm nghẽn”. Nhiều ý kiến nói “người dân biết rất rõ về cán bộ”, nhưng cũng có xu hướng cho rằng, sự đánh giá về cán bộ, đảng viên của người dân không phải lúc nào cũng chính xác. Có một nguyên nhân chính là do người dân chưa “được biết”. Nhưng nếu công khai, minh bạch công tác nhân sự của các cấp ủy, tổ chức đảng cho người “được biết”, “được bàn” “được kiểm tra”, “được giám sát”...sẽ là một kênh rất quan trọng trong công tác cán bộ nói chung và nhân sự của các cấp ủy nói riêng. 

HAIVAN 

Dâng hiến, hy sinh - giá trị nổi bật làm nên vẻ đẹp nhân văn Hồ Chí Minh

 

Nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu trong cuộc đời, lối sống, nhân cách của Người, nổi bật là sự giản dị, đức hy sinh, hy sinh cả cuộc sống riêng tư để lo cho hạnh phúc của toàn dân tộc, của nhân dân. Trả lời nhà báo Cuba là nữ đồng chí Mácta Rôhát, vào lúc cuối đời, Người nói “Tôi hiến đời tôi cho dân tộc tôi”. Người đã thực hiện điều cao cả, thiêng liêng ấy trong suốt cuộc đời. “Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi”, vì miền Nam chưa được giải phóng mà Người không một bữa ăn ngon, không một giấc ngủ yên. Mỗi chiến sĩ hy sinh, mỗi người phải đổ máu là Người như đứt từng khúc ruột. Người không có gia đình riêng, không có vợ con, không có tài sản riêng, một đời tiết kiệm đến mức khắc khổ để nêu gương và để lo cho dân. Nam nữ thanh niên nước ta là con cháu của Người. Các bậc phụ lão là bạn bè thân thiết của Người. Phụ nữ nước ta là chị em của Người. Đó là lời nói chân thật tự trái tim Người. Chất nhân văn từ tư tưởng đến hành động của Hồ Chí Minh là một mẫu mực của văn hóa làm người và ở đời, một hình mẫu toàn vẹn, trọn vẹn của sự dấn thân, hy sinh, hóa thân vào dân vào nước.

Qua cuộc đời Hồ Chí Minh, một CON NGƯỜI viết hoa (như lời đại văn hào Nga M.Gorky) chân-thiện-mỹ đã hiện ra, bằng xương bằng thịt, giản dị mà vĩ đại, là sự sống, niềm tin, là tình yêu và hy vọng, là khát vọng mà cũng là hiện thực của con người trong cuộc đời này. Đó là một đời dấn thân tranh đấu và dâng hiến cho dân, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Nhân văn Hồ Chí Minh biểu hiện ra vô cùng xúc động, có sức lay động tâm can muôn triệu người, có sức tỏa sáng muôn triệu tâm hồn người, khi ta nhắc lại những lời Người nói tự trái tim với đồng bào, đồng chí, bạn bè xung quanh Người.

Ấy là lời cảm tạ đồng bào chúc thọ Người dịp sinh nhật. Người nói “Từ trước đến giờ tôi đã là người của đồng bào thì từ giờ về sau và mãi mãi tôi vẫn thuộc về đồng bào”.

Ấy là tâm sự từ nỗi lòng Người với đồng bào cả nước, với miền Nam đi trước về sau: “Mỗi người, mỗi gia đình có một nỗi đau khổ riêng. Gộp tất cả nỗi khổ đau đó lại là nỗi khổ đau của bản thân tôi”.

Ấy là Người trả lời nhà báo nước ngoài về mối liên hệ giữa Người với nhân dân: “Hồ Chí Minh là một phần không tách rời của nhân dân ông. Ông suy nghĩ những gì mà nhân dân ông nghĩ. Ông hành động những gì mà nhân dân của ông hành động”.

Như vậy, lịch sử là sự thật và sự thật là lịch sử. Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam mãi mãi tự hào và biết ơn Hồ Chí Minh. Tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh kết tinh trong các bảo vật quốc gia - 5 tác phẩm để đời của Người là hành trang của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế, vững bước trên con đường lớn của lịch sử đi tới tương lai tươi sáng-đường Hồ Chí Minh. Đó không chỉ là quốc bảo mà còn là pháp bảo của chúng ta.

Đúng như nữ Giáo sư Sử học Mỹ, bà Josephine Stenson đã nói: “Hồ Chí Minh một nhân cách lớn của thời đại”. Sự thật ấy trở thành giá trị thiêng liêng, là động lực mãnh liệt để chúng ta tin tưởng và hành động cho xứng đáng với Hồ Chí Minh, với dân tộc và nhân loại.

Những giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm chứng, kiểm nghiệm qua thời gian như ngọc càng mài càng sáng.

Thế nên, những kẻ xuyên tạc hòng làm lu mờ ánh sáng, nguồn sáng Hồ Chí Minh chỉ càng lộ nguyên hình tâm địa đen tối, mờ ám trước ánh sáng của sự thật, chân lý và đạo lý mà Hồ Chí Minh luôn luôn là biểu tượng rực rỡ. Những sự xuyên tạc thâm độc và bỉ ổi mà các thế lực phản động, chống đối Việt Nam nhằm vào Hồ Chí Minh không bao giờ có thể lung lạc được niềm tin và tình yêu sâu sắc của một trăm triệu trái tim Việt đối với Hồ Chí Minh-hình ảnh, tinh hoa và khí phách của dân tộc Việt Nam.

HAIVAN

Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần làm phong phú lý luận Mác-Lê nin

 

Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lèo lái dư luận rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với phương Tây còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam”; “bây giờ Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin”(!).

Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin vô hình trung đã phủ định nguồn gốc hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội lần thứ IX năm 2001 và Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”.

Sự khẳng định đó đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và phẩm chất, nhân cách của Người, cùng với truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là Chủ nghĩa Mác-Lênin mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa này vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên lập trường của cách mạng vô sản. Cho nên “không thể nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạ thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin”.

Đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bản thân các nhà kinh điển mác-xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản, nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới, qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

HAIVAN

BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

 

Hơn ai hết và trước hết, Hồ Chí Minh chính là người cộng sản chân chính. Chính Người cũng đã góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú hơn quan điểm về dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những nội hàm mới. Do đó, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Trên hành trình tìm đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa triệt để tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là vận dụng sáng tạo, bổ sung và làm phong phú thêm học thuyết Mác - Lênin “bằng dân tộc học phương Đông”. Từ trong bản chất của sự phát triển, tất cả các học thuyết chính trị nói chung mà học thuyết Mác - Lênin nói riêng đều rất cần đến sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Chính bản thân Hồ Chí Minh là người đã chứng kiến sự vận động không ngừng của cách mạng thế giới những năm đầu thế kỷ XX nên Người đã bổ sung vấn đề dân tộc thuộc địa - điều mà V.I.Lênin, đặc biệt là C.Mác và Ph.Ăngghen chưa thể hoặc chưa có điều kiện đề cập một cách sâu sắc.

Khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh nhận thấy: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Và “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”, “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”. Việc bổ sung vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông - nơi mà có nhiều nước bị lệ thuộc và trở thành thuộc địa của các nước tư bản phương Tây đã làm cho vấn đề dân tộc trở nên phong phú hơn, đầy đủ hơn, toàn diện hơn. Đó là biểu hiện rõ ràng của tinh thần dân tộc vô sản, đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và lệ thuộc.

Tháng 7/1920, sau gần 10 năm bôn ba tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã bắt gặp bản “Sơ thảo Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin. Những tư tưởng về dân tộc, thuộc địa của V.I.Lênin như một ngọn đuốc soi đường cho Nguyễn Ái Quốc trên hành trình tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hướng sự nghiệp giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Điều đó giúp cho Nguyễn Ái Quốc ngày càng mạnh dạn nói lên tiếng nói của mình tại các diễn đàn quan trọng để lên tiếng ủng hộ phong trào cách mạng ở các dân tộc thuộc địa.

Khi vận dụng nội dung Luận cương của V.I.Lênin vào thực tiễn cách mạng ở thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy: “Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim của bọn áp bức;... Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”. Đó là cơ sở để cách mạng vô sản ở các dân tộc thuộc địa có tính độc lập, chủ động không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, nó có thể nổ ra và thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc tiến lên. Đánh giá về sự bổ sung, vận dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với quan điểm của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Luận điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ,... Nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con người mà cống hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại”.

Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy rằng, cách mạng vô sản và độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển của dân tộc Việt Nam. Bởi lẽ, con đường này chẳng những giải phóng hoàn toàn dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa đế quốc, mà còn giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi mọi sự áp bức bóc lột, đi đến ấm no, hạnh phúc thực sự. Sự lựa chọn này vừa đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của nhân loại và thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đã được mở ra, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Với quan điểm độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, “Hồ Chí Minh là người tiên phong trong việc củng cố và bổ sung chủ nghĩa Mác - Lênin”./.

HAIVAN

CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CHÂN CHÍNH TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa dân tộc - thứ chủ nghĩa dân tộc sô-vanh nước lớn, bành trướng hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, vị kỷ như các thế lực thù địch thường rêu rao, quy chụp. Có chăng, Hồ Chí Minh chính là người theo chủ nghĩa dân tộc vô sản, không chỉ suốt đời đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc mình mà còn vì sự nghiệp cách mạng chung của các dân tộc bị áp bức, lệ thuộc trên thế giới.

Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc chân chính, mang bản chất của giai cấp vô sản. Từ năm 1924 , trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, tại mục D “Chủ nghĩa dân tộc”, Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đề cập và khẳng định vai trò của chủ nghĩa dân tộc chân chính: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người cu li biết phản đối; nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917…”. Đây là chủ nghĩa dân tộc chân chính vì nó khơi dậy lòng yêu nước, trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc và trở thành động lực để các tầng lớp nhân nhân đứng lên đấu tranh chống lại những áp bức, bất công. Đây cũng chính là động lực to lớn để chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc lên tiếng đấu tranh ở nhiều diễn đàn quốc tế khác nhau nhằm đòi quyền lợi chính đáng cho dân tộc Việt Nam.

Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định một sự thật không thể xuyên tạc được, đó là: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Ở nước ta và ở Trung Quốc cũng vậy, có câu chuyện đời xưa về cái “cẩm nang” đầy phép lạ thần tình. Khi người ta gặp những khó khăn lớn, người ta mở cẩm nang ra, thì thấy ngay cách giải quyết. Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Lập luận trên của Hồ Chí Minh vừa cho thấy hành trình Người đến với chủ nghĩa Lênin, vừa khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Do đó, luận điệu cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn sai lầm, quy chụp.

Không chỉ vậy, bản thân Hồ Chí Minh cũng là người luôn đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mát-xcơ-va họp từ ngày 14 đến 16/11/957, không ai khác và hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản. Vì vậy, Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sôvanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”. Do đó, những kẻ cơ hội cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin là nhằm “hạ bệ thần tượng”, chia rẽ phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Khi cho rằng “Hồ Chí Minh thực chất là người dân tộc chủ nghĩa” là một cách diễn đạt thiếu chính xác, không đầy đủ. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Với cách diễn đạt ấy đã tước bỏ tính đảng và lập trường cách mạng chân chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người. Đúng như V.I.Lênin đã từng cảnh báo: “Chừng nào người ta chưa phân biệt được lợi ích của các giai cấp này hay giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”. Do đó, chúng ta cần phải tỉnh táo trước những luận điệu cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh hay tinh vi hơn là lấy danh nghĩa đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lênin để đối lập, tách dời từng mảng trong nền tảng tư tưởng của Đảng.

HAIVAN

“CHỦ NGHĨA DÂN TỘC” VÀ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Theo Từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”. Theo đó, chủ nghĩa dân tộc được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như chủ nghĩa sô-vanh nước lớn có tâm lý coi thường các dân tộc khác, tự cho mình quyền “khai hóa văn minh” cho các dân tộc nhỏ hơn hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, có khuynh hướng khép kín, không muốn mở rộng quan hệ với các dân tộc khác. Cả hai khung hướng này của chủ nghĩa dân tộc đều xa lạ với bản chất của giai cấp vô sản - giai cấp đại diện cho chủ nghĩa quốc tế vô sản. Do đó, về bản chất, chủ nghĩa dân tộc là thù địch với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, với thế giới quan mácxít và mâu thuẫn với quá trình khách quan của sự phát triển. Đó là sự xích lại gần nhau của các dân tộc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Là lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, V.I.Lênin luôn phê phán những người cộng sản có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. V.I.Lênin chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh chống những thành kiến dân tộc chủ nghĩa càng có ý nghĩa trọng đại khi vấn đề chuyển nền chuyên chính vô sản từ phạm vi quốc gia (tức là mới tồn tại ở trong một nước và không có khả năng quyết định được chính trị thế giới) thành chuyên chính vô sản trên quy mô quốc tế (tức là chuyên chính vô sản ít nhất cũng ở một số nước tiên tiến và có khả năng tác động quyết định đến toàn bộ chính trị thế giới), ngày càng trở nên bức thiết”. Quan điểm của V.I.Lênin đã cho thấy, những người theo chủ nghĩa cộng sản chân chính không thể có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.

Thế nhưng gần đây, các thế lực thù địch lại rêu rao rằng “thực chất Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa”. Họ cho rằng “chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”; từ đó, quy chụp Hồ Chí Minh “là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản”. Thậm chí, có những kẻ cơ hội chính trị còn cố tình quy chụp rằng trong bộ 15 tập Hồ Chí Minh có 17 lần nhắc đến cụm từ “chủ nghĩa dân tộc” nên cáo buộc rằng “Hồ Chí Minh đích thị là người theo chủ nghĩa dân tộc”!

Từ sự cáo buộc đó, một số phần tử phản động, cơ hội chính trị còn lên tiếng đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng “bây giờ chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam hay “Chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh”. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin!”. Thực chất của luận điệu này là nhằm chia rẽ chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, phá vỡ phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng, gây ra sự xáo trộn trong ý thức hệ của nhân dân.

HAIVAN