Tỉnh Hòa Bình đã hoàn thành tốt cuộc diễn tập phòng thủ dân sự ứng phó thảm họa, thiên tai, động đất ảnh hưởng đến đập hồ thủy điện Hòa Bình.
Đây là lần đầu tiên Hòa Bình tổ chức diễn tập phòng thủ tỉnh với quy mô lớn, nhiều lực lượng, phương tiện tham gia. Cùng với việc nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, ứng phó với các loại hình thiên tai, thảm họa của lực lượng vũ trang, cuộc diễn tập đã nâng cao trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân về công tác phòng thủ dân sự. Báo Quân đội nhân dân giới thiệu một số hình ảnh tại cuộc diễn tập.
Lãnh đạo Cục Cứu hộ cứu nạn (Bộ Tổng Tham mưu) và tỉnh Hòa Bình, kiểm tra việc bảo đảm hậu cần tại khu sơ tán.
Nhanh chóng di chuyển nạn nhân do thảm họa thiên tai về khu điều trị dã chiến.
Khám, phân loại tình trạng người dân bị nạn do thảm họa thiên tai tại khu vực bệnh viện dã chiến.
Thực hành sơ tán nhân dân đến nơi sinh hoạt tập trung bảo đảm an toàn.
Ban Tổ chức trao Bằng khen tặng các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ diễn tập.
Nhận lời mời của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Tổng thống Cộng hòa Kazakhstan Kassym-Jomart Kemelevich Tokayev đã đến Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam từ ngày 20 đến 22-8. Chuyến thăm diễn ra vào dịp kỷ niệm 31 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Kazakhstan (1992-2023).
Là quốc gia có phần lớn diện tích nằm ở Trung Á và một phần nhỏ lãnh thổ nằm ở Đông Âu, Kazakhstan có vị trí thuận lợi trong việc kết nối giữa châu Á và châu Âu. Hiện Kazakhstan đang triển khai nhiều chương trình, sáng kiến như: Nurly Zhol (Con đường sáng); Hợp tác kinh tế khu vực Trung Á (CAREC); Tuyến vận tải quốc tế xuyên Caspi (TITR)... nhằm hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm quá cảnh và logistics tại Trung Á, đặc biệt là trung tâm vận chuyển hàng hóa đường bộ nối liền Trung Quốc với châu Âu. Kazakhstan là nước thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều nhất tại khu vực Trung Á, với lĩnh vực đầu tư chính là khai khoáng, đặc biệt là than đá, dầu mỏ, khí gas.
Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Lê Khánh Hải đón Tổng thống Kazakhstan Kassym-Jomart Tokayev tại Sân bay quốc tế Nội Bài.
Kazakhstan thực hiện đường lối đối ngoại đa phương, cân bằng, phấn đấu nâng cao vị thế ở châu Á; là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như: Liên hợp quốc (LHQ), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), Hội nghị về phối hợp hành động và các biện pháp xây dựng lòng tin ở châu Á (CICA), Đối thoại hợp tác châu Á (ACD), Tổ chức Hiệp ước an ninh tập thể (CSTO)...
Hợp tác kinh tế là một trụ cột quan trọng trong quan hệ Việt Nam-Kazakhstan. Tháng 10-2016, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam với Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU) mà Kazakhstan là thành viên bắt đầu có hiệu lực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, thương mại giữa hai nước. Theo số liệu thống kê, năm 2022, kim ngạch thương mại Việt Nam-Kazakhstan đạt 584 triệu USD. Bốn tháng đầu năm 2023, trao đổi thương mại song phương đạt 124,2 triệu USD, tăng 34,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Kazakhstan có tiềm năng lớn để tăng xuất khẩu sang Việt Nam các loại hàng hóa thuộc các ngành thực phẩm, xây dựng, hóa chất, luyện kim, hóa dầu. Trong khi đó, Việt Nam xuất khẩu sang Kazakhstan chủ yếu các sản phẩm như điện thoại và linh kiện, máy móc, thiết bị, hàng điện tử, nông-hải sản, quần áo, giày dép...
Trong các năm vừa qua, Việt Nam có những bước phát triển kinh tế vượt bậc, trở thành một điểm sáng kinh tế trong khu vực. Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Kazakhstan cũng có nhiều điểm nhấn nổi bật khi Việt Nam là đối tác kinh tế quan trọng nhất của Kazakhstan tại khu vực Đông Nam Á, còn Kazakhstan là đối tác lớn thứ hai của Việt Nam trong EAEU. Hợp tác kinh tế giữa hai nước còn nhiều dư địa để phát triển, nhất là trong các lĩnh vực như du lịch, logistics, nông nghiệp, xây dựng... Hai nước đang nỗ lực thúc đẩy hợp tác kinh tế hướng tới mục tiêu kim ngạch thương mại song phương đạt 1,5 tỷ USD vào năm 2030.
Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 29-6-1992, mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp Việt Nam-Kazakhstan ngày càng được vun đắp và phát triển. Hợp tác chính trị, đối ngoại ngày càng được tăng cường trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội. Trao đổi đoàn cấp cao, tiếp xúc song phương được khôi phục mạnh mẽ sau thời gian dài đại dịch Covid-19. Hai nước phối hợp hành động chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại LHQ và các diễn đàn quốc tế khác; chia sẻ nhiều quan điểm và lập trường chung trong các vấn đề quốc tế. Kazakhstan đã ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, Hội đồng chấp hành UNESCO và Ủy ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể nhiệm kỳ 2022-2026. Việt Nam đã ủng hộ Kazakhstan vào Nhóm Viễn Đông thuộc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA).
Hai bên có tiềm năng hợp tác du lịch lớn, đặc biệt là sau khi mở đường bay thẳng Việt Nam-Kazakhstan từ năm 2022, với tần suất 7 chuyến mỗi tuần. Từ tháng 9-2019, Kazakhstan đã áp dụng quy chế miễn thị thực đơn phương cho công dân Việt Nam trong thời hạn 30 ngày. Hai nước cũng đã ký nhiều hiệp định về hợp tác kinh tế và thương mại, giáo dục, bảo hộ đầu tư, tương trợ tư pháp...
Trên cơ sở phát huy hơn nữa lợi thế của mỗi nước và truyền thống hữu nghị giữa hai bên, có thể khẳng định, trong thời gian tới, quan hệ Việt Nam-Kazakhstan sẽ có bước phát triển mạnh mẽ, hai bên tiếp tục duy trì ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương và tổ chức quốc tế. Chúng ta tin tưởng, chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Kassym-Jomart Kemelevich Tokayev sẽ thành công tốt đẹp, góp phần thúc đẩy hợp tác song phương trong nhiều lĩnh vực tiềm năng.
Nhân lực trong Quân đội đã được xác định là ngành “lao động đặc biệt”. Thế nhưng, do nhiều nguyên nhân mà tiền lương của cán bộ, nhân viên trong Quân đội lại chưa tương xứng với ngành “lao động đặc biệt” ấy.
Cách trả lương sau gần 20 năm vẫn không thay đổi
Tôi nhớ mãi phiên họp của Quốc hội khóa XI cách đây gần 20 năm bàn về cải cách tiền lương. Lúc đó, cả Hội trường Ba Đình như rơi vào khoảng không yên lặng sau lời phát biểu tâm huyết của một đại biểu Quốc hội cao tuổi rằng: "Chẳng có tiền lương nào so sánh được với những hy sinh của bộ đội. Ngay trong thời bình, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cũng sẵn sàng chấp nhận những rủi ro nhất định trong huấn luyện, trong tham gia phòng, chống lụt bão, thiên tai. Bất cứ lực lượng nào trong Quân đội cũng đều phải huấn luyện với chương trình nghiêm túc, gian khổ và khi có chiến tranh thì sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân...".
Phiên họp Quốc hội đó đã thông qua Đề án cải cách tiền lương (Đề án) do Chính phủ trình. Trong đó có quy định “tiền lương và phụ cấp của LLVT phải phản ánh được mức độ phức tạp, tính chất, đặc điểm, nhiệm vụ, trách nhiệm, cống hiến của LLVT là "một ngành lao động đặc biệt", vì vậy có bảng lương riêng và giữ mức ưu đãi so với cán bộ công chức như hiện nay”.
Thực hiện Đề án nói trên, ngày 14-12-2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và LLVT.
Cán bộ Ban CHQS huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An dầm mình bắc cầu tạm qua suối giúp người dân di chuyển đến nơi an toàn trong đợt lũ quét xảy ra tháng 10-2022. Ảnh: NGỌC THĂNG
Sau gần 20 năm, cán bộ Quân đội vẫn đang nhận lương cơ bản theo nghị định nói trên. Theo đó, tiền lương của cán bộ Quân đội được nhận chủ yếu theo cấp bậc quân hàm. Tính lương theo cách nhân tiền lương cơ sở với hệ số lương. Mức lương cơ sở hiện nay là 1,8 triệu đồng/tháng. Hệ số lương của cấp thiếu úy là 4,2; trung úy là 4,6; thượng úy là 5,0; đại úy là 5,4; thiếu tá là 6,0; trung tá là 6,6; thượng tá là 7,3; đại tá là 8,0... Đi kèm với tiền lương theo cấp bậc còn có phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên... nhưng các khoản phụ cấp này không đáng kể. Ví dụ, trung đội trưởng hiện đang hưởng phụ cấp chức vụ với hệ số 0,2. Theo đó, mỗi tháng trung đội trưởng hưởng phụ cấp chức vụ là 360.000 đồng.
Cần sớm thực hiện cải cách chính sách tiền lương
Thực tiễn cho thấy, cách trả lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP đối với cán bộ Quân đội lúc đó là phù hợp nhưng nay đã bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý.
Theo Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội, từ năm 2004 đến nay, chính sách tiền lương đối với sĩ quan Quân đội, Công an mặc dù có nhiều sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn bộc lộ không ít hạn chế, bất cập. Mức phụ cấp lãnh đạo thấp, chưa thể hiện rõ sự đãi ngộ tương xứng với mức độ trách nhiệm của sĩ quan lãnh đạo, chỉ huy ở từng cấp. Bất cập lớn nhất trong chính sách tiền lương đối với Quân đội, Công an là việc lấy quân hàm làm căn cứ chủ yếu để xác định lương và chế độ, chính sách cho sĩ quan, người hưởng lương. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho cơ cấu đội ngũ sĩ quan mất cân đối và mâu thuẫn giữa trách nhiệm và quyền lợi của sĩ quan.
Theo khảo sát của chúng tôi, trong gần 20 năm qua, tiền lương của cán bộ Quân đội được điều chỉnh không tương ứng với mức tăng giá sinh hoạt và mức tăng trưởng chung của nền kinh tế, kém xa mức tăng tiền lương của người lao động trong các doanh nghiệp.
Thực tế tiền lương của sĩ quan cấp úy, giữ chức vụ trung đội trưởng, phó đại đội trưởng, chính trị viên phó đại đội (vừa được tăng lương từ ngày 1-7-2023) sau khi trừ tiền ăn hằng tháng và các khoản đóng, như: Đảng phí, hội phí, quỹ nghĩa tình đồng đội, ủng hộ người nghèo... thì còn rất khiêm tốn. Tôi đã từng chứng kiến nhiều sĩ quan trẻ không dám lấy vợ hoặc hạnh phúc lứa đôi bị ảnh hưởng vì thu nhập thấp, lại ở xa gia đình. Cán bộ tiểu đoàn, đại đội, trung đội ở các đơn vị đủ quân gần như không có ngày nghỉ, giờ nghỉ, vì thế, họ không có thời gian để giao lưu với người khác giới. Trong khi cuộc sống ngoài doanh trại luôn sôi động, các cô gái thời nay rất khó chấp nhận người yêu mà cả năm trời không gặp mặt.
Vì thế, rất cần có chế độ đãi ngộ hợp lý với cán bộ Quân đội, trong đó có chế độ tiền lương.
Được biết, thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21-5-2018, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Ban chỉ đạo cải cách chính sách tiền lương LLVT đã nghiên cứu, đề xuất xây dựng bảng lương mới đối với các đối tượng trong Quân đội theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW. Trong đó, tiền lương của sĩ quan Quân đội sẽ được xây dựng theo chức vụ, chức danh và cấp bậc quân hàm phù hợp với Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được sửa đổi, bổ sung. Bên cạnh đó, các chế độ phụ cấp nói chung cũng được nghiên cứu cải cách cho phù hợp với thực tiễn. Riêng đối với các đối tượng trong Quân đội được thực hiện chế độ phụ cấp đặc thù quân sự và được nghiên cứu điều chỉnh theo hướng mở rộng đối tượng được hưởng, tăng mức hưởng để bảo đảm tương xứng với tính chất, hoạt động đặc thù trong Quân đội.
Mong rằng việc cải cách tiền lương mới này sẽ sớm được thực thi để ngành "lao động đặc biệt" có tiền lương tương xứng.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một thời kỳ lịch sử chuyển tiếp, nhất thiết phải quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, là con đường mới mẻ chưa có nước nào kinh qua. Do đó, cần nghiên cứu thấu đáo và nắm vững những vấn đề có tính quy luật phát triển dựa trên phép biện chứng duy vật, thấu suốt những nguyên tắc, phương pháp luận của nó để chỉ đạo và vận dụng vào thực tiễn đúng hướng.
Với nhận thức về chủ nghĩa xã hội vừa mang tính phổ biến, vừa có tính đặc thù, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng nghiên cứu, tìm tòi mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Trong sự phù hợp với các quy luật phát triển chung, việc nhận thức sâu sắc các mối quan hệ lớn cũng giúp Đảng ta tìm tòi, phát hiện và làm sáng rõ hơn các quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam, thể hiện tập trung ở mô hình chủ nghĩa xã hội riêng có Việt Nam mang những đặc trưng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
Để hiện thực hóa mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cần thực hiện tám phương hướng: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Tám phương hướng trên được vạch ra không phải ngẫu nhiên, duy ý chí, mà từ việc nghiên cứu và nắm rõ những quy luật phát triển khách quan, nên bản thân các phương hướng này đã mang tính quy luật phát triển chung của nhân loại và quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đặc biệt, các phương hướng và đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng liên thông chặt chẽ với mười mối quan hệ lớn. Việc nắm vững các mối quan hệ lớn, nắm vững các quy luật phát triển chung và đặc thù chính là tiền đề, cơ sở phương pháp luận để định hình các đặc trưng và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Điều đó thể hiện rõ khi nhiều nội dung của từng mối quan hệ lớn có liên hệ chặt chẽ, thậm chí chuyển hóa lẫn nhau với nội dung của các đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa hay phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ví dụ: Mối quan hệ lớn giữa “phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa” và giữa “tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường” có quan hệ mật thiết với đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa: “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”, “có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”. Hay các mối quan hệ lớn: “Nhà nước, thị trường và xã hội”; “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”; “thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội” có quan hệ mật thiết với đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa: “Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo” và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”...
Tuy nhiên, có thể thấy, các mối quan hệ lớn hoặc từng mặt của nhiều mối quan hệ lớn hiện nay đã có nội dung rộng hơn các đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên tất yếu cần điều chỉnh, bổ sung các đặc trưng và phương hướng này trong thời gian tới.
Ba là, các mối quan hệ lớn góp phần làm sáng rõ hơn nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trọng trách lãnh đạo, cầm quyền đối với Nhà nước và xã hội của Đảng ta là do lịch sử dân tộc giao phó và được nhân dân thừa nhận. Là chủ thể lãnh đạo và quyết định sự thành bại của toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam, bản thân Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một thực thể quyền lực mạnh, ưu tú về trí tuệ, bản lĩnh, năng lực, đạo đức cầm quyền, xứng đáng với vai trò lãnh đạo của mình. Quá trình nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn giúp Đảng tự khám phá, nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề mang tính bản chất và quy luật về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng: 1- Đảng là đội tiên phong của giai cấp, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc; 2- Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng; 3- Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng; 4- Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân; 5- Đảng là một khối đoàn kết thống nhất, tự phê bình và phê bình là nguyên tắc và quy luật phát triển của Đảng; 6- Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; 7- Gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng, chỉnh đốn cả hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; thường xuyên nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng...
Lịch sử cho thấy, các đảng cộng sản xa rời những nguyên tắc lý luận xây dựng đảng, thì sớm hay muộn, sẽ dần biến chất, thay đổi lập trường chính trị, từ bỏ mục tiêu, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Do đó, việc vận dụng sáng tạo các nguyên tắc lý luận trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta có ý nghĩa rất quan trọng, bảo đảm giữ vững bản chất cách mạng và khoa học của một đảng mác-xít chân chính. Việc nhận thức về các mối quan hệ lớn, nhất là mối quan hệ lớn giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội... giúp Đảng nhận thức sâu sắc hơn về các vấn đề nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, là cơ sở khoa học để Đảng ta không ngừng tự xây dựng, chỉnh đốn, có đủ năng lực, sức chiến đấu để đưa ra những quyết sách chính trị đúng đắn, xử lý kịp thời cục diện phức tạp, giải quyết thỏa đáng các mâu thuẫn lớn và những vấn đề khó khăn, cầm quyền vì dân, cầm quyền khoa học, cầm quyền dân chủ, cầm quyền theo pháp luật, cầm quyền liêm chính để lãnh đạo nhân dân ta vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội...
Bên cạnh những thành tựu, cũng còn một số hạn chế trong nhận thức và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, như những nghiên cứu có hệ thống về chỉnh thể các mối quan hệ lớn, nghiên cứu sâu từng mối quan hệ lớn trong sự bổ sung, cập nhật thường xuyên về nội hàm, những điều chỉnh cho phù hợp với thời cuộc... còn chưa tương xứng với tầm quan trọng của nội dung này; nhiều quy luật phát triển phổ quát của nhân loại, quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng chưa được luận giải rõ, có hệ thống và trong sự liên thông với các mối quan hệ lớn, nhất là do chưa thật sự làm rõ được tính quy luật trong một số mối quan hệ, tính đặc thù và tính phổ biến ở Việt Nam, nên đã ảnh hưởng đến việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cũng như việc ban hành những chính sách cụ thể trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; nghiên cứu các mối quan hệ lớn trong mối quan hệ với các đặc trưng và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội còn khoảng trống; việc hiểu bản chất, vận dụng các mối quan hệ lớn vào giải quyết các vấn đề thực tiễn cụ thể của các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên còn hạn chế...
Một số khuyến nghị tiếp tục nghiên cứu về các mối quan hệ lớn cần nhận thức và giải quyết tốt trong công cuộc đổi mới, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Về tổng thể, việc nhận diện các mối quan hệ lớn hàm chứa những vấn đề có tính quy luật, tồn tại khách quan trong chiều sâu phức hợp sự vận động, biến đổi không ngừng, cùng các mối liên hệ, tác động đa dạng, đa chiều giữa các yếu tố, bộ phận cấu thành, các mặt đối lập vốn có trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, chưa có tiền lệ trong lịch sử, là một bước tiến mới, quan trọng về lý luận chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đến Đại hội XIII của Đảng, các mối quan hệ lớn đã được nhận diện cơ bản toàn diện, bao quát các quy luật phát triển trên các mặt, lĩnh vực của đời sống xã hội, được hệ thống hóa tạo thành một chỉnh thể khá đầy đủ. Do đó, cơ sở để bổ sung ngay mối quan hệ lớn mới là chưa chín muồi. Mười mối quan hệ lớn trên tiếp tục là cơ sở phương pháp luận quan trọng để chúng ta nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thời gian tới.
Về từng mối quan hệlớn, mặc dù mười mối quan hệ lớn tạo thành một chỉnh thể khá đầy đủ, tuy nhiên đối với từng mối quan hệ, do sự thay đổi của bối cảnh, nên rất cần làm rõ thêm nội hàm, có sự điều chỉnh, bổ sung, thậm chí nhận thức lại cho phù hợp với điều kiện mới, để kịp thời luận giải, hóa giải được những mâu thuẫn, thách thức, xung đột mới nảy sinh, rộng đường cho sự phát triển.
Về mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển, nếu như trước đây, đổi mới được xác định là yếu tố quan trọng nhất trong ba thành tố cấu thành mối quan hệ lớn trên và phải thực hiện trước; tiếp đó, Đại hội XIII của Đảng xác định ổn định cần được đặt lên đầu tiên; thì hiện nay, nên nhận thức phát triển là quan trọng hàng đầu và phải tập trung mọi nguồn lực để thực hiện, bởi chỉ có phát triển lâu dài mới giúp chúng ta tích lũy và chuẩn bị kịp những tiền đề, điều kiện, nền tảng cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong bối cảnh không còn nhiều thời gian để có thể đạt và cán cột mốc mục tiêu trọng đại của đất nước vào năm 2030, 2045 như Đại hội XIII đã đề ra. Phát triển lâu dài cũng là điều kiện tiên quyết để Đảng giữ vững uy tín, vị thế cầm quyền lâu dài. Tất nhiên, phát triển ở đây được quan niệm mới bao gồm cả phát triển về vật chất và tinh thần, phát triển chất lượng cao, phát triển xanh, tuần hoàn, bền vững... Theo đó, thứ tự từng thành tố trong mối quan hệ lớn này không thay đổi, song nội hàm của nó cần ưu tiên hơn cho thực hiện “phát triển”, trong tương quan tiếp tục giữ vững “ổn định” và đề cao “đổi mới”, nhất là chú trọng tìm kiếm các không gian phát triển mới và động lực tăng trưởng mới, trong bối cảnh nhiều nguồn lực trước đây không còn là động lực, thậm chí quay trở lại thành cản lực phát triển.
Thủ đô Hà Nội ngày càng phát triển, là động lực phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước_Ảnh: TTXVN
Về mối quan hệ lớn giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ, cần xem xét cả cơ chế thúc đẩy và cơ chế kiểm soát quyền lực giữa ba chủ thể chính trong hệ thống chính trị nước ta là: Quyền lực chính trị của Đảng, quyền lực nhà nước và quyền lực của nhân dân, trong đó quyền lực nhân dân là quyền lực gốc. Nhiều nghiên cứu về mối quan hệ và cơ chế thúc đẩy đã được thực hiện, tuy nhiên cơ chế kiểm soát giữa ba chủ thể, thiết chế quyền lực trên vẫn còn nhiều khoảng trống. Cần tăng cường kiểm soát quyền lực chính trị bằng cơ chế dựa trên việc cụ thể hóa nguyên tắc “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”, Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình và “dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”; quy định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành pháp trong kiểm soát quyền lực các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, tư pháp; hoàn thiện cơ chế hoặc thực hiện nhiều hơn, thực chất hơn các cơ chế đã có để nhân dân trực tiếp kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, phát huy quyền làm chủ của mình (ví dụ cơ chế bầu cử trực tiếp, cơ chế trưng cầu ý dân...). Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo chính trị cao nhất, cầm quyền duy nhất, là nhân tố quyết định bảo đảm cho sự tồn tại chế độ chính trị ở nước ta, quyền lực nhà nước là trung tâm, nhưng quyền lực nhân dân là tối cao, là chủ thể thực sự của quyền lực. Do đó, cần suy nghĩ thật thấu đáo trở lại với tư tưởng trước đây Đảng ta đã dùng (đặt “nhân dân làm chủ” trước “Nhà nước quản lý”) ngay trong bài “Nắm vững quy luật, đổi mới quản lý kinh tế” của Tổng Bí thư Lê Duẩn trình bày tại Hội nghị Trung ương 6 khóa V (ngày 3-7-1984): “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý là ba khâu gắn bó chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất”(1); sau đó, Đại hội VI của Đảng - đại hội đổi mới của đất nước - cũng khẳng định: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội”(2).
Trong nội hàm mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, cần làm rõ và bổ sung mối quan hệ giữa quản trị toàn cầu, quản trị quốc gia và quản trị địa phương - một mối quan hệ lớn đang bức thiết đặt ra hiện nay (khi chín muồi, có thể chuyển hóa mối quan hệ này thành một mối quan hệ lớn riêng). Đây là những khái niệm còn khá mới. Từng thành tố của mối quan hệ trên đã bước đầu được nghiên cứu, song bản chất, vị trí, vai trò và mối quan hệ liên thông giữa ba thành tố của mối quan hệ, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam vẫn còn ít được nghiên cứu. Nhiều vấn đề về huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực; ứng phó với các khủng hoảng, bối cảnh bất thường (đơn cử như đại dịch COVID-19 vừa qua đã lộ ra nhiều lúng túng, hạn chế trong quản trị vĩ mô tầm quốc gia và từng địa phương), an ninh phi truyền thống; bất cập, thậm chí xung đột trong phân quyền, phân cấp giữa Trung ương và địa phương; đặc thù quản trị địa phương của mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để làm sao phát huy cao độ bản sắc vùng, miền, lợi thế cạnh tranh, cơ hội nổi trội riêng có... đã bộc lộ nhiều bất cập, đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi phải tổng kết kinh nghiệm và nghiên cứu lý luận xứng tầm để cung cấp cơ sở khoa học - thực tiễn cho việc quản trị quốc gia trong mối quan hệ với quản trị toàn cầu, quản trị địa phương. Trong môi trường hội nhập sâu, rộng, quản trị quốc gia, quản trị địa phương có quan hệ mật thiết với quản trị toàn cầu; nhiều vấn đề không thể xử lý được nếu dừng ở tầm quốc gia hay địa phương. Đặc biệt, khi Việt Nam bước vào ngưỡng cửa của một quốc gia tầm trung, với uy tín, tiếng nói, vị thế quốc tế mới, việc quản trị quốc gia không thể không tính tới liên thông với quản trị toàn cầu, để nước ta chủ động, tích cực ở vị thế tham gia nhiều hơn vào xây dựng, định hình “luật chơi” trên trường quốc tế, nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc và có những đóng góp trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.
Trong nội hàm mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, cùng với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cũng cần thiết đề cập tới xây dựng xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa, để pháp quyền và thượng tôn Hiến pháp, pháp luật không chỉ ở hành xử của các cơ quan nhà nước, mà còn lan tỏa đến ứng xử toàn xã hội và mọi người dân, trong điều kiện thực thi pháp luật đang là một điểm yếu, văn hóa thượng tôn pháp luật cũng chưa định hình trong xã hội, khiến tình trạng khinh nhờn pháp luật, vi phạm pháp luật nghiêm trọng còn nhiều, an ninh chính trị, an ninh con người, an ninh xã hội bị đe dọa... Xây dựng xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng góp phần hoàn thiện hơn các yếu tố cấu thành chính yếu của mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa - dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa để thượng tôn Hiến pháp và pháp luật dần trở thành văn hóa trong xã hội, thành ứng xử của mọi người dân (Trong ảnh: Công an xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình gần dân, sát dân để phổ biến pháp luật)_Ảnh: TTXVN
Về mối quan hệ giữatăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, cần nhấn mạnh hơn sự quan tâm tới phát triển văn hóa, không chỉ về mặt lý luận, mà còn trong vận dụng vào thực tiễn, bởi văn hóa đến nay vẫn chưa thực sự được quan tâm và đầu tư tương xứng với vị trí quan trọng của nó. Cần sớm xây dựng chương trình tổng thể mục tiêu quốc gia về chấn hưng, phát triển văn hóa để khơi dậy và phát huy các tài nguyên văn hóa, tập trung nguồn lực đầu tư tạo bước chuyển thực sự về văn hóa. Đặc biệt quan tâm xây dựng văn hóa chính trị, văn hóa trong Đảng, bởi Đảng ta là “văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn; nghiên cứu bổ sung thành tố “văn hóa” vào nội hàm công tác xây dựng Đảng, thành xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ và văn hóa. Đặt con người ở trung tâm của mọi sự phát triển, gắn chặt văn hóa với con người, chăm lo, đầu tư, phát triển toàn diện và bảo vệ con người, đích cuối hướng đến là hạnh phúc của nhân dân, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(3). Do đó, cần nghiên cứu bổ sung thành tố “hạnh phúc” vào hệ mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thành: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc”. Mặt khác, bảo vệ môi trường ngày càng đặt ra cấp thiết, nên phải đặc biệt quan tâm, có những đột phá hơn nữa trong thực hiện; cùng với việc đã là thành tố của một mối quan hệ lớn, nghiên cứu đưa bảo vệ môi trường vào quan điểm chỉ đạo chung, thành: Phát triển kinh tế - xã hội - môi trường là trung tâm, đặt trong tổng thể năm trụ cột phát triển đất nước là: Kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội - môi trường.
Về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, cần quan tâm nhiều hơn đến việc bồi tụ, nuôi dưỡng nội lực, thực lực của đất nước, tránh phụ thuộc một chiều và quá nhiều vào nguồn lực, ảnh hưởng từ bên ngoài, chưa chuyển hóa được ngoại lực thành nội lực (đơn cử như sự phụ thuộc còn nhiều vào nguồn vốn và công nghệ lõi của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thiếu sự liên thông giữa kinh tế FDI với các thành phần kinh tế trong nước; hay sự phụ thuộc vào các sản phẩm truyền thông của các tập đoàn truyền thông đa quốc gia...)... ít nhiều có nguy cơ gây mất an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh chính trị...
Việc tiếp tục nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về các mối quan hệ lớn để nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ này luôn là vấn đề rất hệ trọng, là xuất phát điểm lý luận nền tảng góp phần khẳng định và định hình hệ thống lý luận đổi mới Việt Nam, lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam soi sáng con đường phát triển của đất nước ta./.
TCCS - Trong giai đoạn phát triển mới của cách mạng, một trong những vấn đề quan trọng là phải giải quyết đúng đắn và hợp lý mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định các trọng tâm, trọng điểm trong chủ trương, đường lối của Đảng. Đó cũng là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa “Điểm” và “Diện”, giữa tổng thể và cụ thể, giữa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn và ngắn hạn trong mọi lĩnh vực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định các trọng tâm, trọng điểm trong đường lối đổi mới của Đảng
Kinh nghiệm phong phú được tổng kết trong hơn 93 năm lãnh đạo của Đảng ta đối với cách mạng Việt Nam đã chứng minh rõ rằng, nếu không giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ với lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm trong xây dựng đường lối, trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện thì sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, thậm chí còn dẫn tới tổn thất làm chậm sự phát triển của đất nước.
Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều có bối cảnh, điều kiện cụ thể, xuất hiện những thuận lợi, thách thức và những yêu cầu đặt ra cần được giải quyết. Điều đó đòi hỏi Đảng ta có sự đổi mới sáng tạo để có thể đề ra được những quyết sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Nhiệm vụ đặt ra là phải đổi mới toàn diện, đồng bộ, vì xét về mặt tổng thể với mục tiêu lâu dài thì chúng ta đang hướng tới xây dựng một hình thái kinh tế - xã hội mới, thay thế hình thái kinh tế - xã hội cũ. C. Mác đã chỉ rõ về vấn đề này như sau: “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất. Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình”(1). Như vậy, rõ ràng sự đổi mới của chúng ta không phải là vô định, mà phải có mục tiêu, đó là làm thay đổi về lượng, dẫn tới sự thay đổi về chất của một hệ thống xã hội, chuyển từ cái cũ sang cái mới, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và chủ nghĩa cộng sản.
Dĩ nhiên, đổi mới phải toàn diện và đồng bộ, song việc lựa chọn trọng tâm, trọng điểm cũng lại là nhiệm vụ rất cần thiết. Bởi lẽ, trong cả một hệ thống xã hội bao giờ cũng có những “hạt nhân” quyết định sự thống nhất, sự phát triển của cả hệ thống, như cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất; đồng thời, quá trình phát triển luôn phát sinh những “điểm nghẽn”, những “nút thắt” cần được giải phóng, khai thông. Hoặc, quá trình này luôn cần có những “Đầu tầu”, những “Động lực” đi trước để kéo theo sự phát triển của cả hệ thống. Đó cũng là một lô-gíc hợp lý của sự phát triển. Không có sự phát triển nào diễn ra theo lối “dàn hàng ngang”, mà đều phải có những “mũi nhọn”, những lĩnh vực “tiên phong” đi trước. Do vậy, trong sự đổi mới toàn diện và đồng bộ, yêu cầu đặt ra là phải tìm được trọng tâm, trọng điểm, động lực của sự phát triển để tập trung thúc đẩy chúng đi trước.
Mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định trọng tâm, trọng điểm là mối quan hệ hữu cơ, mật thiết. Việt Nam đã giải quyết mối quan hệ này trong thực tiễn phát triển kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay. Xét từ đặc điểm, có thể chia làm nhiều giai đoạn cụ thể như sau:
- Giai đoạn 1986 - 2000: Đây là giai đoạn mở đầu, đặt nền móng cho công cuộc đổi mới cả về kinh nghiệm và tư duy lý luận, và cũng đạt được những thành tựu to lớn, mang ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tổng sản phẩm trong nước sau 10 năm (1991 - 2000) đã tăng gấp đôi, quan hệ sản xuất đã có sự đổi mới phù hợp hơn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đã được cải thiện rõ rệt; Việt Nam đã xóa bỏ được tình trạng bị bao vây, cấm vận, tạo thế và lực cho giai đoạn mới.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm dây chuyền sản xuất các sản phẩm điện tử tại Công ty Điện tử Samsung Việt Nam Thái Nguyên_Ảnh: TTXVN
Giai đoạn này diễn ra qua 3 kỳ đại hội của Đảng, mở đầu là Đại hội VI. Có thể thấy, tình hình trước Đại hội VI là rất phức tạp:“Kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt; sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối, lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng”(2). Đại hội VI cũng thẳng thắn chỉ rõ nguyên nhân của tình hình trên là: “Chúng ta có khuyết điểm trong việc đánh giá tình hình cụ thể của đất nước, trong việc xác định mục tiêu và bước đi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”, cụ thể là: “đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết; vừa nóng vội, vừa buông lỏng trong công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp”(3). Cùng với đó là tình trạng“chủ quan nóng vội và bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm những sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông”(4). Đại hội cũng nghiêm túc kiểm điểm: “Những sai lầm nói trên là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện”(5).
Từ việc thẳng thắn nhận ra những sai lầm trong chủ trương và chính sách, Đại hội VI đã có những quyết sách, chủ trương đổi mới, đi sát thực tế cuộc sống với mục tiêu: “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo. Ổn định tình hình kinh tế - xã hội bao gồm ổn định và phát triển sản xuất, ổn định phân phối, lưu thông, ổn định và cải thiện từng bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, tăng cường hiệu lực tổ chức quản lý, thiết lập trật tự, kỷ cương và thực hiện công bằng xã hội”(6). Đại hội cũng nêu những mục tiêu cụ thể: “sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy; tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới; tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội; bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh”(7). Đại hội cũng yêu cầu: 1- “Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”(8); 2- “Thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách thường xuyên, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất”(9); 3- “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế... Kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp”(10); 4- “Giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông... Giải phóng năng lực sản xuất... mở rộng giao lưu hàng hóa, bãi bỏ các biện pháp cấm đoán, chia cắt thị trường theo địa giới hành chính”(11).
Như vậy, Đại hội VI đã chỉ ra nhiệm vụ bao trùm, tổng quát mang tính toàn diện là ổn định kinh tế - xã hội trong điều kiện phức tạp, có nhiều rối ren trong sản xuất và lưu thông. Khi đất nước lâm vào khủng hoảng thì vấn đề ổn định kinh tế - xã hội là rất quan trọng; mặc dù vậy, Đại hội VI cũng không quên nhiệm vụ lâu dài là tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho đẩy mạnh công nghiệp hóa. Đại hội đã xác định được các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm là thực hiện ba chương trình kinh tế để thúc đẩy sản xuất và giải quyết những vấn đề cấp bách của đời sống nhân dân. Đại hội VI đã tìm ra “nút thắt” kìm hãm sức sản xuất là sự không phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Đây là căn cứ để Hội nghị Trung ương 6 khóa VI đưa ra chủ trương thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất, thể chế hóa đồng bộ chính sách đối với các thành phần kinh tế, xóa bỏ những cấm đoán và ràng buộc vô lý. Quyền sở hữu, sử dụng và thừa kế tài sản, quyền kinh doanh và hưởng thụ các thu nhập chính đáng cũng như nghĩa vụ với Nhà nước phải được quy định thành luật để mọi người dân yên tâm bỏ vốn sản xuất, kinh doanh...
Chính xuất phát từ quan điểm đổi mới toàn diện, đồng bộ và chỉ ra được những “nút thắt”, “điểm nghẽn”, những vấn đề trọng tâm, trọng điểm cần tập trung giải quyết, nên những quyết sách của Đại hội VI đã trở thành những quyết sách quan trọng, mang tính lịch sử, mở đầu cho công cuộc đổi mới. Các quyết sách này tiếp tục được Đảng ta tổng kết, điều chỉnh, bổ sung tại Đại hội VII và Đại hội VIII; trong đó đặc biệt quan trọng là xây dựng được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991). Với đường lối đúng đắn, Đảng ta đã đưa cách mạng Việt Nam vượt qua khủng hoảng ở trong nước ngay cả trước sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Sự sụp đổ này có ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến toàn hệ thống chính trị, cũng như tâm tư của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Song, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, vững vàng của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, mang ý nghĩa lịch sử trong giai đoạn 1986 - 2000.
Chính trong giai đoạn này, trải qua 3 kỳ Đại hội, Đảng ta đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm phong phú về đổi mới, đó là: 1- Phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; 2- Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo. Tiến hành đổi mới xuất phát từ thực tiễn và đời sống của xã hội Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm tốt của thế giới, không sao chép bất cứ một mô hình có sẵn nào. Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để với những bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Có những điều chỉnh, bổ sung và phát triển cần thiết về chủ trương, phương pháp, biện pháp. Tìm và lựa chọn những giải pháp mới, linh hoạt, sáng tạo, nhạy bén nắm bắt cái mới, tận dụng thời cơ, khắc phục sự trì trệ, làm chuyển biến tình hình(12). Như vậy, sau 3 kỳ Đại hội Đảng, vấn đề đổi mới phải toàn diện, đồng bộ và triệt để đã được nêu ra, cùng với những giải pháp, biện pháp, bước đi dựa trên thực tế để giải quyết mối quan hệ giữa tổng thể và cụ thể, giữa mục tiêu và bước đi, giữa cái phổ biến và cái đặc thù, giữa cái đa dạng có thể đổi mới với những nguyên tắc bất di bất dịch để tránh chệch hướng XHCN trong sự nghiệp đổi mới.
- Giai đoạn 2001 - 2015: Đây là giai đoạn đất nước bước vào thế kỷ mới - thế kỷ thứ XXI, một thế kỷ có nhiều biến đổi, khoa học - công nghệ đạt được bước tiến nhảy vọt chưa từng thấy. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, toàn cầu hóa là một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia. Thành tựu sau 15 năm đổi mới đã tạo thế và lực mới, làm cho đất nước ta lớn mạnh lên rất nhiều. “Đồng thời, đất nước ta phải đối mặt với nhiều thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta từng chỉ rõ - tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, “diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch gây ra - ... vẫn còn tồn tại và diễn biến phức tạp”(13).
Trong bối cảnh đó, Đảng ta khẳng định: “Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới. Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(14). Đại hội IX của Đảng khẳng định: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là ngọn cờ của sự đổi mới đồng bộ và toàn diện, hướng tới mục tiêu CNXH; đồng thời, Đại hội cũng chỉ rõ nhiệm vụ “Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm”(15).
Đến Đại hội X, vấn đề đổi mới toàn diện, đồng bộ và lựa chọn, xác định trọng tâm, trọng điểm trong sự nghiệp đổi mới đã được chỉ rõ hơn: Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị. Đổi mới tất cả các mặt của đời sống xã hội nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ: Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội(16).
Nhờ những kết quả quan trọng đạt được trong giai đoạn 2001 - 2015, cùng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 30 năm đổi mới, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, đang nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đại hội XII rút ra 5 bài học kinh nghiệm sau 30 năm đổi mới, trong đó có bài học rất quan trọng là:“đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra”(17).
- Giai đoạn từ năm 2016 đến nay, toàn Đảng, toàn dân tộc ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; song, trước những mục tiêu đặt ra, nhiệm vụ còn lại phải thực hiện là rất nặng nề. Trước yêu cầu, thử thách đó, Đại hội XIII của Đảng vẫn khẳng định phải đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, với các nhiệm vụ toàn diện, nhưng cũng xác định sáu nhiệm vụ trọng tâm, cùng ba đột phá chiến lược là: 1- Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển; 2- Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; 3- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội...
Qua thực tiễn hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đã rút ra được bài học mang tính lý luận là: Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với thực tiễn, phải giải quyết được những vấn đề thực tiễn đặt ra. Từ đó, chúng ta có thể rút ra được những nguyên tắc cơ bản để giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định trọng tâm, trọng điểm, cụ thể là:
1- Phải bám sát mục tiêu CNXH, phải dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm “kim chỉ nam” cho mọi hành động, luôn luôn tránh nguy cơ chệch hướng.
2- Phải xuất phát từ thực tiễn, giải quyết cho được những vấn đề thực tiễn đặt ra, lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn để kiểm nghiệm sự đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách. Phải đổi mới tư duy, song tránh rập khuôn, sao chép một cách máy móc, hoặc áp đặt ý chí chủ quan lên trên quy luật khách quan.
3- Phải có cái nhìn tổng thể trong hoàn cảnh cụ thể; đồng thời, cần biết lựa chọn vấn đề mang tính quyết định, then chốt, tháo gỡ được “điểm nghẽn”, “nút thắt” để xử lý nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trên phương diện toàn cục.
4- Phải đặt lợi ích của đất nước, của dân tộc lên trên hết, trước hết. Cái gì có lợi cho dân thì cương quyết làm, cái gì có hại cho dân thì cương quyết tránh. Sự hài lòng, đồng tình của nhân dân là “điểm cộng” cho sự đúng đắn trong đường lối, chính sách của Đảng; song, cũng phải tuyệt đối tránh tư tưởng “mỵ dân”, “theo đuôi quần chúng”, vì nếu thế thì sẽ dẫn tới chỗ có thể đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng.
Thành phố Hồ Chí Minh sau hơn 36 năm đổi mới_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn
Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định các trọng tâm, trọng điểm theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng
Đại hội XIII của Đảng đã đưa ra dự báo tình hình thế giới và đất nước trong những năm sắp tới, xác định rõ tầm nhìn và định hướng phát triển. Quan điểm, mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể chia theo ba giai đoạn phát triển đến năm 2045. Đại hội chỉ ra 12 định hướng chiến lược phát triển của đất nước giai đoạn 2021 - 2030. Đó là những định hướng cho sự phát triển toàn diện, đồng bộ; đồng thời, Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ ra 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược cần thực hiện trong nhiệm kỳ của Đại hội.
Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ ra các nguyên tắc đã được phân tích ở trên, thì câu hỏi đặt ra ở đây là: Chúng ta cần giải quyết mối quan hệ giữa bảo đảm định hướng phát triển với các nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược như thế nào? Những đột phá sau nhiệm kỳ Đại hội XIII là gì?
Xét cả về mặt lý luận và thực tiễn, cần phải khẳng định, kinh tế quyết định đến sự phát triển. Kinh tế không phát triển, xã hội không ổn định, thì đất nước không thể phát triển bền vững. Điều đó đương nhiên sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Do vậy, Đảng ta luôn xác định phát triển kinh tế là trung tâm. Việc xác định 3 đột phá chiến lược kéo dài qua 3 kỳ đại hội liên tiếp (Đại hội XI, XII, XIII) cũng chính là tập trung cho mục tiêu phát triển kinh tế. Các “điểm nghẽn”, “nút thắt” kìm hãm sự phát triển cần xử lý cũng tập trung chủ yếu ở lĩnh vực kinh tế, đó là thể chế về kinh tế chưa hoàn thiện, nguồn nhân lực chưa đáp ứng, hạ tầng thiếu đồng bộ. Đảng ta cũng coi lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của các cấp ủy, được đặt lên hàng đầu trước các nhiệm vụ khác. Nói như vậy để thấy, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm của trọng tâm. Xét đến cùng, một phương thức sản xuất mới được hình thành bởi một lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại với một quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đó, sẽ quyết định cho một hình thái kinh tế - xã hội mới ra đời với một hệ thống nội tại vững chắc, từ kinh tế đến xã hội, từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng, từ văn hóa, nghệ thuật, khoa học - công nghệ đến pháp luật...
Tuy nhiên, trong kinh tế, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN có nội dung cốt lõi là phải hoàn thiện thể chế về tài chính trong cơ chế thị trường, như hệ thống tài chính quốc gia cả công và tư, cả vi mô và vĩ mô, như ngân sách nhà nước, ngân hàng nhà nước, thị trường tài chính (tín dụng, chứng khoán, bảo hiểm...). Tài chính doanh nghiệp (quốc doanh, tư doanh, có vốn đầu tư nước ngoài), thậm chí đến tài chính gia đình cũng phải được hoàn thiện. Hoặc, vấn đề phân cấp, phân quyền, tự chủ tài chính cũng phải tập trung làm rõ. Đây có thể nói là “điểm nghẽn”, “nút thắt” lớn nhất cần được tập trung giải quyết kịp thời, nếu không sẽ dẫn tới hệ lụy khó lường. Nói cách khác, khơi thông hệ thống tài chính quốc gia chính là khơi thông “mạch máu” cho nền kinh tế.
Trong phát triển nguồn nhân lực, thì trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, quan điểm này đã được xác định rõ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Nếu không đào tạo được nguồn lao động có chất lượng cao, nguồn lao động có tri thức đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức thì đất nước ta sẽ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”, khi nền kinh tế đạt đến một giới hạn thu nhập nào đó. Một mặt, trong khi mục tiêu đến năm 2030, số lao động qua đào tạo, có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35% - 40% như Đại hội XIII của Đảng đề ra là khá cao; tuy nhiên, tỷ lệ này có thể nói là vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Mặt khác, chất lượng giáo dục - đào tạo hiện nay đang là “điểm nghẽn” ảnh hưởng đến việc đào tạo nguồn nhân lực, nếu không khắc phục những mặt yếu, không có sự thay đổi mang tính cách mạng thì việc xây dựng một nền kinh tế tri thức, tạo nên sự phát triển bền vững cho đất nước, sẽ gặp nhiều khó khăn.
Trong xây dựng kết cấu hạ tầng hiện nay, giao thông là khâu đột phá của đột phá, trong đó giao thông đường thủy, đường sắt, giao thông đô thị, tính kết nối liên thông, logistics là các “điểm nghẽn” cần tập trung tháo gỡ sau khi hệ thống cao tốc Bắc - Nam, Đông - Tây được triển khai, cơ bản hoàn thành vào năm 2025.
Sau năm 2030, khi Việt Nam là một nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thì trước đó, các vấn đề đột phá chiến lược được xác định trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, nếu tiếp tục sang nhiệm kỳ Đại hội XIV, đều cơ bản phải hoàn thành, và sẽ là các nhiệm vụ mang tính thường xuyên, liên tục. Các đột phá chiến lược về kinh tế cần được chuyển mục tiêu cho các trọng tâm khác, như vấn đề bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, tình trạng xâm nhập mặn, sụt lún ven sông, ven biển và rác thải, nước thải đang là nguy cơ hiện hữu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước; vấn đề phát triển khoa học - công nghệ, tập trung cho đổi mới sáng tạo trong các ngành công nghiệp then chốt, như cơ khí chế tạo, công nghiệp biển, công nghiệp quốc phòng - an ninh, nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trong tình hình thế giới, khu vực có biến động khó lường và không thể coi nhẹ; cùng với đó là vấn đề phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, nhất là trong giáo dục và y tế, nhằm bảo đảm công bằng xã hội, hướng tới hạnh phúc của nhân dân theo mục tiêu CNXH. Như vậy, mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều đòi hỏi có sự đổi mới toàn diện, đồng bộ và lựa chọn, xác định cho được trọng tâm, trọng điểm, giải quyết tốt mối quan hệ này trong đường lối của Đảng. Sự đổi mới này phải phù hợp với sự phát triển mau lẹ của thời đại, nhất là trong điều kiện bùng nổ của khoa học - công nghệ, cùng với diễn biến khó lường và phức tạp của tình hình quốc tế, khu vực. Trong bối cảnh nước ta sẽ vượt mức 100 triệu dân vào năm 2023 và những thay đổi về kinh tế - xã hội đặt ra một yêu cầu mới cao hơn của quản trị quốc gia thì “chìa khóa vạn năng” cho giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa đổi mới đồng bộ, toàn diện và xác định trọng tâm, trọng điểm là phải đổi mới tư duy về kinh tế nói riêng, tư duy lãnh đạo của Đảng nói chung trên tất cả các mặt, đặc biệt là về tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ, để có thể phát triển đất nước nhanh, bền vững trong thời kỳ mới./.