Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024
Thu hút lao động chất lượng cao
TP Hồ Chí Minh xác định 2024 là năm đột phá về thu hút, trọng dụng nhân tài phục vụ yêu cầu phát triển mới. Để thực hiện điều này, thành phố ban hành nhiều nghị quyết, chỉ đạo “chiêu hiền đãi sĩ”, đáp ứng nguồn nhân lực trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, giải quyết những vấn đề mới, thách thức trong vận dụng, triển khai Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP Hồ Chí Minh vào thực tiễn.
Nhà trọ công nhân an toàn, văn minh
Tháng 4-2022, UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số 678/QĐ-UBND phê duyệt Đề án xây dựng “Nhà trọ công nhân an toàn, văn minh” giai đoạn 2022-2025.
Để lịch sử là mạch nguồn tâm trí
Khi đang là học viên cấp phân đội của Học viện Chính trị-Quân sự (nay là Trường Sĩ quan Chính trị), chúng tôi được Đại tá Hoàng Đăng Vinh, Anh hùng LLVT nhân dân, người chiến sĩ cùng đồng đội vào hầm chỉ huy bắt sống tướng De Castries trong Chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954, kể về thời khắc lịch sử đó. Đại tá Hoàng Đăng Vinh có lối kể chuyện hóm hỉnh, ông lại là nhân chứng lịch sử nên câu chuyện có sức hút, khiến chúng tôi nhớ mãi.
Giọt nước nghĩa tình quân dân
Do nắng nóng, hạn hán kéo dài nên thôn Đức Hưng, xã biên giới Ia Nan, huyện Đức Cơ (Gia Lai) bị thiếu nước sinh hoạt trầm trọng, người dân phải mua nước sinh hoạt từ nhiều tháng nay.
Không đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng kinh tế
Quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Việt Nam là không đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng kinh tế. Trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”. Quá trình phát triển kinh tế, chủ trương của Việt Nam là: “Ưu tiên những dự án đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao, thân thiện với môi trường, sử dụng lao động có kỹ năng; đầu tư vào những ngành, lĩnh vực cần ưu tiên phát triển; có liên kết, chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước phát triển, tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu”. Bởi vậy, không bao giờ có chuyện chính quyền Việt Nam “đàn áp nhà hoạt động môi trường” như giọng điệu RFA và các hội, nhóm “dân chủ” đưa ra
Thứ Năm, 2 tháng 5, 2024
Thủ đoạn Xét lại lịch sử hay còn gọi là "nã đại bác vào quá khứ"
- Các thế lực thù địch đòi đánh giá
lại nhà Nguyễn và xem xét lại các nhân vật trong lịch sử, đề cao thánh địa này,
thánh địa kia.
- Phủ nhận lịch sử đấu tranh của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo, xuyên tạc láo xược một số khẩu hiệu cách
mạng trong cuộc kháng chiến, kể cả Tuyên ngôn nổi tiếng của lãnh tụ.
- Bóp méo sự thật, đòi xét lại một số vấn đề lịch sử, đòi “lật án" vụ "cải cách ruộng đất", vụ "Nhân văn giai phẩm", vụ
"đầu độc" bốn vị tướng, vụ T4... Còn vụ án "nhóm
xét lại chống Đảng" thì chúng
xuyên tạc: "đây là một điểm đen, một
vết thương dai dẳng trong lịch sử và cơ thể chúng ta. Vụ án này chỉ là mưu đồ
của một người nhiều quyền lực , nhiều tham vọng "…
- "Chứng minh" rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều sai lầm
trong quá khứ và dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang
thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò
lịch sử, không còn đủ khả năng để độc quyền
lãnh đạo đất nước.
Tác động bằng cách xuyên tạc hoặc đưa ra những khẩu hiệu
Đây là thủ đoạn tính toán đến bối cảnh thực tế và thực trạng ý thức xã hội,
để đưa ra những khẩu hiệu lừa gạt, mị dân,
sao cho thật ngắn gọn, dễ hiểu, đập ngay vào mắt, tác động hàng ngày đến con
người và nhận thức của họ, buộc họ ghi nhớ một cách máy móc. Thủ đoạn này có
tác dụng chống lại sự suy xét của lý trí, tạo ra ý thức xã hội với những ấn tượng xấu theo như mong muốn của các thế
lực thù địch. Ví dụ, các khẩu hiệu:
- "Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật" theo tinh thần Đại hội VI;
- Chống "giáo điều”...
Các thế lực thù địch đã sử dụng các khẩu hiệu nói trên nhằm mục đích đòi
"xét lại" một số vấn đề lịch sử, cường điệu khuyết điểm, phủ nhận
thành tựu cách mạng, vu cáo Đảng và Nhà nước ta bưng bít sự thật, bóp nghẹt dân
chủ, vi phạm nhân quyền.
Trong vụ bạo loạn chính trị ngày 10-11/4 ở 3 tỉnh Tây Nguyên (Đăk Lăk,
Gia Lai, Đăk Nông), các thế lực thù địch đã sử dụng những khẩu hiệu
thể hiện rõ ý đồ chính trị phản động nhằm
mua chuộc, lôi kéo những phần tử xấu người dân tộc như các khẩu hiệu:
- “Đuổi người Kinh về đồng bằng để trả đất lại cho người Tây
Nguyên";
- "Thả
ngay những phần tử phản động Đê ga bị bắt
trước đây";
- "Đưa tất cả bộ đội, công an ra khỏi vùng có đồng bào dân tộc sinh
sống";
- "Tự do theo Tin Lành Đê ga";
- Phải công nhận "Nhà nước Đê ga độc lập";
Thủ đoạn Đẩy lùi hiện tại vào trong quá khứ
Một phương thức khác là đẩy lùi những vấn đề hiện tại vào quá khứ để tìm kiếm, lý
giải, củng cố cho quan điểm và lợi ích của
ngày hôm nay:
Các thế lực thù địch "lập luận" rằng, những khó khăn hiện nay
của chúng ta là do chúng ta "bảo thủ”, cố bám lấy chủ nghĩa Mác - Lênin
"đã lỗi thời"; "Hầu hết các nước ngày nay đều bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ còn một vài nước "ngoan cố" như Trung Quốc, việt Nam
còn tôn thờ"… Mục đích
của chúng là bỏ qua gần 20 năm đổi mới, đưa cái nhìn trong ý thức xã hội
trở lại thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội trước đổi mới.
Một số người trước đây đòi hỏi "giải trừ ý thức hệ" chấm dứt
cuộc đấu tranh "hai phe" trên
lĩnh vực tư tưởng thì nay lại đổi
giọng, nói rằng, đất nước vẫn cần ý thức hệ nhưng phải là ý thức hệ
"phù hợp với thời đại". Họ đòi chúng ta phải học tập
Goócbachốp, "đổi mới triệt để, không
nửa vời", nghĩa là phải thực hiện "tư nhân hoá hoàn toàn",
"đa nguyên, đa đảng”. Như vậy, chúng cố tình "quên" rằng,
chúng ta đang ở vào thế kỷ XXI chứ không
phải trong những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX.
Phương thức chiếu những vấn đề hiện tại vào quá khứ để tìm kiếm, lý
giải, củng cố cho quan điểm và lợi ích của
ngày hôm nay có tác dụng làm tê
liệt khả năng suy xét và đánh giá thực tế, làm mất cảm giác về thời
gian, lẫn lộn trong khái niệm lịch sử và làm tê liệt khả năng nhận thức đúng đắn các sự kiện xảy ra trong hiện tại.
Việc giải quyết mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia trong việc bảo vệ quyền con người
Trong khoa học luật
quốc tế có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật
quốc gia. Các công trình đó tập trung vào
việc tìm lời giải cho các vấn đề
như: khách thể điều chỉnh của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia; những
đặc trưng, môi trường không gian, chủ thể của chúng; các hình thức và phương pháp áp dụng các quy phạm pháp luật quốc tế
trong pháp luật quốc gia.
Tìm hiểu khoa học luật quốc tế về mối quan
hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, có thể thấy ngay rằng có hai
học thuyết chủ yếu: thuyết nhất nguyên luận và thuyết nhị nguyên luận.
Thuyết nhất nguyên
luận cho rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai bộ phận pháp luật
nằm trong một hệ thống thống nhất. Học thuyết này chia làm hai trường phái:
phái ưu thế pháp luật quốc tế và phái ưu thế pháp luật quốc gia. Phái ưu thế
pháp luật quốc gia đưa ra quan điểm về tính ưu thế pháp luật quốc gia so với
pháp luật quốc tế với lập luận rằng pháp luật quốc tế chỉ là các bộ phận pháp
luật đối ngoại của các quốc gia, vì thế, nó phải bị chi phối bởi pháp luật quốc gia. Quan điểm này phát triển mạnh ở châu Âu vào thời kỳ các cuộc đại chiến thứ I và
thứ II, bởi vì nó phục vụ cho các thế lực gây chiến với mong muốn phân
chia lại thế giới. Trường phái này ngày nay
không còn tồn tại như một trường
phái trong khoa học luật quốc tế song dấu vết của nó ở đâu đó trên thế giới vẫn
còn. Đó là chính sách của một số thế
lực khi tuyên bố một vùng trên thế giới là khu vực mà mình có lợi ích
sống còn, hay tự giải quyết các vấn đề của
thế giới thay cho Liên hợp quốc, vi phạm thô bạo các nguyên tắc nền tảng
của pháp luật quốc tế.
Phái ưu thế pháp
luật quốc tế cho rằng, pháp luật quốc tế là bộ phận pháp luật tối cao của các
quốc gia trong mối quan hệ với các bộ phận pháp luật quốc gia khác.
Trong thế giới ngày
nay, quan điểm ưu thế pháp luật quốc tế so với pháp luật quốc gia được thừa
nhận rộng rãi
trong khoa học luật quốc tế, đặc biệt là
cuối thế kỷ XX. Điều này xuất phát từ thực tiễn điều chỉnh của pháp luật quốc
tế và pháp luật quốc gia là: các quốc gia phải tuân thủ các cam kết quốc tế một
cách tận tâm, có thiện chí và đầy đủ; các quốc gia không được viện dẫn vào pháp
luật quốc gia để vi phạm các cam kết quốc tế được coi là hợp pháp từ góc độ
pháp luật quốc tế (Điều 27 Công ước Viên về luật điều ước quốc tế năm 1969).
Song điều này không có nghĩa là các nhà luật quốc tế hiện nay ủng hộ quan điểm
của học thuyết nhất nguyên luận, mà ngược lại họ đều cho rằng pháp luật quốc tế
và pháp luật quốc gia là hai hệ thống độc lập. Như vậy, trong vấn đề phải trả
lời câu hỏi pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hay là một,
thì nhìn chung các nhà luật quốc tế hiện nay có chung quan điểm với những người theo học thuyết nhị nguyên
luận. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà cho rằng họ là các nhà nhị nguyên
luận như thời buổi ban đầu của học thuyết
này, bởi vì, khi giải quyết các vấn
đề khác của mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, họ có
những quan điểm hoàn toàn khác.
Những người theo học thuyết nhị nguyên luận cho rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống độc lập ít có quan hệ với nhau, vì những nhà nhị nguyên luận đôi khi cũng nói về mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, tuy nhiên, họ chưa đi tìm lời giải đáp rõ ràng cho mối quan hệ ấy. Trong khi đó, các nhà pháp luật quốc tế hiện hành không chỉ khẳng định rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống độc lập, mà còn làm sáng tỏ các vấn đề như: sự tác động qua lại giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống quốc tế, sự chuyển hoá, nội luật hoá, viện dẫn pháp luật quốc tế vào pháp luật quốc gia.
Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, làm sáng tỏ những vấn đề mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, làm sáng tỏ những vấn đề mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhất là trong bối cảnh thế giới và khu vực hiện nay, làm cho tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trở thành hiện thực trong thực tiễn, khắc phục các tiêu cực trong xã hội (phân hóa giàu, nghèo; công bằng xã hội; đời sống một bộ phận lực lượng nòng cốt gặp nhiều khó khăn…), củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh
Tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Hoàn thiện cơ chế kết hợp trong đó coi trọng vai trò của Quân đội, Công an trong thẩm định, xét duyệt các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án,… kinh tế. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế.
Kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa,
Kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, thêm bạn bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Tăng cường hợp tác quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược nhất là với các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng, các nước trong khu vực. Giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc.
Nghiên cứu điều chỉnh thế bố trí chiến lược, lực lượng Quân đội
Nghiên cứu điều chỉnh thế bố trí chiến lược, lực lượng Quân đội, phù hợp phương hướng xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Coi trọng bố trí lực lượng bảo vệ theo địa bàn, tác chiến theo khu vực, có lực lượng tại chỗ đủ sức chiến đấu bảo vệ địa bàn và lực lượng cơ động chiến lược mạnh ở các trọng điểm. Đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa Quân đội, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho Quân đội luôn sẵn sàng chiến đấu cao, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa”; tích cực đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Kiên quyết ngăn chặn tiêu cực trong công tác cán bộ, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ trong nội bộ. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng. Tăng cường xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, nhất là lựa chọn, bồi dưỡng người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cấp xã, phường, thị trấn, tập trung ở các địa bàn trọng điểm.
Một số vấn đề còn hạn chế.
Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết, bên cạnh kết quả đạt được, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn và đẩy lùi. Hệ thống chính trị cơ sở tuy đã được chăm lo xây dựng, nhưng vẫn là khâu yếu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, địa bàn chiến lược, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và có đông đồng bào tôn giáo. Lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa tuy được củng cố, nhưng chưa thực sự vững chắc, nhiều vấn đề của chủ nghĩa xã hội cần tiếp tục được làm sáng tỏ. Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh tuy được thực hiện, nhưng hiệu quả chưa cao trong thực tế, còn biểu hiện coi trọng lợi ích kinh tế, coi nhẹ lợi ích quốc phòng, an ninh, thậm chí bất chấp lợi ích quốc phòng, an ninh. Đầu tư xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhiều thành phần của thế trận quân sự khu vực phòng thủ chưa được quan tâm xây dựng. Sức mạnh quốc phòng, sức mạnh quân sự có mặt còn hạn chế, nhất là khả năng tác chiến ở vùng biển, đảo xa bờ, tác chiến sử dụng vũ khí công nghệ cao, chưa tạo được sức mạnh răn đe mạnh từ thời bình. Hoạt động đối ngoại liên quan đến vấn đề biên giới, biển đảo còn có những khó khăn nhất định, 16% đường biên giới Việt Nam - Campuchia chưa được phân giới cắm mốc, các nguy cơ có thể gây mất ổn định vẫn tồn tại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ vẫn đứng trước các thách thức không thể xem thường, v.v.
Về xây dựng thế trận đối ngoại.
Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) khẳng định: “Triển khai đồng bộ, toàn diện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực, nhất là hợp tác quốc tế về kinh tế, kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng bên ngoài lãnh thổ trên tinh thần giữ vững độc lập, tự chủ, không bị lệ thuộc, đối đầu, cô lập. Coi trọng tăng cường mối quan hệ với các nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước lớn, bạn bè truyền thống. Tăng cường các hoạt động giao lưu biên giới với các nước láng giềng, các hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo, tạo vị thế và uy tín ngày càng cao của đất nước đối với cộng đồng quốc tế, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Về xây dựng thế trận quân sự.
Đã cơ bản hoàn thành việc triển khai, bố trí lực lượng Quân đội trên các hướng chiến lược, địa bàn chiến lược, nhất là kết hợp bố trí lực lượng cơ động chiến lược và lực lượng tại chỗ. Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) viết: “Tiếp tục điều chỉnh thế bố trí chiến lược lực lượng Quân đội đáp ứng yêu cầu phòng thủ đất nước”. Xây dựng thế trận phòng thủ quân khu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn từng quân khu, coi trọng các kế hoạch, công trình, bố trí lực lượng chú trọng hướng biển, biên giới và dự kiến nhiều phương án để sẵn sàng xử trí thắng lợi mọi tình huống. Đầu tư xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố đạt được những kết quả nhất định, nâng cao khả năng tự xử trí các tình huống quốc phòng, an ninh trên địa bàn. Xây dựng và phát triển toàn diện cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, coi trọng xây dựng các thành phần thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ, khu vực phòng thủ then chốt, căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần kỹ thuật, khu sơ tán, sở chỉ huy các cấp, các điểm tựa, cụm điểm tựa, khu vực bố trí các lực lượng. Tăng cường tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ bảo đảm sát với các tình huống quốc phòng, an ninh ở địa phương. Xây dựng các công trình quân sự, quốc phòng gắn với thế trận phòng thủ quân khu và tổ chức thiết bị chiến trường trên bộ, trên biển, đảo, xây dựng các công trình ngầm, đường hầm, chốt chiến dịch, chiến lược, sân bay, bến cảng, kho tàng, v.v. Coi trọng xây dựng công trình phòng thủ biên giới, biển, đảo xa bờ, các công trình phòng thủ lớn, đường băng dã chiến, sân bay trên các đảo lớn theo Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI): “Ưu tiên xây dựng các công trình phòng thủ biển, đảo, thềm lục địa, phòng thủ biên giới, đường tuần tra và đê, kè sông, suối biên giới, địa bàn chiến lược”.
Về xây dựng thế trận kinh tế.
Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) nêu rõ: “Phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giải quyết tốt các vấn đề xã hội”. Kinh tế là nền tảng vật chất của quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Những năm qua, Đảng, Nhà nước và Nhân dân đã nỗ lực phấn đấu xây dựng, phát triển kinh tế và thu được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, bảo đảm cơ sở vật chất ngày càng tốt hơn cho quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, nhất là bảo đảm hiện đại hóa Quân đội. Việc thực hiện chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về kết hợp phát triển kinh tế gắn với tổ chức, triển khai, bố trí lực lượng và tiềm lực quốc phòng, an ninh được tiến hành thường xuyên và thu được những kết quả nhất định. Triển khai kết hợp phát triển kinh tế gắn với tổ chức, bố trí lực lượng, tiềm lực quốc phòng, an ninh trong từng địa phương, vùng miền, địa bàn chiến lược, phân công lại lao động, bố trí lại dân cư, bảo đảm các địa bàn khó khăn đều có lực lượng quốc phòng. Xây dựng các cơ sở kinh tế, gắn với xây dựng các thành phần thế trận quốc phòng, an ninh, căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần, kỹ thuật, v.v. Xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng ở các địa bàn chiến lược, dọc biên giới đất liền, địa bàn rừng núi, vùng biển, đảo trọng điểm gắn với ổn định các cụm dân cư, xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo bền vững. Xây dựng các cơ sở công nghiệp quốc gia gắn với phát triển công nghiệp quốc phòng, bảo đảm trang bị ngày càng tốt hơn vũ khí, trang bị hiện đại cho Quân đội. Phát triển các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế kết hợp với tổ chức, bố trí lực lượng và tiềm lực quốc phòng, trong công nghiệp, thương mại, dịch vụ, nông, lâm, ngư nghiệp, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, y tế; gắn với bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, cơ động lực lượng, thông tin liên lạc, các công trình quân sự, quốc phòng, an ninh và lực lượng dân quân tự vệ.
Về xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, “thế trận lòng dân” vững chắc.
Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định, vấn đề nội bộ, nguyên nhân bên trong là quyết định. Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) nêu rõ: “Nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Với chủ trương đó, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, tăng cường đoàn kết trong Đảng, đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Tích cực phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ trong nội bộ. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Xây dựng các đoàn thể chính trị - xã hội có chất lượng tốt, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh. Coi trọng xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, đây là khâu yếu của xây dựng hệ thống chính trị hiện nay, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn chiến lược, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Theo đó, cấp ủy các cấp đã có nhiều biện pháp trong lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng cấp ủy, người đứng đầu cấp xã, phường, thị trấn và cán bộ thôn, bản, buôn, làng, đủ sức cụ thể hóa và đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống. Nâng cao năng lực lãnh đạo công tác quốc phòng, quân sự, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân ở địa phương, cơ sở, nhất là ở các địa bàn trọng yếu về quốc phòng, an ninh. Trong 05 năm (2012 - 2017), riêng Quân đội đã tham gia xây dựng cơ sở chính trị vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở 3.656 xã, phường, thị trấn; 11.598 tổ chức chính trị - xã hội; xóa 449 thôn, bản “trắng” đảng viên; củng cố 3.164 chi bộ; có 1.848 cán bộ1 Quân đội tăng cường xây dựng cơ sở.
Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là nội dung cơ bản, nền
tảng của thế trận quốc phòng toàn dân. Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) chỉ
rõ: “coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, thế trận lòng dân”. Chăm
lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, củng cố lòng tin sự đồng thuận
của nhân dân, ban hành nhiều chủ trương, chính sách hợp lòng dân, có cơ chế hợp
lý để nhân dân phát huy trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân với đất nước. Khơi
dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, khát vọng xây dựng đất
nước giàu mạnh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đổi mới,
nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an
ninh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chỉ tính trong 10 năm (2008 - 2018), cả
nước đã bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho trên 05 triệu lượt cán bộ
các đối tượng; hơn 41 triệu học sinh, sinh viên; 422.928 chức sắc, chức việc,
nhà tu hành các tôn giáo2, góp phần nâng cao đáng kể nhận thức của cán
bộ, đảng viên và nhân dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.