Trong khoa học luật
quốc tế có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật
quốc gia. Các công trình đó tập trung vào
việc tìm lời giải cho các vấn đề
như: khách thể điều chỉnh của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia; những
đặc trưng, môi trường không gian, chủ thể của chúng; các hình thức và phương pháp áp dụng các quy phạm pháp luật quốc tế
trong pháp luật quốc gia.
Tìm hiểu khoa học luật quốc tế về mối quan
hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, có thể thấy ngay rằng có hai
học thuyết chủ yếu: thuyết nhất nguyên luận và thuyết nhị nguyên luận.
Thuyết nhất nguyên
luận cho rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai bộ phận pháp luật
nằm trong một hệ thống thống nhất. Học thuyết này chia làm hai trường phái:
phái ưu thế pháp luật quốc tế và phái ưu thế pháp luật quốc gia. Phái ưu thế
pháp luật quốc gia đưa ra quan điểm về tính ưu thế pháp luật quốc gia so với
pháp luật quốc tế với lập luận rằng pháp luật quốc tế chỉ là các bộ phận pháp
luật đối ngoại của các quốc gia, vì thế, nó phải bị chi phối bởi pháp luật quốc gia. Quan điểm này phát triển mạnh ở châu Âu vào thời kỳ các cuộc đại chiến thứ I và
thứ II, bởi vì nó phục vụ cho các thế lực gây chiến với mong muốn phân
chia lại thế giới. Trường phái này ngày nay
không còn tồn tại như một trường
phái trong khoa học luật quốc tế song dấu vết của nó ở đâu đó trên thế giới vẫn
còn. Đó là chính sách của một số thế
lực khi tuyên bố một vùng trên thế giới là khu vực mà mình có lợi ích
sống còn, hay tự giải quyết các vấn đề của
thế giới thay cho Liên hợp quốc, vi phạm thô bạo các nguyên tắc nền tảng
của pháp luật quốc tế.
Phái ưu thế pháp
luật quốc tế cho rằng, pháp luật quốc tế là bộ phận pháp luật tối cao của các
quốc gia trong mối quan hệ với các bộ phận pháp luật quốc gia khác.
Trong thế giới ngày
nay, quan điểm ưu thế pháp luật quốc tế so với pháp luật quốc gia được thừa
nhận rộng rãi
trong khoa học luật quốc tế, đặc biệt là
cuối thế kỷ XX. Điều này xuất phát từ thực tiễn điều chỉnh của pháp luật quốc
tế và pháp luật quốc gia là: các quốc gia phải tuân thủ các cam kết quốc tế một
cách tận tâm, có thiện chí và đầy đủ; các quốc gia không được viện dẫn vào pháp
luật quốc gia để vi phạm các cam kết quốc tế được coi là hợp pháp từ góc độ
pháp luật quốc tế (Điều 27 Công ước Viên về luật điều ước quốc tế năm 1969).
Song điều này không có nghĩa là các nhà luật quốc tế hiện nay ủng hộ quan điểm
của học thuyết nhất nguyên luận, mà ngược lại họ đều cho rằng pháp luật quốc tế
và pháp luật quốc gia là hai hệ thống độc lập. Như vậy, trong vấn đề phải trả
lời câu hỏi pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hay là một,
thì nhìn chung các nhà luật quốc tế hiện nay có chung quan điểm với những người theo học thuyết nhị nguyên
luận. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà cho rằng họ là các nhà nhị nguyên
luận như thời buổi ban đầu của học thuyết
này, bởi vì, khi giải quyết các vấn
đề khác của mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, họ có
những quan điểm hoàn toàn khác.
Những người theo học thuyết nhị nguyên luận cho rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống độc lập ít có quan hệ với nhau, vì những nhà nhị nguyên luận đôi khi cũng nói về mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, tuy nhiên, họ chưa đi tìm lời giải đáp rõ ràng cho mối quan hệ ấy. Trong khi đó, các nhà pháp luật quốc tế hiện hành không chỉ khẳng định rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống độc lập, mà còn làm sáng tỏ các vấn đề như: sự tác động qua lại giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống quốc tế, sự chuyển hoá, nội luật hoá, viện dẫn pháp luật quốc tế vào pháp luật quốc gia.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét