Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

HAI CHÀNG TRAI ĐI BỘ "HÀNH QUÂN" ĐẾN DINH ĐỘC LẬP ĐÚNG NGÀY 30 - 4

 Xuất phát từ mũi Cà Mau cách đây gần 2 tháng, hai chàng trai 23 tuổi cùng quê ở tỉnh Hải Dương là Bùi Đình Thức và Phạm Đức Hiệp đã kịp có mặt tại dinh Độc Lập vào sáng 30-4.

Muốn đến dinh Độc Lập sáng 30-4 nên đi từ Nam ra Bắc
Nếu như dự định trước kia là hành quân theo chiều từ Bắc vào Nam như thế hệ trước, cũng thuận tiện đường đi, nhưng chỉ vì lý do muốn kịp có mặt tại dinh Độc Lập đúng vào ngày thống nhất đất nước mà hai chàng trai cùng tuổi, cùng quê và từng là lính công binh đã quyết định đảo chiều và "hành quân" từ Nam ra hướng Bắc.
Trong trang phục màu xanh áo lính, nước da ngăm đen sau hơn một tháng đi bộ dưới thời tiết nắng nóng những ngày gần đây, cả Thức và Hiệp đều cho biết những gì mình trải qua đúng kỳ vọng và thu lại những trải nghiệm cực đáng giá.
Trải qua 3 tháng huấn luyện khắc nghiệt trong môi trường quân đội, cả hai vẫn chưa thấy đủ, vẫn thấy tò mò về hành trình trèo đèo lội suối, vượt qua mọi khó khăn gian khổ của những người lính Cụ Hồ ngày trước nên quyết tâm thực hiện chuyến đi này.
Những quân trang còn giữ lại sau khi đi nghĩa vụ như mũ cối, chăn màn, tăng võng, giày, dép nhựa, áo mưa được cả hai tận dụng.
"Ban đầu chúng tôi định thực hiện chuyến đi vào cuối năm 2022 ngay sau khi xuất ngũ, nhưng vì vài lý do cá nhân nên đành lùi lại. Trong quá trình chuẩn bị tốt nhất cho chuyến đi, cả hai đã có một chế độ ăn uống, rèn luyện sức khỏe khoa học. Ngoài ra chúng tôi còn học thêm các kỹ năng về sơ cấp cứu cơ bản để lỡ may có gặp sự cố còn kịp thời xử lý", Thức chia sẻ.
Thả chim bồ câu vào một ngày đặc biệt
4 thùng chim bồ câu được cả hai chuẩn bị để thả bay lên trời trong ngày đặc biệt này.
"Đây là lần đầu tiên tôi đặt chân đến TP.HCM, lại còn đúng vào dịp lễ 30-4 nữa nên cảm xúc rất đặc biệt. Nhìn hàng dài người xếp hàng để được vào bên trong tham quan, trong tôi lại dâng lên cảm xúc rất khó tả.
Chim bồ câu tượng trưng cho sự hòa bình. Tôi và Thức cùng tất cả người dân trên đất nước Việt Nam đều mong muốn được sống trên mảnh đất tự do và hòa bình", Hiệp xúc động chia sẻ.
Dọc đường, nếu gặp nghĩa trang liệt sĩ, cả hai đều dừng lại vào thắp hương. Gặp bà con đang lao động, họ lại xắn tay áo vào làm làm giúp. Họ xin việc làm dọc đường để có thêm kinh phí cho chuyến đi.
Có mặt tại dinh Độc Lập vào một ngày rất đặc biệt, cả Hiệp và Thức có biết tất cả đều nằm trong ý đồ và tính toán của cả hai. Vẻ bồi hồi xúc động và tự hào là điều không thể giấu được trên gương mặt của hai chàng trai trẻ.
Điểm dừng chân cuối cùng của cả hai sẽ là điểm cực Bắc của Tổ quốc. Dự kiến chuyến đi sẽ hoàn thành vào đầu năm 2025. Càng đi càng hừng hực khí thế, không có ý định bỏ cuộc - đó là tâm trạng của Thức và Hiệp ngay thời điểm này./.
St

LUẬN ĐIỆU XẢO TRÁ, MƯU ĐỒ NHAM HIỂM KHI XUYÊN TẠC CUỘC CHIẾN CHỐNG THAM NHŨNG

 Công cuộc chỉnh đốn đảng, phòng chống tham nhũng của Đảng ta ngày càng mạnh mẽ, hiệu quả, càng gây dựng thêm niềm tin ở nhân dân, thì các thế lực thù địch càng điên cuồng tìm mọi cách chống phá, bằng những chiêu trò, luận điệu xảo trá, bất chấp mọi thủ đoạn, hòng nhắm đến một mưu đồ đen tối và nham hiểm nhất.

Cứ mỗi khi “lò lửa” chống tham nhũng bỏ thêm những thanh củi sâu mục, thì y như rằng, một làn sóng dữ các luận diệu xuyên tạc, chống phá lại nổi lên khắp các trang mạng, diễn đàn phản động, thậm chí cả những kênh truyền thông lớn của nước ngoài. Dù núp dưới những cái mác như “nhận diện”, “dự báo”, hay tung thẳng những tiêu đề, bài viết, ảnh, video chụp mũ, xuyên tạc thì nội dung thù địch về công cuộc chống tham nhũng của Đảng ta cũng thường xoay quanh một số luận điệu chính, được ra rả nhai đi nhai lại hết năm này qua năm khác, với dã tâm không khác.
Thứ nhất, bọn chúng rêu rao nỗ lực phòng chống tham nhũng ở Việt Nam, với những biểu hiện như các quyết định “truy tố”, “xét xử”, “miễn nhiệm”, “thôi chức”, chỉ là bức bình phong cho tình trạng “đấu đá nội bộ”, “thanh trừng phe phái” hay “tranh giành quyền lực chính trị”. Mới đây, khi vừa có tin một lãnh đạo Văn phòng Quốc hội bị bắt, đài VOA Tiếng Việt ngày 24/4 lập tức rêu rao “cuộc chiến đấu giành quyền lực đang nóng lên”. Và sau khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng đồng ý cho thôi giữ các chức vụ được phân công với một đồng chí lãnh đạo cấp cao, thì khắp các kênh thông tin hải ngoại như: Đài châu Á tự do (RFA), VOA Việt ngữ, Việt báo, Thoibao.de, hay các trang fanpage của Việt Tân, Tiếng Dân, các trang blogger phản động… tràn ngập thông tin bình luận, xuyên tạc. Bọn chúng tái diễn luận điệu vu khống quen thuộc cho rằng đây là kết quả của việc “tranh giành quyền lực”, “nhận định” kiểu “ngậm máu phun người” rằng phe này đang tìm cách triệt hạ phe kia để “tranh giành ghế”, “mở đường chiếm quyền lực”.
Nhưng trên thực tế, trước khi có các quyết định chính thức của Đảng và Nhà nước, Ban Chấp hành Trung ương đã thông báo công khai việc đồng chí lãnh đạo vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm; quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; và nhận thức rõ trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng chí đã có đơn xin thôi giữ các chức vụ được phân công. Việc cho “thôi chức” đối với cán bộ cấp cao thể hiện đúng chủ trương của công tác cán bộ là “có lên, có xuống, có vào, có ra”, hướng tới văn hóa “từ chức” để thể hiện tính liêm sỉ, đề cao giá trị “công bộc” của người cán bộ, đảng viên. Việc một lãnh đạo từ chức khi cấp dưới, hoặc lĩnh vực mà mình quản lý có sai phạm cũng là hành động thường thấy ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, với những kẻ có dã tâm, thì việc một cán bộ cấp cao từ chức đã bị bọn chúng xuyên tạc, bịa đặt vô căn cứ về “cuộc chiến quyền lực”, kích động sự hoài nghi, hoang mang, dao động trong dư luận xã hội.
Hơn nữa, Đảng và Nhà nước ta đã xác định tham nhũng là “giặc nội xâm”, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, thậm chí là một trong các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ. Vì thế, chủ trương của đảng là huy động sự nỗ lực quyết tâm của cả hệ thống chính trị, cả quốc gia, dân tộc để kiên quyết đấu tranh loại bỏ hiện tượng này ra khỏi đời sống xã hội. Đó hoàn toàn không phải là thanh trừng nội bộ hay tranh giành quyền lực như các thế lực thù địch đã rêu rao.
Luận điệu xảo trá nguy hiểm thứ hai là “phòng, chống tham nhũng sẽ làm suy yếu nền kinh tế”, khiến các hoạt động kinh tế bị tê liệt. Ngày 28/3 vừa qua, trang web và fanpage của Đài Châu Á Tự do (RFA) đăng bài viết khẳng định: “Hai chủ tịch nước rớt chức trong một năm là tín hiệu đáng lo ngại cho nhà đầu tư nước ngoài”. Trước đó, ngày 28/11/2022, RFA cũng đăng bài với nội dung vô căn cứ cho rằng: “Cuộc chiến chống tham nhũng rộng khắp của Đảng Cộng sản Việt Nam đang khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, giảm xuất khẩu”. Đài VOA tiếng Việt hôm 29/11/2022 rêu rao: Chiến dịch chống tham nhũng của Việt Nam làm tê liệt chuỗi cung ứng đầu tư, tê liệt nhiều giao dịch thông thường trong nước, gây ra tình trạng thiếu hàng hóa thiết yếu và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư.
Tuy nhiên, luận điệu này là hoàn toàn không có cơ sở, bởi chính tham nhũng mới là tệ nạn kéo lùi sự phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào. Chính tham nhũng làm hủy hoại uy tín, môi trường đầu tư của đất nước, làm giảm dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; gây thất thoát nghiêm trọng tài sản của nhà nước của nhân dân, gây rối loạn nền kinh tế… Dù ở chế độ nào, XHCN hay TBCN thì chính quyền cũng phải ưu tiên phòng chống tham nhũng, nhằm mở đường cho phát triển đầu tư, kinh tế, ổn định xã hội. Cuộc chiến chống tham nhũng được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm, đặc biệt là ở các nền kinh tế hàng đầu như Mỹ, Liên minh Châu Âu (EU). Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore đều có các cơ chế kiểm soát, chống tham nhũng nghiêm ngặt. Do đó, hoàn toàn không có cơ sở nào cho luận điệu xảo trá rằng cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế. Trái lại, trên thực tế, những nỗ lực phòng chống tham nhũng đã góp phần làm ổn định nền kinh tế - xã hội; củng cố, vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế, đưa Việt Nam trở thành thị trường có sức hút lớn với nhà đầu tư nước ngoài.
Một luận điệu khác được các thế lực xoáy đến là “lò lửa” chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí” cán bộ, đảng viên, làm “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, từ đó kìm hãm sự phát triển đất nước. Nhưng trên thực tế, không ai có thể phủ nhận cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của đảng và Nhà nước ta đã tạo hiệu ứng tích cực trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Đảng và chính quyền ta càng trong sạch thì sức mạnh và uy tín càng được củng cố, nội bộ càng đoàn kết, thống nhất. Việc đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng chỉ làm "chùn bước" những kẻ có động cơ không trong sáng, hay tay đã trót "nhúng chàm".
Cuối cùng, “ngón nghề” quỷ quyệt, đen tối nhất trong các luận điệu chống phá, thù địch thì phải kể đến việc bọn chúng tung ra những lập luận xảo trá, ngụy biện cho rằng tham nhũng là bản chất của chế độ XHCN, là căn bệnh nan y của “chế độ độc đảng cầm quyền”, rằng “chế độ một đảng sẽ không thể chống được tham nhũng”. Chúng lớn tiếng hô hào, “chỉ tự do chính trị mới giúp Việt Nam chống được tham nhũng” và vu cáo rằng công tác phòng chống, tiêu cực ở Việt Nam chỉ là “chiêu trò mị dân”. Đây được coi là “át chủ bài” của hoạt động chống phá, nhắm đến mưu đồ đen tối nhất là thúc đẩy “tự diễn biến”, tự chuyển hóa”, kích động đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.
Rõ ràng tung ra những luận điệu nham hiểm, trắng trợn như vậy, bọn chúng cố tình bỏ qua một vấn đề lý luận đã quá rõ ràng rằng: tham nhũng là sản phẩm của xã hội có giai cấp và nhà nước, là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực. Tham nhũng được sinh ra tại nơi có quyền lực tồn tại, trong bất kỳ thời điểm lịch sử nào, không phân biệt chế độ nhà nước đó là gì, thể chế chính trị là đa đảng hay độc đảng. Và một thực tế hiển nhiên là, tham nhũng vẫn đang là vấn nạn ở mọi quốc gia, mọi chế độ trên thế giới. Đảng và Nhà nước ta luôn nhận diện đúng về tham nhũng, nhìn thẳng vào thực tế, không phủ nhận tham nhũng vốn đã và đang tồn tại như một thứ “giặc nội xâm”, từ đó, nhất quán quan điểm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng; huy động quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” để chống tham nhũng. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh rất nhiều vụ án, đại án tham nhũng, tiêu cực. Rõ ràng Đảng ta không chỉ có quyết tâm chống tham nhũng mà còn có đủ năng lực chống tham nhũng hiệu quả.
Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực “đã trở thành phong trào, thành xu hướng không thể đảo ngược”, thể hiện quyết tâm, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước ta. Khi đảng viên và quần chúng nhân dân đã đặt niềm tin vào công cuộc đó, thì bất kỳ luận điệu chống phá, xuyên tạc nào cũng trở nên lạc lõng, lố bịch./.
ST

SỨC SỐNG VÀ GIÁ TRỊ HIỆN THỰC CỦA THI ĐUA YÊU NƯỚC THEO LỜI DẠY CỦA BÁC

 76 năm sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2024), sức sống và giá trị hiện thực của phong trào thi đua yêu nước sâu rộng, thiết thực trên cơ sở thấm nhuần sâu sắc vai trò của quần chúng Nhân dân trong sự nghiệp cách mạng và thi đua yêu nước chính là phát huy sức mạnh nội lực của toàn dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước vẫn hiển hiện sinh động trong thực tiễn.

“Thi đua là yêu nước”
Yêu nước là tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân và yêu nước luôn gắn liền với bổn phận, trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước, nên yêu nước không chỉ là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, mà còn là một giá trị tinh thần, luôn luôn đồng hành cùng dân tộc trong hành trình dựng nước và giữ nước. Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ chú trọng khơi dậy, phát huy truyền thống yêu nước, nhân nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc, mà Người còn nhấn mạnh rằng, “dưới chế độ tư bản, thực dân và phong kiến quyết không thể có phong trào thi đua yêu nước (…) Chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ và nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua”. Vì thi đua “là một cách yêu nước thiết thực và tích cực”, cho nên, khi mỗi người dân hiểu được rằng “thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và lợi ích cho làng cho nước, cho dân tộc”, thì sẽ hăng hái tham gia để thi đua yêu nước ngày càng phát triển, trở thành một phong trào cách mạng quần chúng rộng rãi, sâu sắc, phong phú.
Và cũng vì thế, sau chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947, để tiếp tục phát huy sức mạnh của các tầng lớp Nhân dân trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, theo ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27/3/1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc; trong đó, nêu rõ: “Mục đích thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc mau thành công”. Tiếp đó, ngày 1/6/1948 Người ký Sắc lệnh số 195-SL thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc Trung ương và các cấp; ngày 11/6/1948, Người ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc.
Trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Mục đích của thi đua là để “Diệt giặc đói, Diệt giặc dốt, Diệt giặc ngoại xâm” nhằm thực hiện “Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc”. Vì thế, “cách làm là dựa vào: Lực lượng của dân, Tinh thần của dân, để gây: Hạnh phúc cho dân”, nên:“Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia công việc, Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn, Đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp, Đồng bào công nông thi đua sản xuất, Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh, Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự Nhân dân, Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng”... Với tinh thần và ý chí thi đua yêu nước tích cực của mọi giai tầng trong xã hội như thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng rằng “ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc. Phong trào sôi nổi. Thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp về mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp chúng ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng”.
“Thi đua là đoàn kết”
Vì thi đua yêu nước là hoạt động sáng tạo, tích cực trong mọi lĩnh vực của cuộc sống như lao động, sản xuất, học tập… ở hậu phương cũng như trên trận tuyến đánh quân thù ngoài tiền tuyến; được diễn ra trong suy nghĩ, hành đông, trong công việc thường ngày của mỗi người, nên đó là một trong những biểu hiện của lòng yêu nước, của tinh thần, ý chí và sự nỗ lực, hy sinh phấn đấu vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc. Vì thế, cũng sẽ không ngạc nhiên khi Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất” và thông qua phong trào thi đua yêu nước, ý thức cộng đồng và tinh thần đoàn kết của mỗi người được nhân lên, được phát huy để nhân nguồn sức mạnh nội lực của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thực tế cũng cho thấy, các phong trào thi đua yêu nước đã trở thành động lực quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam. Sức mạnh, ý chí của tinh thần “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” thông qua các phong trào thi đua yêu nước “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”; “Bình dân học vụ”; “Hũ gạo kháng chiến”; “Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công, đồng bào ở hậu phương thi đua tăng gia sản xuất”; “Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”; “Ba nhất” trong Quân đội; “Gió Đại Phong” trong nông nghiệp; “Sóng Duyên Hải” trong công nghiệp; “Hai tốt” trong ngành giáo dục; “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong” trong thanh niên; “Ba đảm đang” trong phụ nữ; “Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công”, “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt” hay “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt”… trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vừa đấu tranh để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954-1975) đã góp phần làm nên “thành công, thành công, đại thành công” của sự nghiệp cách mạng.
Đồng thời, những bài học kinh nghiệm cùng ý nghĩa, giá trị hiện thực từ các phong trào thi đua yêu nước trong những năm tháng đầy gian khó đó không chỉ cho thấy tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước “chẳng những bồi dưỡng tinh thần đoàn kết và tinh thần yêu nước của dân tộc ta, mà lại làm cho nhân dân ta đoàn kết với nhân dân lao động thế giới” được thực hiện sinh động trên thực tiễn, mà còn chứng minh rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự vào cuộc của các cơ quan, ban, ngành chức năng, thi đua yêu nước đã trở thành phong trào rộng khắp; đã huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và thực sự lan tỏa sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Tiếp tục đẩy mạnh thi đua yêu nước để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước
Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kể từ khi cả nước thống nhất cùng chung sức, đồng lòng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc, những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc cách đây 76 năm cũng như trong những bài viết, bài phát biểu khác của Người đều được tiếp tục triển khai trên cơ sở vận dụng sáng tạo, phù hợp điều kiện cụ thể của mỗi giai đoạn cách mạng.
Luôn xác định rõ yêu nước là mẫu số chung của mọi người Việt Nam, cho nên mọi giai tầng, không phân biệt giới tính, tôn giáo, thành phần, già hay trẻ; dù ở miền xuôi hay miền ngược, ở trong nước hay ngoài nước đều tích cực thi đua là để “ích nước, lợi nhà” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong các phong trào thi đua, chúng ta thấy đủ các dân tộc: Kinh, Thổ, Mán, Mường,v.v.. đủ các tín ngưỡng, lương có, giáo có, đủ các tầng lớp binh, công, nông, sĩ, đủ các hạng người già, trẻ, gái, trai” đều cụ thể hóa lòng yêu nước bằng hành động thực tế. Tiếp nối truyền thống đó, từ sau năm 1975, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, phong trào thi đua yêu nước luôn nhận được sự hưởng ứng rộng khắp, sôi nổi và mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân; ngày càng được tổ chức và thực hiện sáng tạo, linh hoạt với nội dung cụ thể, thiết thực, hình thức phong phú trên mọi lĩnh vực, trên khắp mọi miền của Tổ quốc...
Đặc biệt, trong mấy nhiệm kỳ gần đây, các phong trào thi đua yêu nước thường được tổ chức gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, với việc triển khai Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị khóa XI về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" trong cả hệ thống chính trị và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" cùng các Quyết định về nêu gương… trong cả hệ thống chính trị .
Đó chính là học và làm theo Bác về thi đua yêu nước trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, trong lực lượng vũ trang (quân đội, công an) và các tổ chức Hội (phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh, văn học - nghệ thuật…),v.v… Trong đó, không thể không nhắc đến các phong trào thi đua “Lao động giỏi - Lao động sáng tạo” của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; “Cựu chiến binh gương mẫu” của Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Thi đua Quyết thắng”, “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong quân đội; “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy”, “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ” trong công an hay “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”… lan tỏa sâu rộng từ Trung ương đến địa phương, ở tất cả các cấp, các ngành.
Thi đua yêu nước theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là “phải có sự lãnh đạo đúng. Trước khi thi đua phải chuẩn bị đầy đủ (giải thích cổ động, xem xét kế hoạch mỗi nhóm, mỗi người) trong lúc thi đua phải thiết thực đôn đốc, giúp đỡ, sửa đổi. Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi”; phong trào thi đua phải phong phú, đa dạng, toàn diện, thiết thực, hiệu quả, thường xuyên và liên tục để thông qua đó mà thúc đẩy sự ham hiểu biết, sáng tạo, tiến bộ và gom góp sáng kiến, rút ra kinh nghiệm; trao đổi, tổng kết kinh nghiệm và phổ biến kinh nghiệm để không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân mỗi người, là để “chiến thắng mọi tính xấu trong mình ta”. Cũng theo Người, việc tổ chức phong trào thi đua yêu nước cần thiết thực, tránh bệnh hình thức; các phong trào thi đua phải gắn liền với việc lựa chọn, xây dựng gương điển hình và bình bầu thi đua đúng, công khai, chặt chẽ để khen thưởng đúng người, đúng việc sẽ không chỉ giúp cho thi đua đi vào thực chất, mà việc khen thưởng cũng được chính xác, góp phần động viên mọi người cùng tích cực thi đua “vượt qua mọi sự khó khăn, để mà tranh lấy thắng lợi”.
Vì thế, thực hiện thi đua yêu nước theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ góp phần thiết thực khơi dậy cái “chân, thiện, mỹ” mà còn thúc đẩy sự nỗ lực, tính nhân văn, hướng thiện, đoàn kết, sáng tạo… của mỗi con người, để tự bản thân mỗi người từng bước đẩy lùi cái ác, cái tiêu cực, lạc hậu, làm cho cái thiện sinh sôi, nảy nở. Và cũng vì thế, có thể khẳng định rằng: Học và làm theo Bác về thi đua yêu nước không chỉ là thiết thực rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hiện “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, tinh thần sẵn sàng dám làm, dám chịu trách nhiệm để đem lại lợi ích cho nhân dân, cho xã hội và cho đất nước, mà còn tạo ra một môi trường rộng rãi để mỗi người dân nói chung, cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng gương mẫu đi đầu, thống nhất giữa nói và làm, nhất là nói trước, làm trước để phụng sự Tổ quốc và nhân dân với tinh thần tận tụy, công bình, liêm chính nhằm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.
St

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 65 NĂM NGÀY MỞ ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH - NGÀY TRUYỀN THỐNG BỘ ĐỘI TRƯỜNG SƠN (19/5/1959 - 19/5/2024)

 I. SỰ RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN CỦA ĐOÀN 559 - BỘ ĐỘI TRƯỜNG SƠN - ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

1. Sự ra đời của Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được ký kết, đất nước ta bị chia cắt làm hai miền: miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn tạm thời nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Ngô Đình Diệm. Để giữ vững liên lạc giữa hai miền Nam - Bắc, bảo đảm cho Trung ương Đảng chỉ đạo phong trào cách mạng ở miền Nam, ta mới chỉ có một tuyến liên lạc qua miền tây Quảng Trị do Liên khu ủy 5 phụ trách, chỉ đạo từ giới tuyến trở vào và Ủy ban Thống nhất Trung ương phụ trách từ giới tuyến trở ra. Tuy nhiên, con đường này không thể đáp ứng được yêu cầu vận tải người và vũ khí với số lượng lớn khi cách mạng miền Nam phát triển.
Bước sang năm 1959, cách mạng miền Nam đứng trước một bước ngoặt, đòi hỏi Đảng ta phải có quyết sách kịp thời. Tháng 1/1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 15 (khóa II) đã đề ra nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 của Đảng về nhiệm vụ chi viện cho miền Nam, việc nhanh chóng mở đường vận chuyển chi viện chiến lược cho các chiến trường trở thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Trước tình hình đó, tháng 5/1959, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn công tác quân sự đặc biệt (sau gọi là Đoàn 559), làm nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng hóa, tổ chức đưa đón bộ đội, cán bộ từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc với phương thức vận chuyển ban đầu hết sức thô sơ, chủ yếu là đi bộ, mang vác, gùi thồ.
Sau một thời gian gấp rút chuẩn bị, ngày 19/5/1959, Thường trực Tổng Quân ủy chính thức giao nhiệm vụ cho “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” làm nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng quân sự vào miền Nam, tổ chức đưa đón bộ đội, chuyển công văn, tài liệu từ miền Bắc vào miền Nam và ngược lại. Năm 1959, Đoàn có nhiệm vụ soi đường, bảo đảm giao thông liên lạc từ miền Bắc vào miền Nam, vận chuyển gấp 7.000 súng bộ binh, tổ chức bảo đảm đưa 500 cán bộ trung cấp, sơ cấp hành quân vào chiến trường làm nòng cốt xây dựng lực lượng chủ lực.
Để hoàn thành nhiệm vụ, Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng quyết định biên chế bước đầu của Đoàn là 500 cán bộ, chiến sĩ. Ngoài Đoàn bộ, Đoàn được tổ chức thành Tiểu đoàn vận tải bộ 301 và các bộ phận: xây dựng kho, bao gói hàng, sửa chữa vũ khí, chế biến thực phẩm.
Này 19/5/1959, ngày Bộ Chính trị và Thường trực Tổng Quân ủy triệu tập Ban Cán sự chính thức giao nhiệm vụ cho Đoàn mở đường chi viện cho chiến trường miền Nam cũng là ngày truyền thống của Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh.
Đầu tháng 6/1959, Đoàn 559 tổ chức đội khảo sát mở tuyến vào Nam bắt đầu từ Khe Hó (nằm giữa một thung lũng ở tây nam Vĩnh Linh), sau đó vạch tuyến phát triển về hướng Tây Nam, điểm đặt trạm cuối cùng là Pa Lin, kế cận trạm tiếp nhận của Khu 5. Con đường này phải vượt qua nhiều dãy núi cao hiểm trở, khí hậu vô cùng khắc nghiệt. Để bảo đảm tuyệt đối bí mật, khẩu hiệu hành động của Đoàn là: “Ở không nhà, đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”; phải chủ động tránh địch và bí mật.
Ngày 13/8/1959 chuyến hàng đầu tiên chính thức vượt Trường Sơn. Sau 8 ngày đêm vượt qua bao sông sâu, suối dữ, đèo cao và hệ thống đồn bốt chốt chặn của địch, ngày 20/8/1959, chuyến hàng đầu tiên được gùi bộ trên tuyến đường bàn giao cho Liên khu 5 tại Tà Riệp gồm 20 khẩu tiểu liên Tuyn, 20 khẩu súng trường Mát, 10 thùng đạn tiểu liên và đạn súng trường. Chuyến hàng đầu tiên tuy ít ỏi, song đã làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ Khu 5, thể hiện quyết tâm của Đảng và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của quân, dân miền Bắc gửi tới đồng bào, chiến sĩ miền Nam.
Sau khi ổn định, bước đầu phát triển về tổ chức, lực lượng và vận chuyển những chuyến hàng đầu tiên thành công, ngày 12/9/1959, Bộ Quốc phòng ra quyết định chính thức thành lập Đoàn 559 trực thuộc Bộ Quốc phòng.
Kết thúc năm 1959, Đoàn 559 đã chuyển được vào Khu 5 số hàng gồm 1.667 khẩu súng bộ binh, hàng trăm nghìn viên đạn và một số quân dụng thiết yếu khác, đưa 542 cán bộ, chiến sĩ vào làm nhiệm vụ ở miền Nam. Tuyến hành lang giao liên vận tải quân sự Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh được thiết lập, thật sự là cầu nối giữa hậu phương lớn miền Bắc với chiến trường miền Nam.
2. Sự phát triển nhanh chóng của Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn và hệ thống đường Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu từng giai đoạn cách mạng miền Nam
Giai đoạn 1960 - 1964: Những năm đầu xây dựng tuyến chi viện chiến lược.
Ở miền Nam, sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, phong trào cách mạng đã có bước phát triển mạnh mẽ. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị chủ trương đẩy mạnh hoạt động chi viện cho chiến trường. Vị trí, vai trò của Đoàn 559 ngày càng quan trọng, nhiệm vụ của Đoàn ngày càng nặng nề. Trong khi đó, địch ngày càng tăng cường lùng sục, đánh phá ác liệt hơn. Ngày 1/9/1960, Hội nghị Ban cán sự Đoàn 559 ra nghị quyết nêu rõ: “Phải quyết tâm tự lực cánh sinh, tranh thủ sử dụng đi đường cũ, đồng thời tiếp tục soi đường mới để làm đường dự bị”.
Tháng 11/1960, Bộ Tổng Tham mưu quyết định thành lập Đoàn 70, lực lượng nòng cốt là Tiểu đoàn 301. Xuất phát từ tình hình thực tế, phương thức vận chuyển của Đoàn được thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh, nhanh chóng chuyển đổi phương thức hoạt động mới, từ phòng tránh bị động tiến tới phòng tránh tích cực với phương châm: Đánh địch mà đi, đánh địch để vận chuyển[1].
Trong khi tuyến giao liên vận tải quân sự từ miền Bắc được mở dọc theo dãy Trường Sơn tiến dần vào phía Nam thì ở Trung Bộ, các con đường giao liên được mở tiếp vào các khu căn cứ Tây Nguyên và từ miền Đông Nam Bộ các đội vũ trang tuyên truyền cũng tiến hành soi đường ra Bắc. Đến cuối năm 1960, ta đã thiết lập được tuyến giao liên vận tải từ Trung Bộ vào miền Đông Nam Bộ, tuyến giao liên quân sự Trường Sơn thật sự trở thành cầu nối giữa miền Bắc với các căn cứ miền Nam.
Trong mùa khô 1960 - 1961, Đoàn 559 đã vận chuyển giao cho chiến trường được 30 tấn vũ khí, bảo đảm lương thực cho gần 2.000 cán bộ vào chiến trường, có chân hàng dự trữ cho các đợt vận chuyển tiếp theo.
Ngày 31/1/1961, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về nhiệm vụ quân sự 5 năm (1961 - 1965) và phương hướng, nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam. Trong đó có nhiệm vụ: Mở rộng đường hành lang vận chuyển Bắc - Nam, cả đường bộ và đường biển... nâng dần quy mô và khối lượng tiếp tế vận chuyển phương tiện vũ khí, cung cấp tài chính từ miền Bắc vào miền Nam. Trước tình hình địch đánh phá ngày càng ác liệt, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào nhất trí với đề nghị của ta mở tuyến đường vận tải trên đất Lào, đồng thời cũng đề nghị dùng đường đó để vận chuyển một số nhu cầu thiết yếu tới Nam Lào, cùng Lào mở rộng vùng giải phóng ở khu vực này. Ngày 14/6/1961, Đoàn 559 chính thức bước vào hoạt động trên tuyến Tây Trường Sơn.
Ngày 23/10/1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 96/QP phát triển Đoàn 559 tương đương cấp sư đoàn, quân số 6.000 người. Không chỉ phát triển về số lượng, Đoàn 559 đã có bước phát triển quan trọng về chất lượng. Các chiến sĩ Trường Sơn vừa là người lính vận tải, vừa là chiến sĩ bộ binh, công binh, vừa công tác, vừa chiến đấu.
Đến cuối năm 1964, bộ đội tuyến 559 cùng các đơn vị vũ trang, thanh niên xung phong và giao thông Quân khu 4 đã xây dựng được tuyến hành lang vận tải gồm nhiều trục đường gùi thồ và một trục đường cơ giới ở Tây Trường Sơn, thực hiện được chiến dịch vận chuyển quy mô lớn mà Quân ủy Trung ương giao. Về lực lượng, sau hơn 5 năm hoạt động, quân số của Đoàn 559 lên đến 8.000 người.
Kết thúc năm 1964, Đoàn 559 đã đưa đón quân vào Khu 5: 15.896 người, Nam Bộ: 1.571 người.
Giai đoạn 1965 - 1968: Tuyến vận tải cơ giới đường Hồ Chí Minh vươn sâu chi viện cho chiến trường miền Nam góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ xâm lược.
Ngày 3/4/1965, Thường trực Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết tăng cường nhiệm vụ và tổ chức của Bộ Tư lệnh 559: Nhiệm vụ chủ yếu của Đoàn 559 là mở đường và tổ chức vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam và Hạ Lào; đồng thời có nhiệm vụ bảo đảm vật chất và an toàn cho các lực lượng hành quân, bảo vệ hành lang chống địch tập kích bằng đường bộ và đường không, phối hợp và giúp đỡ các địa phương củng cố vùng giải phóng ở dọc hành lang.
Bộ Tư lệnh 559 có ba lực lượng chính là: lực lượng mở đường mới, giữ gìn và sửa chữa đường cũ; lực lượng vận chuyển và giữ kho; lực lượng bảo vệ. Ngoài ra còn có các lực lượng bảo đảm khác như: thông tin, quân y, sửa chữa... Về tổ chức, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh của Đoàn tương đương cấp quân khu trực thuộc Quân ủy Trung ương.
Quyết định trên đánh dấu bước phát triển mới của Đoàn 559, từ vận tải thô sơ chuyển sang vận tải cơ giới; từ quy mô cấp sư đoàn lên quy mô cấp quân khu với những nhiệm vụ chiến lược to lớn, vô cùng khó khăn, phức tạp trên một địa bàn rộng.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, tháng 2/1966, Bộ Tư lệnh 559 giải thể các tuyến, tổ chức thành 8 binh trạm; mỗi binh trạm phụ trách một khu vực nhất định và đều có một tiểu đoàn công binh.
Đầu năm 1967, đồng chí Đồng Sỹ Nguyên được Bộ Quốc phòng điều làm Tư lệnh Đoàn 559 kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần tiền phương. Với tác phong sâu sát, cụ thể, sau khi đã khảo sát nắm chắc tình hình trên toàn tuyến, Đồng chí đã cùng Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh có nhiều quyết định sáng tạo nhằm đổi mới phương châm, phương thức hoạt động, xây dựng vững chắc thế trận Trường Sơn.
Bắt đầu từ mùa khô 1966 - 1967, đường giao liên tách khỏi đường ô tô; hệ thống cầu đường được đổi mới một cách cơ bản trong thế trận hiệp đồng chiến đấu giữa các quân, binh chủng trên toàn tuyến; nhờ đó công tác vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam tăng gấp 25 lần, giao cho bạn Lào tăng gấp 12 lần so với năm 1966, đưa bộ đội vào chiến trường tăng gấp 2,5 lần so với chỉ tiêu Bộ giao.
Cuối năm 1967, Đoàn 559 đã xây dựng được một mạng đường vững chắc với 2.959km đường ô tô bao gồm các trục dọc chính, trục dọc phụ, đường ngang, đường vòng tránh và đường vào kho lấy hàng. Đây là một thế trận cầu đường có thể hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Sự phát triển của hệ thống đường Hồ Chí Minh đã phục vụ đắc lực cho công tác vận chuyển chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Năm 1968, Đoàn 559 đã có 25 binh trạm, 23 trung đoàn; quân số lên đến 80.000 người.
Giai đoạn 1969 - 1972: Mở rộng đường Hồ Chí Minh, góp phần đánh bại một bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ xâm lược.
Hệ thống đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn không chỉ phát triển vào các chiến trường Nam Bộ và Tây Nguyên mà còn được phát triển mạnh ra phía Bắc, tiếp giáp với hậu phương lớn miền Bắc, đáp ứng với yêu cầu chi viện ngày càng lớn cho chiến trường miền Nam.
Tháng 7/1970, Bộ Tư lệnh 559 được đổi tên thành Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Các binh trạm được tổ chức thành các sư đoàn; gồm 8 sư đoàn, 1 đoàn chuyên gia (tương đương sư đoàn), 16 trung đoàn trực thuộc, 6 binh trạm.
Tháng 7/1971, Bộ Tư lệnh Trường Sơn được tổ chức thành: 5 Bộ Tư lệnh khu vực, 6 binh trạm trực thuộc, 6 trung đoàn công binh trực thuộc, 2 trung đoàn ô tô, 3 trung đoàn phòng không, 2 trung đoàn đường ống xăng dầu, 1 trung đoàn thông tin, 4 quân y viện và các cơ quan trực thuộc. Bộ Quốc phòng cho phép tăng thêm 61 tiểu đoàn, nâng tổng số lên 188 tiểu đoàn và tương đương trực thuộc các binh trạm; bổ sung 35.000 quân (20.000 bộ đội và 15.000 thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, công nhân giao thông), nâng tổng quân số lên 92.000 người[2].
Ngày 5/5/1971, Bộ Tư lệnh Trường Sơn huy động toàn bộ lực lượng công binh và một số lực lượng khác đồng loạt ra quân mở “đường kín” (là các con đường chạy dưới các tán cây của rừng Trường Sơn). Đến cuối năm 1971, toàn tuyến đã mở được 1.190km đường kín. Vận chuyển trên đường kín đã trở thành xu thế chủ đạo trên đường Hồ Chí Minh, được Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Trường Sơn đánh giá rất cao, coi đó là một thành tựu có ý nghĩa chiến lược, tạo được thế bất ngờ đối với không quân địch. Hệ thống đường kín tiếp tục được phát triển trong những năm tiếp theo.
Cuối năm 1972, ta đã xây dựng được một mạng đường giao thông vận tải chiến lược gồm nhiều trục dọc, ngang và các đường vòng tránh, hình thành hệ thống đường cho các kiểu, loại xe cơ giới, với tổng chiều dài 11.000km. Giao thông vận tải phục vụ kháng chiến của toàn miền Nam trong năm 1972 đã góp phần quan trọng tạo nên chiến thắng to lớn của quân và dân ta trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, buộc đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn phải ký Hiệp định Pa-ri, đồng thời cũng góp phần cho cuộc tiến công chiến lược của quân và dân Lào giành thắng lợi toàn diện, buộc địch phải ký Hiệp định Viêng Chăn.
Giai đoạn 1973 - 1975: Hoàn thiện thế trận đường Hồ Chí Minh, cùng cả nước tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.
Đầu năm 1973, mạng đường chiến lược đã được xây dựng, mở rộng trên địa bàn Tây Trường Sơn, về cơ bản vẫn là tuyến đường đất, chỉ bảo đảm vận chuyển được trong mùa khô; còn trên địa bàn Đông Trường Sơn, ta chưa có điều kiện mở đường qua Tây Nguyên. Để đáp ứng yêu cầu tăng khối lượng vận chuyển, tăng tốc độ xe chạy, tăng mật độ phương tiện nhằm tổ chức vận chuyển lớn, cơ động lớn và nhanh các binh đoàn chủ lực và binh khí kỹ thuật đến các hướng tác chiến, ta cần nhanh chóng xây dựng, phát triển, hoàn thiện mạng đường giao thông vận tải chiến lược phía Đông, Tây Trường Sơn.
Để hoàn thành khối lượng lớn công việc được giao, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã tổ chức điều chỉnh, bố trí lực lượng phù hợp với tình hình; đồng thời được tăng cường lực lượng, phương tiện. Mùa khô 1973 - 1974, lực lượng công binh được triển khai trên toàn tuyến làm nhiệm vụ xây dựng, khôi phục và bảo đảm đường vận chuyển.
Giữa năm 1974, Bộ Tư lệnh Trường Sơn có tất cả 8 sư đoàn binh chủng, 20 trung đoàn và tương đương trực thuộc, hàng chục tiểu đoàn trực thuộc các cục nghiệp vụ; tổng quân số lên đến 100.495 người, trong đó có 13.155 sĩ quan[3].
Cuối năm 1974, tuyến vận tải quân sự chiến lược trên đường Hồ Chí Minh đã hoạt động cả mùa khô và mùa mưa, hình thành một hệ thống đường chiến lược nối liền từ hậu phương lớn miền Bắc với các chiến trường, bảo đảm cho tất cả loại binh khí kỹ thuật cơ động trong đội hình hành quân của các quân đoàn, binh chủng hợp thành ra trận.
Từ khi ra đời cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 toàn thắng, đường Hồ Chí Minh không ngừng được mở rộng, kéo dài, ngày càng phát triển, vươn sâu tới các chiến trường, các hướng chiến lược, chiến dịch. Đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, đường Hồ Chí Minh đã mở rộng, vươn dài tới Lộc Ninh (Bình Phước) với tổng chiều dài gần 17.000km đường cho xe cơ giới (gồm 5 trục dọc, 21 trục ngang); đường giao liên dài trên 3.000km; đường ống dẫn xăng dầu gần 1.400km; cùng với hệ thống đường vòng tránh, đường sông, đường thông tin liên lạc[4]... Trên mọi nẻo đường, hệ thống cung trạm, binh trạm, kho tàng, bến bãi, trạm bảo dưỡng sửa chữa xe máy... được xây dựng trong một thế trận ngày càng hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của chiến trường.
II. NHỮNG ĐÓNG GÓP NỔI BẬT CỦA ĐOÀN 559 - BỘ ĐỘI TRƯỜNG SƠN, ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUỐC TẾ VẺ VANG
1. Đường Hồ Chí Minh là tuyến vận tải quân sự chiến lược, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện sức người, sức của cho các chiến trường
Hệ thống đường Hồ Chí Minh vượt Trường Sơn ngày càng hoàn chỉnh, sức người, sức của đưa vào chiến trường miền Nam ngày càng tăng. Tính trong 6 tháng cuối năm 1959 (khi đường Hồ Chí Minh mới hình thành), với phương thức gùi bộ là chủ yếu, Đoàn 559 mới vận chuyển được 32 tấn vũ khí giao cho Khu 5, thì trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, lượng hàng đưa đến các chiến trường là hơn 27.900 tấn, cùng hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, đơn vị kỹ thuật cung cấp cho các mặt trận. Khi ta mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, lượng hàng vận chuyển tới các chiến trường lên tới 66.500 tấn. Đặc biệt, trong hai năm chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, lượng hàng đã giao cho các chiến trường hơn 410.000 tấn. Tính chung trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bộ đội Trường Sơn, qua tuyến đường Hồ Chí Minh đã vận chuyển chi viện cho các chiến trường trên 1,5 triệu tấn hàng hóa và 5,5 triệu tấn xăng dầu[5]...
Cùng với vận chuyển hàng quân sự, trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, tuyến giao thông vận tải Trường Sơn đã bảo đảm cho hơn 1,1 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ đi vào chiến trường miền Nam và các hướng mặt trận lớn, đưa hơn 650.000 lượt cán bộ, chiến sĩ từ các chiến trường về hậu phương miền Bắc, trong đó có gần 310.000 thương binh, bệnh binh. Không chỉ là tuyến vận chuyển sức người và hàng hóa từ hậu phương ra tiền tuyến, Trường Sơn còn có một vị trí chiến lược quan trọng như là “xương sống” ở bán đảo Đông Dương, là nơi “đứng chân” của các binh đoàn chủ lực và các đơn vị binh chủng, kỹ thuật; là vùng hậu phương trực tiếp của các chiến trường, là bàn đạp xuất kích đã được chuẩn bị sẵn cho các binh đoàn chủ lực tiến công ra các hướng chiến dịch, chiến lược quan trọng.
Trong suốt 16 năm, Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh và Bộ đội Trường Sơn đã phát huy vai trò to lớn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện từ hậu phương lớn cho các chiến trường miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia, góp phần to lớn làm nên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, cuộc Tiến công chiến lược năm 1972, Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào. Đặc biệt, từ năm 1973 đến 1975, Bộ đội Trường Sơn đã nỗ lực vượt bậc, ra sức xây dựng, tu sửa, nâng cao chất lượng cầu đường đáp ứng yêu cầu của thời cơ chiến lược mới trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Chấp hành nghiêm mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, quán triệt phương châm “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, Bộ đội Trường Sơn đã nhanh chóng tổ chức vận chuyển từng binh đoàn chủ lực lớn của quân đội ta, đưa một khối lượng cơ sở vật chất kỹ thuật lớn tới chiến trường miền Nam; luôn bám sát các mũi tiến công của bộ binh, vừa tháo gỡ bom mìn, vừa nhanh chóng sửa chữa, bắc lại cầu mới cho quân ta tiến vào giải phóng các thành phố, thị xã và giải phóng Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
2. Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, chiến trường tổng hợp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trong đó, Bộ đội Trường Sơn là lực lượng nòng cốt
Để đánh bại âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, thực hiện thắng lợi phương châm “Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, quân, dân ta trên Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh luôn gắn liền vận chuyển với chiến đấu, chiến đấu là điều kiện tiên quyết để vận chuyển thắng lợi. Trên từng cung đường, mỗi chiến công của nhiệm vụ vận tải luôn đi cùng với những thành tích đánh địch bảo vệ đường, kho, trạm. Các lực lượng ta ở Trường Sơn còn tích cực, chủ động thực hiện nhiều chiến dịch lớn, đập tan chiến lược “chiến tranh ngăn chặn” của đế quốc Mỹ.
Bộ đội Trường Sơn từ một đơn vị nhỏ bé ban đầu đã trưởng thành nhanh chóng, bao gồm đủ các lực lượng: công binh, vận tải (ô tô, đường sông, đường ống), phòng không - không quân, bộ binh, giao liên, thông tin, hóa học, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến… thực sự trở thành một chiến trường tổng hợp, tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng trên quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chi viện cho các chiến trường. Với tinh thần “Sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm”, “Máu có thể đổ, đường không thể tắc”, bộ đội và dân công hỏa tuyến Trường Sơn đã bảo đảm giao thông thông suốt trong mọi tình huống.
Trên mặt trận Trường Sơn, các lực lượng, các quân, binh chủng, nòng cốt là Bộ đội Trường Sơn đã trực tiếp tổ chức thế trận đánh địch tại chỗ, bên cạnh đó Bộ đội Trường Sơn còn phối hợp với bộ đội chủ lực trên các chiến trường thực hiện nhiều chiến dịch lớn làm thất bại kế hoạch “ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc” của đế quốc Mỹ, giữ vững tuyến vận tải huyết mạch, đáp ứng yêu cầu chi viện ngày càng tăng của tiền tuyến miền Nam, chiến trường Lào, Campuchia.
Trong 16 năm, các lực lượng trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn đã chiến đấu trên 2.500 trận, diệt gần 17.000 tên địch, bắt 1.200 tên, gọi hàng trên 10.000 tên, bắn rơi 2.455 máy bay địch, phá hủy hàng vạn tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh khác của địch. Để giành thắng lợi vẻ vang đó, hơn 2 vạn cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong đã hy sinh, gần 3 vạn người bị thương, hàng nghìn người bị ảnh hưởng nặng nề chất độc màu da cam của địch. Biết bao bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, đồng bào các dân tộc đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân của mình để giữ vững mạch máu giao thông trên con đường huyền thoại này.
3. Đường Hồ Chí Minh là biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt chống kẻ thù chung của ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia và sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bạn bè quốc tế
Đường Hồ Chí Minh ra đời và phát triển, trước hết bắt nguồn từ nhu cầu của cách mạng Việt Nam. Trong quá trình đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh ra toàn Đông Dương, đường Trường Sơn đã không ngừng được củng cố, mở rộng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển cách mạng của ba nước Đông Dương. Quân và dân ba nước đã nêu cao tinh thần đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung, xây dựng và bảo vệ tuyến đường chi viện chiến lược.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi hoàn toàn, tuyến chi viện chiến lược Bắc - Nam (cả Đông và Tây Trường Sơn) đã đi qua 20 tỉnh thuộc ba nước Đông Dương, bảo đảm vận chuyển nhiều đơn vị bộ đội chủ lực và số lượng lớn vật chất cho các chiến trường; là sợi dây liên kết các chiến trường, là “khúc ruột” nối với các tuyến vận tải của hậu phương lớn miền Bắc và các tuyến vận tải của các chiến trường ba nước Đông Dương, tạo nên một hệ thống liên hoàn bền vững. Nhân dân các dân tộc Việt Nam, Lào và Campuchia trên tuyến đường hành lang đi qua đã tự nguyện dời bản, chuyển nhà, góp phần xây dựng, bảo vệ con đường trong suốt những năm chiến tranh. Nhờ đó, tình đoàn kết quân dân ba nước thêm gắn bó.
Không chỉ là tuyến hậu cần chiến lược, là hậu phương trực tiếp, căn cứ của chiến trường miền Nam Việt Nam, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn còn đảm bảo chi viện đắc lực cho chiến trường Lào và Campuchia, tiêu biểu là:
- Từ năm 1959 đến năm 1964, tuyến vận tải chiến lược đã bảo đảm vận chuyển hàng và tổ chức hành quân cho các đơn vị vào chiến trường miền Nam và Lào được 10.136 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ cùng hàng nghìn tấn hàng quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho cách mạng Việt Nam, Lào...
- Năm 1970, tuyến vận tải chiến lược đã vận chuyển trên 5.000 tấn vũ khí, đạn dược phục vụ kịp thời cho lực lượng cách mạng Campuchia phối hợp với Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đập tan cuộc hành quân Chen-la 1 của Mỹ - Thiệu - Lon Non.
- Trong hai năm 1973 - 1974, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn đã vận chuyển chi viện chiến trường miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia một khối lượng vật chất gấp 3,8 lần giai đoạn 1969 - 1972, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam, Lào và Campuchia tiến lên giành thắng lợi quyết định vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến.
Như vậy, đường Hồ Chí Minh không chỉ là biểu hiện ý chí sắt đá, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, mà còn là biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt cùng chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia và bạn bè quốc tế.
4. Đường Hồ Chí Minh và hoạt động tác chiến, mở đường của Bộ đội Trường Sơn đã góp phần quan trọng cho sự phát triển nền khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam độc đáo, sáng tạo
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều sáng tạo; trong đó việc mở đường Hồ Chí Minh là một sáng tạo chiến lược độc đáo của Đảng ta. Lần đầu tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, một tuyến đường vận tải chiến lược được xây dựng hoàn chỉnh để chi viện cho chiến trường với sự đa dạng về thành phần lực lượng và hoạt động tác chiến. Cùng với sự phát triển liên tục của công tác vận tải chi viện cho chiến trường, nghệ thuật quân sự trên chiến trường Trường Sơn luôn có sự sáng tạo và phát triển.
Việc tổ chức, xây dựng lực lượng và kết hợp các phương thức đấu tranh, phương thức vận chuyển trên Đường Trường Sơn là một thành công lớn trong chỉ đạo chiến lược, bước phát triển độc đáo trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh. Đó là nghệ thuật tổ chức lực lượng, tổ chức thế trận, tổ chức hệ thống lãnh đạo, chỉ huy, điều hành, tổ chức mạng đường và hệ thống binh trạm, cung trạm, kho tàng, bến bãi; nghệ thuật đánh địch, mở đường, bảo đảm hành quân, bảo đảm giao thông, bảo đảm vận chuyển... Đó là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối chính trị, quân sự và khoa học, nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam để giải quyết thành công một loạt vấn đề rất mới thuộc về vận tải chiến lược trong chiến tranh của Quân đội ta thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Đồng thời, đó là nghệ thuật tiến hành công tác đảng, công tác chính trị để xây dựng ý chí quyết chiến, quyết thắng cho các lực lượng, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vượt qua mọi gian khổ hy sinh để làm nên những kỳ tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần cùng toàn dân, toàn quân giành thắng lợi vĩ đại, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
III. PHÁT HUY KỲ TÍCH CỦA ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH, TRUYỀN THỐNG BỘ ĐỘI TRƯỜNG SƠN TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY
1. Xây dựng đường Hồ Chí Minh phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đường Hồ Chí Minh nằm ở phía Tây đất nước, có vị trí quốc phòng và an ninh quan trọng, có sự đa dạng về điều kiện tự nhiên và tài nguyên đất, rừng và các khu bảo tồn thiên nhiên, khoáng sản. Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết cần có một tuyến đường hoàn chỉnh, thống nhất, xuyên suốt nhằm đáp ứng cho hoạt động phát triển kinh tế, thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từ năm 1996, Chính phủ đã giao Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu quy hoạch tuyến đường để hình thành trục dọc đường bộ thứ hai ở phía Tây đất nước với tên gọi ban đầu là Xa lộ Bắc Nam (nay là đường Hồ Chí Minh).
Ngày 1/4/1997, Chính phủ đã có Quyết định số 195/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước về công trình Xa lộ Bắc Nam.
Trên cơ sở nghiên cứu và đề xuất của Bộ Giao thông vận tải, ý kiến của Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu tư và báo cáo kết luận của Ban chỉ đạo Nhà nước về công trình Xa lộ Bắc Nam, ngày 24/9/1997, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 789/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể Xa lộ Bắc Nam với điểm đầu tại Hoà Lạc (Hà Tây, nay là Hà Nội), điểm cuối tại ngã tư Bình Phước (Thành phố Hồ Chí Minh), tổng chiều dài xấp xỉ 1.800km, cơ bản bám theo hướng tuyến của các quốc lộ 21A, 15A, 15B, 14 và 13. Đồng thời, Chính phủ đã giao cho Bộ Giao thông vận tải phối hợp với Bộ Quốc phòng nghiên cứu nhánh phía Tây từ Khe Gát (Quảng Bình) đến Thạnh Mỹ (Quảng Nam).
Ngày 3/12/2004, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 38/2004/QH11 về chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh là công trình trọng điểm quốc gia với tổng chiều dài toàn tuyến là 3.167km (trong đó tuyến chính dài 2.667km, tuyến nhánh phía Tây dài 500km); điểm đầu là Pác Bó (tỉnh Cao Bằng), điểm cuối là Đất Mũi (tỉnh Cà Mau). Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội, xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, ngày 15/2/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 242/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể đường Hồ Chí Minh.
Ngày 5/4/2000, tại bến phà Xuân Sơn, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, Thủ tướng Chính phủ đã phát lệnh khởi công xây dựng; đến ngày 21/3/2008, Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các công trình xây dựng đã tiến hành nghiệm thu chất lượng công trình xây dựng đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1 (đoạn từ Thạch Quảng tới Ngọc Hồi).
Không phải đến khi nghiệm thu cấp Nhà nước, đường Hồ Chí Minh mới được đưa vào khai thác, mà ngay từ năm 2003, rất nhiều tuyến trên đường Hồ Chí Minh sau khi nghiệm thu cơ sở đã phát huy hiệu quả, tạo ra diện mạo mới cho nhiều vùng quê từ Đông Trường Sơn sang Tây Trường Sơn và từ Bắc chí Nam. Đối với các tỉnh Tây Nguyên, đường Hồ Chí Minh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cả về kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh. Đường Hồ Chí Minh trở thành trục giao thông chính, nối thông phía Bắc Tây Nguyên với các tỉnh miền Trung và liên thông sang nước bạn Lào và Campuchia.
Đường Hồ Chí Minh là một công trình to lớn, mang theo ý nguyện của Đảng, mong ước của Nhân dân, là một công trình có tính chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đến nay, mặc dù chưa hoàn thành 100%, nhưng đường Hồ Chí Minh đã và đang phát huy hiệu quả thực tế. Trong những năm tới, nhất là khi hoàn thành nối thông toàn tuyến từ Pác Bó (Cao Bằng) đến Đất Mũi (Cà Mau), đường Hồ Chí Minh sẽ càng đóng góp to lớn hơn, làm nên những “kỳ tích” mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Phát huy truyền thống Bộ đội Trường Sơn, Binh đoàn 12 - Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta giành thắng lợi, đầu tháng 7/1975, Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho Bộ đội Trường Sơn chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế.
Đầu năm 1976, Bộ Quốc phòng quyết định thống nhất Bộ đội Trường Sơn và Bộ Tư lệnh Công binh thành Bộ Tư lệnh Công trình. Đến tháng 3/1976, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Tổng cục Xây dựng kinh tế thay cho Bộ Tư lệnh Công trình.
Tháng 10/1977, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Binh đoàn 12 và Binh đoàn 14 trực thuộc Tổng cục Xây dựng kinh tế trên cơ sở lực lượng chủ yếu của Bộ đội Trường Sơn và được tăng cường thêm lực lượng của các đơn vị trong toàn quân chuyển sang làm kinh tế. Đến năm 1979, Tổng cục Xây dựng kinh tế và Binh đoàn 14 giải thể, Binh đoàn 12 chuyển về trực thuộc Bộ Quốc phòng, là đơn vị kế thừa truyền thống của Bộ đội Trường Sơn anh hùng. Nhiệm vụ chủ yếu của Binh đoàn là xây dựng cầu đường chiến lược, chiến dịch phục vụ nhiệm vụ xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc; trước mắt làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu ở mặt trận Tây Nam và biên giới phía Bắc.
Phát huy truyền thống Bộ đội Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ, bước vào mặt trận mới xây dựng kinh tế đất nước kết hợp với quốc phòng, với tinh thần cách mạng tiến công, cán bộ, chiến sĩ, công nhân và viên chức quốc phòng Binh đoàn 12 lại có mặt ở những nơi khó khăn, vùng sâu, vùng xa, trải rộng trên địa bàn 21 tỉnh, thành phố trong nước và 5 tỉnh của nước bạn Lào.
Những năm đầu, nhiệm vụ chủ yếu của Binh đoàn là xây dựng cơ bản đường Hồ Chí Minh dọc theo Đông Trường Sơn từ Nghệ An đến Bình Phước với tổng chiều dài 1.920km, góp phần quy hoạch lại dân cư, phát triển kinh tế các địa phương dọc Trường Sơn và Tây Nguyên. Đồng thời, năm 1978, trước yêu cầu phòng thủ đất nước ở phía Bắc, Binh đoàn đưa 5 sư đoàn làm nhiệm vụ xây dựng Quốc lộ 279, đường vành đai chiến lược nối thông các tỉnh biên giới phía Bắc, từ Quảng Ninh đến Lai Châu dài hơn 1.000km. Đây là con đường vành đai chiến lược nối liền 7 tỉnh biên giới phía Bắc và nối với các đường trục dọc, góp phần bảo đảm cơ động lực lượng, phương tiện làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Cùng với nhiệm vụ xây dựng cầu, đường bộ, Binh đoàn 12 còn xây dựng 6 tuyến đường sắt, tham gia xây dựng hàng loạt công trình trọng điểm của Nhà nước.
Trong hơn 10 năm sau Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, một số đơn vị thuộc Binh đoàn 12 đã xây dựng cơ bản 9 tuyến đường của bạn Lào với tổng chiều dài hơn 360km, 36 cầu vĩnh cửu; giúp bạn xây dựng một số công trình kinh tế, văn hóa ở 4 tỉnh; huy động hàng ngàn chuyến xe vận chuyển giúp bạn hàng ngàn tấn lương thực.
Ở trong nước, từ năm 1977 đến năm 1988, Binh đoàn 12 đã mở mới, sửa chữa nâng cấp được trên 5.500 km đường (trên 500km đường nhựa); 5.147m cầu, 31.758m cống bê tông, đào đắp hàng chục triệu mét khối đất đá. Tên của Binh đoàn 12 đã gắn liền với nhiều công trình trọng điểm của Nhà nước, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.
Đầu năm 1989, thực hiện sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế của cả nước, theo quyết định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng, Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn được thành lập trên cơ sở tổ chức biên chế và các lực lượng của Binh đoàn 12, là doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng, tự hạch toán, tự trang trải và trực thuộc Bộ Quốc phòng. Từ đây đơn vị mang 2 phiên hiệu: Binh đoàn 12 và Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn.
Từ năm 2017 đến năm 2020 thực hiện chủ trương của Chính phủ và Bộ Quốc phòng về cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Quân đội, trọng tâm là cổ phần hóa doanh nghiệp. Từ năm 2022 đến nay, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn tiếp tục được công nhận lại là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh.
Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của Bộ đội Trường Sơn anh hùng, sau 35 năm (1989 - 2024) phát triển trưởng thành, với nhiệm vụ xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, tự hoạch toán kinh doanh, với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm thực tiễn và bản lĩnh chính trị vững vàng đã giúp cho Tổng công ty từng bước vượt qua giai đoạn đầu đầy khó khăn, thử thách, không ngừng phát triển lớn mạnh; giá trị sản xuất hàng năm tăng khá, đặc biệt năm 2023 tăng 87% so với năm 2022 tăng gấp 2,5 lần so với năm 2019; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách nhà với Nhà nước.
Đến nay, Binh đoàn 12 đã trở thành một trong những tổng công ty mạnh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, giao thông cầu đường, thủy điện, thủy lợi; có đủ khả năng xây dựng các công trình trọng điểm có quy mô lớn trong nước và quốc tế. Nhiều công trình tầm vóc trọng điểm quốc gia trên khắp mọi miền Tổ quốc được Binh đoàn 12 thi công trong đó có nhiều gói cao tốc Bắc Nam trục dọc như: Mai Sơn - Quốc lộ 45, Quốc lộ 45 - Nghi Sơn, Nghi Sơn - Diễn Châu, Diễn Châu - Bãi Vọt, Bùng - Vạn Ninh, Vạn Ninh - Cam Lộ, Cam Lộ - La Sơn, Hòa Liên - Túy Loan, Hoài Nhơn - Quy Nhơn, Mỹ Thuận - Cần Thơ, Cần Thơ - Hậu Giang, Hậu Giang - Cà Mau… và 03 gói trục ngang Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu; các gói thầu thi công đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội; Vành đai 3 - Thành phố Hồ Chí Minh, cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang, đường kết nối ven biển tỉnh Quảng Ninh; các dự án sân bay như: Sân bay Long Thành, sân bay Phan Thiết, hệ thống Nhà ga, đường lăn, sân đỗ, đường cất hạ cánh tại Sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất; các dự án thủy điện Hòa Bình, thủy điện Ialy mở rộng; các gói thầu xây dựng Bệnh viện TW Quân đội 108, Bệnh viện Quân y 175 và một số dự án xây dựng đường đô thị, kè đê biển, đảo, đường tuần tra biên giới, rà phá bom mìn trên địa bàn các tỉnh...
Quá trình xây dựng, phấn đấu và trưởng thành, Binh đoàn 12 - Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; đoàn kết, chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng là đơn vị kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của Bộ đội Trường Sơn anh hùng.
Ghi nhận, biểu dương những chiến công và thành tích vẻ vang, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1959 - 1975) Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Huân chương Sao Vàng cho các thế hệ Bộ đội Trường Sơn; 85 tập thể và 52 cá nhân thuộc Bộ đội Trường Sơn được tuyên dương và truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và hàng trăm lượt đơn vị, hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng huân chương, huy chương các loại.
Trong thời kỳ xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng (1976 - 2024) được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Quân công; Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba và 06 năm liền (1981 - 1985) được tặng cờ thi đua của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ); 5 công trình được tặng “Huy chương vàng” và Bằng chứng nhận công trình chất lượng cao; 05 tập thể được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; 03 tập thể và 03 cá nhân được tuyên dương Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh - Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn; Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất cho Binh đoàn 12.
Kỷ niệm 65 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh - Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn là dịp để chúng ta bày tỏ lòng thành kính tri ân sâu sắc đối với các thế hệ cha anh đã một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”; mãi khắc ghi công lao to lớn của Bộ đội Trường Sơn, dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong, công nhân giao thông, văn nghệ sĩ, đồng bào các dân tộc đã từng tham gia, phục vụ chiến đấu làm nên con đường huyền thoại Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chi Minh. Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng và phẩm chất cao quý của Bộ đội Trường Sơn, chúng ta nguyện ra sức thi đua học tập, lao động, sản xuất và chiến đấu góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng./.
ST

MỘT SỐ SỰ KIỆN VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG NGÀY 04/5

 Ngày 04/5/1945, Lãnh tụ Hồ Chí Minh bắt đầu cuộc hành trình từ Pác Bó về Tân Trào. Cùng hành quân với tiểu đội tự vệ theo Bác còn có hai báo vụ viên Mắc Sin (Mc Shin) và P.Tan (F.Tan) đều gốc Hoa, biên chế của đơn vị tình báo chiến lược Mỹ (OSS) từ Côn Minh theo Bác về Việt Nam. Đoàn bắt đầu từ Khuổi Nậm, dọc theo suối Lê-nin qua các bản thuộc địa phận Cao Bằng rồi về Tân Trào (Tuyên Quang), tức là xa dần vùng biên giới Việt - Trung để mở rộng khu căn cứ địa Việt Bắc.

🌹
Ngày 04/5/1946, Bác viết thư gửi anh chị em giáo viên bình dân học vụ thể hiện rõ quan điểm của chế độ mới: “Chương trình của Chính phủ ta là làm thế nào cho toàn quốc đồng bào ai cũng có ăn, có mặc, có học. Vậy nên khẩu hiệu của chúng ta là: 1. Tăng gia sản xuất. 2. Chống nạn mù chữ. Anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp số 2 đó. Anh chị em chịu cực khổ, khó nhọc, hy sinh phấn đấu, để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hoá sơ bộ cho dân tộc.
Anh chị em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em... Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng”.
🌹
Ngày 04/5/1952, Bác dự Hội nghị của Bộ Chính trị bàn về vấn đề quân sự và ngân sách phục vụ kháng chiến. Sau những thử nghiệm thành công về việc cải tiến loại đại bác không giật DKZ của Công trình sư Trần Đại Nghĩa và các cộng sự, theo yêu cầu của Bác, việc nghiên cứu chế tạo và lắp ráp sẽ thực hiện tại Vân Nam (Trung Quốc) rồi chuyển về nước để bảo đảm an toàn.
🌹
Ngày 04/5/1962, Bác đọc diễn văn khai mạc Đại hội Liên hoan Anh hùng, Chiến sỹ thi đua toàn quốc lần thứ III. Sau khi biểu dương kết quả của 14 năm kể từ lần phát động đầu tiên (6-1948), Bác nhấn mạnh: “Anh hùng chiến sỹ thi đua và lao động tiên tiến phải làm đầu tàu lôi cuốn người khác cùng tiến bộ; đồng thời phải luôn luôn khiêm tốn, luôn luôn cố gắng học hỏi thêm để tiến bộ không ngừng... Như vậy thì đội ngũ lao động to lớn của chúng ta nhất định khắc phục được mọi khó khăn, đánh thắng sự bần cùng và lạc hậu, xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội..., Nam Bắc mau sum họp một nhà”.
🌹
Ngày 04/5/1965, Bác tiếp tục tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về chuyển hướng sản xuất công nghiệp trong bối cảnh chiến tranh phá hoại của Mỹ đã tấn công ra miền Bắc. Phát biểu tại Hội nghị (theo biên bản của phiên họp), Bác chỉ rõ một mặt phải chuẩn bị những khả năng xấu nhất nhưng cũng phải chuẩn bị khả năng để xây dựng tương lai. Khẩu hiệu trước mắt là tất cả để thắng Mỹ. Chúng ta quyết tâm không sợ tổn thất. Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Thắng được Mỹ sẽ làm được tất cả. Bác phê bình tác phong làm việc luộm thuộm, thưởng phạt thiếu nghiêm minh và đề nghị phải chú trọng vấn đề con người, nhất là thanh niên. Phải thấy hết khó khăn và dự báo mùa mưa tới, địch có thể phá đê...
St

 

CƯƠNG LĨNH, ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG VỚI VIỆC  

NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Việc nắm vững Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng chính là cơ sở chủ yếu để nâng cao văn hóa chính trị. Cương lĩnh chính trị xác định mục tiêu, con đường và những phương pháp chủ yếu trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, của Đảng và của các lực lượng cách mạng ở một giai đoạn tương đối dài. Nó cũng chỉ ra những động lực, những hình thức, những phương tiện chủ yếu để đạt được những mục tiêu chiến lược của cách mạng.

Đường lối chính trị là sự cụ thể hóa Cương lĩnh của Đảng trong những thời kỳ nhất định. Cương lĩnh, đường lối chính trị là cơ sở để hoạch định chính sách, xác định chủ trương, biện pháp tập hợp lực lượng và tổ chức đấu tranh thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị cụ thể thích ứng với điều kiện và tình thế chính trị ở mỗi giai đoạn cách mạng.

Nắm vững Cương lĩnh, đường lối của Đảng, giữ vững tính kiên định chính trị, đồng thời có khả năng đề ra và thực hiện những chủ trương, chính sách trên các lĩnh vực cụ thể, sát với thực tiễn nhằm quán triệt đúng đắn Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng thì mới có thể kiên trì sự lãnh đạo của Đảng, mới có cơ sở để nâng cao những tố chất của người cán bộ lãnh đạo chính trị. Bất kỳ một sự dao động, nghiêng ngả hoặc tính toán sai lầm nào trên những vấn đề thuộc về nguyên tắc của Đảng đều có thể dẫn đến sự suy thoái không chỉ văn hóa chính trị của cá nhân người cán bộ lãnh đạo mà còn gây hại lớn cho Đảng và chế độ.

Việc nhận thức, hiểu biết, nắm vững Cương lĩnh, đường lối của Đảng trong thời kỳ mới; mức độ kiên định, tinh thần tự giác quán triệt Cương lĩnh, đường lối là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá tính đảng và trình độ văn hóa chính trị của người cán bộ lãnh đạo.

Người cán bộ lãnh đạo không những nắm vững Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng mà còn phải thông qua thực tiễn, bằng những kinh nghiệm tích lũy được, góp phần bổ sung, cụ thể hóa và phát triển đường lối, chính sách.

 

KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ VÀ KHOA HỌC LÃNH ĐẠO - NHÂN TỐ QUAN TRONG ĐỐI VỚI QÚA TRÌNH NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO HIỆN NAY


Chính trị là một lĩnh vực khách thể rất phức tạp, nếu không được trang bị những tri thức căn bản để hiểu rõ bản chất và quy luật vận động của đời sống chính trị thì các chủ thể hoạt động chính trị rất dễ trở thành nạn nhân của những ảo tưởng chính trị. Muốn giải quyết đúng đắn những vấn đề chính trị thực tiễn hết sức phức tạp hiện nay, chính trị cần phải dựa chắc chắn trên những luận cứ chính xác của khoa học,... “Các cán bộ lãnh đạo, quản lý cần được trang bị những kiến thức khoa học, có hệ thống về chính trị, chứ không thể bằng lòng với tầm hiểu biết ở trình độ kinh nghiệm... Nhiều khi do thiếu hiểu biết lý luận, thiếu tri thức cơ bản và hệ thống về khoa học chính trị, thiếu văn hóa chính trị, chúng ta có thể phạm những sai lầm đáng tiếc”.

Khoa học chính trị đưa lại cho các chủ thể chính trị sự nhìn nhận tự giác, bao quát, hệ thống với tất cả sự phong phú của đời sống chính trị trong nước và quốc tế từ lịch sử đến hiện đại. Trên cơ sở đó mà có nhận thức sâu sắc về bản chất của chính trị, của các khuynh hướng chính trị, của sự vận động và phát triển xã hội trên phương diện đời sống chính trị, tổ chức và hoạt động chính trị. Khoa học chính trị đem lại cho các chủ thể chính trị ở nước ta mà trước hết là các chủ thể lãnh đạo một hệ thống tri thức cả lý luận và kinh nghiệm chính trị một cách tương đối hoàn chỉnh như là cơ sở trực tiếp cho việc hình thành những quan điểm cơ bản và phương pháp chính yếu cho việc giải quyết các vấn đề chính trị đang đặt ra. Bằng những nhận định có cơ sở khoa học về các xu thế vận động cơ bản, những vấn đề chính trị lớn của quốc gia và quốc tế, Chính trị học cung cấp dữ liệu khoa học cho các chủ thể lãnh đạo chính trị trong việc hoạch định đường lối, chiến lược và sách lược chính trị. Với những kiến thức về Chính trị học của mình, người cán bộ lãnh đạo có thể nhìn nhận được rõ hơn, từ đó giữ vững và kiên định con đường đi lên CNXH của đất nước, có khả năng nhận xét, phê phán và ứng xử thích hợp đối với các quyết sách chính trị hay các phong trào chính trị trong nước và trên thế giới.

Đi đôi với yêu cầu trang bị những kiến thức về Chính trị học đối với người cán bộ lãnh đạo là yêu cầu  trang bị những kiến thức về Khoa học lãnh đạo (chủ yếu là Khoa học lãnh đạo chính trị) với tư cách là một khoa học chính trị đặc thù ở cấp độ ứng dụng liên quan trực tiếp đến quy trình hoạt động của người cán bộ lãnh đạo.

Khoa học lãnh đạo phải trang bị kiến thức và kỹ năng cho người cán bộ nắm bắt và phân tích kịp thời những sự kiện, quá trình và tình huống chính trị cụ thể, khả năng phân tích tâm trạng, thái độ, phản ứng chính trị ở các đối tượng khác nhau trong những thời điểm khác nhau để có những quyết sách phù hợp và kịp thời. Thực tế là, thiếu những kiến thức và kỹ năng hành động chính trị cụ thể do Khoa học lãnh đạo đem lại, người cán bộ chính trị có thể rất lúng túng trước các tình huống phức tạp và tế nhị đòi hỏi phải ứng xử nhanh nhạy, chính xác.

Khoa học lãnh đạo chính trị cần được phát triển vì yêu cầu đi sâu vào nghiên cứu các nội dung: bản chất và mục đích của lãnh đạo; các yếu tố cơ bản và quan hệ qua lại trong hoạt động lãnh đạo; chức năng và tác dụng của hoạt động lãnh đạo; những vấn đề xã hội - tâm lý của công tác lãnh đạo; người lãnh đạo và con đường hình thành các phẩm chất thiết yếu; quá trình và cơ chế của hoạt động lãnh đạo; phương pháp và nghệ thuật lãnh đạo; chế định và thực thi chiến lược; quyết sách khoa học; chọn người tài và dùng người; giải quyết công tác chính trị tư tưởng; đối thoại chính trị; giao tiếp chính trị; người lãnh đạo tổ chức lao động của mình...