Gia đình có vai trò đặc biệt, là cái nôi văn hóa đầu tiên hình thành nhân cách con người, trong đó, giáo dục và nuôi dưỡng là hai yếu tố then chốt quyết định tạo nên nhân cách của mỗi người. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước, tấm lòng ái quốc của cha, tình cảm nhân ái, vị tha của mẹ, đức tính thương người, yêu nước, gan dạ từ các thành viên trong gia đình được truyền dạy đến Nguyễn Tất Thành qua tình yêu thương, sự dạy dỗ của đấng sinh thành, đã góp phần hình thành nên nhân cách, tầm nhìn và tư duy vĩ đại của một bậc vĩ nhân, kiến tạo nên mục tiêu, lý tưởng và con đường cứu dân, cứu nước cao cả của Người.
Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024
GIA ĐÌNH VỚI VIỆC HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC HỒ CHÍ MINH
Phân cấp - phân quyền: Vì sao vẫn dưới đẩy lên, trên đùn xuống? Năng lực cán bộ còn yếu kém
Cái gốc của thực trạng né tránh, đùn đẩy, làm việc cầm chừng là trình độ, năng lực của cán bộ còn yếu kém dẫn đến sợ làm sai, sợ trách nhiệm, sợ bị kỷ luật. Nắm nội dung công việc lơ mơ; lười nghiên cứu các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn, văn bản liên quan; thiếu sâu sát thực tiễn; quan liêu, làm việc rập khuôn, máy móc; tư tưởng ỷ lại chỉ trực đợi trên chỉ đạo xuống, dưới tham mưu lên... là điểm huyệt cốt tử tạo ra lực cản khiến chủ trương phân cấp, phân quyền khó đi vào thực tiễn.
"Thủ phạm" chính của sự ì ạch, kìm hãm phát triển
Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII, đồng chí Nguyễn Đình Quyền, khi ấy là Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, thẳng thắn nêu: “Đi chấm thi chuyên viên cao cấp trong 5 năm qua, tôi thấy rất đáng lo ngại về trình độ của cán bộ, dường như không nâng lên mà còn có dấu hiệu đi xuống. Chúng tôi chấm phúc tra nhiều bài và thấy, có một số cán bộ đáng lẽ không nên cho đi thi, bởi bài viết của họ nguệch ngoạc được mấy chữ, không hiểu về nội dung. Khi bị chấm dưới điểm trung bình thì họ đề nghị phúc tra, thật là thiếu sự tự trọng... Tôi nghĩ rất đáng báo động về năng lực cán bộ”.
Trao đổi với báo chí, đồng chí Nguyễn Đình Quyền bày tỏ hết sức trăn trở khi hỏi thi vấn đáp, có những cán bộ cấp cao không nắm rõ, thậm chí là “rất lơ mơ” về nội dung công tác quản lý nhà nước.
Vấn đề được lãnh đạo Ủy ban Tư pháp của Quốc hội chỉ ra tại phiên họp kể trên, là dẫn chứng cho những hạn chế, yếu kém cả về năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Cho đến nay, điều này vẫn là vấn đề đáng báo động khi tình trạng đùn đẩy, né tránh, sợ sai, sợ trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ diễn ra ở không ít cấp, ngành, tổ chức, cơ quan, đơn vị, mà một trong những nguyên nhân hàng đầu là do trình độ, năng lực yếu của một bộ phận cán bộ.
Thực tế thời gian qua, không ít cán bộ khi thực thi nhiệm vụ, xử lý, giải quyết công việc ngay từ cấp cơ sở đã không đáp ứng được yêu cầu. Bởi trình độ chuyên môn của họ còn nhiều hạn chế, cộng với việc thiếu hiểu biết, nắm không chắc về các quy định, hướng dẫn, chế độ, chính sách... dẫn tới việc nhận định, đánh giá tình hình chưa chính xác, không đưa ra được biện pháp xử lý kịp thời, hiệu quả, gây ách tắc công việc, thậm chí mất cơ hội của không ít người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Sự yếu kém về năng lực tạo ra tác phong làm việc thiếu khoa học, thiếu trách nhiệm trong phối hợp công tác, làm qua loa, đại khái...
Chưa khi nào cụm từ “né tránh, đùn đẩy, sợ sai, sợ trách nhiệm” được nhắc nhiều như thời gian vừa qua bởi tình trạng này diễn ra khá phổ biến ở các ngành, các địa phương. Trong năm 2022, Ban tiếp công dân Trung ương tiếp thường xuyên hơn 3.200 lượt, với hơn 10.000 lượt công dân đến trình bày hơn 2.500 vụ việc trong đó có gần 350 lượt đoàn đông người. Năm 2023, Trụ sở Tiếp công dân Trung ương tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh tiếp thường xuyên gần 3.800 lượt với gần 10.100 lượt công dân đến trình bày 3.640 vụ việc, có hơn 300 lượt đoàn đông người.
Theo lãnh đạo Ban Tiếp công dân Trung ương, nhiều vụ việc tố cáo, khiếu nại hoàn toàn thuộc thẩm quyền giải quyết ngay ở cấp huyện, nhưng lãnh đạo địa phương chưa cầu thị, chưa quan tâm tập trung giải quyết từ sớm, khiến cho bức xúc nảy sinh, dẫn đến khiếu kiện vượt cấp. Có những nơi mà người dân chưa bao giờ được gặp lãnh đạo địa phương để trình bày chính kiến và có những vụ việc kéo dài nhiều năm, khiếu kiện đông người, phức tạp tại huyện, thị xã thuộc tỉnh nhưng chưa được người đứng đầu tham gia tiếp dân để giải quyết.
Thực trạng trên khiến dư luận dấy lên nghi ngại: Sợ sai, sợ trách nhiệm nên không dám làm thì rõ rồi; thế nhưng nếu trình độ, năng lực đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ để làm đúng thì sao phải sợ? Bởi rõ ràng có những nội dung thuộc thẩm quyền của người đứng đầu, chính quyền ở cơ sở thì tại sao phải đùn đẩy lên cấp trên, nếu không phải là thiếu năng lực giải quyết công việc?
Có những điều tưởng chừng rất đơn giản như câu chuyện một bóng điện hỏng, được người dân phản ánh, kiến nghị lên cấp có thẩm quyền ở địa phương nhưng lại được trả lời là phải báo cáo và chờ thành phố giải quyết. Có những dự án trị giá nhiều tỷ đồng, nhưng thua lỗ, hoặc phải nằm đắp chiếu nhiều năm, nhưng vẫn chưa rõ trách nhiệm thuộc về ai. Đó là thực tiễn phản ánh việc phân cấp, phân quyền chưa thực sự hiệu quả ở một số nơi khi thẩm quyền chưa đi liền trách nhiệm, chưa phân định rõ ràng, rành mạch giữa việc “không dám làm” hay “không đủ trình độ, năng lực để làm” và có biện pháp xử lý dứt điểm. Bất cập trên là nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ của bộ máy trong hệ thống chính trị, là điểm nghẽn của sự phát triển.
Thay thế cán bộ yếu kém - không thể hô hào suông
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII thống nhất quan điểm: Khắc phục bằng được tình trạng cấp dưới đi hỏi cấp trên những vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, hoặc cấp trên trả lời chung chung khi có vướng mắc kiểu như “giải quyết theo đúng quy định của pháp luật”. Cùng với phân cấp, phân quyền rõ ràng, cần phải làm rõ chức năng nhiệm vụ của từng tổ chức, từng cá nhân trong bộ máy của hệ thống chính trị và nhận thức rõ quyền hạn, nhiệm vụ, chức năng của mình để làm cho đúng.
Như vậy, mấu chốt của vấn đề vẫn là nắm chắc, nhận thức đúng để có hành động đúng và điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ, người thực thi công vụ phải không ngừng học tập, tu dưỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Mỗi cá nhân cần hiểu rằng, sự yếu kém về năng lực, trình độ chuyên môn vừa ảnh hưởng tới chất lượng, hiệu quả công việc của chính mình, vừa kéo giảm chất lượng hoạt động của cả cơ quan, đơn vị.
Không phải ngẫu nhiên mà tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Kết luận và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Cán bộ dù ở vị trí nào cũng phải luôn có ý thức đầy đủ về trách nhiệm của mình, “đúng vai, thuộc bài”, thật sự có chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nội dung này tiếp tục được đồng chí Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh, bởi thời gian qua, một bộ phận cán bộ vẫn chưa quán triệt tốt phương châm “đúng vai, thuộc bài” trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Phải thẳng thắn thừa nhận rằng, năng lực của đội ngũ cán bộ chưa toàn diện, có mặt còn hạn chế, yếu kém. Đáng lo ngại hơn là không ít cán bộ, trong đó có cả những cán bộ cấp cao làm việc thiếu chuyên nghiệp.
“Đúng vai” nghĩa là thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao; không lạm quyền, lộng quyền; không buông lỏng quyền hạn, trách nhiệm, không “đá quả bóng” công việc của mình cho người khác giải quyết. “Thuộc bài” là hiểu rõ công việc, có kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn về vị trí công việc, nắm chắc các quy định về chức năng, nhiệm vụ, chính sách, pháp luật của Nhà nước để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao... Thực tế đã có không ít cán bộ vì chưa thực hiện “đúng vai, thuộc bài” nên dẫn đến làm sai, đi ngược với chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định của Đảng dẫn tới bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nhận thức rõ mối nguy hại của tình trạng trên, từ nhiều nhiệm kỳ qua, Đảng ta đã có những chủ trương, quyết sách về việc miễn nhiệm, từ chức, thay thế cán bộ yếu kém về năng lực, phẩm chất, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Nhấn mạnh quan điểm này, Bộ Chính trị khóa XIII ban hành Quy định số 41-QĐ/TW về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ, trong đó nêu rõ: Cấp có thẩm quyền quyết định cho cán bộ thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm do không đáp ứng được yêu cầu công việc, uy tín giảm sút...
Cùng với quy định của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ nhiều tỉnh ủy, thành ủy và người đứng đầu các địa phương đã ban hành các chỉ thị, văn bản, chỉ đạo về việc kiên quyết xử lý, thay thế cán bộ yếu kém. Chủ trương trên được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình ủng hộ. Vấn đề là làm sao để chủ trương đúng đắn của Đảng khi được các cấp có thẩm quyền thực thi trong thực tiễn nghiêm minh, hiệu quả, thực chất, chứ không phải là sự hưởng ứng bằng cách hô hào suông.
Phân cấp - phân quyền: Vì sao vẫn dưới đẩy lên, trên đùn xuống? Đẩy cái sai cho tập thể
Việc gì cũng xin ý kiến, chờ chỉ đạo, kể cả những việc thuộc thẩm quyền của cấp mình, bản thân mình, là tình trạng không chỉ tồn tại ở những người có chức, có quyền mà còn ở cả cán bộ, công chức bình thường khác. Xin ý kiến những việc không đáng xin, chờ chỉ đạo những việc chẳng đáng chờ là bởi để có lý do trốn tránh trách nhiệm, đẩy cái sai cho tập thể.
Hội chứng “thà bị kỷ luật, còn hơn bị xét xử”
Nghe quả thực chua xót nhưng hội chứng “đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn đứng trước hội đồng xét xử” đang tồn tại ở một bộ phận cán bộ, công chức có tư tưởng co cụm, cầu an. Nghĩa là những người này cho rằng, thà không làm để không sai, dù có bị kỷ luật vì thiếu tinh thần trách nhiệm cũng còn hơn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu làm sai, phạm luật.
Cũng bởi động vào việc gì cũng sợ sai nên không dám làm, muôn sự cứ đẩy lên trên để xin ý kiến chỉ đạo, nếu không may có sơ suất xảy ra thì đã có “tập thể cùng gánh chịu”. Chính vì lẽ đó mà ở một số địa phương, bất cứ việc gì dù to hay nhỏ, khó hay dễ, đều đợi xin ý kiến ban thường vụ, cấp ủy, chẳng phải vì cứ thường vụ quyết là đúng mà bởi ý nghĩ khi tập thể thường vụ đã quyết định, chỉ đạo thì không thể quy trách nhiệm cho cá nhân nào.
Tập thể quyết là yên tâm, cứ thế làm theo nên mọi việc người dân, doanh nghiệp kiến nghị hoặc có những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn cơ sở thì cứ chờ để “hỏi cấp trên” hoặc “đợi chỉ đạo của cấp có thẩm quyền”, trong khi rất nhiều việc thuộc thẩm quyền của chính cá nhân phụ trách và cấp ủy, chính quyền sở tại.
Câu chuyện trong một năm mà một thành phố có tới gần 600 văn bản hỏi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trả lời hơn 600 văn bản là chủ đề được dư luận đặc biệt quan tâm thời gian qua. Lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì cho rằng thành phố “né tránh, đùn đẩy, đá bóng” lên trên, bởi hầu hết nội dung hỏi đều thuộc thẩm quyền giải quyết của thành phố. Phản hồi vấn đề này, lãnh đạo thành phố đó lại cho rằng nhiều nội dung cơ quan chức năng trả lời không rõ ràng, căn cứ vào văn bản trả lời đó cũng không biết phải làm thế nào.
Đùn đẩy trách nhiệm qua lại, hệ quả là công việc tắc nghẽn, đứng im; hiệu lực, hiệu quả điều hành thấp và gây hoang mang trong dư luận về tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của một bộ phận cán bộ hiện nay.
Điều nguy hại là một số cán bộ hiểu sai lệch, méo mó nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” khi tất cả mọi việc đều ỷ vào tập thể, không có chính kiến, không dám quyết định bất cứ việc gì, thời cơ bị bỏ lỡ thì đã có tập thể là “tấm bình phong lớn” để che chắn, và cũng là chỗ để đẩy quả bóng trách nhiệm. Đáng lo hơn, khi những hạn chế, khuyết điểm, yếu kém, tham nhũng, tiêu cực xảy ra ở cơ quan, đơn vị, địa phương thì người đứng đầu ở nơi đó lại thoái thác trách nhiệm, đổ lỗi cho khách quan, cho cơ chế, hay có chăng khi nhận trách nhiệm cũng là cộng dồn vào tập thể.
Không ít lần trên nghị trường, các đại biểu thẳng thắn phê phán tiêu cực diễn ra ở các bộ, ngành, địa phương, nhưng người đứng đầu không chịu trách nhiệm. Đơn cử như việc quản lý, giám sát lỏng lẻo nguồn vốn ODA gây thất thoát, tham nhũng, lãng phí, nhưng người đứng đầu lại không nhận trách nhiệm cá nhân mà quy kết cho tập thể, cho cơ chế... Trong rất nhiều vụ việc sai phạm của cán bộ xảy ra thời gian qua, sự suy thoái khởi nguồn từ “nghệ thuật” dùng tập thể làm bình phong che chắn, lấp liếm khuyết điểm, sai phạm của cá nhân.
Việc đẩy trách nhiệm cho tập thể đã phản ánh một thực tế đáng lo ngại là nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” của Đảng chưa được thực hiện đúng và nghiêm. Chính vì vậy, khi sai phạm xảy ra, việc quy trách nhiệm của cá nhân và tập thể vẫn như cái vòng luẩn quẩn không có đầu ra. Chẳng phải chúng ta thiếu những quy định về trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu, của đội ngũ cán bộ các cấp, thế nhưng việc thực thi điều đó trong thực tiễn thì còn nhiều điều đáng bàn khi quyền hạn, trách nhiệm của cá nhân chưa được làm rõ và trường hợp nào thì cần sự tham mưu của tập thể, nhất là những chủ trương, quyết định được cấp ủy thông qua, nhưng ai là người tổ chức thực hiện, chịu trách nhiệm cuối cùng.
Chừng nào chưa thể quy rõ trách nhiệm cá nhân, thì khi đó việc đùn đẩy, đá quả bóng trách nhiệm cho tập thể khó có thể chấm dứt.
Từ né trách nhiệm thành vô trách nhiệm
Nếu chỉ nói đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không dám tham mưu, đề xuất xử lý công việc thì sẽ khó có thể cân đong đo đếm được sự nguy hại của tệ trạng này. Thế nhưng hậu quả nhãn tiền đã rõ, hiển hiện ở sự tụt lùi, kéo giảm tăng trưởng kinh tế - xã hội, ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống người dân. Căn bệnh đùn đẩy, né tránh trách nhiệm cùng thái độ thờ ơ, vô cảm, chậm xử lý công việc đã gây lãng phí nguồn lực, thời gian cũng như cơ hội thụ hưởng và tiếp cận chính sách của người dân và doanh nghiệp. Tình trạng địa phương thấy khó thì làm văn bản hỏi Trung ương và các bộ, ngành nhưng lại được hồi âm theo kiểu trích quy định và đề nghị làm theo luật. Thậm chí có những văn bản gửi qua, gửi lại nhiều lần vẫn chưa giải quyết được vấn đề, chưa kể đến xảy ra cả việc “tiền hậu bất nhất” trong các văn bản trả lời.
Tại Kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa XV, khi giải trình trước Quốc hội về kinh tế - xã hội, lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư nêu thực tế đau xót rằng nhiều doanh nghiệp lớn phải bán gần hết tài sản cho người nước ngoài, chỉ thu được 50% giá trị thực. Sự chậm trễ, đùn đẩy trong giải quyết công việc khiến các thủ tục đầu tư bị đình trệ làm cho các doanh nghiệp phải “đứng im”, chưa kể đến việc cải cách môi trường đầu tư cũng mờ nhạt, gây cản trở, ách tắc hoạt động phát triển kinh tế. Cũng tại kỳ họp này, đại biểu Trần Văn Khải của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Nam bức xúc nêu vấn đề: Phải chăng hàng nghìn thủ tục phát sinh, đã góp phần không nhỏ đẩy hàng trăm nghìn doanh nghiệp đến cảnh khốn cùng như thế?
Rõ ràng, câu chuyện ở đây không còn là né tránh, đùn đẩy, mà chính xác là sự vô trách nhiệm, bởi cứ “đá bóng” lên trên rồi lại án binh bất động ngồi chờ. Trong khi đó, chính những người trong cuộc, những công bộc của dân đều hiểu rằng, tiến độ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả công việc. Không phải cơ hội nào cũng xuất hiện nhiều lần và đúng lúc. Bởi vậy, bỏ lỡ thời cơ tốt chỉ vì chờ đợi do “quả bóng trách nhiệm” không chỉ gây thiệt hại trực tiếp về kinh tế, mà còn gây bức xúc, làm suy giảm niềm tin trong người dân, doanh nghiệp và cả các đối tác nước ngoài.
Nhận thấy những bất cập phát sinh từ thực tiễn, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Nhằm thể chế hóa các quy định của Đảng về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29-9-2023 của Chính phủ đã đưa ra 5 nguyên tắc khuyến khích, bảo vệ cán bộ; đồng thời tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích cán bộ tích cực phát huy trí tuệ, cách làm sáng tạo, tháo gỡ những điểm nghẽn trong cơ chế, chính sách. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có nhiều văn bản chỉ đạo chấn chỉnh, tăng cường trách nhiệm trong xử lý công việc của các bộ, cơ quan, địa phương; xử lý nghiêm việc cán bộ né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, sợ sai khi xử lý công việc.
Mỗi chúng ta đều phải biết sợ sai để hiểu thấu đáo và làm cho đúng, nhưng sợ sai đến mức không làm gì thì lại hóa ra tiêu cực và vô trách nhiệm! Cán bộ, đảng viên, nhân dân từng chứng kiến và tự hào về những thành phố năng động, sáng tạo, đầu tàu kinh tế; những địa phương đột phá về cải cách hành chính và nhiều lĩnh vực khác. Đương nhiên rằng, ở những thành phố, địa phương như thế, không thể thiếu đi đội ngũ cán bộ, công bộc dám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo, vì lợi ích chung. Những câu chuyện thực tiễn đáng tự hào như thế sẽ không thể tiếp nối, phát huy nếu thói thờ ơ, vô cảm đến vô trách nhiệm của đội ngũ cán bộ o bế, cuộn tròn ngồi yên trong chiếc kén sợ trách nhiệm, sợ làm sai.
Tất cả thể chế, luật lệ, chỉ thị, kết luật, quy định... dù có hoàn
thiện đến đâu đi chăng nữa thì cũng chỉ phát huy hiệu quả thực sự qua
bàn tay, lăng kính của người thực hiện. Hệ quả của những thực tế buồn
nêu trên, nguyên nhân mấu chốt vẫn là ở chính đội ngũ cán bộ từ sợ, né
trách nhiệm đã tự biến mình thành người vô trách nhiệm với công việc,
với tập thể, với cộng đồng và với chính bản thân mình.
Tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về văn hóa: Từ tư tưởng, lý luận đến hành động
Sự ra đời tác phẩm "Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một sự kiện văn hóa đặc biệt trong một giai đoạn đặc biệt của đất nước.
Tác phẩm đó thể hiện một tư tưởng, một tình yêu dân tộc và sứ mệnh của người đứng đầu đất nước với sự tồn vong và phát triển của dân tộc, với hạnh phúc của nhân dân. Với cách nhìn của cá nhân mình, tôi xin bày tỏ một số điều sau khi đọc tác phẩm này trong một thời đại cũng như trong một thế giới mà tôi đang được sống, được chứng kiến như sau:
1. Ngày 24 tháng 11 năm 2021, Hội nghị văn hoá toàn quốc được tổ chức dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Hội nghị diễn ra trong một thời đại mà trong và ngoài nước có quá nhiều biến động và thay đổi. Việt Nam đã và đang có những phát triển hơn bao giờ hết trong nhiều lĩnh vực; chính trị, văn hóa, ngoại giao, kinh tế, giáo dục và tạo được một vị thế công bằng và quan trọng trên thế giới. Nhưng hiện thực cũng cho thấy hay có thể gọi là được ‘’cảnh báo’’ về một hiện trạng trong lẽ sống và lối sống của con người Việt Nam. Không ít những vẻ đẹp của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam đã và đang bị chủ nghĩa thực dụng tấn công và đe dọa. Có lẽ vì điều ấy mà Hội nghị văn hóa toàn quốc được tổ chức sau 75 năm kể từ Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 1946. Cũng vì lý do đó mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đọc một diễn văn vô cùng quan trọng về sứ mệnh của văn hoá đối với sự tồn vong và phát triển của dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: "Văn hoá là hồn cốt của dân tộc. Văn hoá còn thì dân tộc còn".
Chúng ta đều nhớ, vào ngày 24 tháng 11 năm 1946, Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất được khai mạc trọng thể tại Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội. Tại Hội nghị này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi ra một chân lý: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Và 75 năm sau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tái khẳng định chân lý về sứ mệnh của văn hoá của Chủ tịch Hồ Chí Minh và mở rộng chiều kích của văn hoá trong một thời đại mới với quá nhiều thách thức đối với sự tồn vong và phát triển của Đảng và của đất nước.
2. Trong cuốn sách quan trọng này, các bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã dựng lên một hệ thống lý luận đầy tính khoa học có tính nền tảng về văn hoá và dân tộc, về truyền thống và hiện đại, về phẩm giá con người và lý tưởng. Từ đó đã làm hiện lên tư tưởng của Tổng Bí thư về văn hoá một cách thực tiễn nhất, khoa học nhất và nhân văn nhất. Khẳng định về văn hoá là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định mục đích sống, giá trị sống và nhân cách sống của một con người cũng như của một dân tộc. Tổng Bí thư khẳng định khi một con người sống phi văn hoá là một con người có những hành động "ti tiện, đớn hèn, phi pháp và bỉ ổi". Khi nói đến điều đó với những từ ngữ như vậy, chúng ta nhận ra nỗi đau đớn, sự nổi giận của lương tri của người đứng đầu đất nước trước những hành động phi văn hoá, phản văn hoá trong xã hội, đặc biệt trong hệ thống chính trị. Tổng Bí thư cũng nhận ra kẻ thù của dân tộc được đội lốt đạo đức. Tổng Bí thư từng nói: "Đừng thấy đỏ mà tưởng chín", "Chân mình thì lấm bê bê/ Lại cầm bó đuốc đi rê chân người". Đấy là một lối sống giả dối và suy đồi. Đối với một Đảng cầm quyền, những đảng viên có lối sống như vậy chính là những vết hoại tử trong hệ thống chính trị, có nguy cơ tới sự tồn vong của Đảng. Và đối với một đất nước, những con người có lối sống như vậy chính là những ổ dịch bệnh sẽ giết chết nhân tính của một dân tộc.
Rất nhiều người Việt Nam còn nhớ tới một hình ảnh của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với sự chia sẻ sâu sắc, niềm cảm thông lớn lao và lòng kính trọng với người đứng đầu đất nước. Đó là hình ảnh Tổng Bí thư đã phải rơi nước mắt trong một hội nghị của Ban chấp hành Trung ương Đảng. Cho dù chỉ là trong một giai đoạn ngắn ngủi nào đó, chân chính không thắng được bất chính, sự dâng hiến cho con người, cho dân tộc không thắng được sự ích kỷ và lòng tham vô độ. Đấy cũng là một trong những lý do mà Tổng Bí thư đã tiến hành công cuộc chống tham nhũng trong những năm vừa qua. Và lớn hơn, Tổng Bí thư thấu hiểu một cách sâu sắc nhất sứ mệnh của văn hoá đối với một dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: "Hạnh phúc của con người không phải chỉ ở chỗ nhiều tiền, lắm của, ăn ngon, mặc đẹp, mà còn ở sự phong phú về tâm hồn, được sống giữa tình thương và lòng nhân ái, lẽ phải và công bằng". Khi con người sống với một tâm hồn phong phú, sống có tình thương, có lòng nhân ái, sống vì lẽ phải và sự công bằng thì con người biết sống vì người khác, vì dân tộc, có lòng tự trọng để vượt qua nhũng cám dỗ thấp hèn. Thực tế không ít các cán bộ đảng viên có chức quyền đã gục ngã trước những cám dỗ của đồng tiền. Trong cách nhìn của cá nhân tôi, những đảng viên đó gục gã trước những cám dỗ vật chất không phải do các quy định, do sự giám sát trong hệ thống chính trị mà cụ thể là trong tổ chức Đảng ở các cấp lỏng lẻo mà bởi văn hoá đã không lọt được vào bên trong con người họ. Những vẻ đẹp tràn ngập nhân tính của văn hóa không trở thành khí thở của họ ngày ngày.
Thực tế minh chứng một điều là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thực thi sứ mệnh trên cương vị của một người đứng đầu đất nước trong việc bảo vệ sự tồn vong và phát triển đất nước bằng hai con đường song song: luật pháp và văn hoá. Luật pháp là sự nghiêm minh và văn minh của một nhà nước, của một quốc gia, còn văn hoá là tâm hồn và đức hạnh của một dân tộc. Cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Tổng Bí thư đứng đầu là thể hiện sự nghiêm minh của một Nhà nước, và lối sống văn minh của một quốc gia, và công cuộc chấn hưng văn hoá là việc xây dựng nhân cách và tư cách của dân tộc.
3. Tác phẩm về văn hóa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được mang tên: "Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Đây là tư tưởng lớn xuyên suốt tác phẩm. Ngay từ đề cương về văn hóa năm 1943 của Đảng, ba mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất là: dân tộc hoá, đại chúng hoá và khoa học hoá đã trở thành tư tưởng của Đảng về văn hoá. Văn hoá không phải là sự bất động, văn hoá chính là sự chuyển động không ngừng để hoàn thiện những vẻ đẹp của nó qua thời gian, đồng thời mở ra để tiếp nhận những giá trị mới của mỗi thời đại làm phong phú cho nền văn hoá ấy. Tác phẩm về văn hóa Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã mở ra nhiều vẻ đẹp, nhiều cấp độ và nhiều kía cạnh mới mẻ và sâu sắc mang tính tư tưởng về văn hóa trong thời đại mới của dân tộc và thế giới.
Lịch sử thế giới cho thấy có những quốc gia bị đánh mất lãnh thổ địa lý và bị xâm chiếm. Nhưng lãnh thổ văn hoá vẫn còn. Lãnh thổ văn hoá nằm trong tâm hồn và nhân cách của mỗi con người thuộc về nền văn hoá ấy. Khi lãnh thổ văn hoá còn thì lãnh thổ địa lý sẽ được phục dựng trong một lúc nào đó. Lịch sử Việt Nam là một minh chứng hùng hồn cho điều này. Việt Nam bị phong kiến Trung Quốc đô hộ gần 1.000 năm, thực dân Pháp đô hộ gần 100 năm, chiến tranh với người Mỹ gần 20 năm. Nhưng trong suốt những năm tháng dưới ách đô hộ của ngoại bang, văn hóa Việt Nam không bị đồng hóa. Ngược lại, văn hóa Việt Nam đã làm ra sức mạnh Việt Nam để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc mình. Khi bản sắc dân tộc mất thì văn hoá dân tộc mất. Nhưng nếu nền văn hoá dân tộc không có khả năng tiếp nhận những giá trị tinh thần mới của thời đại và thế giới thì nền văn hoá ấy sẽ tách rời khỏi đời sống và nó chỉ còn là một sự bất động. Nó không có khả năng đồng hành và lan toả trong đời sống con người. Nó chỉ là một ký ức và dần dần bị lãng quên trong đời sống. Bởi thế dân tộc hoá và khoa học hoá (sự tiến bộ và văn minh) là những yếu tố sống còn của bất cứ nền văn hoá nào. Và đại chúng hoá là tính ưu việt cao nhất trong sự phát triển của một nền văn hoá. Nghĩa là những giá trị văn hoá phải làm cho mọi người dân được thụ hưởng và trở thành những con người trong vẻ đẹp của nền văn hóa ấy.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đặt văn hoá lên một tầm cao mới. Tất cả những vấn đề mang tính tư tưởng và chiến lược đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm sáng tỏ hơn bao giờ hết trong tác phẩm của mình. Tổng Bí thư đi từ những vấn đề mang tính vi mô đến những vấn đề vĩ mô và ngược lại trong hệ thống lý luận và tư tưởng của mình về văn hoá trong một thời đại mới. Tư tưởng về văn hoá phải được nghị quyết hoá. Nghị quyết là đường lối, là chiến lược nhưng phải được hành động hoá ở mọi lĩnh vực liên quan đến văn hoá và trong đời sống hàng ngày. Chính vậy mà phần 2 của tác phẩm được Tổng Bí thư đề cập đến những vấn đề vi mô một cách vô cùng tinh tế, sâu sắc, đầy trải nghiệm và có sức lan tỏa lớn. Đó là những bài phát biểu trong Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc, trong lễ kỷ niệm 75 năm thành lập Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, trong thư gửi báo Văn nghệ Hội nhà văn Việt Nam, trong dịp kỷ niệm thành lập Viện Văn học, trong lễ phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ, trong buổi tiếp các đại biểu dự Đại hội gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học, tại Đại hội Cháu ngoan Bác Hồ, tại Trường Đại học Văn hoá, trong thư gửi Tạp chí nghiên cứu văn học... Tư tưởng của Tổng Bí thư ở đây là văn hoá phải được lan toả và trở thành hành động cụ thể, thiết thực trong mọi ngóc ngách của đời sống. Chỉ như thế văn hoá mới thực thi một cách có sức mạnh nhất sứ mệnh của mình. Văn hoá phải hiển hiện trong tư duy, trong cảm xúc và trong hành động của từng con người, từng bộ phận và cả dân tộc ở mọi nơi mọi lúc
Cuốn sách góp phần làm rõ bản sắc, hoạch định đường hướng xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam
Thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, nhằm tuyên truyền, phổ biến, quán triệt sự lãnh đạo của Đảng đến cán bộ, đảng viên và nhân dân; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã tổ chức biên tập, xuất bản nhiều ấn phẩm quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Các cuốn sách thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, sâu sắc của người đứng đầu Đảng ta về đường lối xây dựng và phát triển đất nước nói chung, cũng như trên các lĩnh vực đối với các ngành, các cấp nói riêng. Gần đây nhất là cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” do Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức biên tập, xuất bản.
1. Cuốn sách gồm những chỉ đạo quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với sự nghiệp xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam-vấn đề mang tính trọng tâm, đột phá chiến lược, là nền tảng tinh thần, động lực và nguồn lực nội sinh đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Cuốn sách được hoàn thành và ra mắt bạn đọc vào dịp kỷ niệm 99 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6-1925 / 21-6-2024); đồng thời là năm có ý nghĩa quan trọng để thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025 theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Việc tổ chức biên tập, xuất bản cuốn sách của đồng chí Tổng Bí thư là một nhiệm vụ quan trọng, trách nhiệm lớn lao, đồng thời là niềm vinh dự của các cơ quan được giao nhiệm vụ, trong đó có Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. Mỗi cuốn sách của đồng chí Tổng Bí thư đều đặt yêu cầu rất cao về tính chính xác, tính khoa học, tính chính trị. Song, văn hóa là lĩnh vực có nội hàm rất phong phú, đa dạng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, do vậy, nội dung cuốn sách có những đặc thù, hình thức chuyển tải cũng phải thể hiện được đặc trưng của văn hóa.
Các bài viết, bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư được tuyển chọn trong cuốn sách thể hiện sự am hiểu sâu sắc, tư duy chiến lược, toàn diện của đồng chí Tổng Bí thư về bản chất và các đặc trưng của văn hóa. Cùng với những vấn đề bao quát, các lĩnh vực, các khía cạnh cụ thể của văn hóa cũng được đồng chí quan tâm, chỉ đạo với những định hướng, giải pháp thiết thực, góp phần thể hiện diện mạo vô cùng đa dạng, phong phú, đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện nay, văn hóa được coi là “sức mạnh mềm”, có vai trò quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia; không chỉ góp phần phát triển kinh tế mà còn gắn kết xã hội, bảo đảm sự phát triển bình đẳng, nhân văn, có bản sắc và bền vững. Trong dòng chảy của văn hóa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là sau gần 40 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn thống nhất quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội”. Đặc biệt từ sau Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nhiệm vụ phát triển nền văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho quá trình phát triển đất nước càng được chú trọng hơn nữa.
2. Cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” tuyển chọn 92 bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn, thư... của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về văn hóa, trong đó bài viết sớm nhất là năm 1968, qua đó đã hệ thống hóa sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam với các yếu tố truyền thống và hiện đại, bản sắc và hội nhập, huy động sức mạnh của văn hóa, con người Việt Nam trong công cuộc phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng.
Các bài viết, bài nói, thư, phát biểu chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư rất phong phú, trên nhiều lĩnh vực như văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, lối sống, văn hóa yêu nước, giáo dục-đào tạo, báo chí-xuất bản... trong nhiều giai đoạn, với các nhiệm vụ, cương vị khác nhau. Với khối lượng tư liệu lớn, được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng viết từ khi là cán bộ của Tạp chí Cộng sản đến cương vị là người đứng đầu Đảng ta, được lưu trữ ở nhiều cơ quan, đơn vị, do vậy, Nhà xuất bản đã tiến hành công việc rất khẩn trương, nghiêm túc, cẩn trọng; sưu tầm tư liệu, bài viết từ rất nhiều nguồn khác nhau; tham khảo và xin ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức các buổi tọa đàm trao đổi nội dung.
Việc sưu tầm, tuyển chọn tư liệu, xây dựng đề cương, sắp xếp các bài viết được tiến hành song song với công tác biên tập để bảo đảm tiến độ xuất bản sách. Bản thảo được biên tập kỹ lưỡng, qua nhiều lần thẩm định, trình xin ý kiến Văn phòng Tổng Bí thư và đồng chí Tổng Bí thư về nội dung cuốn sách.
Cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” cũng tuyển chọn hơn 90 bức ảnh tư liệu quý, ghi lại những hình ảnh của đồng chí Tổng Bí thư trong các hoạt động văn hóa, hội nghị văn hóa; các chuyến đi thăm, làm việc với các địa phương; các cuộc làm việc với những cơ quan, đơn vị trong ngành văn hóa; các buổi gặp gỡ văn nghệ sĩ, trí thức đang hoạt động trong lĩnh vực văn hóa trên mọi miền Tổ quốc. Các bức ảnh đều cho thấy, bên cạnh tầm văn hóa, tư duy văn hóa, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn là con người văn hóa, đồng thời là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa của Đảng.
Để lan tỏa giá trị của cuốn sách quý đến đông đảo nhân dân trong và ngoài nước, cùng với việc xuất bản sách giấy, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã xuất bản phiên bản điện tử cuốn sách phục vụ bạn đọc trên trang web: sachquocgia.vn. Đồng thời, ngay sau lễ ra mắt cuốn sách, Nhà xuất bản sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan biên dịch nội dung cuốn sách ra nhiều ngoại ngữ để phát hành ra nước ngoài, góp phần lan tỏa các giá trị văn hóa của Việt Nam ra thế giới.
Cuốn sách góp phần làm rõ bản sắc, hoạch định đường hướng xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam
Thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, nhằm tuyên truyền, phổ biến, quán triệt sự lãnh đạo của Đảng đến cán bộ, đảng viên và nhân dân; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã tổ chức biên tập, xuất bản nhiều ấn phẩm quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Các cuốn sách thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn
diện, sâu sắc của người đứng đầu Đảng ta về đường lối xây dựng và phát triển
đất nước nói chung, cũng như trên các lĩnh vực đối với các ngành, các cấp nói
riêng. Gần đây nhất là cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” do Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp
với các cơ quan liên quan tổ chức biên tập, xuất bản.
1. Cuốn sách gồm những chỉ đạo quan trọng của
đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với sự nghiệp xây dựng, giữ gìn và
phát triển nền văn hóa Việt Nam-vấn đề mang tính trọng tâm, đột phá chiến lược,
là nền tảng tinh thần, động lực và nguồn lực nội sinh đối với sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nước.
Cuốn sách được hoàn thành và ra mắt bạn đọc vào dịp
kỷ niệm 99 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6-1925 / 21-6-2024); đồng
thời là năm có ý nghĩa quan trọng để thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025 theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Việc tổ chức biên tập, xuất bản cuốn sách của đồng
chí Tổng Bí thư là một nhiệm vụ quan trọng, trách nhiệm lớn lao, đồng thời là
niềm vinh dự của các cơ quan được giao nhiệm vụ, trong đó có Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia Sự thật. Mỗi cuốn sách của đồng chí Tổng Bí thư đều đặt yêu cầu
rất cao về tính chính xác, tính khoa học, tính chính trị. Song, văn hóa là lĩnh
vực có nội hàm rất phong phú, đa dạng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh
vực, do vậy, nội dung cuốn sách có những đặc thù, hình thức chuyển tải cũng
phải thể hiện được đặc trưng của văn hóa.
Các bài viết, bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí
thư được tuyển chọn trong cuốn sách thể hiện sự am hiểu sâu sắc, tư duy chiến
lược, toàn diện của đồng chí Tổng Bí thư về bản chất và các đặc trưng của văn
hóa. Cùng với những vấn đề bao quát, các lĩnh vực, các khía cạnh cụ thể của văn
hóa cũng được đồng chí quan tâm, chỉ đạo với những định hướng, giải pháp thiết
thực, góp phần thể hiện diện mạo vô cùng đa dạng, phong phú, đặc sắc của nền
văn hóa Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện nay, văn hóa được coi là “sức
mạnh mềm”, có vai trò quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia; không chỉ
góp phần phát triển kinh tế mà còn gắn kết xã hội, bảo đảm sự phát triển bình
đẳng, nhân văn, có bản sắc và bền vững. Trong dòng chảy của văn hóa Việt Nam
dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là sau gần 40 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước
ta luôn thống nhất quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là
mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội”. Đặc biệt từ
sau Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng,
nhiệm vụ phát triển nền văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho quá
trình phát triển đất nước càng được chú trọng hơn nữa.
2. Cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” tuyển chọn 92 bài viết, bài
phát biểu, trả lời phỏng vấn, thư... của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về văn
hóa, trong đó bài viết sớm nhất là năm 1968, qua đó đã hệ thống hóa sự lãnh
đạo, chỉ đạo toàn diện của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam với các yếu tố truyền thống và hiện đại, bản
sắc và hội nhập, huy động sức mạnh của văn hóa, con người Việt Nam trong công
cuộc phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng.
Các bài viết, bài nói, thư, phát biểu chỉ đạo của
đồng chí Tổng Bí thư rất phong phú, trên nhiều lĩnh vực như văn hóa, nghệ
thuật, đạo đức, lối sống, văn hóa yêu nước, giáo dục-đào tạo, báo chí-xuất
bản... trong nhiều giai đoạn, với các nhiệm vụ, cương vị khác nhau. Với khối
lượng tư liệu lớn, được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng viết từ khi là
cán bộ của Tạp chí Cộng sản đến cương vị là người đứng đầu Đảng ta, được lưu
trữ ở nhiều cơ quan, đơn vị, do vậy, Nhà xuất bản đã tiến hành công việc rất
khẩn trương, nghiêm túc, cẩn trọng; sưu tầm tư liệu, bài viết từ rất nhiều
nguồn khác nhau; tham khảo và xin ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức
các buổi tọa đàm trao đổi nội dung.
Việc sưu tầm, tuyển chọn tư liệu, xây dựng đề
cương, sắp xếp các bài viết được tiến hành song song với công tác biên tập để
bảo đảm tiến độ xuất bản sách. Bản thảo được biên tập kỹ lưỡng, qua nhiều lần
thẩm định, trình xin ý kiến Văn phòng Tổng Bí thư và đồng chí Tổng Bí thư về
nội dung cuốn sách.
Cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” cũng tuyển chọn hơn 90 bức ảnh tư liệu
quý, ghi lại những hình ảnh của đồng chí Tổng Bí thư trong các hoạt động văn
hóa, hội nghị văn hóa; các chuyến đi thăm, làm việc với các địa phương; các
cuộc làm việc với những cơ quan, đơn vị trong ngành văn hóa; các buổi gặp gỡ
văn nghệ sĩ, trí thức đang hoạt động trong lĩnh vực văn hóa trên mọi miền Tổ
quốc. Các bức ảnh đều cho thấy, bên cạnh tầm văn hóa, tư duy văn hóa, đồng chí
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn là con người văn hóa, đồng thời là chiến sĩ
trên mặt trận văn hóa của Đảng.
Để lan tỏa giá trị của cuốn sách quý đến đông đảo
nhân dân trong và ngoài nước, cùng với việc xuất bản sách giấy, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia Sự thật đã xuất bản phiên bản điện tử cuốn sách phục vụ bạn
đọc trên trang web: sachquocgia.vn. Đồng thời, ngay sau lễ ra mắt cuốn sách,
Nhà xuất bản sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan biên dịch nội dung cuốn sách
ra nhiều ngoại ngữ để phát hành ra nước ngoài, góp phần lan tỏa các giá trị văn
hóa của Việt Nam ra thế giới.
Tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về văn hóa: Từ tư tưởng, lý luận đến hành động
Sự ra đời tác phẩm "Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một sự kiện văn hóa đặc biệt trong một giai đoạn đặc biệt của đất nước.
Tác phẩm đó thể hiện một tư tưởng, một tình yêu dân tộc và sứ mệnh của người đứng đầu đất nước với sự tồn vong và phát triển của dân tộc, với hạnh phúc của nhân dân. Với cách nhìn của cá nhân mình, tôi xin bày tỏ một số điều sau khi đọc tác phẩm này trong một thời đại cũng như trong một thế giới mà tôi đang được sống, được chứng kiến như sau:
1. Ngày 24 tháng 11 năm 2021, Hội nghị văn hoá toàn quốc được tổ chức dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Hội nghị diễn ra trong một thời đại mà trong và ngoài nước có quá nhiều biến động và thay đổi. Việt Nam đã và đang có những phát triển hơn bao giờ hết trong nhiều lĩnh vực; chính trị, văn hóa, ngoại giao, kinh tế, giáo dục và tạo được một vị thế công bằng và quan trọng trên thế giới. Nhưng hiện thực cũng cho thấy hay có thể gọi là được ‘’cảnh báo’’ về một hiện trạng trong lẽ sống và lối sống của con người Việt Nam. Không ít những vẻ đẹp của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam đã và đang bị chủ nghĩa thực dụng tấn công và đe dọa. Có lẽ vì điều ấy mà Hội nghị văn hóa toàn quốc được tổ chức sau 75 năm kể từ Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 1946. Cũng vì lý do đó mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đọc một diễn văn vô cùng quan trọng về sứ mệnh của văn hoá đối với sự tồn vong và phát triển của dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: "Văn hoá là hồn cốt của dân tộc. Văn hoá còn thì dân tộc còn".
Chúng ta đều nhớ, vào ngày 24 tháng 11 năm 1946, Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất được khai mạc trọng thể tại Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội. Tại Hội nghị này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi ra một chân lý: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Và 75 năm sau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tái khẳng định chân lý về sứ mệnh của văn hoá của Chủ tịch Hồ Chí Minh và mở rộng chiều kích của văn hoá trong một thời đại mới với quá nhiều thách thức đối với sự tồn vong và phát triển của Đảng và của đất nước.
2. Trong cuốn sách quan trọng này, các bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã dựng lên một hệ thống lý luận đầy tính khoa học có tính nền tảng về văn hoá và dân tộc, về truyền thống và hiện đại, về phẩm giá con người và lý tưởng. Từ đó đã làm hiện lên tư tưởng của Tổng Bí thư về văn hoá một cách thực tiễn nhất, khoa học nhất và nhân văn nhất. Khẳng định về văn hoá là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định mục đích sống, giá trị sống và nhân cách sống của một con người cũng như của một dân tộc. Tổng Bí thư khẳng định khi một con người sống phi văn hoá là một con người có những hành động "ti tiện, đớn hèn, phi pháp và bỉ ổi". Khi nói đến điều đó với những từ ngữ như vậy, chúng ta nhận ra nỗi đau đớn, sự nổi giận của lương tri của người đứng đầu đất nước trước những hành động phi văn hoá, phản văn hoá trong xã hội, đặc biệt trong hệ thống chính trị. Tổng Bí thư cũng nhận ra kẻ thù của dân tộc được đội lốt đạo đức. Tổng Bí thư từng nói: "Đừng thấy đỏ mà tưởng chín", "Chân mình thì lấm bê bê/ Lại cầm bó đuốc đi rê chân người". Đấy là một lối sống giả dối và suy đồi. Đối với một Đảng cầm quyền, những đảng viên có lối sống như vậy chính là những vết hoại tử trong hệ thống chính trị, có nguy cơ tới sự tồn vong của Đảng. Và đối với một đất nước, những con người có lối sống như vậy chính là những ổ dịch bệnh sẽ giết chết nhân tính của một dân tộc.
Rất nhiều người Việt Nam còn nhớ tới một hình ảnh của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với sự chia sẻ sâu sắc, niềm cảm thông lớn lao và lòng kính trọng với người đứng đầu đất nước. Đó là hình ảnh Tổng Bí thư đã phải rơi nước mắt trong một hội nghị của Ban chấp hành Trung ương Đảng. Cho dù chỉ là trong một giai đoạn ngắn ngủi nào đó, chân chính không thắng được bất chính, sự dâng hiến cho con người, cho dân tộc không thắng được sự ích kỷ và lòng tham vô độ. Đấy cũng là một trong những lý do mà Tổng Bí thư đã tiến hành công cuộc chống tham nhũng trong những năm vừa qua. Và lớn hơn, Tổng Bí thư thấu hiểu một cách sâu sắc nhất sứ mệnh của văn hoá đối với một dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: "Hạnh phúc của con người không phải chỉ ở chỗ nhiều tiền, lắm của, ăn ngon, mặc đẹp, mà còn ở sự phong phú về tâm hồn, được sống giữa tình thương và lòng nhân ái, lẽ phải và công bằng". Khi con người sống với một tâm hồn phong phú, sống có tình thương, có lòng nhân ái, sống vì lẽ phải và sự công bằng thì con người biết sống vì người khác, vì dân tộc, có lòng tự trọng để vượt qua nhũng cám dỗ thấp hèn. Thực tế không ít các cán bộ đảng viên có chức quyền đã gục ngã trước những cám dỗ của đồng tiền. Trong cách nhìn của cá nhân tôi, những đảng viên đó gục gã trước những cám dỗ vật chất không phải do các quy định, do sự giám sát trong hệ thống chính trị mà cụ thể là trong tổ chức Đảng ở các cấp lỏng lẻo mà bởi văn hoá đã không lọt được vào bên trong con người họ. Những vẻ đẹp tràn ngập nhân tính của văn hóa không trở thành khí thở của họ ngày ngày.
Thực tế minh chứng một điều là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thực thi sứ mệnh trên cương vị của một người đứng đầu đất nước trong việc bảo vệ sự tồn vong và phát triển đất nước bằng hai con đường song song: luật pháp và văn hoá. Luật pháp là sự nghiêm minh và văn minh của một nhà nước, của một quốc gia, còn văn hoá là tâm hồn và đức hạnh của một dân tộc. Cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Tổng Bí thư đứng đầu là thể hiện sự nghiêm minh của một Nhà nước, và lối sống văn minh của một quốc gia, và công cuộc chấn hưng văn hoá là việc xây dựng nhân cách và tư cách của dân tộc.
3. Tác phẩm về văn hóa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được mang tên: "Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Đây là tư tưởng lớn xuyên suốt tác phẩm. Ngay từ đề cương về văn hóa năm 1943 của Đảng, ba mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất là: dân tộc hoá, đại chúng hoá và khoa học hoá đã trở thành tư tưởng của Đảng về văn hoá. Văn hoá không phải là sự bất động, văn hoá chính là sự chuyển động không ngừng để hoàn thiện những vẻ đẹp của nó qua thời gian, đồng thời mở ra để tiếp nhận những giá trị mới của mỗi thời đại làm phong phú cho nền văn hoá ấy. Tác phẩm về văn hóa Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã mở ra nhiều vẻ đẹp, nhiều cấp độ và nhiều kía cạnh mới mẻ và sâu sắc mang tính tư tưởng về văn hóa trong thời đại mới của dân tộc và thế giới.
Lịch sử thế giới cho thấy có những quốc gia bị đánh mất lãnh thổ địa lý và bị xâm chiếm. Nhưng lãnh thổ văn hoá vẫn còn. Lãnh thổ văn hoá nằm trong tâm hồn và nhân cách của mỗi con người thuộc về nền văn hoá ấy. Khi lãnh thổ văn hoá còn thì lãnh thổ địa lý sẽ được phục dựng trong một lúc nào đó. Lịch sử Việt Nam là một minh chứng hùng hồn cho điều này. Việt Nam bị phong kiến Trung Quốc đô hộ gần 1.000 năm, thực dân Pháp đô hộ gần 100 năm, chiến tranh với người Mỹ gần 20 năm. Nhưng trong suốt những năm tháng dưới ách đô hộ của ngoại bang, văn hóa Việt Nam không bị đồng hóa. Ngược lại, văn hóa Việt Nam đã làm ra sức mạnh Việt Nam để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc mình. Khi bản sắc dân tộc mất thì văn hoá dân tộc mất. Nhưng nếu nền văn hoá dân tộc không có khả năng tiếp nhận những giá trị tinh thần mới của thời đại và thế giới thì nền văn hoá ấy sẽ tách rời khỏi đời sống và nó chỉ còn là một sự bất động. Nó không có khả năng đồng hành và lan toả trong đời sống con người. Nó chỉ là một ký ức và dần dần bị lãng quên trong đời sống. Bởi thế dân tộc hoá và khoa học hoá (sự tiến bộ và văn minh) là những yếu tố sống còn của bất cứ nền văn hoá nào. Và đại chúng hoá là tính ưu việt cao nhất trong sự phát triển của một nền văn hoá. Nghĩa là những giá trị văn hoá phải làm cho mọi người dân được thụ hưởng và trở thành những con người trong vẻ đẹp của nền văn hóa ấy.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đặt văn hoá lên một tầm cao mới. Tất cả những vấn đề mang tính tư tưởng và chiến lược đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm sáng tỏ hơn bao giờ hết trong tác phẩm của mình. Tổng Bí thư đi từ những vấn đề mang tính vi mô đến những vấn đề vĩ mô và ngược lại trong hệ thống lý luận và tư tưởng của mình về văn hoá trong một thời đại mới. Tư tưởng về văn hoá phải được nghị quyết hoá. Nghị quyết là đường lối, là chiến lược nhưng phải được hành động hoá ở mọi lĩnh vực liên quan đến văn hoá và trong đời sống hàng ngày. Chính vậy mà phần 2 của tác phẩm được Tổng Bí thư đề cập đến những vấn đề vi mô một cách vô cùng tinh tế, sâu sắc, đầy trải nghiệm và có sức lan tỏa lớn. Đó là những bài phát biểu trong Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc, trong lễ kỷ niệm 75 năm thành lập Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, trong thư gửi báo Văn nghệ Hội nhà văn Việt Nam, trong dịp kỷ niệm thành lập Viện Văn học, trong lễ phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ, trong buổi tiếp các đại biểu dự Đại hội gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học, tại Đại hội Cháu ngoan Bác Hồ, tại Trường Đại học Văn hoá, trong thư gửi Tạp chí nghiên cứu văn học... Tư tưởng của Tổng Bí thư ở đây là văn hoá phải được lan toả và trở thành hành động cụ thể, thiết thực trong mọi ngóc ngách của đời sống. Chỉ như thế văn hoá mới thực thi một cách có sức mạnh nhất sứ mệnh của mình. Văn hoá phải hiển hiện trong tư duy, trong cảm xúc và trong hành động của từng con người, từng bộ phận và cả dân tộc ở mọi nơi mọi lúc.
Chưa bao giờ đất nước Việt Nam cần công cuộc chấn hưng văn hóa như bây giờ. Bởi chỉ có văn hóa mới làm ra tâm hồn, làm ra lý tưởng sống và giá trị sống cho con người và cho dân tộc. Chính vì thế, sự ra đời tác phẩm "Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là vô cùng cần thiết, vô cùng quan trọng và thực sự cấp bách đối với sự tồn vong và phát triển của dân tộc trong thời đại này. Đấy là con đường duy nhất để dân tộc Việt Nam giữ được độc lập, tự do của mình, để dân tộc Việt Nam làm ra những giá trị cho nhân loại, để con người Việt Nam sống có giấc mơ làm người chân chính và luôn hành động cho giấc mơ kỳ vĩ đó, để đất nước Việt Nam có quyền kiêu hãnh trước mọi quốc gia. Đấy chính là đích mà mỗi người dân và toàn dân tộc Việt Nam bước tới./.
GIA ĐÌNH VỚI VIỆC HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC HỒ CHÍ MINH
Gia đình có vai trò đặc biệt, là cái nôi văn hóa đầu tiên hình thành nhân cách con người, trong đó, giáo dục và nuôi dưỡng là hai yếu tố then chốt quyết định tạo nên nhân cách của mỗi người. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước, tấm lòng ái quốc của cha, tình cảm nhân ái, vị tha của mẹ, đức tính thương người, yêu nước, gan dạ từ các thành viên trong gia đình được truyền dạy đến Nguyễn Tất Thành qua tình yêu thương, sự dạy dỗ của đấng sinh thành, đã góp phần hình thành nên nhân cách, tầm nhìn và tư duy vĩ đại của một bậc vĩ nhân, kiến tạo nên mục tiêu, lý tưởng và con đường cứu dân, cứu nước cao cả của Người.