Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

PHÒNG CHỐNG CHỦ NGHĨA XÉT LẠI TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 Chủ nghĩa xét lại là trào lưu tư tưởng chính trị thù địch với chủ nghĩa Mác – Lênin, xuất hiện trong nội bộ phong trào công nhân và cộng sản dưới chiêu bài “phê phán”, “xét lại”. Về thực chất, chủ nghĩa xét lại là một biến tướng của chủ nghĩa cơ hội. Cơ sở xã hội của chủ nghĩa xét lại là bộ phận được hưởng đặc quyền trong giai cấp công nhân – tầng lớp công nhân quý tộc, công nhân quan liêu. Cơ sở tư tưởng của chủ nghĩa xét lại là cuộc đấu tranh giữa hệ tư tưởng tư sản và hệ tư tưởng cộng sản trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân. Nguồn gốc của chủ nghĩa xét lại là do sự thắng lợi của cách mạng, của chủ nghĩa Mác – Lênin làm cho kẻ thù tức tối và khoác cái áo nhà mácxít để đấu tranh chống lại quyết liệt.

Sau khi Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xét lại lại tích cực hoạt động trở lại trong phong trào công nhân và cộng sản quốc tế. Chúng chống lại lý luận và thực tiễn cách mạng, phủ nhận chủ nghĩa xã hội hiện thực, đòi bác bỏ những thuật ngữ của chủ nghĩa Mác - Lênin trong các văn kiện của các đảng cộng sản.

Ở Việt Nam, cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, trước tác động của cuộc khủng hoảng của các nước chủ nghĩa xã hội trên thế giới, những tư tưởng xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin đã xuất hiện tạo ra những diễn biến phức tạp trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Các phần tử cơ hội, xét lại phủ nhận những nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng lý luận về chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ; phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xa rời những nguyên lý của đảng cộng sản; tuyên truyền tư tưởng về dân chủ tư sản; phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Ngoài việc xét lại, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, các thế lực phản động, phản cách mạng còn lấy danh nghĩa là phát triển sáng tạo cho phù hợp với điều kiện mới để lợi dụng bóp méo, xuyên tạc làm mất đi bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Sự phát triển của thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi phải bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp với điều kiện mới như thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, về mô hình chủ nghĩa xã hội mới, về vai trò của nhà nước trong điều kiện toàn cầu hoá, về xây dựng nhà nước pháp quyền, lý luận xã hội dân sự, tổng kết những thành tựu trong khoa học tự nhiên để phát triển quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, về sự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản... và đặc biệt sự phát triển của các khoa học liên ngành đòi hỏi phải mở rộng chủ nghĩa Mác - Lênin như triết học chính trị, triết học giới... Tuy nhiên, dù phát triển ở những nội dung nào thì những nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin phải được lấy làm xuất phát điểm. Xa rời những nguyên lý này chắc chắn những nguyên lý lý luận sẽ bị lệch lạc, mất định hướng, bị sa vào chủ nghĩa xét lại. Để làm được điều này đòi hỏi những nhà lý luận, đảng viên đảng cộng sản phải có bản lĩnh chính trị, dám đấu tranh không khoan nhượng bảo vệ những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, không được dao động, mất lập trường, yếu đuối, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá từ bên trong. Ngoài ra, các nhà lý luận, đảng viên đảng cộng sản phải có khả năng nhận thức đúng những thay đổi của thời đại, những thay đổi trong sách lược của các đảng cộng sản. Nếu không có khả năng nhận thức đúng sự thay đổi của thời đại sẽ dẫn đến những nhận xét, đánh giá sai lầm, điều này dễ rơi vào chủ nghĩa xét lại, quay lại bác bỏ những nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Thế giới đã có nhiều biến đổi, chủ nghĩa xét lại cũng có nhiều biến tướng khác nhau. Các đảng cộng sản trên thế giới cần phải nhận thức rằng chừng nào chủ nghĩa đế quốc còn tồn tại thì hệ tư tưởng tư sản và tiểu tư sản vẫn có thể thâm nhập vào phong trào cộng sản, biểu hiện ra ở nhiều hình thức của chủ nghĩa xét lại. Để đấu tranh chống các hình thức xét lại đòi hỏi các đảng cộng sản phải tăng cường công tác tư tưởng của đảng, nâng cao bản lĩnh cách mạng của đảng viên, đồng thời lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội tạo cơ sở vật chất để đẩy lùi chủ nghĩa xét lại dưới mọi hình thức.

 

TẤM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI THƯƠNG BINH LIỆT SĨ

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Máu đào của các thương binh, liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết trái tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ”. Cách mạng Tháng Tám thành công, dù bộn bề với bao công việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nghĩ đến công ơn của các thương binh, liệt sĩ. Người cho rằng cần phải có Ngày Thương binh - Liệt sĩ để “tưởng nhớ những người con đã để lại một phần thân thể hoặc bỏ mình trong khi làm nhiệm vụ vinh quang, đem xương máu đắp thành bức tường đồng, thành con đê vững chắc để ngăn chặn giặc ngoại xâm...”.

Với ý nghĩa ấy, tháng 6/1947, Bác đã chỉ thị chọn 1 ngày trong năm làm ngày “Ngày Thương binh”. Thực hiện chỉ thị của Người, hội nghị trù bị gồm đại biểu các cơ quan, các ngành ở Trung ương, khu và tỉnh họp ở Phú Minh, Đại Từ, Thái Nguyên nhất trí lấy ngày 27/7/1947 là “Ngày Thương binh - Liệt sĩ”.

Bác Hồ nêu rõ sự đền ơn, đáp nghĩa thương binh, gia đình liệt sĩ cần phải được thể hiện bằng những việc làm cụ thể, bằng sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần do Nhà nước và nhân dân cùng thực hiện. Khi giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ thì “nên coi đó là nghĩa vụ của nhân dân. Không nên coi đó là việc làm phúc”.

Trong Ngày Thương binh - Liệt sĩ tổ chức lần đầu tiên ở Việt Bắc (27/7/1947), tại cuộc mít tinh có mặt 2.000 người tham dự, Ban tổ chức đã đọc bức thư của Bác Hồ gửi Ban Thường trực của Ban tổ chức Ngày “Thương binh toàn quốc”, nói rõ ý nghĩa của ngày kỷ niệm và kêu gọi mọi người có hành động thiết thực giúp đỡ thương binh: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm đau, què quặt. Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy".

Nhân ngày này, Bác Hồ gửi tặng Ban Thường trực 1 chiếc áo lụa, 1 tháng lương của Người, tiền 1 bữa ăn của Người và của nhân viên làm việc trong Phủ Chủ tịch, tổng cộng 1.127 đồng.

Với các thương binh, Người ân cần căn dặn: “Hòa mình với nhân dân, tránh phiền nhiễu nhân dân, không công thần, không coi thường lao động, không coi thường kỷ luật, không bi quan chán nản” và “thương binh tàn nhưng không phế”...

Hằng năm, cứ đến ngày 27/7, Bác đều gửi thư và tặng quà cho các thương binh, gia đình liệt sĩ. Trước lúc đi xa, Bác Hồ vẫn luôn canh cánh trong lòng việc đền ơn đáp nghĩa với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ.

Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần tự lực cánh sinh…, đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã và hợp tác xã nông nghiệp), phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét…”.

Thực hiện tâm nguyện của Người, với truyền thống và đạo lý của dân tộc, Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến công tác chăm sóc, động viên các đối tượng là thương binh, thân nhân các gia đình liệt sĩ. Nhiều hoạt động đền ơn đáp nghĩa, các phong trào xây dựng nhà Tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm sóc con liệt sĩ, đi tìm hài cốt đồng đội, tu sửa, nâng cấp các nghĩa trang, đài tưởng niệm liệt sĩ... đã được triển khai, với sự chung tay của toàn xã hội.

Cùng với nhân dân cả nước, trong những năm qua với sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp và toàn xã hội, công tác tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc người có công với cách mạng của tỉnh Đắk Lắk đạt được nhiều thành tích, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người có công, điển hình như các phong trào: Xây dựng nhà Tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm; lập quỹ bảo trợ xã hội; nhận phụng dưỡng Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, cha mẹ liệt sĩ già yếu neo đơn; đỡ đầu con liệt sĩ; thực hiện tốt các chính sách xã hội ưu tiên đối với con liệt sĩ, thương bệnh binh...

Điều này không chỉ góp phần ổn định và nâng cao mức sống của thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ mà còn góp phần ổn định tình hình chính trị xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; có tác dụng giáo dục toàn dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về lòng yêu nước, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc ta; về lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

NHỮNG KẺ PHÁ HOẠI CÔNG CUỘC XÂY DỰNG Ý THỨC XÃ HỘI MỚI Ở VIỆT NAM

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa, và tư tưởng xã hội chủ nghĩa” , điều đó nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc xây dựng ý thức xã hội mới ở nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Vấn đề xây dựng ý thức xã hội XHCN đã được Đảng ta quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ. Tuy nhiên, mượn cớ “quan tâm”, “phản biện” nhiều kẻ cơ hội, thù địch đưa ra không ít luận điệu sai trái, xuyên tạc. Chẳng hạn: bài viết “Đảng Cộng sản Việt Nam có ý thức xã hội gì ?” của đối tượng Phạm Trần đăng tại trên trang thongluan-rdp.org. Bài viết cho rằng: “Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh không thể cấu thành “ý thức xã hội mới” cho Việt Nam, chúng là xiềng xích kéo dân tộc và đất nước xuống tận đáy của tụt hậu và thua kém”…

Để có thể lột trần âm mưu chống phá của những bài viết như trên , chúng ta cần nắm vững những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề ý thức xã hội và thực tiễn xây dựng ý thức xã hội mới ở nước ta hiện nay.

Trước hết, về lý luận, ý thức xã hội là lĩnh vực thuộc đời sống tinh thần xã hội, bao gồm toàn bộ những quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, tập quán, truyền thống của cộng đồng người, được nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Thông thường có thể nhận biết tính chất của ý thức xã hội của một xã hội cụ thể qua ba hình thức cơ bản và phổ biến: Các sinh hoạt tư tưởng mang tính học thuật như: sinh hoạt chính trị, pháp luật, khoa học… của cộng đồng xã hội; Các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng và xã hội như: sinh hoạt lễ hội truyền thống, tôn giáo, nghệ thuật…; Các tập tục và nếp sống mang đặc trưng văn hóa của mỗi cộng đồng người.

Ý thức xã hội mới Việt Nam “là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm, những tình cảm, tâm trạng, truyền thống tốt đẹp, v.v. của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mà hạt nhân là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phản ánh lợi ích căn bản của nhân dân nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ xã hội mới. Nhìn từ góc độ tâm lý xã hội, ý thức xã hội mới chính là tình cảm, tâm trạng, thói quen, nếp sống, nếp nghĩ, phong tục, tập quán, ước muốn, khát vọng, niềm tin… của cộng đồng dân tộc Việt Nam vào sự nghiệp cách mạng, vào Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội, những đổi thay của cuộc sống hằng ngày… Nhìn từ góc độ các hình thái ý thức xã hội, quá trình xây dựng ý thức xã hội mới Việt Nam cũng chính là việc gia tăng, bồi đắp, nâng cao ý thức chính trị, ý thức pháp luật, ý thức đạo đức… cho người dân trong xã hội.

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống lý luận cách mạng, khoa học, là tinh hoa tư tưởng nhân loại, rất gần gũi với truyền thống tinh thần dân tộc Việt Nam, vì vậy, nó hòa hợp, thống nhất và ngày càng ăn sâu vào thói quen, nếp nghĩ của mỗi con người Việt Nam, để hình thành nên ý thức mới. Sự hòa hợp, thống nhất đó diễn ra một cách hoàn toàn tự nhiên, là nhu cầu rất tự nhiên tựa như “cơm ăn, nước uống” của người dân Việt Nam, chứ tuyệt nhiên không phải do ai xúi giục, ép buộc. Chỉ có những kẻ với cái nhìn thiển cận hoặc cố tình phá hoại mới không nhìn ra sự hoà hợp đó, và la lối rằng: Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh “không tương thích” với suy nghĩ của con người Việt Nam, không thể là ý thức xã hội Việt Nam (!).

Về thực tiễn, việc xây dựng ý thức xã hội mới ở Việt Nam đã thể hiện vai trò rất quan trọng, đóng góp chung vào sự phát triển đất nước. Xây dựng ý thức mới đã tạo ra sự ổn định tư tưởng trong toàn xã hội. Đại đa số nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào tương lai xã hội và đồng thuận cao với đường lối mà Đảng xác định. Kết quả phát triển kinh tế - xã hội phản ánh ý thức mới đang được từng bước hình thành vững chắc: Trong suốt gần 40 năm đổi mới vừa qua, tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm. GDP năm 2023 đạt khoảng 430 tỉ USD, bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300 USD. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 700 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 355 tỉ USD, xuất siêu đạt mức kỷ lục 28 tỉ USD; Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% theo chuẩn cũ năm 1993 của Chính phủ xuống còn 2,93% theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2023. Hiện nay, Việt Nam có gần 99% số người lớn biết đọc, biết viết. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2023. Năm 2022, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,737, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có trình độ phát triển cao hơn. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng .

Như vậy, những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động luôn nhằm phá hoại công cuộc xây dựng ý thức xã hội mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, những luận điệu đó của chúng chẳng những không hợp lý về mặt lý luận mà còn bị những thành tựu thực tiễn bác bỏ một cách thẳng thừng. Mỗi cúng ta phải luôn nắm vững những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhận diện rõ bản chất xấu xa và mục đích đen tối của các thế lực thù địch, từ đó kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới./.

 

BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA

Trong bối cảnh hiện nay, việc kế thừa và phát huy các biện pháp bảo vệ Tổ quốc của cha ông là một nội dung hết sức quan trọng; trong đó có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là sự kế thừa bài học, kế sách "giữ nước từ khi nước chưa nguy" trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Quan điểm này thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược, tính chủ động, sáng tạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, ông cha ta chú trọng việc bảo vệ Tổ quốc từ xa, từ sớm bằng rất nhiều biện pháp. Về đối ngoại thì tích cực hoạt động bang giao, lấy hòa hiếu, hữu nghị làm trọng, nhất là với các nước láng giềng, tránh xung đột, binh đao. Về đối nội, nhà nước chăm lo xây dựng, phát triển kinh tế, củng cố sức mạnh vật chất và tinh thần, đoàn kết trong toàn dân, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang, giữ vững phên giậu quốc gia, thực hiện kế sách khoan thư sức dân

Trong quốc sách "ngụ binh ư nông" thời Trần vừa đảm bảo sức lao động nông nghiệp, giảm thiểu chi phí quốc phòng thời bình mà vẫn đáp ứng được quân số sẵn sàng chiến đấu với số lượng lớn khi xảy ra chiến tranh. Triều Trần có nhiều chính sách tiến bộ như chú trọng khai khẩn đất hoang để mở mang diện tích trồng trọt và giải quyết nạn nông dân ly tán. Việc đào kênh lấy nước trồng trọt, đắp đê phòng lụt được nhà Trần rất quan tâm. Lực lượng quân đội được huy động đắp đê, đào kênh. Trần Quốc Tuấn căn dặn tướng sĩ: "Các vương hầu và các tướng sĩ, ai nấy phải cẩn giữ phép tắc, đi đến đâu không được quấy nhiễu dân".

Bình luận về kế sách giữ nước dựa vào dân của triều Trần, nhà sử học Phan Huy Chú đánh giá: "Thời Trần, "phục binh ở nơi thuận tiện", lúc vô sự thì cho về làm ruộng, khi có động thì chiếu sổ gọi tên ra hết, cho nên binh vẫn đủ mà không phải chi phí nhiều, càng thêm hăng hái chống thù. Thế là thời Trần ai cũng là binh nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh... Cái chiến công dẹp quân Chiêm, phá tan quân Tống (thời Lý), cái oai hùng 3 lần đánh bại quân Nguyên (thời Trần) cũng đủ cho biết binh lực hai đời cường thịnh thế nào". Sự đồng tình ủng hộ của nhân dân là nền tảng cơ bản của công cuộc giữ nước, tạo nên thế lực, sức mạnh của quốc gia. Thời Lý, Trần tuy tương quan lực lượng quân sự ta thua kém địch nhưng thế trận lòng dân - sức mạnh tổng hợp toàn diện, điều đó được thể hiện rõ rệt.

Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, những vấn đề lý luận về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa được Đảng, Nhà nước ta tiếp tục nghiên cứu, vận dụng. Quan điểm này trở thành tư tưởng và hành động xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tổng kết thực tiễn và lý luận bảo vệ Tổ quốc, lần đầu tiên trong văn kiện chính thức của một đại hội, quan điểm chủ động giữ nước trong thời bình, từ sớm, từ xa được nêu rõ. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là bảo vệ từ trước, phòng ngừa từ trước, chủ động chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ Tổ quốc ngay trong thời bình, khi đất nước chưa nguy, lấy việc phòng ngừa từ trước, từ xa theo phương châm xây dựng nước nhà vững mạnh, yên ổn, không phải chiến tranh là thượng sách. Quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa thể hiện tầm nhìn chiến lược mới về quốc phòng - an ninh. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: "Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế".

Thượng sách trong bảo vệ Tổ quốc là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa không để xảy ra xung đột, chiến tranh dưới bất cứ hình thức, quy mô nào. Muốn ngăn ngừa không để xảy ra chiến tranh, trước hết phải tập trung xây dựng đất nước thực sự ổn định và vững mạnh về mọi mặt ngay từ bên trong Nghị quyết Trung ương 8, Khóa XI được ban hành trên cơ sở thành tựu, kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn, nhất là trong thời kỳ đổi mới, hội nhập. Nghị quyết có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện đường lối, tư duy mới, bước đột phá về sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; xác định rõ mục tiêu, quan điểm, phương châm chỉ đạo, nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện, tạo động lực thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới./.

  

THAO TÚNG TÂM LÝ - THỦ ĐOẠN KÍCH ĐỘNG “CÁCH MẠNG MÀU” LỢI DỤNG TÔN GIÁO

 Trước tiên, cần nói rõ bản chất của các cuộc “cách mạng màu” là những hành động phản kháng lôi kéo đám đông, mang tính PHẢN CÁCH MẠNG, luôn xuất phát bằng thủ đoạn THAO TÚNG TÂM LÝ. Trong đó, các cuộc “cách mạng màu” lợi dụng tôn giáo được tạo ra và vận hành theo các bước cơ bản sau:

1. Tạo dựng hiện tượng bất thường, dị biệt:

Những “cuộc cách mạng màu” dùng tôn giáo thường bắt đầu bằng việc tạo ra các hiện tượng bất thường, dị biệt trong xã hội. Điều này có thể là việc tuyên truyền thông điệp tôn giáo hoặc tạo ra các sự kiện gây chú ý.

2. Sử dụng đội ngũ PR mạnh mẽ:

Các tổ chức đứng sau “cách mạng màu” sử dụng tối đa truyền thông và chiến dịch quảng bá để biến những hiện tượng này thành thần tượng gây sốt trong cộng đồng. Điều này có thể là việc tạo ra các biểu ngữ, video, hoặc sự kiện lớn để thu hút sự chú ý.

3. Lôi kéo và phân hóa:

Những kẻ cầm đầu “cách mạng màu” tìm mọi cách tạo ra để tận dụng sự chia rẽ trong xã hội. Bằng cách khuyến khích sự bất đồng quan điểm giữa những người ủng hộ và phản đối, họ gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

4. Gây ách tắc giao thông, trật tự công cộng:

Tổ chức các hoạt động tập trung đông người, làm tắc nghẽn giao thông, và làm mất an ninh trật tự, xáo trộn xã hội.

5. Buộc chính quyền can thiệp:

Các cuộc “cách mạng màu” với thủ đoạn tụ tập đông người, gây cản trở giao thông và mất ANTT sẽ buộc chính quyền phải tổ chức giải tỏa giao thông để đảm bảo trật tự công cộng.

6. Vu khống chính quyền đàn áp tôn giáo:

Từ việc giải tỏa để đảm bảo giao thông và trật tự công công, những kẻ đứng sau sẽ thổi phồng để kích động, sử dụng truyền thông xã hội để tố cáo chính quyền đàn áp tôn giáo, tạo ra làn sóng phẩn nộ trong và ngoài nước.

7. Kích động và phá hoại:

Kích động tâm lý đám đông, dẫn dụ những người a dua tham gia vào các hoạt động tụ tập chống đối, gây rối, thậm chí là đập phá tài sản cá nhân và công cộng.

8. Đẩy lên thành bạo loạn:

Các cuộc “cách mạng màu” đẩy mạnh các hoạt động gây rối, nhằm biến tình hình thành các cuộc bạo loạn nghiêm trọng, tấn công lực lượng làm nhiệm vụ, các công sở.

9. Kêu gọi ngoại bang can thiệp:

Lợi dụng tình hình diễn biến phức tạp để vu cáo chính quyền, kêu gọi bên ngoài can thiệp quân sự, chính trị, hà hơi tiếp sức, bơm hàng nóng từ nước ngoài, tạo áp lực thay đổi chính trị, tôn giáo, và biến Việt Nam thành chư hầu của chúng.

Việc hiểu và nhận thức sâu sắc về các chiến thuật này sẽ giúp các bạn trước tiên là tự bảo vệ mình, không để bị biến thành công cụ để kẻ khác giật dây, đồng thời góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

HÃY CẢNH GIÁC! ĐỪNG LÀM SAI VÌ THIẾU HIỂU BIẾT./.

NHÂN DÂN BIẾT CẢ ĐẤY!

 Phát biểu tại Phiên họp đầu tiên của Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Công tác nhân sự Đại hội phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, thật sự trong sáng, khách quan, đặc biệt phải "có con mắt tinh đời"… “. Muốn có được “con mắt tinh đời” đó, phải dựa vào Nhân dân vì “Nhân dân biết cả đấy!”

Công tác nhân sự đại hội không chỉ đơn thuần là một trong những nội dung quan trọng của một đại hội đảng mà còn là yếu tố quyết định đến kết quả thực hiện nghị quyết đại hội, suy rộng ra là vận mệnh của đảng, sự tồn vong của chế độ, quốc gia, dân tộc. Bởi thế, cứ mỗi dịp chuẩn bị kỳ đại hội đảng các cấp, người dân và hàng triệu đảng viên cả nước lại ngóng trông, dõi theo những ai sẽ được đảng cử, dân bầu bước vào điều hành bộ máy lãnh đạo các cấp; để thay mặt nhân dân gánh vách giang sơn, đất nước. Háo hức, tin tưởng thì nhiều nhưng cũng không khỏi ruột gan lo lắng; băn khoăn liệu chúng ta có để những con sâu mọt, thậm chí cả sâu “cải trang”, trà trộn, lọt vào bộ máy lãnh đạo của đảng như nhiệm kỳ vừa qua hay không?

Đường đi của những "con sâu"

Chúng ta hoàn toàn tự tin khẳng định rằng, với hệ thống văn bản, quy chế, quy định về tổ chức đại hội đảng các cấp khá đồng bộ, khoa học, chặt chẽ như hiện nay, nếu đại hội đảng ở các cấp mà đều thực hiện nghiêm túc, chất lượng, hiệu quả các khâu, các bước thì nhất định sẽ chọn lựa được đội ngũ cán bộ, đảng viên ưu tú vào hàng ngũ lãnh đạo của đảng; đó sẽ thực sự là lực lượng tinh hoa của tinh hoa. Và chắc hẳn khi đó sẽ không còn vấp phải tình trạng “nhìn gà hóa cuốc”, “thấy đỏ tưởng chín”, “thấy cái mã bên ngoài, mà che đậy cái sơ sài bên trong”… sẽ không còn phải ray rứt, nuối tiếc vì đã trao nhầm phiếu bầu cho một số cán bộ “rởm” như thời gian vừa qua.

Ai cũng biết, theo quy định mọi đảng viên đều tham gia sinh hoạt trong một tổ chức đảng, nhỏ nhất là cấp chi bộ, đây là nơi gần dân nhất, vì thế đó cũng là tổ chức hiểu dân nhất, và dĩ nhiên cũng là nơi mà dân hiểu rõ cán bộ, đảng viên nhất. Theo nhiệm kỳ, đại hội đảng ta được tổ chức ở nhiều cấp, như vậy, rõ ràng để có thể “lách” vào được vị trí lãnh đạo các cấp trong bộ máy của đảng ta, chắc hẳn những “con sâu” này đã hết sức thành thạo phép “cải trang, biến hình” để che đậy đi bộ mặt thật cũng như những tội lỗi, khuyết điểm. Không chỉ vậy, chúng còn lợi dụng một số tổ chức đảng xa rời nguyên tắc, thiếu nền nếp trong tổ chức và sinh hoạt, buông lỏng trong lãnh đạo, xuề xòa trong tiến hành các quy trình, quy định, các khâu, các bước tổ chức đại hội để qua mặt, “lòe” tổ chức, đặc biệt là trong tổ chức đại hội ở cấp nhỏ. Không chỉ vậy, để tạo dựng được hình ảnh, một số cán bộ cơ hội còn dùng nhiều thủ đoạn để “làm màu”; trước đại hội không ít phần tử còn lên cho bản thân kế hoạch xây dựng hình ảnh; “ghế to” thì kế hoạch lớn, “ghế thấp” thì kế hoạch nhỏ miễn sao có được thành tích mang dấu ấn cá nhân mình để “pi - a”. Có nơi, có cán bộ còn dựa vào uy danh, quyền thế, tiền bạc, mối quan hệ dọc ngang để tạo sức ép, hướng lái bỏ phiếu bầu cho mình; không được thì tìm cách mua quan, bán chức, mua phiếu bầu.... Ở cấp cao hơn, không ít đại hội rất chủ quan trong việc rà soát, thẩm tra, xác minh nhân sự, nhiều nơi trao trọn niềm tin, giao khoán công tác thẩm tra, xác minh nhân sự đại hội cho cấp dưới, thậm chí mắc vào tư tưởng cấp dưới đã rà soát, thẩm định rồi thì việc của cấp trên chỉ là thủ tục hành chính, là hình thức. Có nơi lại vướng vào suy nghĩ “anh ấy”, “chị ấy” đang giữ cương vị này, trọng trách kia, quan trọng như vậy rồi thì cần gì phải thẩm tra, xác minh thêm mữa? Và cứ thế đầu xuôi, đuôi lọt, từng bước chui sâu, leo cao, chễm chệ ngồi vào ghế trong bộ máy lãnh đạo.

Thực tế hiện nay, bên cạnh phần lớn cán bộ, đảng viên kiên định, tâm huyết, trách nhiệm, tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia- dân tộc và mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, xứng đáng là công bộc của nhân dân thì Đảng ta cũng thẳng thắn thừa nhận: Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý…chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, nói nhiều làm ít; còn cán bộ, đảng viên trục lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước, gây ra dư luận xấu trong xã hội, làm ảnh hưởng đến uy tín Đảng, mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân.

Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thờ ơ, vô cảm, “tự diễn biến”, "tự chuyển hoá”, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. Rất đau lòng trước những sai phạm của các cấp uỷ, tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ chủ trì, chủ chốt, đảm nhiệm những chức vụ cao, quan trọng trong các cơ quan Đảng, Nhà nước thời gian qua. Điều đó đã làm giảm sút uy tín, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ. Những sai phạm trên cũng là “mảnh đất mầu mỡ”, cơ hội để các thế lực thù địch được đà điên cuồng chống phá, lợi dụng các “hiện tượng” để xuyên tạc “bản chất”- chủ trương, đường lối, chính sách, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta…

Những con số thống kê về số lượng các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, pháp luật bị xử lý trong thời gian qua cho thấy tình trạng suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên trước tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, trước cám dỗ của vật chất. Điều đó lý giải tại sao Đảng ta đang triển khai mạnh mẽ, toàn diện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, nhất là công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực, quyết tâm làm trong sạch về tổ chức cũng như đội ngũ cán bộ, đảng viên, coi đây là nhiệm vụ hệ trọng, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Vạch lá bắt sâu - hết rồi thời “3 ệ” - xin chào thế hệ “3T”

Ở một số nơi, đi đến đâu dân tình cũng xôn xao, bức xúc về tình trạng cán bộ thăng tiến nhờ cái gói là “3 ệ” được hiểu ra là “quan hệ, hậu duệ, tiên tệ” len lỏi vào bộ máy lãnh đạo của đảng; dân tình xì xào rằng cái “quỹ đất” đặc biệt là những nơi mà họ vẫn gọi là “vị trí quyền lực” dành cho hiền tài, người thực sự tiêu biểu về phẩm chất và năng lực bước chân vào là rất hiếm, vô cùng khó khăn, gần như không còn nữa, mà nếu có còn thì cũng khó mà đến lượt. Sẽ là tai họa khôn lường cho đảng, nguy hại cho nước, cho dân nếu như để lọt những thành phần “3 ệ” kia vào bộ máy lãnh đạo, đặc biệt là những vị trí trọng yếu.

Mặc dù Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản quy định; đặc biệt là Quy định số 205-QĐ/TW của Bộ Chính trị, ngày 23/9/2019 về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền, đây được ví như một bản tuyên ngôn về công tác cán bộ; cũng là lần đầu tiên trong quy định, Đảng ta đã nêu rõ các cơ chế kiểm soát quyền lực, nhận diện 6 hành vi chạy chức, chạy quyền, 8 hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức, cũng như quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong chạy chức, chạy quyền và xử lý các hành vi. Quy định đã nhận được sự quan tâm, đồng tình ủng hộ của rộng rãi xã hội, dư luận cho rằng, đảng ta đã nhìn rõ, đánh trúng vào yếu điểm trong công tác nhân sự đại hội, tuy nhiên dường như kết quả mới chỉ dừng lại ở bước đầu.

Kỳ vọng của gần 100 triệu người dân và hơn 5 triệu đảng viên về một dân tộc Việt Nam hùng cường, đất nước Việt Nam thịnh vượng không cho phép chúng ta cả tin, tặc lưỡi, nhắm mắt làm ngơ trao quyền lãnh đạo cho những kẻ có dính líu tới những cái “ệ” ấy. Nhiệm kỳ vừa qua, chúng ta đã làm nhưng chưa triệt để, đã quyết tâm nhưng chưa đạt kết quả như kỳ vọng. Sứ mệnh của đại hội các cấp nhiệm kỳ tới là phải thực hiện triệt để hơn, quyết liệt hơn, hiệu quả hơn tâm thư mà nhân dân trao gửi, lựa chọn cho kỳ được đội ngũ cán bộ thế hệ “3 T” vừa có “Tâm”, vừa có “Tài”, vừa có “Tầm” bước vào điều hành bộ máy, lãnh đạo đất nước.

Khen cho con mắt tinh đời

Chưa bao giờ công tác lựa chọn nhân sự cho đại hội đảng các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương lại được mọi tầng lớp nhân dân quan tâm như hiện nay. Một phần vì nhân dân rất hy vọng, trông đợi vào những đột phá của bộ máy lãnh đạo mới trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực đang diễn biến nhanh chóng tiềm ần nhiều diễn biến phức tạp, khó dự báo; phần khác vì không khỏi xốt ruột, lo lắng bởi trong nhiệm kỳ đại hội vừa qua không ít cán bộ, thậm chí cả lãnh đạo chủ chốt được dân mến, dân tin bầu vào các vị trí lãnh đạo của đảng, có cả vị trí chủ chốt nhưng đã không hoàn thành nhiệm vụ, thoái hóa biến chất, phản bội Tổ quốc, trở mặt nhân dân; có tội với dân, với nước. Vì thế sau mỗi nhiệm kỳ đại hội đảng, nhất là khóa XIII vừa rồi để chúng ta thêm một lần rút ra những kinh nghiệm máu xương, chuẩn bị chu toàn hơn, cặn kẽ hơn, hiệu quả hơn cho tiến hành công tác nhân sự đại hội đảng nhiệm kỳ tới.

Hiền tài của đất nước chưa bao giờ thiếu, song ở thời nào thì cũng có sâu mọt nảy nở, sinh sôi; vì vậy, rất cần có một kỳ đại hội đảng các cấp thực sự sáng suốt, tỉnh táo, tinh tường trong công tác lựa chọn nhân sự cán bộ các cấp. Muốn làm được điều đó, thiết nghĩ trước hết những người làm công tác tham mưu cho đại hội về vấn đề nhân sự phải thực sự là những người tiêu biểu, lòng dạ sáng trong, kiểu mẫu về tính trung thực, công tâm, khách quan, bám sát và giữ vững nguyên tắc, quy chế, quy trình, quy định, đề cao trách nhiệm, phát huy dân chủ, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong tham mưu, lựa chọn nhân sự; phải chịu trách nhiệm trước đảng, nhà nước và nhân dân về chất lượng tham mưu, giới thiệu; chống các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng cán bộ ngay trong những người làm nhân sự đại hội.

Muốn tìm được cán bộ có đức, có tài thì rất cần đại hội phải nối dài tầm mắt thông qua nắm bắt dư luận, lắng nghe ý kiến phản hồi, lấy phiếu tín nhiệm của quần chúng nhân dân. Nhân dân là lưới lọc cán bộ tốt nhất cho đảng; song việc lấy ý kiến của nhân dân cũng cần phải có cơ chế phù hợp thì mới hòng mang đến dân chủ và đạt hiệu quả thực sự, thực chất như mong muốn. Cần coi trọng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm, hướng dẫn để phát huy tốt vai trò của người dân; thậm chí mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân được lựa chọn, giới thiệu nhân sự, nghiên cứu phương án minh bạch, công khai danh sách nhân sự giới thiệu vào các cơ quan đảng, nhà nước thậm chí là công khai quy hoạch nhân sự Ủy viên Trung ương để nhân dân nắm, kiểm tra, giám sát và cho ý kiến.

Không ai gần cán bộ bằng nhân dân, không ai hiểu cán bộ bằng nhân dân và cũng không ai ngoài nhân dân có thể phân biệt, nhận biết rõ hơn trong đội ngũ cán bộ ai là người thật, người giả, ai tốt, ai xấu, ai là người tận tâm, tận tụy với nước với dân và ai là người rao giảng vì dân nhưng lại thực chất là vì mình. Rất nhiều vụ án nhờ dân phát hiện, vì vậy muốn biết nhà quan chức có bao nhiêu xe, bao nhiêu nhà, đất, có giàu nhanh hay không thì nào cần đâu xa, hỏi dân là biết tường tận. Những ý kiến, phản ánh của nhân dân, của cử tri, người dân nơi công tác, cư trú, cũng như từ các tổ chức chính trị - xã hội mới thực sự là lá phiếu chuẩn xác, đáng tin cậy nhất trong lựa chọn nhân sự cho đại hội các cấp.

Cán bộ giữ vị trí, trọng trách càng cao thì càng phải lựa chọn cẩn trọng, chặt chẽ; làm đúng, làm đủ, làm hiệu quả thực sự các quy trình, các khâu, các bước; không vì vị trí hiện tại mà xuề xòa, khỏa lấp đi những “tì vết” trước đó; theo đó, rất cần tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc bước thẩm tra, xác minh; rà soát kỹ càng hiệu quả thực tế công việc mà cán bộ, đảng viên dự bầu đã từng được phân công đảm nhiệm trước đó; tránh giản đơn, nóng vội, chủ quan, đốt cháy giai đoạn, duy ý chí trong giới thiệu, lựa chọn nhân sự cho đại hội để khỏi hối tiếc và rơi vào tình trạng “tá hỏa” về những chuyện đã rồi, những hệ lụy mà họ đã “dính chàm”, gây ra trước đó. Đồng thời cũng có biện pháp để cảnh báo với những người “có vết” nên xin rút, dẹp ngay những trường hợp ngồi nhầm ghế, loại bỏ những cán bộ có tư tưởng luồn sâu, trèo cao để trục lợi. Chúng ta tin tưởng nhưng không tuyệt đối hóa, đặt trọn niềm tin vào những người đã được tôi luyện, thử thách, đi lên từ gian khó mà cần phải kiểm tra, giám sát, theo dõi thường xuyên, liên tục để họ luôn giữ vững được danh dự, thấm sâu tư cách, đạo đức cách mạng, thực sự có sức đề kháng, hệ miễn dịch tuyệt đối, không vướng vào các “tử huyệt”, tránh bị cám dỗ, lôi kéo, sa chân khi được giao những cương vị, chức trách, nhiệm vụ lớn hơn.

Một điều mà trong công tác nhân sự nhiều kỳ đại hội gần đây chúng ta đều quan tâm đó là phương hướng nhân sự đại hội phải dựa trên cơ cấu hài hòa, hợp lý về tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ thiểu số, nhà khoa học, văn nghệ sĩ, lãnh đạo một số tập đoàn, tổng công ty lớn của nhà nước đủ tiêu chuẩn, điều kiện… vừa bảo đảm tính kế thừa, ổn định, đổi mới, phát triển liên tục, có sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ, cân đối về số lượng và chất lượng, trong đó chất lượng là quan trọng. “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, phải thấu triệt quan điểm bảo đảm được tiêu chuẩn, tuyệt đối không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chí, tiêu chuẩn; làm tốt công tác nhân sự từ đại hội đảng bộ cấp dưới để chuẩn bị kỹ lưỡng nhân sự đại hội cho Trung ương; đặc biệt tránh tình trạng làm đúng quy trình, quy định những vẫn không chọn được đúng người, vì thế trong giai đoạn hiện nay nhất thiết phải bám sát Quy định số 214-QĐ/TW ngày 02/01/2020 của Bộ Chính trị về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ theo một định lượng cụ thể; nghiên cứu, ứng dụng “phác đồ” căn cơ để điều trị dứt điểm căn bệnh mất dân chủ trong đảng, thiếu minh bạch, công tâm, khách quan trong lựa chọn, giới thiệu nhân sự đại hội.

Dưới có vững thì trên mới bền chắc, đại hội đảng các cấp có tốt thì đại hội toàn quốc mới thành công. Quá trình chuẩn bị nhân sự cho đại hội là quá trình lâu dài với nhiều khâu, nhiều bước, phải được tiến hành dày công, kỹ lưỡng, bài bản, chặt chẽ, nếu như sơ xuất, chúng ta sẽ phải trả giá thậm chí là giá rất đắt. Nhận thức chung rằng, lựa chọn đúng cán bộ, đặt họ vào đúng vị trí để phát huy tốt năng lực, sở trường của họ là trọng trách của những người “cầm lái”, vì vậy hơn lúc nào hết để lựa chọn, sàng lọc được từ trong đội ngũ tinh hoa những “anh hùng đứng giữa trần ai” đủ sức gánh vác, tô đẹp giang sơn, gấm vóc của ta thì công tác nhân sự đại hội đảng các cấp rất cần phải có một tư duy mới, cách nhìn mới và hành động mới.

Còn với mỗi cán bộ, đảng viên thiết nghĩ phải giữ đúng bổn phận, xứng đáng là công bộc của nhân dân. Muốn vậy, cần tu dưỡng “Đảng tính” thật tốt, làm việc gì cũng phải tính đến lợi ích chung của tập thể, phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết; cần giữ cho mình “tâm chính”; phải làm kiểu mẫu về cần, kiệm, liêm, chính; tận tâm, tận tuỵ với công việc được giao. Mỗi cán bộ, đảng viên luôn nhắc nhở bản thân dù ở địa vị cao hay thấp, dù đảm đương công việc, nhiệm vụ lớn hay nhỏ, cán bộ cấp trung ương hay cơ sở…thì đều là đày tớ, công bộc của nhân dân; không để mắc các bệnh như quan liêu, mệnh lệnh, xa dân, kiêu ngạo, thờ ơ với nhân dân, nói suông, tự kiêu, tự đại, xa xỉ, vô cảm, thiếu và sợ trách nhiệm…phải tự học tập nâng cao trình độ mọi mặt, luôn giữ được phẩm giá, nhân cách của người cộng sản trước nhân dân, có vậy mới lãnh đạo được cơ quan, đơn vị, mới phục vụ được nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên tự suy ngẫm, rút ra cho mình bài học kinh nghiệm, để không đi vào “vết xe đổ”, đồng thời cần đấu tranh mạnh mẽ với những hành vi sai trái như “lợi ích nhóm”, tạo “uy tín giả”, “làm xiếc”, bệnh sĩ diện, thích sống sang, ăn sang, tiêu sang, chơi sang…

Suy cho cùng, mọi thành công hay thất bại đều do yếu tố con người và tất nhiên sự thành bại của cách mạng cũng chủ yếu do cán bộ, đảng viên của Đảng tốt hay xấu. Hiện nay, Đảng rất cần những cán bộ, đảng viên thực sự trung thành, trong sạch, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc; luôn nói đi đôi với làm, chí công vô tư, hết lòng, hết sực phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng có thành công được hay không tuỳ thuộc rất lớn vào những cống hiến, hy sinh của mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng. Do vậy, công tác lựa chọn nhân sự của Đảng thời gian tới cần tiếp tục đổi mới, phải thực sự soi sao cho kỹ, chọn sao cho đúng để tìm được những người có “mắt sáng”, “lòng trong”, “tay sạch” đứng ra gánh vác việc non sông./.

 

TẦM VÓC ĐỒNG CHÍ NGUYỄN CHÍ THANH

 Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi là những trang sử vẻ vang nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, là di sản bất diệt trong kho tàng khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Thắng lợi và di sản này có công lao đặc biệt và mang đậm dấu ấn Nguyễn Chí Thanh.

Từ cuối năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị cử đại tướng Nguyễn Chí Thanh vào Nam, thay mặt Bộ Chính trị trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với cương vị Bí thư Trung ương Cục và Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ông trở thành người đứng đầu trên chiến trường chống Mỹ.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam có đặc điểm khác với mọi cuộc chiến tranh trong lịch sử thế giới. Đương đầu với một đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới với trang bị vũ khí hiện đại nhất, Việt Nam chỉ có thể thắng nếu tiến hành cuộc chiến tranh toàn diện, huy động mọi nhân tài vật lực, sức mạnh và ý chí của toàn dân ở cả hai miền. Không có sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng Lao động Việt Nam với đường lối chiến lược thống nhất, với hệ thống tổ chức chặt chẽ, nhất quán và những quyết sách linh hoạt, tài tình, thì không thể thắng lợi được. Nhưng trên chiến trường miền Nam, cách rất xa trung tâm đầu não ở Hà Nội, trong điều kiện thông tin liên lạc không hề dễ dàng, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất sáng suốt khi cử một Ủy viên Bộ Chính trị - đại tướng Nguyễn Chí Thanh trực tiếp vào chiến trường để thay mặt Bộ Chính trị thống nhất lãnh đạo và chỉ huy cuộc chiến. Vì vậy, đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người thay mặt Bộ Chính trị có toàn quyền quyết định trên chiến trường. Đó là một trong những điều kiện bảo đảm cho thắng lợi.

📌"Bám thắt lưng địch mà đánh"

Cho đến đầu năm 1965, khi chiến lược chiến tranh đặc biệt thất bại, Mỹ rơi vào thế bị động chiến lược, việc chuyển sang chiến lược chiến tranh cục bộ và mang quân trực tiếp xâm lược Việt Nam sau khi tiến hành hàng loạt các cuộc đảo chính để củng cố bộ máy cai trị, theo nhận định của Bộ Chính trị và đại tướng Nguyễn Chí Thanh, cũng là sự bị động chiến lược của Mỹ.

Khi đại tướng Nguyễn Chí Thanh vào chiến trường, ta bắt đầu xây dựng hàng loạt sư đoàn, trung đoàn quân chính quy chủ lực, hình thành đầy đủ 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích), triển khai trên cả ba vùng chiến lược (miền núi, nông thôn, thành thị), tiến hành hai chân ba mũi giáp công (quân sự và chính trị; quân sự, chính trị, binh vận).

Xuất phát từ thực tế chiến trường, đại tướng nói: "Cứ đánh Mỹ khắc sẽ tìm ra cách đánh thắng Mỹ" và đề ra phương châm nổi tiếng "Bám thắt lưng địch mà đánh". Trận thắng Mỹ đầu tiên là trận Núi Thành (26.5.1965), một đại đội bộ đội địa phương và một phân đội đặc công tiêu diệt hoàn toàn một đại đội thủy quân lục chiến Mỹ. Bộ đội ta đã lót sát trận địa của địch, gần nhất là 1 mét và xa nhất chỉ 3 mét, làm vô hiệu hóa hỏa lực của địch. Trận Núi Thành tuy không lớn nhưng là trận đánh hạ uy thế của Mỹ và nâng cao sĩ khí cho quân ta.

Trận Vạn Tường là trận đầu tiên bộ đội chủ lực của ta đương đầu với quân tinh nhuệ Mỹ. Trong trận này, Mỹ có tổng cộng khoảng 9.000 quân, 105 xe tăng và xe bọc thép, 100 máy bay lên thẳng và 70 máy bay phản lực chiến đấu, 6 tàu chiến yểm trợ ngoài biển triển khai chiến dịch Starlight tấn công Sở Chỉ huy Trung đoàn 1 bộ đội chủ lực quân khu 5 và 1 đại đội bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi đóng ở Vạn Tường. Bộ Chỉ huy quân đội Mỹ nghĩ rằng họ hoàn toàn chủ động lựa chọn chiến trường phù hợp với sở trường và sử dụng hiệu quả phương tiện chiến tranh của họ, có thể kéo bộ đội ta đến địa hình mà họ phát huy hết hỏa lực. Tuy nhiên, mọi mũi tiến công bằng bộ binh, pháo binh, không quân, hải quân của Mỹ đều bị bẻ gãy. Ta đã tiêu diệt gần 1.000 lính Mỹ, bắn cháy 22 xe tăng và xe bọc thép, bắn rơi 13 máy bay, quân ta rút khỏi Vạn Tường một cách an toàn, hy sinh 50 chiến sĩ. Về trận đánh này, hãng AP (Mỹ) thuật lại lời một số sĩ quan Mỹ: "Trận đánh này giống như trận Okinawa trong Thế chiến thứ hai… Việt Cộng xuất hiện từ trong các hầm hố mà lính thủy đánh bộ không trông thấy. Việt Cộng xuất hiện thình lình cả đằng trước mặt và đằng sau lưng…". Chiến thắng Vạn Tường chứng minh quân và dân ta hoàn toàn có khả năng đánh bại quân xâm lược Mỹ.

Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn từng phân tích: 1959 - 1960, khi ta mới bắt đầu khởi nghĩa, quân địch 7, ta 1 (lúc đó không có Mỹ). 1960: địch 10, ta 1. 1961: địch 7, ta 1. 1962 - 1963: địch 5, ta 1. Từ năm 1965 (khi Mỹ vào nửa triệu quân nữa): địch 3, ta 1. Nhưng theo Bí thư thứ nhất, nếu tính lực lượng cơ động thì "ta 2, nó 1, ta mạnh gấp đôi nó", đó là chưa kể đến ai giữ vai trò chủ động trên chiến trường.

Sự thay đổi tương quan lực lượng này có công lao đặc biệt của đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Ông vừa có kiến thức quân sự uyên bác, vừa có kinh nghiệm thực tiễn trong 9 năm chống Pháp, nghiên cứu kỹ lưỡng thực tế chiến trường miền Nam cũng như từng cách đánh của bộ đội. "Bám thắt lưng địch mà đánh" là một trong những phương châm vô hiệu hóa hỏa lực và phương tiện chiến tranh hiện đại của đối phương, biến đối phương từ mạnh thành yếu trên chiến trường.

Nhưng không chỉ có vậy. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nói: "Phải buộc đối phương đánh theo cách của ta chứ không để nó đánh theo cách của nó". Trong tương quan lực lượng giữa Mỹ và quân giải phóng, nguyên tắc này càng đặc biệt được chú trọng. Theo đại tướng, ta đã phân tán quân Mỹ mỏng ra khắp nơi, đẩy đối phương vào thế bị động cả tấn công và phòng thủ, không để họ đánh theo sở trường của mình, ông dùng hình ảnh dễ hiểu là buộc Mỹ phải "ăn cháo bằng nĩa". Còn ta thì hoàn toàn chủ động trên chiến trường, chỗ nào ta cũng có quân, đồng thời có điều kiện tập trung vào trọng tâm, trọng điểm để giành những thắng lợi quyết định. Ta sử dụng hiệu quả mọi loại vũ khí, từ thô sơ đến hiện đại. Khi cần thì lấy nhiều thắng ít, khi cần lại lấy ít thắng nhiều, đánh lớn cũng được, đánh nhỏ cũng được, kết hợp đánh lớn, đánh vừa và đánh nhỏ cũng được, đánh địch trong mọi tình huống, trên cả 3 vùng chiến lược. Đánh bằng du kích, đánh bằng bộ đội địa phương và đánh bằng những quả đấm thép của quân chủ lực. Đại tướng cho rằng trên chiến trường miền Nam diễn ra những cách đánh muôn hình vạn trạng, ở đâu cũng có sáng tạo những cách đánh mới.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ chiến trường ra Hà Nội vào giữa năm 1967 để báo cáo tình hình với Bác Hồ và Bộ Chính trị, đồng thời báo cáo việc chuẩn bị kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 để tạo bước ngoặt quyết định. Nhưng ông đã không kịp quay lại chiến trường nữa khi không may qua đời do một cơn đau tim vào ngày 6.7.1967, lúc mới 53 tuổi.

Ông là một nhà lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, đồng thời là một thiên tài quân sự.

Có một giai thoại về đại tướng Nguyễn Chí Thanh thời chống Pháp được lưu truyền rộng rãi trong quân đội ta. Đó là câu chuyện một cán bộ quân đội mang đôi giày chiến lợi phẩm rất oách chuẩn bị qua suối. Anh ta nhìn qua hai bên nói: "Cậu nào cõng tớ qua suối tí". Lúc ấy, ông Nguyễn Chí Thanh mang dép cao su trên đường đi chiến dịch như một người lính, liền đưa vai cõng anh cán bộ. Đi được mấy bước, anh cán bộ thân mật hỏi: "Đồng chí ở đơn vị nào?". Ông Thanh: "Báo cáo anh, em ở Tổng cục ạ". Anh cán bộ hơi chột dạ: "Thế đồng chí ở Tổng cục nào?". "Dạ em ở Tổng cục Chính trị". Anh cán bộ bắt đầu hoảng: "Thế đồng chí làm nhiệm vụ gì trên đó?". Ông Thanh: "Dạ, em làm Chủ nhiệm ạ". Anh cán bộ hoảng sợ vừa nhảy xuống vừa van: "Em lạy thủ trưởng, em biết lỗi rồi, xin thủ trưởng tha cho em". Nhưng ông Thanh ghì chặt anh cán bộ trên lưng, không cho xuống: "Cậu cứ ở yên trên lưng để tôi cõng, không thì cả hai cùng ngã đấy, lính tráng cõng nhau thì có làm sao!".

Nghe câu chuyện nhiều người nghĩ anh cán bộ kia kiểu gì cũng bị kỷ luật, ít nhất là mất chức. Nhưng không, ông Thanh chỉ hỏi anh cán bộ kia ở đơn vị nào, giữ cương vị gì, rồi hỏi han tình hình vũ khí, lương thực, thuốc men, đời sống bộ đội và tình hình chiến trường, động viên anh cán bộ và nhắc đi nhắc lại rằng "lính tráng cõng nhau không vấn đề gì". Đó là câu chuyện do nhà thơ Hoàng Cầm chứng kiến, lúc đó "bám" ông Thanh trên đường đi thị sát chiến dịch Hoàng Hoa Thám (1951). Theo nhà thơ Hoàng Cầm, anh cán bộ được ông Nguyễn Chí Thanh cõng là tiểu đoàn trưởng, sau này lập công được thăng chức trung đoàn trưởng.

 

VIỆT NAM QUAN TÂM BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI DÂN

 Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Điều đó không chỉ thể hiện trong các quy định của Hiến pháp, pháp luật mà còn được minh chứng bằng thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.

Đảng, Nhà nước luôn quan tâm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, coi đó là vấn đề mang tính chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày 03/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: "Thực dân và phong kiến tìm cách chia rẽ đồng bào lương và đồng bào giáo để cai trị, tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết" và điều này đã trở thành nguyên tắc trong chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta qua các thời kỳ lịch sử.

Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước đến nay, quan điểm, chính sách về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước từng bước được hoàn thiện, thể chế hóa trong các văn bản, như: các văn kiện Đại hội Đảng; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác tôn giáo trong tình hình mới; Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo... Tư duy, nhận thức về tôn giáo không ngừng được hoàn thiện khi Đảng, Nhà nước ta nhìn nhận tôn giáo là một nguồn lực trong xây dựng và phát triển đất nước.

Để thể chế hóa các quan điểm, chủ trương Đảng, Nhà nước, hệ thống pháp luật của Việt Nam liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng được phát triển, hoàn thiện. Hiến pháp năm 1946 và các bản Hiến pháp sau này đều khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người. Tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013 đã quy định cụ thể: "1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật".

Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 và căn cứ vào đời sống thực tiễn về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ngày 18/11/2016, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Xuất bản, Luật Đất đai sửa đổi (trong đó có nội dung đất đai liên quan đến tôn giáo). Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo...

Hiện nay, theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, Việt Nam có hơn 27 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước; hơn 54.000 chức sắc; trên 144.00 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Việt Nam cũng là quốc gia có hệ thống tín ngưỡng vô cùng phong phú với 50.703 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có khoảng 3.000 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có một số di tích đã được UNESCO ghi đanh là di sản thế giới.

Trong năm 2023, Bộ Nội vụ đã ban hành quyết định công nhận tổ chức tôn giáo cho 2 tổ chức (Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn, Hội thánh phúc âm toàn vẹn Việt Nam); quyết định chấp thuận đề nghị thành lập Viện Thần học Báp tít Việt Nam. Như vậy, tính đến tháng 12/2023, Nhà nước đã công nhận 38 tổ chức tôn giáo, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 2 tổ chức và 1 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo; có gần 4.000 điểm nhóm được chính quyền địa phương cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, trong đó có 67 điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam. Riêng đạo Tin Lành, từ năm 2021-2023 ở các tỉnh phía Bắc đã chấp thuận thêm 170 điểm nhóm, 6 tổ chức tôn giáo trực thuộc; 5 tỉnh Tây Nguyên chấp thuận 11 tổ chức tôn giáo trực thuộc từ các điểm nhóm đã được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung trước đó. Đến nay, ở Việt Nam có hơn 1,2 triệu người theo đạo Tin Lành, trong đó có khoảng 873.700 tín đồ là người dân tộc thiểu số.

Các chức sắc, tín đồ các tôn giáo đều được đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo, tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo, biểu hiện đức tin. Năm 2023, Nhà xuất bản Tôn giáo đã xuất bản 2,4 triệu bản kinh sách, tài liệu liên quan bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp và các tiếng dân tộc thiểu số. Nhà nước cũng đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo sửa chữa, cải tạo và xây dựng mới cơ sở tôn giáo. Tính đến nay, số lượng cơ sở tôn giáo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phạm vi toàn quốc đạt hơn 70%, nhiều cơ sở thờ tự được xây dựng, tôn tạo khang trang, quy mô để tín đồ các tôn giáo an tâm sinh hoạt tinh thần. Các ngày lễ, lễ hội truyền thống của các tôn giáo, như: Lễ hội Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo, Tin Lành; các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo lớn diễn ra, như: Lễ hội chùa Hương, Lễ hội Cholth ChămthMây của đồng bào Khmer... đều được Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương quan tâm, tổ chức, thăm hỏi, tặng quà, động viên và thu hút đông đảo sự tham gia của tín đồ, quần chúng nhân dân.

Năm 2023, Ban Tôn giáo Chính phủ tạo điều kiện cho hơn 300 lượt chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài; tạo điều kiện cho 400 lượt người nước ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo. Việt Nam cũng đã hỗ trợ cấp phép cho các tổ chức tôn giáo tổ chức đăng cai các sự kiện tôn giáo lớn, như: Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak, Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu của Giáo hội Công giáo Việt Nam; Hội nghị Ban Thư ký Diễn đàn Phật giáo Châu Á vì hòa bình của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Lễ hội "Xuân yêu thương" của các hội thánh Tin Lành Việt Nam... Trên diễn đàn quốc tế, Bộ Nội vụ đã tiếp 14 đoàn khách quốc tế đến tìm hiểu về tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Từ ngày 10-22/10/2023, đoàn liên ngành và chức sắc tôn giáo do Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng đứng đầu đã thăm Hoa Kỳ để trao đổi về chính sách tôn giáo và thành tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Đoàn đã làm việc đã làm việc với các đại biểu của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Phó Chủ tịch Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ..., thống nhất cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin thông qua cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Hoa Kỳ và qua kênh đối thoại với Ban Tôn giáo Chính phủ.

Về chính sách đối ngoại tôn giáo của Việt Nam từ năm 2023 đến nay, nổi bật là quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Tòa thánh Vatican. Tháng 7/2023, hai bên đã thống nhất Quy chế hoạt động của Đại diện Thường trú và Văn phòng Đại diện Thường trú ở Việt Nam. Ngày 23/12/2023, Giáo hoàng Francis đã bổ nhiệm Tổng Giám mục Marek Zalewski làm đại diện Tòa thánh Vatican thường trú tại Việt Nam. Ngày 31/1/2024, Tổng Giám mục Marek Zalewski đã đến Việt Nam đảm nhiệm chức vụ này. Từ ngày 9-14/4/2024, Tổng Giám mục, Bộ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Vatican Paul Richard Gallagher đã có chuyến thăm chính thức Việt Nam và rất ấn tượng về những thành tựu phát triển kinh tế, đối ngoại của Việt Nam, tin tưởng vào mối quan hệ Việt Nam - Tòa thánh Vatican sẽ đạt được những thành tựu phát triển mới.

Tại Phiên họp cấp cao khóa 55 Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc vừa qua tại Geneva, Thụy Sĩ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn tuyên bố Việt Nam tái ứng cử vao Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2026 -2028. Với những kinh nghiệm, nỗ lực của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016, 2023 - 2025, Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (2020 - 2021) đã tạo tiền đề, cơ sở để củng cố niềm tin của bạn bè quốc tế trong việc ủng hộ Việt Nam ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028. Như vậy, các chính sách, nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được nhiều nước, tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Đây cũng là đánh giá, nhận xét của các nước tham gia phiên đối thoại về báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc.

Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mỗi người dân nhưng phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhưng các cá nhân, tổ chức lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam để tuyên truyền, phát triển các tà đạo, tổ chức hoạt động trái pháp luật cần phải đấu tranh, ngăn chặn. Điều đó phù hợp thực tiễn, nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, góp phần giữ gìn văn hóa truyền thống của dân tộc.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

 “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại. Muốn thành công, phải biết cách tuyên truyền”

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, đăng trên Báo Sự thật, số 79, từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 09 tháng 7 năm 1947. Đây là giai đoạn đầu thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp xâm lược, đòi hỏi Đảng ta phải tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giác ngộ, nâng cao nhận thức của toàn dân về mục đích, tính chất, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến. Trên cơ sở đó, xây dựng ý chí quyết tâm, củng cố niềm tin của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vào sự tất thắng của công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Đây cũng chính là phương châm, phương hướng phấn đấu, rèn luyện đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ chuyên trách làm công tác tuyên truyền, công tác dân vận; là một phong cách mới trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng của Đảng ta nói chung, của mỗi cán bộ, đảng viên và người làm công tác tuyên truyền nói riêng. Trên cơ sở đó, công tác tuyên truyền của Đảng đã luôn bám sát mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng; đặc điểm, tình hình của địa phương và nhân dân để lựa chọn đúng, trúng nội dung, phương pháp tuyên truyền, tạo nên sự đồng thuận giữa ý Đảng, lòng dân và sự thống nhất ý chí, hành động của toàn dân trong thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước góp phần vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân có lý tưởng chiến đấu cao đẹp, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; đề cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; có tinh thần đoàn kết nội bộ tốt, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh, tinh thần quốc tế cao cả; gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân hết lòng giúp đỡ, tin yêu, ghi nhận và trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Hằng năm, toàn quân có hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia làm công tác dân vận, các đoàn kinh tế - quốc phòng, cán bộ Bộ đội Biên phòng tăng cường xã… đã trực tiếp tham gia làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, mối quan hệ máu thịt quân - dân và “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc.

 

XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 Những năm qua, các thế lực thù địch, phản động đã tạo lập, sử dụng nhiều trang mạng xã hội có máy chủ ở nước ngoài để tán phát các bài viết có nội dung xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, hiện có khoảng 5.800 trang mạng, 6.000 website, mạng xã hội, blog, diễn đàn trao đổi có nội dung xấu, độc, xuyên tạc, tuyên truyền chống phá Việt Nam, như: “Việt Tân”, “Tin tức hàng ngày”, “Bồ câu đen”, “Chân trời mới media”... đăng tải, tán phát các thông tin sai trái, thù địch nhằm xuyên tạc, gây mâu thuẫn nội bộ, bôi nhọ, hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta.

Các thế lực thù địch, phản động đã sử dụng blog, nhật ký web (một dạng nhật ký trực tuyến), chứa các siêu liên kết, hình ảnh để “bẫy” người tham gia truy cập và xem nội dung bài viết có nội dung xấu, độc, xuyên tạc, sai sự thật; lập tài khoản Facebook, fanpage, group, kênh YouTube có nội dung chống phá, xuyên tạc theo thời điểm diễn ra sự kiện chính trị quan trọng hoặc tình huống “nóng”, “nhạy cảm” ở Việt Nam.

Đồng thời, sử dụng tên, hình ảnh, biểu tượng của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước để thu hút dư luận, đăng tải tin, bài lan truyền thông tin xấu, độc, sai sự thật kích động gây chia rẽ nội bộ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Để thực hiện mục đích này, các đối tượng đã sử dụng thủ đoạn cắt ghép hình ảnh, sự kiện, thậm chí tổ chức phỏng vấn, hội luận với các đối tượng phản động ở trong nước; đồng thời, cổ vũ, khích lệ cái gọi là “phong trào, lực lượng dân chủ ở Việt Nam”. Chúng còn sử dụng thủ đoạn tung tin thất thiệt, tạo dựng dư luận nhằm đả kích, phủ định quan điểm, chính sách của Nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội; công khai phê phán, công kích Nhà nước Việt Nam; triệt để khai thác các sự kiện phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến đời tư các đồng chí lãnh đạo, các vụ án, vụ việc liên quan đến sai phạm, vi phạm pháp luật của một số cán bộ, đảng viên, nhất là các đồng chí có vị trí lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương để tập trung xuyên tạc tình hình nội bộ, bôi nhọ, hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chính quyên địa phương; xuyên tạc nội bộ Đảng mâu thuẫn, bè phái; tung tin chia rẽ giữa lực lượng Công an và Quân đội, chia rẽ lực lượng vũ trang với chính quyền các cấp…

Việc các thế lực thù địch sử dụng không gian mạng tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch hòng phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một âm mưu thâm độc, không có gì mới, nhưng nó được lặp đi, lặp lại nhiều lần kiểu “mưa dầm, thấm lâu” và được thực hiện một cách bài bản, công phu sẽ có những tác động nhất định đến tư tưởng quần chúng và dư luận xã hội.

Dù không đạt được mục tiêu làm thay đổi định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng, niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, nhưng với các chiêu trò, thủ đoạn tinh vi, ít nhiều các thế lực thù địch đã gây ra sự phân tâm trong một số cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân vì thiếu thông tin và hiểu biết, đã suy giảm lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Trước những âm mưu, thủ đoạn và sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng thì vai trò của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là quần chúng nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nói chung, trên không gian mạng nói riêng là vô cùng quan trọng. “Thế trận lòng dân” là dựa vào nhân dân, được nhân dân ủng hộ, che chở, giúp đỡ; huy động và khai thác tiềm lực to lớn từ nhân dân, sức mạnh vô địch của nhân dân, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trong thời bình và khi xảy ra chiến tranh. Như vậy, “Thế trận lòng dân” trên không gian mạng là thế trận được tạo ra thông qua cách thức khơi dậy, phát huy lòng yêu nước, niềm tin của dân, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết, đồng lòng, tạo thành nền tảng tư tưởng, chính trị, tinh thần vững chắc, sức mạnh tổng hợp của toàn dân để bảo vệ Tổ quốc, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; tạo thế phòng ngừa, ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, triệt tiêu các nguy cơ đe dọa gây hại đến lợi ích, an ninh quốc gia trên không gian mạng ở trạng thái chủ động.

Xây dựng “Thế trận lòng dân” là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân, được vận dụng linh hoạt trong thực tiễn, như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu cái gì làm trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Do đó, để chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, Đảng, Nhà nước cùng các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương đã luôn quan tâm chăm lo xây dựng, phát huy “Thế trận lòng dân”; xây dựng, ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật để khai thác vai trò của không gian mạng trong phát triển, nâng cao vị thế chính trị, kinh tế, xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá nhân.

Những việc làm trên đã góp phần củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới, tạo nền tảng xây dựng “Thế trận lòng dân”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng góp phần bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI

 Biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm; quản lý, bảo vệ biên giới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền an ninh biên giới quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ra sức chống phá trên tất cả lĩnh vực. Là lực lượng nòng cốt, chuyên trách bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, Bộ đội biên phòng luôn tích cực, chủ động, triển khai toàn diện, đồng bộ các giải pháp nhằm ngăn chặn và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là ở khu vực biên giới.

Xây dựng lực lượng vững vàng có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ đường biên giới. Đây là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên tuyến biên giới luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, các thế lực thù địch, phản động vẫn ráo riết chống phá sự nghiệp cách mạng, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết hữu nghị truyền thống của Việt Nam và Campuchia; hoạt động vi phạm pháp luật trên biên giới và một số tệ nạn xã hội như: Cờ bạc, mua bán, tàng trữ và sử dụng trái phép các chất ma túy, buôn lậu, có chiều hướng gia tăng và ngày càng tinh vi.

Là cán bộ trẻ, Bộ đội biên phòng việc tiếp cận các nguồn thông tin trên internet và mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Điều đầu tiên phải khẳng định, trên internet là kho kiến thức số khổng lồ có thể phục vụ tốt cho nhiệm vụ học tập, công tác của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Không chỉ vậy, với đặc thù công tác ở xa, ít khi được về với gia đình thì việc sử dụng mạng xã hội sẽ giúp việc kết nối, liên lạc giữa cán bộ, chiến sĩ và gia đình trở nên dễ dàng hơn, khoảng cách sẽ được rút ngắn hơn, giúp cán bộ, chiến sĩ yên tâm thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, mạng xã hội cũng là mảnh đất rất màu mỡ để các thông tin xấu, độc được lan truyền nhanh chóng và tiếp cận với rất nhiều người. Đặc biệt, với hình ảnh lực lượng vũ trang như bộ đội, công an lại thường xuyên bị cắt ghép, bôi nhọ, xuyên tạc với mục đích hạ uy tín.

Ngoài ra, lãnh đạo, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải là tấm gương trong mọi hoạt động, lời nói và việc làm để mọi cán bộ, đảng viên học tập. Xác định, đây là giải pháp quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trong đơn vị. Vì vậy, BĐBP tỉnh đã thành lập các ban chỉ đạo, tổ thư ký, tổ giúp việc, cộng tác viên..., trong đó xác định người đứng đầu cấp ủy đảng các cấp phải là người trực tiếp tham gia và lãnh đạo, chỉ đạo. Từ đó xây dựng mỗi cán bộ, chiến sĩ trở thành một tuyên truyền viên tích cực không chỉ tuyên truyền cho đồng chí, đồng đội, cho gia đình, người thân, bạn bè mà còn tuyên truyền cho người dân trên địa bàn đơn vị đóng quân.

Bộ đội biên phòng còn có lực lượng cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp có khả năng sử dụng tiếng Campuchia thành thạo, lực lượng này không chỉ thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để quản lý, bảo vệ biên giới mà còn là những nhân tố cốt cán tuyên truyền, vận động nhân dân khu vực giáp biên về những chính sách, chủ trương, đường lối cũng như hiệp định, hiệp nghị của hai nhà nước đã ký kết. Nhất là trong việc tuyên truyền, nắm bắt những thông tin liên quan đến vấn đề chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động về chủ quyền, biên giới, lãnh thổ.

Việc làm cấp thiết nữa là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, dân trí, cung cấp đầy đủ, khách quan, kịp thời những thông tin cần thiết để cộng đồng dân cư ở khu vực biên giới thuận lợi trong việc tiếp nhận, nắm, biết rõ mọi vấn đề. Từ đó tạo ra “sức đề kháng” trước các luồng thông tin xấu, độc, giảm thiểu việc tiếp nhận thông tin ở tình trạng thụ động, mơ hồ cũng là nhiệm vụ hết sức cần thiết để ngăn chặn những luồng thông tin xấu, độc, sai trái. Đây là giải pháp được đơn vị làm thường xuyên, liên tục, lâu dài và đóng vai trò chủ đạo để nhân dân có niềm tin tuyệt đối vào Đảng, có bản lĩnh vững vàng, nâng cao khả năng tự quản lý, tự “miễn dịch” trước mọi thông tin sai trái, xấu, độc phát tán trên mạng xã hội và trong cộng đồng dân cư.

Bộ đội biên phòng còn phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương cử hàng trăm cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm tham gia cấp ủy các cấp và tham gia sinh hoạt tại chi bộ thôn, ấp, phụ trách các hộ dân khu vực biên giới. Qua đó, không chỉ góp phần cùng với địa phương phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân mà còn tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và quân đội.