Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

 

Phản bác, phê phán quan điểm sai trái và nhận thức lệch lạc về nguyên tắc tự phê bình và phê bình

Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay đã khẳng định vai trò quyết định của công tác xây dựng Đảng, trong đó “Sự chặt chẽ về nguyên tắc là vấn đề sống còn của Đảng và bảo đảm quan trọng nhất cho sức sống, sự trong sạch và vững mạnh của Đảng”(1). Điều lệ Đảng đã xác định tự phê bình và phê bình trong Đảng là một trong 5 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.

Nghị quyết Trung ương 4 các khoá XI, XII và XIII đều xác định 3 nhiệm vụ cấp bách về xây dựng Đảng để tập trung những giải pháp khắc phục, trong đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là vấn đề cấp bách nhất. Giải pháp đầu tiên được xác định và quán triệt trong cả 3 nghị quyết nêu trên đều nhấn mạnh nhiệm vụ tự phê bình và phê bình.

Trên thực tế, công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng được chú trọng, thực hiện nghiêm túc, bài bản, nền nếp, đem lại những kết quả quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần khắc phục được những khuyết điểm trong mỗi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, vẫn còn không ít nơi thực hiện hình thức, đối phó, hiệu quả thấp, từ đó, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận vai trò của nguyên tắc này; đồng thời xuất hiện những khuynh hướng tư tưởng lệch lạc ngay trong cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên. Cụ thể là:

Thứ nhấtthiếu tin tưởng vào tác dụng của nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Ở một số cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu độc đoán, gia trưởng, thích xu nịnh, ít lắng nghe phê bình, thậm chí ngấm ngầm trả thù người phê bình mình, làm cho cấp uỷ, tổ chức đảng mất dân chủ, tự phê bình và phê bình trở thành hình thức.

Ở những cấp uỷ, tổ chức đảng mắc khuyết điểm kéo dài trong thực hiện nguyên tắc làm cho đảng viên cả cũ và mới thực hiện đối phó, chiếu lệ, hiệu quả thấp, hậu quả là thiếu tin tưởng vào tác dụng của nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nội bộ “đoàn kết xuôi chiều” (thực chất là mất đoàn kết). Đây là tình trạng khá phổ biến ở những cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu bị kỷ luật vì khuyết điểm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm lớn do không được nhắc nhở, không được phê bình để sửa chữa, khắc phục kịp thời. Từ đó xuất hiện tư tưởng cho rằng nguyên tắc này thiếu tính khả thi, không có tác dụng cho dù hằng tháng, hằng năm hay mỗi nhiệm kỳ đại hội đều thực hiện nhưng chỉ là đối phó, để báo cấp cấp trên.

Thứ hai, thiếu trung thực trong tự phê bình.

Mặc dù nguyên tắc tự phê bình và phê bình được thực hiện thường xuyên với nhiều hình thức khác nhau, nhất là dịp sinh hoạt thường kỳ của cấp uỷ, tổ chức đảng nhưng không ít tổ chức đảng coi nhẹ, làm qua loa, cốt cho xong. Không ít cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên thiếu trung thực trong tự phê bình và phê bình đã được cấp uỷ cấp trên gợi ý kiểm điểm qua mỗi dịp kiểm điểm hằng năm hoặc khi thực hiện chủ trương lớn của Đảng về tự phê bình và phê bình như thực hiện Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hay các nghị quyết Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ: “tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao”(2).

Không thể phủ nhận thực trạng một bộ phận đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao khi chưa có ai biết hoặc có biết nhưng không dám dấu tranh, phê bình. Đây cũng là cái cớ để các thể lực thù địch khoét sâu, thổi phồng khuyết điểm, chỉ khai thác những mặt trái và rồi đi đến “kết luận” rằng: không có ai tự “vạch áo cho người xem lưng”, ngay cả khi có chứng cứ rõ ràng mà họ vẫn còn chối bằng được thì không thể có chuyện “thật thà nhận khuyết điểm”; hoặc, nếu có người “thật thà nhận khuyết điểm” thì cũng chỉ là khuyết điểm lặt vặt, không quan trọng, nhận cho có khuyết điểm và nếu có nhận khuyết điểm đó thì cũng “chẳng chết ai”, “tự phê bình và phê bình thời nay hết tác dụng”(!). Điều đó càng làm cho không ít cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên thiếu tin tưởng vào tác dụng của nguyên tắc này, không tự giác, không thật thà nhận khuyết điểm ngay cả khi mắc khuyết điểm cần phải sửa chữa.

Thứ ba, thiếu bản lĩnh trong phê bình.

Phê bình khuyết điểm của người khác là một việc khó, nhất là phê bình đồng chí nhưng lại là cấp trên trực tiếp quản lý mình thì càng khó hơn. Tư tưởng “mũ ni che tai”, “ta không đụng đến mi thì mi cũng không đụng đến ta”, né tránh, ngại va chạm nên không dám phê bình người khác, nhất là đối với cấp trên diễn ra ở không ít cấp uỷ, tổ chức đảng hiện nay. Ngay cả trước những dấu hiệu sai trái nhưng cũng không dám thẳng thắn đấu tranh, không dám thực hiện quyền bảo lưu ý kiến theo quy định của Điều lệ Đảng vì sợ bị coi là chống đối tập thể, không ủng hộ người đứng đầu, thậm chí bị quy chụp là có “dấu hiệu mất đoàn kết” nội bộ(!). Nhiều tập thể cấp uỷ, ban thường vụ bị xử lý kỷ luật thời gian qua đều có lý do này. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “có nơi còn buông lỏng sinh hoạt đảng, chất lượng sinh hoạt chưa cao, sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi vẫn còn hình thức; tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu”(3).

Viện dẫn vào những hạn chế trong tiến hành tự phê bình và phê bình ở một số cấp ủy, tổ chức đảng; các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức rêu rao rằng: tự phê bình và phê bình trong Đảng không có tác dụng, trái lại còn nuôi dưỡng tư tưởng xu nịnh nhau, nhất là nịnh cấp trên(!). Thực chất đây là những luận điệu có ý đồ chính trị xấu, hoặc chí ít cũng là không đúng tầm, không đầy đủ, không chính xác, “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”, xem xét, đánh giá, nhận định phiến diện, cố tình xuyên tạc, phủ nhận mục đích, bản chất nguyên tắc và hoạt động tự phê bình và phê bình của Đảng ta.

Thứ tư, thiếu tin tưởng vào cơ chế bảo vệ người phê bình.

Mặc dù Đảng đã ban hành các quy định nhằm bảo vệ người đấu tranh phê bình, thậm chí tố cáo những vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên, nhưng trên thực tế vẫn có rất ít trường hợp được bảo vệ hiệu lực và hiệu quả. Do vị trí công tác, cơ quan, đơn vị, địa phương nơi công tác gắn bó với cấp uỷ, tổ chức đảng nơi sinh hoạt mà đảng viên đó bị chi phối, ngại đấu tranh bảo vệ chân lý, lẽ phải, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nếu phải chuyển công tác đi nơi khác thì cũng khó có nơi nào chấp nhận người “chuyên đấu đá”, đã “gây mất đoàn kết” ở nơi họ công tác. Vậy nên tư tưởng “đấu tranh, tránh đâu?”, “được vạ, má sưng” vẫn còn, cơ chế bảo vệ người đấu tranh phê bình khó khả thi. Do đó, hiện tượng tố cáo giấu tên, nặc danh hay gửi thông tin cho các cơ quan kiểm tra đảng, thanh tra nhà nước, báo chí của đảng viên trong nội bộ cấp uỷ, tổ chức đảng khi người có sai phạm khi đương chức, đã chuyển công tác hay đã nghỉ hưu, thậm chí lên chức cao hơn rồi mới bị phát hiện xử lý, làm giảm lòng tin của đảng viên và nhân dân đối với tính khả thi của nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Vì vậy, một mặt phái tích cực đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và nhận thức lệch lạc ngay trong đội ngũ đảng viên có hiệu quả, mặt khác phải lấy “phòng” là quan trọng, lấy “xây” là chính, vì nội bộ Đảng trong sạch, vững mạnh sẽ là cách tốt nhất để “miễn dịch với những tư tưởng sai trái, thù địch và phải thực hiện đồng bộ những giải pháp sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức về vai trò của nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng.

C.Mác khẳng định: “Những sai lầm về sách lược là lúc nào cũng có thể có”, do vậy “sự phê phán là yếu tố sống còn của nó”(4). Ph.Ăngghen cũng cho rằng việc tự phê bình và phê bình là tuyệt đối cần thiết và bằng cách đó đảng học đ­ược cách hoạt động tốt hơn.

V.I.Lênin chỉ rõ, cán bộ, đảng viên của đảng cũng là con người, “không phải là thiên thần, không phải là thánh, không phải là anh hùng mà cũng là người như tất cả mọi người khác. Họ cũng có khuyết điểm. Đảng sửa cho họ”(5); “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao, tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình, và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình...”(6).

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm”. Bởi vậyVề luật phát triển, Đảng Lao động Việt Nam dùng lối tự phê bình và phê bình để giáo dục đảng viên, giáo dục quần chúng(7)Người đã đưa ra khái niệm hoàn chỉnh về tự phê bình và phê bình: Tự phê bình là cá nhân (cơ quan hoặc đoàn thể) thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa, mà cũng để người khác biết mà tránh những khuyết điểm mình đã phạm. Phê bình là thấy ai (cá nhân, cơ quan, đoàn thể) có khuyết điểm thì thành khẩn nói cho họ biết để họ sửa chữa, để họ tiến bộ. Mục đích của tự phê bình và phê bình đều nhằm giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, cùng nhau tiến bộ”(8).

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, đảng viên nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, thì cũng như giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng, nguy đến tính mệnh: Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính(9).

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, nhờ tự phê bình và phê bình nghiêm túc, đúng đắn mà những mâu thuẫn, bất đồng, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân được giải quyết có lý, có tình, không để tích tụ lại từ nhỏ thành lớn, phá hoại khối đoàn kết thống nhất của Đảng, không để những người thiếu thiện chí với Đảng lợi dụng những bất đồng, những mâu thuẫn đó gây chia rẽ Đảng. “Tự phê bình và phê bình là một quy luật phát triển và tiến bộ của Đảng, cũng là một phương pháp căn bản để tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng”(10).

Mỗi cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên nhận thức đầy đủ, đúng đắn vai trò của tự phê bình và phê bình trong Đảng thì tự phê bình và phê bình như “rửa mặt hằng ngày”, thực sự trở thành quy luật phát triển của Đảng.

Hai là, nâng cao chất lượng sinh hoạt của cấp uỷ, tổ chức đảng, thực hiện đầy đủ, đúng đắn nội dung và hình thức tự phê bình và phê bình.

Hoạt động tự phê bình và phê bình diễn ra chủ yếu trong sinh hoạt đảng. Chỉ trong sinh hoạt đảng thì đảng viên mới được lấy tư cách là đảng viên để phê bình đồng chí của mình và phê bình các tổ chức của Đảng.

Chủ thể của hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng là mọi đảng viên của Đảng, là tất cả các tổ chức trong Đảng, từ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị cho đến các tổ đảng ở các chi bộ của đảng đều phải tự phê bình và phê bình.

Trong quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn luôn coi trọng tự phê bình và phê bình:

Nội dung tự phê bình và phê bình trong Đảng bao gồm toàn bộ các mặt hoạt động cả Đảng và của mọi cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện hiện nay cần hướng vào việc thực hiện các nghị quyết của Đảng; thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng, thực hiện nhiệm vụ đổi mớichỉnh đốn Đảng. Đặc biệt, cần chú trọng phê phán những quan điểm lệch lạc, sai trái, những tệ nạn gia trưởng, độc đoán, quan liêu, hối lộ, tham nhũng, sự vô trách nhiệm, vô tổ chức kỷ luật, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng.

Hình thức tự phê bình và phê bình trong Đảng bao gồm tự phê bình và phê bình của cấp trên đối với cấp dưới, cấp dưới phê bình cấp trên; cán bộ, đảng viên phê bình cán bộ lãnh đạo, quản lý trong tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và phê bình cùng cấp... Được thể hiện qua các hình thức như: hội nghị chi bộ, đảng bộ thường kỳ, các đại hội Đảng các cấp, các đợt sinh hoạt chính trị tập trung, các báo cáo hàng tháng, hàng quý của cấp dưới với cấp trên, báo cáo nhiệm kỳ đại hội của cấp trên trước cấp dưới và qua các phương tiện thông tin đại chúng...

Thứ ba, đảm bảo tính chất của tự phê bình và phê bình trong Đảng.

Tính đảng là phải trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng để tự phê bình và phê bình; phải đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng và hành động sai trái; không chấp nhận tính thụ động, bàng quan với những sai lầm, khuyết điểm của bản thân và của đồng chí mình. Tính đảng còn thể hiện ở việc tự phê bình và phê bình ngay khi thấy có những biểu hiện lệch lạc, phải đối chiếu với yêu cầu tư cách, tiêu chuẩn đảng viên, cán bộ và những quy định của Đảng để tự phê bình và phê bình, không đợi đến khi sai lầm, khuyết điểm đã rõ, có bằng chứng pháp lý mới tiến hành tự phê bình và phê bình.

Tính giáo dục là tự phê bình và phê bình của Đảng nếu được hiểu đúng, thực hiện đúng thì tự bản thân nó đã chứa đựng tính giáo dục sâu sắc. Tự phê bình và phê bình của Đảng Cộng sản nhằm mục đích chính là củng cố Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, phong cách công tác, phát triển trí tuệ, nâng cao năng lực của cán bộ, đảng viên... Đây là những điểm thể hiện rõ nhất tính giáo dục sâu sắc của tự phê bình và phê bình của Đảng Cộng sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ tự phê bình và phê bình “để dạy dỗ đảng viên, dạy dỗ quần chúng(11). Trong nhiều trường hợp, phê bình không nhất thiết diễn ra trong hội nghị mà sự chân thành “vỗ vai bảo nhau” còn có tác dụng hơn.

Tính khách quan, trung thực, chân thành và công khaithể hiện ở sự khoa học, công tâm của cả người tự phê bình và người phê bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người”(12)phải tôn trọng thực tế khách quan, không vội vàng quy kết cho đồng chí mình. Phê bình như chữa bệnh cứu người, cho nên phải chân thành, phải thân ái, trên tình đồng chí, tránh biến tự phê bình và phê bình thành những cuộc cãi vã, vi phạm nhân phẩm của cán bộ, đảng viên.

Tự phê bình và phê bình công khai có nghĩa là công khai nói rõ những ưu điểm, khuyết điểm của mình và của đồng chí mình; phân tích, xem xét, đánh giá mọi công việc của tổ chức đảng trước mặt cán bộ, đảng viên và tiến hành trong tổ chức đảng. Không phê bình trước mặt mà nói sau lưng, đó là việc làm không trong sáng.

Tính cụ thể, thiết thực và kịp thời là đòi hỏi tự phê bình và phê bình phải cụ thể, thiết thực, phải có nội dung, có địa chỉ; phải chỉ ra được đúng, sai, nguyên nhân và cách khắc phục; phải gắn với điều kiện cụ thể, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, với chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. V.I. Lênin đã dạykhi các đồng chí nghe thấy một lời phê phán như thế, một sự phê phán để mà phê phán, thì các đồng chí hãy đề phòng, hãy tìm xem người phê phán đó có tự ái về điều gì chăng, có lẽ có điều gì chọc tức họ hay chạm đến cá nhân họ chăng, khiến họ đi đến chỗ đối lập bừa bãi, đối lập để mà đối lập(13).

Tính kịp thời là phải tự phê bình và phê bình ngay lập tức những sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên và của tổ chức đảng, không để chúng tích tụ lại, trầm trọng thêm; ngăn chặn không để chúng tái diễn ở cán bộ, đảng viên và cấp uỷ, tổ chức đảng khác.

Thứ tư, thực hiện đúng phương pháp thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng.

Phải cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo và khéo léo về cách thức tiến hành, phải thể hiện rõ những đặc tính cơ bản của tự phê bình và phê bình của Đảng. Việc khéo léo sử dụng tự phê bình và phê bình sẽ làm tăng chất lượng. Phê bình người nào, khi nào, nói những gì, bằng cách nào, nói đến mức độ nào... phải biết xử thế một cách tế nhị, khôn  khéo thì người nghe mới dễ tiếp thu và sửa chữa khuyết điểm nhanh chóng. Ngược lại, sử dụng không khéo tự phê bình và phê bình thì hiệu quả thu được thấp, thậm chí còn gây tác hại. Tuy nhiên, nếu né tránh lựa chiều khi tự phê bình và phê bình tác hại sẽ lớn hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán những người hay dùng phương pháp hành chính, mệnh lệnh, không biết sử dụng những phương pháp thích hợp để giải quyết công việc. Người đã nói một cách hình ảnh rằng: bánh ngọt là một thứ ngon lành, nhưng đem bánh ngọt bắt người ta ăn, nhét vào miệng người ta, thì ai cũng chán(14).

Yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng luôn được đặt ra cấp bách, nhất là trong bối cảnh, tình hình hiện nay. Vì vậy, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên phải luôn kiên định lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng; xa rời, từ bỏ nguyên tắc này là xa rời, từ bỏ Đảng từ bản chất. Đồng thời, đề cao cảnh giác, nhận diện rõ bản chất, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc nguyên tắc này. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nêu cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình như “rửa mặt hằng ngày” để xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên “Phải làm cho vũ khí tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên, thật sự trở thành vũ khí sắc bén của toàn Đảng, làm cho tự phê bình và phê bình thật sự là một quy luật phát triển của Đảng”(15), để Đảng ta luôn “là đạo đức, là văn minh”./.

 Là người sáng lập và lãnh đạo Ðảng Cộng sản Việt Nam, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và đề cao vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên, bởi đảng viên có tiên phong, đi đầu thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Ðảng và Nhà nước thì mới nêu gương được cho nhân dân học tập và noi theo, có như thế mới làm nên thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cán bộ, đảng viên ở cơ sở đóng góp ngày công xây dựng nông thôn mới. (Ảnh Báo Kon Tum)

Cán bộ, đảng viên ở cơ sở đóng góp ngày công xây dựng nông thôn mới. (Ảnh Báo Kon Tum)

Quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Ðảng ta đặc biệt đề cao vai trò tiên phong, gương mẫu của người đảng viên và coi đây là một trong những nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội giàu mạnh, hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc trong bối cảnh mới với những yêu cầu mới đặt ra.

Nhằm cụ thể hóa các quan điểm của Ðảng trong các văn kiện về tăng cường tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên trên mọi phương diện, ngày 7/6/2012, Ban Bí thư Trung ương Ðảng đã ban hành Quy định số 101-QÐ/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, trong đó chỉ rõ: cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Ðảng, Nhà nước và của nhân dân.

Ðến ngày 25/10/2018, Ban Bí thư Trung ương Ðảng tiếp tục ban hành Quy định số 08-QÐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, trong đó có một số điểm bổ sung, cụ thể hóa hơn Quy định số 101-QÐ/TW nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện tính tiên phong, gương mẫu, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên với yêu cầu cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu nêu gương.

Mới đây, ngày 9/5/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 144-QÐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, quy định thể hiện quyết tâm của Ðảng ta trong quá trình xây dựng và chỉnh đốn Ðảng để Ðảng ta thật sự vững mạnh, vai trò nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên ngày càng được đề cao.

Từ những chủ trương, đường lối đúng đắn của Ðảng, ý thức về việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ đảng viên ngày càng được nâng cao. Ða số cán bộ, đảng viên vẫn luôn giữ vững được tư cách của người đảng viên cộng sản trong bối cảnh mới, luôn tiên phong, gương mẫu đi đầu trong công tác cũng như trong đời sống, thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những quy định của tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương.

Xuất phát từ vị trí công tác gắn với những yêu cầu và những nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh,… đã có nhiều đảng viên trở thành tấm gương sáng, những điển hình tiên tiến trên mọi lĩnh vực, có sức lan tỏa lớn trong nhân dân. Tiêu biểu như trong phát triển kinh tế, đã xuất hiện nhiều tấm gương đảng viên tiên phong, đi đầu áp dụng các mô hình phát triển kinh tế mới, vận động người dân làm theo từ đó thúc đẩy kinh tế địa phương, giúp nhân dân thoát nghèo bền vững.

Như tại Thanh Hóa, đảng viên Lê Văn Dũng (thị trấn Vân Du, huyện Thạch Thành) đã tiên phong trong thực hiện mô hình trang trại tổng hợp trồng cây ăn quả kết hợp với chăn nuôi và đào ao thả cá phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của vùng trên cơ sở áp dụng các thành tựu khoa học-kỹ thuật hiện đại, đem lại hiệu quả kinh tế cao, từ đó trở thành mô hình kinh tế của đảng viên có hiệu quả và tạo được sức lan tỏa lớn trong nhân dân.

Còn tại xã Ia Piar, một trong những xã đặc biệt khó khăn tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai với gần 2.000 hộ dân hầu hết đều là người đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ sản xuất thấp, cuộc sống vô cùng khó khăn. Nhận thức được tình hình thực tiễn của địa phương cũng như vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên trong phát triển kinh tế, giúp đỡ nhân dân, từ cuối năm 2016, Ðảng ủy xã Ia Piar đã triển khai phong trào “Một đảng viên giúp đỡ một hộ nghèo”.

Theo đó các đảng viên ưu tú có những cách làm hay, sáng tạo trong lao động sản xuất đã đạt được thành công sẽ giúp đỡ các hộ dân nghèo thoát nghèo. Từ hiệu quả của những trường hợp thí điểm, mô hình này đã được nhân rộng ở địa phương và đạt được những kết quả đáng khích lệ, kinh tế có nhiều khởi sắc, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, đời sống của người dân từng bước được cải thiện và nâng cao.

Hoặc trên lĩnh vực đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu, độc; bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng đã xuất hiện nhiều tấm gương sáng của cán bộ, đảng viên luôn chủ động phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu với tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

Nhiều đảng viên đã tích cực sử dụng các trang mạng xã hội vừa để nắm bắt thông tin dư luận xã hội, diễn biến tư tưởng của cộng đồng dân cư vừa để kịp thời tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng, Nhà nước cũng như góp phần định hướng cho người dân sử dụng mạng xã hội trong việc tiếp cận, nhận diện, xử lý và đấu tranh chống các thông tin xấu độc, sai trái, thù địch. Những cá nhân này đã trở thành tấm gương sáng về việc sử dụng mạng xã hội một cách linh hoạt, sáng tạo trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, bảo vệ Ðảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Có thể khẳng định, những thành tựu to lớn chúng ta đạt được sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Ðảng mà Văn kiện Ðại hội XIII đã chỉ rõ: “Ðất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ đảng viên luôn phát huy tính tiên phong, gương mẫu đi đầu của mình trên mọi phương diện, mọi lĩnh vực, trong công tác cũng như trong cuộc sống, hết lòng, hết sức phấn đấu, rèn luyện để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, được nhân dân tin yêu và noi theo. Ðiều đó đã góp phần nhân rộng những tấm gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến trong xã hội và đời sống hằng ngày.

Thực tế sinh động này là minh chứng rõ ràng bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động cho rằng việc nêu gương, tiên phong, gương mẫu đi đầu của đảng viên chỉ là chiêu bài để Ðảng đánh bóng tên tuổi của mình, lòe bịp quần chúng chứ về thực chất thì Ðảng là tổ chức “làm quan phát tài”, là nơi chứa chấp các phần tử chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ mà xâm hại đến lợi ích của nhân dân. Hoặc lợi dụng hiện tượng một số đảng viên có những biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham ô, tham nhũng, không thực hiện trách nhiệm nêu gương của những người cộng sản chân chính, các đối tượng chống phá cố tình phủ nhận tất cả những thành quả mà cách mạng Việt Nam đạt được. Những luận điệu này nhằm bác bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng, phủ nhận sự đóng góp của cán bộ, đảng viên trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, cố tình làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trên tinh thần “tự soi, tự sửa” để hoàn thiện mình, chúng ta thẳng thắn nhìn nhận rằng hiện nay vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thể hiện và thực hiện đúng tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên, thậm chí vẫn còn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gây bức xúc trong dư luận xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Ðảng.

Tuy nhiên, cần nhận thức rõ: Ðây chỉ là những trường hợp cá biệt, là những “con sâu làm rầu nồi canh” do không nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình với Ðảng, với nhân dân, hoặc do thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng mà trượt dài sang chủ nghĩa cá nhân, cơ hội và xếp mình vào hàng ngũ của những kẻ phản bội lại lý tưởng chân chính của Ðảng, của người cán bộ, đảng viên.

Ðể khắc phục tình trạng trên, đồng thời phát huy tốt hơn nữa tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nêu gương sáng cho quần chúng nhân dân, trong thời gian tới đòi hỏi cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau: Trước hết phải đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho mỗi đảng viên về thực hiện trách nhiệm nêu gương. Khi đã có nhận thức đúng và đủ, mỗi đảng viên sẽ chủ động tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ, phẩm chất về mọi mặt, tích cực tiên phong, gương mẫu đi đầu trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với những cách làm hay, sáng tạo, phù hợp với điều kiện mới, từ đó trở thành những tấm gương tiêu biểu để nhân dân noi theo.

Cùng với đó, cần tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Ðảng về thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; đặc biệt là tăng cường thực hiện thực chất, hiệu quả Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về tinh thần nêu gương; cách thức thực hiện và phong cách nêu gương với quan điểm nhất quán: Cán bộ, đảng viên phải làm gương mẫu cho nhân dân, cán bộ cấp trên phải làm gương mẫu cho cán bộ cấp dưới.

Ðồng thời, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm những đảng viên mắc sai phạm, khuyết điểm trong thực hiện trách nhiệm nêu gương; có cơ chế khen thưởng xứng đáng với những đảng viên phát huy tính tiên phong, gương mẫu đi đầu, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích của nhân dân, của đất nước, trở thành những điển hình tiên tiến, tạo sức lan tỏa lớn trong quần chúng nhân dân./.

 

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với việc Bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch hiện nay là rất khó khăn, phức tạp rất quyết liệt và không khoan nhượng. Trong bối cảnh tình hình mới, Đảng ta phải coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo đối với nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài này.

Giữa thế kỷ XIX, với sự uỷ nhiệm của Liên đoàn những người cộng sản, hai nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập chủ nghĩa Mác, thông qua việc khởi thảo và công bố Tuyên ngôn của Đảng cộng sản – Văn kiện có tính cương lĩnh của các Đảng cộng sản và công nhân – Tác phẩm lý luận, ngọn cờ tư tưởng soi đường cho giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

60 năm sau, V.Lênin và Đảng Bônsêvích đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác, làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc cách mạng tháng Mười – Mở ra thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. V.Lênin và Đảng Bônsêvích Nga đã phát triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết cách mạng và khoa học cung cấp hệ thống lý luận và phương pháp luận khoa học không chỉ để khám phá các quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người, chỉ ra quy luật phát sinh, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản, sự ra đời và thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội, mà còn vạch ra mục tiêu, con đường, lực lượng và phương pháp cách mạng để xoá bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, bất công, tha hoá. Chính vì vậy mà ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình, chủ nghĩa Mác-Lênin đã bị các thế lực thù địch, phản động chống phá điên cuồng, quyết liệt trên cả bình diện lý luận và thực tiễn với quy mô rộng lớn, mang tính toàn cầu. Là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, cho nên cuộc đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng – lý luận chính trị. Tính chất của cuộc đấu tranh này là quyết liệt, không khoan nhượng.

Ở Việt Nam, từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời cho đến ngày nay, chủ nghĩa Mác-Lênin đã được Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu; vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện của Việt Nam và quy luật của thời đại.

Ngay từ khi Đảng ta ra đời năm 1930 đã phải tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại các âm mưu thủ đoạn chống phá thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận,bảo vệ bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh – Bảo vệ hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu  sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. 

Từ năm 1986, khi đất nước ta tiến hành sự nghiệp đổi mới, từng bước hội nhập quốc tế và nhất là sau thảm hoạ chính trị - sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực chống cộng, thù địch coi Việt Nam là một trọng điểm đẩy mạnh âm mưu chiến lược “diễn biến hoà bình”, tăng cường chống phá ta trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta đã nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn, phương thức, hình thức, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tấn công vào nền tảng tư tưởng, cương lĩnh đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta thể hiện chủ yếu trên những vấn đề sau:

- Tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng để phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ định con đường đi lên CNXH. Các thế lực thù địch đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xuý du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoan: chủ nghĩa dân tuý, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong nhằm thúc đẩy “tự diễn biến” “tự chuyển hoá” trong hệ thống chính trị và xã hội.

- Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị XHCN với các luận điệu: “Đảng tự cho mình đứng trên tất cả”; “Đảng cầm quyền phi chính danh”, “Đảng không còn bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”; cổ xuý “Phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng XHCN, đối lập kinh tế thị trường với định hướng XHCN; quy kết chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”, đòi cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa Đảng, thực hiện  “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây.

- Xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”; cường điệu, vu khống khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai…nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

- Nguỵ tạo, tô vẽ, thổi phồng những yếu kém khuyết điểm của một số tổ chức, cá nhân cán bộ, Đảng viên quy kết thành bản chất của Đảng cầm quyền, kích động đối lập Đảng, nhà nước với nhân dân.

- Xâm nhập vào nội bộ của ta, tiếp cận, lôi kéo, mua chuộc nhằm phân hoá nội bộ, dựng “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng. Đẩy mạnh tìm kiếm những phần tử thoái hoá biến chất trong hàng ngũ cán bộ Đảng viên nhất là những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” để tán phát các quan điểm sai trái, phản động.

- Phá hoại đường lối đối ngoại độc lập tự chủ đa phương hoá, đa dạng hoá trong hội nhập quốc tế của Đảng ta với các chiêu bài như “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước kia, cổ xuý chủ nghĩa ly khai. Chúng triệt để lợi dụng các vấn đề chủ quyền biển đảo để tung tin thất thiệt làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tổ chức tán phát các “Thư ngỏ”, “tuyên bố”, “kiến nghị” để lôi kéo kích động đồng bào ta ở trong và ngoài nước kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép với Việt Nam về các vấn đề dân chủ, nhân quyền…

Trong bối cảnh mới của tình hình, trên cơ sở nhận rõ âm mưu chiến lược, chiến thuật, thủ đoạn, chiêu trò, biện pháp, phương thức, phương tiện của các thế lực thù địch chống phá ta trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, Đảng ta trong nghị quyết 35 của Bộ chính trị khóa XII ngày 22.10.2018 đã xác định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch là nhiệm vụ trọng yếu, có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hộ chủ nghĩa.

Tiến hành nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên này trong tình hình mới khi các lực lượng thù địch tăng cường, đẩy mạnh hơn bao giờ hết chiến lược diễn biến hòa bình gắn chặt với các cuộc “cách mạng màu”, chúng đầu tư lượng tài chính khổng lồ, sử dụng hàng nghìn chuyên gia tư tưởng, chiến tranh tâm lý, lợi dụng triệt để những yếu kém, bất cập của các tổ chức và cá nhân trong công cuộc đổi mới và hội nhập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để sản xuất và phát tán hàng trăm ngàn quan điểm, luận điệu sai trái thù địch. Các thế lực thù địch lợi dụng triệt để các hoạt động ngoại giao thân thiện, hợp tác kinh tế, văn hóa, hoạt động của hàng trăm tổ chức phi chính phủ để cài cắm lực lượng, tiếp cận, lôi kéo, kích động các phần tử cơ hội chính trị, thoái hóa biến chất trong nội bộ ta để tập hợp lực lượng hình thành các tổ chức chính trị đối lập, đẩy mạnh các hoạt động truyền bá các quan điểm luận điểm sai trái, thù địch. Đáng chú ý các tổ chức thế lực thù địch bên ngoài phối hợp cấu kết chặt chẽ với các đối tượng phản động, cơ hội chính trị trong nước thông qua hàng chục đài phát thanh, truyền hình tiếng Việt, hàng trăm báo, tạp chí, bản tin, nhà xuất bản tiếng Việt ở nước ngoài cùng với việc các thế lực thù địch lập ra hàng trăm Website, blog, Fanpage, mạng xã hội có máy chủ đặt ở nước ngoài để thường xuyên, liên tục truyền bá chuyển tải các quan điểm sai trái, các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo, đả phá, công kích vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống phá chủ nghĩa xã hội, và sự lãnh đạo của Đảng ta.

Tình hình trên cho thấy cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch hiện nay là rất khó khăn, phức tạp rất quyết liệt và không khoan nhượng. Trong bối cảnh tình hình mới, Đảng ta phải coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo đối với nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài này.

Nghị quyết số 35- NQ/TW về “ Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn gần 30 năm thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.

30 năm thực hiện cương lĩnh 1991 là 30 năm Đảng ta kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, để nhận thức ngày càng sáng tỏ về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên CNXH làm cơ sở cho Đảng ta từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN. 30 năm thực hiện cương lĩnh 1991, cũng là 30 năm Đảng ta đã lãnh đạo cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch.

Những bài học kinh nghiệm của 30 năm đấu tranh trên mặt trận tư tưởng sẽ là hành trang tốt nhất để nâng cao năng lực lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay.

- Bài học thứ nhất: Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, tập trung mũi nhọn đấu tranh làm thất bại âm mưu chiến lược “diễn biến hoà bình” nhằm phủ định nền tảng tư tưởng, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng, làm sụp đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ XHCN ở nước ta diễn ra rất quyết liệt phức tạp. Mọi biểu hiện lơ là mất cảnh giác, non kém về chính trị, buông lỏng trận địa đấu tranh tư tưởng – lý luận đều có thể dẫn tới những hậu quả khôn lường. Do vậy các cấp uỷ Đảng từ Trung ương đến cơ sở phải kiên quyết và kiên trì lãnh đạo nhiệm vụ chính trị trọng yếu, thường xuyên và lâu dài này. Để đảm bảo sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng đối với nhiệm vụ này. Trước hết phải nắm vững và kiên định “mục tiêu kép” của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng và phản bác các quan điểm sai trái; thù địch, đó là: 1- Bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bảo vệ Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo vệ nhân dân, bảo vệ toàn vẹn, thống nhất của quốc gia dân tộc. 2- Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch của các thế lực thù địch phản động, chống đối, các phần tử cơ hội, thoái hoá, biến chất. Hai mục đích này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa “xây” và “chống”, thể hiện quy luật tồn tại và phát triển của hệ tư tưởng XHCN. Mục đích bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chỉ đạt được khi Đảng ta phải kiên định nền tảng tư tưởng của mình, phải phát triển và vận dụng sáng tạo, hiện thực hoá thắng lợi hệ tư tưởng đồng thời khi Đảng ta lãnh đạo thắng lợi cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch, đánh bại mưu đồ phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, mưu đồ xuyên tạc lịch sử dân tộc và lịch sử cách mạng, xuyên tạc tình hình đất nước. Giữ vững vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng vào cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch đòi hỏi Đảng ta phải kiên định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta đó là kiên định và vận dụng, phát triển, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo đúng, định hướng chính xác, lãnh đạo chỉ đạo tập trung thống nhất để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị nhất là sức mạnh tổng hợp của các binh chủng công tác tư tưởng để thực hiện thắng lợi đồng thời cả hai mục tiêu: Bảo vệ, phát triển, vận dụng sáng tạo nền tảng tư tưởng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

- Bài học thứ hai: Phải thực sự coi trọng lãnh đạo các hoạt động xây dựng và hoàn hiện hệ thống pháp lý làm chỗ dựa vứng chắc cho cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng – lý luận hiện nay. Thể chế hoá quan điểm đường lối của Đảng là một phương thức lãnh đạo của Đảng ta chỉ có thể chế hoá thì nghị quyết của Đảng mới đi vào cuộc sống. Do đó cần tập trung lãnh đạo các cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp quán triệt sâu sắc nghị quyết 35 của Bộ chính trị để thể chế hoá 6 quan điểm chỉ đạo và 5 nhiệm vụ giải pháp của nghị quyết thành luật, nghị định, các văn bản pháp quy hoặc bổ sung, hoàn thiện một số văn bản pháp quy đã có. Cần bổ sung hoàn thiện cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo… Các cấp uỷ Đảng cần tiếp tục cụ thể hoá 4 giải pháp của nghị quyết TW4 khoá XII nhằm bổ sung hoàn thiện hệ thống các quy định, quy chế làm cơ sở pháp lý trong Đảng để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ nói chung, đấu tranh có hiệu quả với số cán bộ Đảng viên thoái hoá biến chất, cơ hội chính trị tiếp tay tuyên truyền, cổ suý, phát tán các quan điểm sai trái thù địch.

- Bài học thứ ba: Cần coi trọng xây dựng bộ máy tổ chức thích hợp với tình hình mới, đáp ứng yêu cầu tham mưu, chỉ đạo trực tiếp cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch ở Việt Nam hiện nay. Để thực hiện âm mưu chiến lược diễn biến hoà bình nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận con đường đi lên CNXH, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng làm sụp đổ chế độ XHCN… Khi các tổ chức, lực lượng phản động đang liên kết phối hợp trong ngoài triển khai phá hoại mặt trận tư tưởng với nhiều thủ đoạn thâm hiểm với nhiều công cụ phương tiện tác động tư tưởng, tâm lý cả truyền thống và hiện đại. Để giành chiến thắng trong cuộc đấu tranh tư tưởng này đòi hỏi chúng ta phải có tổ chức mới có đủ khả năng nắm bắt kịp thời mọi âm mưu, thủ đoạn, xây dựng các kế hoạch đấu tranh, chỉ đạo phối hợp chặt chẽ, đồng bộ các binh chủng công tác tư tưởng, phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động nghiên cứu lý luận tổng kết thực tiễn chung với nghiên cứu xây dựng những luận cứ khoa học bác bỏ có sức thuyết phục cao các luận điệu sai trái thù địch. Phối hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng giữa công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng với đấu tranh chống suy thoái tư tưởng chính trị đạo đức “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

Sau nghị quyết 35 của Bộ chính trị, từ ba Ban chỉ đạo 94, 609, 213, Đảng ta đã thành lập Ban chỉ đạo 35. Những năm qua công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch phản động, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không ngừng củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Từ khi có Nghị quyết 35 công tác này ngày càng được triển khai bài bản, thống nhất đồng bộ, toàn diện, quyết liệt và đi vào chiều sâu. Tuy nhiên Ban chỉ đạo 35 cũng còn một số hạn chế. Do đó Ban chỉ đạo 35 cần được tiếp tục đổi mới mô hình và phương thức cơ chế hoạt động và một lực lượng chuyên gia tư tưởng, lý luận, an ninh cùng lực lượng cộng tác viên bản lĩnh, tâm huyết dày dặn kinh nghiệm để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong thời kỳ mới.

- Bài học thứ tư: Phải thực sự coi trọng đào tạo, bồi dưỡng phát triển năng lực và có cơ chế chính sách đặc thù để tạo động lực hoạt động cho đội ngũ cán bộ nòng cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch.

Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực ý thức hệ. Cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực ý thức hệ diễn ra rất khó khăn, lâu dài, phức tạp, quyết liệt. Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp tư sản quốc tế, các thế lực đế quốc, phản động đã sử dụng toàn bộ hệ thống chính trị, giới chuyên gia lý luận, tư tưởng, tâm lý chiến, với mọi phương tiện truyền thông hiện đại và hiệu quả nhất với lực lượng tham gia tinh nhuệ được đào tạo bài bản, được trang bị những công cụ phương tiện hiện đại cho thực hiện âm mưu chiến lược “Diễn biến hoà bình”. Để giành chiến thắng trong cuộc đấu tranh rất quyết liệt này Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt có năng lực chuyên môn phù hợp, có bản lĩnh chính trị vững vàng, sự nhạy bén chính trị cao, có nhiệt tình và quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức. Đã xây dựng được đội ngũ chuyên gia, cố vấn trong lĩnh vực này là những người có kiến thức chuyên sâu trong nhiều lĩnh vực, hiểu biết sâu sắc, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Có hiểu biết nhiều lĩnh vực của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và  nhân văn, có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu phản bác các quan điểm sai trái thù địch. Tuy nhiên trong đội ngũ cán bộ nòng cốt còn một bộ phận nhỏ hạn chế về năng lực chưa đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong thời kỳ mới. Một số chuyên gia lớn tuổi tuy kiến thức uyên thâm, kinh nghiệm phong phú, giàu nhiệt huyết nhưng có nhiều hạn chế trong năng lực, trình độ sử dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội và các phương tiện truyền thông mới.

Trước yêu cầu nhiệm vụ đấu tranh trong thời kỳ mới, đòi hỏi Đảng ta phải thực sự quan tâm lãnh đạo lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng từ đào tạo bài bản đội ngũ cán bộ kế cận nòng cốt, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nòng cốt đang làm nhiệm vụ và bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia cố vấn, đồng thời cần bổ sung một số cơ chế chính sách đặc thù tạo động lực hoạt động cho lực lượng cán bộ nòng cốt, cho đội ngũ cố vấn chuyên gia đáp ứng yêu cầu trong cuộc đấu tranh rất khó khăn, phức tạp, quyết liệt và lâu dài.

- Bài học thứ năm: Phải thực sự coi trọng tăng cường lãnh đạo thực hiện các giải pháp về công nghệ, kỹ thuật hiện đại để sớm phát hiện, ngăn chặn tận “gốc” nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái thù địch và ngăn chặn có hiệu quả các trang mạng độc hại. Xây dựng mới các trang mạng; các website của ta để tuyên truyền nhanh, kịp thời lan toả sâu rộng các lập luận sắc bén, thuyết phục các thành tựu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Tuyên truyền lan toả sâu rộng các định hướng, các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng đối ngoại… để từng bước vững chắc giành thế chủ động làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng lý luận trên internet.

Nghiền ngẫm để nắm vững và vận dụng sáng tạo năm bài học kinh nghiệm chủ yếu trên là quá trình lãnh đạo thực hiện những nhiệm vụ giải pháp của nghị quyết 35, là phương hướng, nội dung chủ yếu để bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo cho các cấp uỷ, chính quyền và mặt trận để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch./.