Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

 

Phản bác quan điểm cho rằng Việt Nam thực hiện “chuyên chế kiểu cũ” trong phòng, chống tham nhũng

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta đã và đang được triển khai mạnh mẽ, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. (Ảnh minh họa)

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta đã và đang được triển khai mạnh mẽ, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. (Ảnh minh họa)

Trên thực tế, các cơ quan chức năng đã tăng cường phối hợp chặt chẽ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh những vụ án tham nhũng cả trong khu vực nhà nước và ngoài nhà nước, cả cán bộ đương chức và đã nghỉ hưu có sai phạm. Việc phát hiện, xử lý được tiến hành đồng bộ, quyết liệt ở cả cấp Trung ương và địa phương, đặc biệt là ở cấp tỉnh. Trong giai đoạn 2012-2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý... Nhiều đại án tham nhũng, tiêu cực được phát hiện và xử lý nghiêm như vụ án liên quan đến tiêu cực trong hệ thống đăng kiểm, vụ chuyến bay giải cứu, hay các vụ án liên quan đến các tập đoàn kinh tế lớn như Việt Á, FLC, Tân Hoàng Minh, AIC, Vạn Thịnh Phát

Tuy nhiên, bất chấp thực tế, các thế lực, phần tử thù địch, phản động, cơ hội chính trị vẫn không ngừng công kích, xuyên tạc công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta bằng nhiều luận điệu thâm độc, nham hiểm. Chúng xuyên tạc mục tiêu và bản chất đấu tranh phòng, chống tham nhũng là cuộc “đấu đá nội bộ” nhằm “thanh trừng bè phái”, “đánh bóng tên tuổi”, chỉ mang tính chất “phong trào”. Chúng ra sức phủ nhận những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Lợi dụng dư luận xã hội bức xúc về các vụ việc sai phạm trong công tác quản lý nhà nước, trong công tác xây dựng Đảng cũng như những hạn chế, khuyết điểm trong phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, các đối tượng phản động rêu rao rằng tham nhũng là căn bệnh kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyềnnếu còn giữ thể chế chính trị như hiện nay thì không thể chống tham nhũng thành công”...(!). Chúng ta đều biết, mục đích cuối cùng của chúng là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện diễn biến hòa bình” hòng lật đổ chế độ chính trị, kêu gọi đa nguyên, đa đảng.

Khi các cơ quan chức năng của nước ta tiến hành điều tra, xử lý những vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, trong đó có sự dính líu của một số cán bộ cấp cao thì những thành phần chống phá lại chuyển sang giọng điệu phê phán, rằng cuộc chiến chống tham nhũng chỉ là cái vỏ ồn ào”; rằng những bản án nặng nề, “tuyên truyền rầm rộ” chỉ là “nỗ lực cứu chế độ” và đang làm sống lại mô hình chuyên chế kiểu cũ, trong đó tinh thần và động lực kinh doanh bị huỷ hoạitự do, dân chủnhân quyền bị “vi phạm nghiêm trọng”…(!).

Những thế lực, đối tượng phản động, thù địch còn lớn tiếng “phán xét” Việt Nam thực hiện mô hình chuyên chế kiểu cũ”, “chấp nhận” tham nhũng để đổi lấy tăng trưởng, biểu hiện ở hình thức cấu kết, chia chác lợi ích giữa quan chức và doanh nghiệp, “bôi trơn” guồng máy cai trị để “vượt qua” những bất cập, rào cản trong môi trường kinh doanh hay “lách” những khoảng trống kiểm soát quyền lực dưới chế độ một Đảng lãnh đạo(!). Vì, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí” cán bộ, đảng viên, làm “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm; ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế trong nước, gây tê liệt chuỗi cung ứng đầu tư nước ngoài, ảnh hưởng đến xuất khẩu, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sau những “lý luận” như vậy, một lần nữa, chúng tiếp tục chiêu bài cũ - “hò hét” rằng, thuốc đặc trị tham nhũng ở Việt Nam là phải thay đổi thể chế chính trị, phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập(1).

Khái quát lại những luận điệu, chiêu trò xuyên tạc như trênđể chúng ta không ngừng nâng cao nhận thức và tiếp tục khẳng định rằng tham nhũng là căn bệnh nhức nhối xảy ra ở mọi quốc gia với chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Căn nguyên của tham nhũng không nằm ở chế độ đa đảng hay một đảng, mà là do sự tha hóa quyền lực và thiếu kiểm soát quyền lực sinh ra. Do đó, tham nhũng tồn tại ở mọi thể chế chính trị, thậm chí ở những nước theo chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn hoành hành nghiêm trọng. Thực tế, theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch quốc tế, các nước thực hiện đa đảng như Colombia, Brazil, Malaysia, Thái Lan, Indonesia,... vẫn thuộc nhóm “nước tham nhũng nghiêm trọng”. Trong khi đó, có những nước do một Đảng nổi trội cầm quyền như Nhật Bản, Singapore lại thuộc nhóm những nước minh bạch, ít tham nhũng. Rõ ràng, hiệu quả phòng, chống tham nhũng không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay chế độ đa đảng mà phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống pháp luật, năng lực quản trị của nhà nước, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức và nhiều yếu tố khác.

Đối với Việt Nam, cần thấy rằng việc phòng, chống tham nhũng không phải bây giờ chúng ta mới làm, mà đã làm từ lâu, làm thường xuyên, là chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đảm bảo dân chủ, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Từ tháng 12/2003, Việt Nam đã tham gia ký kết Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tham nhũng. Suốt từ đó đến nay, chúng ta chưa từng lơi lỏng trong cuộc đấu tranh này. Đặc biệt, trong bối cảnh mới, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực càng được Đảng, Nhà nước ta hết sức chú trọng, coi đó là nhiệm vụ bức thiết, có ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta đang diễn ra rất quyết liệt, không có vùng cấm, không kể cán bộ đương chức hay đã nghỉ hưu, tham nhũng vật chất hay tham nhũng quyền lực….

Những nỗ lực và kết quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Theo kết quả điều tra dư xã hội của Ban Tuyên giáo Trung ương, đại đa số người dân (93%) bày tỏ niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh nàyCông tác phòng, chống tham nhũng được định vừa là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, vừa phải tiến hành thường xuyên, bên bỉ, lâu dài nhằm làm trong sạch tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước, vì lợi ích chung của xã hội chứ hoàn toàn không phải cuộc “đấu đá” hay “thanh trừng nội bộ” như giọng điệu xuyên tạc nhằm âm mưu gây nhiễu loạn thông tin, đánh lừa dư luận, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.

Do đó, trong bối cảnh hiện nay, việc tăng cường công tác tuyên truyền luôn vô cùng cần thiết và có ý nghĩa. Một là, thường xuyên giáo dục, nhắc nhở, nâng cao nhận thức, củng cố tinh thần trách nhiệm, phẩm chất, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ, công chức. Hai là, nâng cao nhận thức xã hội, tính tích cực chính trị - xã hội và vai trò của người dân trong tham gia phòng, chống tham nhũng. Ba là, lan toả những nhận thức và suy nghĩ đúng đắn về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta, hạn chế những quan điểm lệch lạc, thiếu chính xác về cuộc đấu tranh này ở Việt Nam. Bốn là, nâng cao và lan toả bầu không khí quyết tâm, dân chủ, thúc đẩy liêm chính trong toàn xã hội, từ đó tạo môi trường phòng, chống tham nhũng thuận lợi và hiệu quả hơn.

Cùng với không ngừng nâng cao công tác tuyên truyền, các hành vi tham nhũng, tiêu cực khi phát hiện phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh. Bởi, tham nhũng là loại tội phạm nghiêm trọng, nguy hiểm, gây ra nhiều hệ luỵ và thiệt hại nhiều mặt cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Tham nhũng làm méo mó các quan hệ xã hội, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế và phúc lợi chung của toàn xã hội; làm đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội, làm xói mòn những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tham nhũng gây ảnh hưởng xấu đến đội ngũ cán bộ, dẫn đến sự suy thoái đạo đức, lối sống trong đội ngũ này, gây ra sự bất bình, bức xúc và làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ và sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay, nếu không được ngăn chặn, kiểm soát hiệu quả sẽ gây cản trở lớn cho sự phát triển đất nước.

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, những hành vi tham nhũng đều phải chịu sự trừng trị nghiêm khắc của pháp luật và sự phán xét mạnh mẽ của xã hội. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức rõ tham nhũng là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ; đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực là việc làm tất yếu, hợp lòng dân và xu thế phát triển của nhân loại. Chống tham nhũng góp phần khắc phục tình trạng thất thoát và thu hồi tài sản, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân, làm trong sạch môi trường đầu tư, tạo ra động lực cho sự phát triển đất nước.

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì Kỳ họp thứ 24 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương _  Ảnh: TTXVN

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì Kỳ họp thứ 24 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương _ Ảnh: TTXVN

Việc điều tra, truy tố, xét xử của các các cơ quan chức năng Việt Nam thời gian qua đều đúng người đúng tội, được dư luận đồng tình cao. Cán bộ, công chức vi phạm pháp luật, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tư lợi… thì phải chịu các hình thức xử lý nghiêm khắc. Doanh nghiệp kinh doanh thiếu liêm chính, tham ô, hối lộ, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của người khác... thì phải chịu sự trừng phạt thích đáng theo quy định của pháp luật. Mọi hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích của nhà nước và nhân dân đều bị nghiêm trị theo tinh thần của Nhà nước pháp quyền, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Việc xử lý nghiêm những đại án tham nhũng là để góp phần nêu cao tính răn đe, cảnh tỉnh, phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực từ trong trứng nước. Chứ không phải “ồn ào” hay “nặng nề” như những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch, phản động; càng không thể nói chống tham nhũng quyết liệt là huỷ hoại tinh thần và động lực kinh doanh như sự rèm pha vô lối của chúng. Trái lại, chống tham nhũng quyết liệt cũng chính là để xây dựng và thúc đẩy môi trường kinh doanh trong sạch, xã hội trong sạch, liêm chính, phát triển lành mạnh.

Thực tế, gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, bên cạnh những thành tựu đạt được, đất nước ta phải đối mặt với nhiều nguy cơ, trong đó tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, liên tục và quyết liệt với quan điểm không có vùng cấm, sai phạm đến đâu thì xử lý đến đó, không có ngoại lệ, không có đặc quyền và được tiến hành sâu rộng từ Trung ương đến địa phương.

Quyết tâm đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực được thể hiện rất rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”(2). Việc kiên quyết, nghiêm khắc xử lý các đại án tham nhũng có liên quan đến một số tập đoàn kinh tế lớn và cán bộ cấp cao ở cả Trung ương và địa phương chính là sự khẳng định nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong cuộc chiến phức tạp nàyđồng thời gián tiếp bác bỏ luận điệu về mô hình chuyên chế kiểu cũ”, trong đó tăng trưởng kinh tế đi cùng với chuyên chế và tham nhũng tràn lan.

Đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý tham nhũng, tiêu cực quyết liệt, mạnh mẽ không phải là làm sống dậy mô hình chuyên chế kiểu cũ” mà là một trong những nội dung cốt lõi của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh; là xu thế tất yếu khách quan nhằm tạo động lực và môi trường thuận lợi để thúc đẩy sự phát triển thịnh vượng và bền vững của đất nước, xây dựng xã hội văn minh, vì sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam./.

 

Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

(Hình minh họa)

(Hình minh họa)

NHẬN DIỆN NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CĂN BỆNH GIÁO ĐIỀU

Giáo điều là những nguyên lý, những quan điểm, nguyên tắc mà con người tiếp thu mù quáng, không cần chứng minh, không có phê phán, không chú ý điều kiện ứng dụng nó. Giáo điều cũng để chỉ tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa lý luận, coi thường, hạ thấp thực tiễn, hoặc áp dụng lý luận mà không tính tới thực tiễn. Có thể phân thành hai dạng: Giáo điều lý luận: Vận dụng lý luận không căn cứ vào điều kiện thực tiễn cụ thể, vận dụng mà không hiểu bản chất của lý luận. Giáo điều kinh nghiệm: Vận dụng kinh nghiệm của ngành khác, người khác, địa phương khác, nước khác vào thực tiễn một cách máy móc, không tính tới điều kiện thực tiễn cụ thể. Bệnh giáo điều có thể hiểu là tình trạng nhận thức, hành động giáo điều cả về lý luận và thực tiễn kéo dài trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, cần phải nhận biết và có cách khắc phục. Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có nhiều biểu hiện, song tựu trung lại có thể khái quát trên một số vấn đề sau đây:

Giáo điều hóa nghị quyết: Ở mỗi giai đoạn tính chất nhiệm vụ khác nhau, vì vậy, nghị quyết phải có những chủ trương, giải pháp thực hiện khác nhau. Tuy nhiên hiện nay, trong sinh hoạt lãnh đạo, nhất là sinh hoạt ra nghị quyết, một số cấp ủy, bí thư còn tình trạng nhận thức cho rằng nhiệm vụ cơ quan, đơn vị là “xuân thu nhị kỳ”, quanh năm ngày tháng lặp đi lặp lại không có gì mới. Nên ở không ít tổ chức đảng, nhất là cấp cơ sở, nghị quyết lãnh đạo được xây dựng theo kiểu khuôn mẫu, sao chép nguyên như trước, chỉ thay ngày đổi tháng. Hiện nay, trong một số tổ chức đảng, nhất là cấp chi bộ, việc chuẩn bị dự thảo và ban hành nghị quyết mang tính hình thức, thậm chí để đối phó với việc kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp trên. Điều đó dẫn tới tình trạng nghị quyết tháng sau, quý sau, năm sau cũng như trước, cùng lắm chỉ bổ sung một vài nội dung gọi là cho khác trước. Biểu hiện mới này không chỉ là giáo điều lý luận, thực tiễn mà còn thể hiện sự thiếu trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Ngoại hóa chủ trương: Thời gian qua, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nhiều bộ, ngành, địa phương có tình trạng tổ chức nhiều cuộc đi khảo sát, tham quan học tập kinh nghiệm nước ngoài. Mục đích của chuyến đi rõ ràng được định vị là mang những kiến thức, kinh nghiệm tổ chức quản lý, phát triển kinh tế - xã hội từ các nước, nhất là nước tiên tiến về để ứng dụng vào Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều cán bộ có chức vụ, tầm ảnh hưởng lớn đi học tập ở nước ngoài về bê nguyên các mô hình từ nước ngoài đặt vào Việt Nam, cho rằng đó là học hỏi, sáng tạo, tiếp thu cái mới. Việc áp dụng mang tính áp đặt này chưa nghĩ đến điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện kết cấu hạ tầng của ta chưa phù hợp, chưa thể hấp thụ được nguyên vẹn kinh nghiệm đó. Hậu quả là gây thất thoát, lãng phí lớn cho các nguồn lực xã hội. Dự án đường dành riêng cho xe buýt nhanh BRT ở Thủ đô Hà Nội là một ví dụ điển hình cho bệnh giáo điều mới, học tập kinh nghiệm nước tiên tiến, bê nguyên xi vào Việt Nam. Do không phù hợp với điều kiện hạ tầng giao thông Việt Nam nên dự án trên có nguy cơ cao phải dừng hoạt động, tốn kém rất nhiều nguồn lực đầu tư.

Sợ sai nên rập khuôn công thức, quy trình cũ trong công việc mới, bất chấp hiệu quả thấp: Tình trạng sợ sai, không dám nghĩ, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên dẫn tới tình trạng cứ làm như người trước, tháng trước, năm trước, quy trình trước, nhiệm kỳ trước mà không dám đột phá nhằm bảo đảm an toàn cho bản thân. Những cán bộ, đảng viên dạng này chỉ lo giữ mình an toàn trong “chiếc kén nhỏ”, không chịu đổi mới, học hỏi, chỉ gói gọn trong tư duy nhiệm kỳ, tránh va chạm để cuối cùng là "hạ cánh an toàn". Do vậy dẫn tới trong lãnh đạo, chỉ đạo có tình trạng lặp lại “công thức”; “quy trình cũ” trong công việc mới. Từ chỗ "mũ ni che tai", không dám nói ra những điều mình suy nghĩ, trăn trở, dần dần trở nên dửng dưng với những biến động của xã hội, dửng dưng với nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của bản thân.

Thái độ ba phải: Biểu hiện của nó là không thể hiện chính kiến của mình trong sinh hoạt cấp ủy, tổ chức đảng. Căn bệnh này tồn tại hai dạng: Dạng thứ nhất, người cán bộ, đảng viên thực chất là có ý tưởng nhưng do ngại va chạm, ngại thể hiện nên mọi thứ đều đồng ý, dẫn đến “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, “nhất trí cao”. Đây là biểu hiện xuôi chiều trong lãnh đạo. Hệ lụy của nó là người đảng viên co ro trong "cái kén" của chính mình, nhìn thấy nhiều vấn đề, có ý tưởng đổi mới, có sáng kiến nhưng không dám trình bày, không dám thể hiện. Dạng thứ hai là người lười tư duy, lười suy nghĩ, coi việc lãnh đạo là của cấp ủy, của tập thể tổ chức đảng nên không chủ động trong việc tham gia đóng góp thảo luận xây dựng nghị quyết và những quyết sách khác. Cả hai dạng đều cho một đáp số là không huy động được trí tuệ, trách nhiệm tập thể vào các quyết sách lãnh đạo.

NHỮNG HẬU QUẢ KHÔNG LƯỜNG

Hậu quả lớn nhất chính là nếu căn bệnh này kéo dài sẽ là lực cản gây ra sự trì trệ, kéo lùi sự phát triển. Bởi nghị quyết lãnh đạo không thực sự là sự cụ thể hóa nghị quyết cấp trên, càng không phải là nghị quyết lãnh đạo trong giai đoạn mới, mà chỉ là nghị quyết được bê nguyên xi như trước. Một nghị quyết như vậy là vô hiệu, không thể có chủ trương, giải pháp mang tính sáng tạo, đột phá và hoàn toàn thiếu sức sống, xa rời thực tiễn, không sát với yêu cầu nhiệm vụ. Chính vì vậy, hoạt động của cơ quan, đơn vị, địa phương diễn ra một cách đơn điệu, bình bình, không có sự đột phá, dẫn tới sự trì trệ, thụt lùi, tụt hậu do thực tiễn đời sống kinh tế-xã hội luôn có sự biến động, thay đổi.

Bệnh giáo điều mới còn là sự cản trở đưa nghị quyết vào cuộc sống. Bởi ngay trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã đánh mất chính vai trò lãnh đạo của mình. Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn, họ khó nêu cao được trách nhiệm để đưa nghị quyết vào cuộc sống; họ sẽ hành động theo thói quen, được chăng hay chớ. Rõ ràng, một bộ phận cán bộ, đảng viên như vậy, cho dù là ở cấp cơ sở cũng sẽ là lực cản làm giảm năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng. Bởi điều mà Đảng, Nhà nước, nhân dân, cơ quan, tổ chức mong chờ ở họ là sự tâm huyết, cống hiến công sức, trí tuệ, ý tưởng sáng tạo cho sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp xây dựng, phát triển cơ quan, đơn vị, địa phương thì không có.

Việc áp dụng máy móc, giáo điều cả về lý luận và thực tiễn mà không chịu tính toán đến điều kiện kinh tế-xã hội sẽ gây lãng phí nguồn lực lớn của đất nước, của cơ quan, đơn vị, địa phương, gây bức xúc trong dư luận nhân dân, làm giảm sút uy tín lãnh đạo của Đảng, mất uy tín của cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, bệnh giáo điều mới còn là mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa độc đoán, chuyên quyền, sự chủ quan, duy ý chí có cơ hội phát triển. Điều đó cũng có nghĩa là những cái sai, cái tiêu cực trong công tác lãnh đạo không được đấu tranh loại bỏ, cái sai nối tiếp cái sai. Điều này sẽ dẫn tới hậu quả khôn lường là tập thể mất vai trò lãnh đạo, các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng bị coi nhẹ, không huy động được trí tuệ, trách nhiệm tập thể cho việc đưa ra các quyết sách lãnh đạo, quản lý.

LIỀU THUỐC KHẮC PHỤC CĂN BỆNH GIÁO ĐIỀU MỚI

Trên cơ sở nhận diện rõ những biểu hiện của bệnh giáo điều mới, cần có các giải pháp để mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng khắc phục hiệu quả những biểu hiện của căn bệnh này. Theo đó cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:

Một là, tiếp tục nghiên cứu tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của cách mạng Việt Nam. Đến nay, điều kiện lịch sử, bối cảnh, thế và lực của đất nước ta đã có sự thay đổi, phát triển hơn nhiều. Chính vì vậy, trên cơ sở lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, Đảng ta cần đẩy mạnh việc nghiên cứu tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ, bổ sung phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới. Kết quả tổng kết và những bài học kinh nghiệm sẽ là luận cứ để định hướng hoạch định đường lối, chủ trương lãnh đạo của Đảng sát với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Đồng thời làm cơ sở để tổ chức đảng, đảng viên các cấp nghiên cứu quán triệt, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn hoạt động của bộ, ngành, tỉnh, thành phố, cơ quan, đơn vị mình.

Hai là, hoàn thiện cơ chế thúc đẩy tinh thần "7 dám" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc thúc đẩy tinh thần "7 dám", nhất là tinh thần dám làm, dám chịu trách nhiệm của người cán bộ chủ trì, đứng đầu rất cần có cơ chế để quản lý, định hướng, bảo vệ cán bộ. Cơ chế ấy phải được thể chế hóa thành pháp luật, để vừa thông thoáng, mở ra hành lang đủ rộng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên phát huy cao nhất tinh thần "7 dám", nhưng vẫn đúng pháp luật để cán bộ, đảng viên tránh được những vướng mắc, sai phạm.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về tính thực tiễn trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Phong cách thực tiễn của Người thể hiện sâu sắc nhất ở chỗ không áp dụng máy móc, giáo điều mà luôn đứng trên mảnh đất hiện thực cách mạng Việt Nam, văn hóa, con người Việt Nam để nghiên cứu, bảo vệ, phát triển, vận dụng Chủ nghĩa Mác - Lênin. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nắm chắc, hiểu sâu chức trách nhiệm vụ, đi sâu đi sát thực tiễn, rèn luyện phương pháp tác phong lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, cụ thể, bảo đảm tính khoa học, hiệu quả.

Bốn là, tạo đột phá trong đào tạo bồi dưỡng gắn với rèn luyện thử thách đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng. Đây được xác định là khâu đột phá bởi người cán bộ bên cạnh được đào tạo cơ bản về kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, chỉ đạo còn cần được trải qua thử thách, rèn luyện trong thực tiễn. Thực tiễn công tác càng nhiều, càng dày thì càng giúp cho kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ, đảng viên hiệu quả, sát thực tế, tránh được duy ý chí, giáo điều, máy móc.

Năm là, phát huy dân chủ trong phản biện chính sách, nhất là đối với người đứng đầu ở tất cả các cấp. Cần phát huy dân chủ rộng rãi trong phản biện chính sách, dân chủ phải được thực hiện ngay trong nội bộ tổ chức đảng, nội bộ cơ quan, đơn vị. Đối với người đứng đầu địa phương còn phải làm tốt công tác vận hành hệ thống phản biện xã hội để phản hồi thông tin từ thực tiễn thực thi các quyết sách, chính sách của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp, thông qua đó giúp cấp ủy, bí thư, người đứng đầu có cái nhìn toàn diện về hiệu quả thực thi chính sách, kịp thời phát hiện những bất cập để điều chỉnh.

Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là vấn đề cần được nhận diện và có định hướng khắc phục. Trong đó trọng tâm là tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời hoàn thiện cơ chế thúc đẩy tinh thần "7 dám" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Đó là cách thiết thực để bảo vệ, bổ sung, phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, bảo đảm được vai trò, sứ mệnh của Đảng và từng cán bộ, đảng viên trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 

Cảnh giác với chiêu trò mạo danh “phản biện xã hội” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam

(Hình minh họa)

(Hình minh họa)

NHỮNG MƯU ĐỒ ĐỘI LỐT "PHẢN BIỆN XÃ HỘI"

Những năm qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ra sức hậu thuẫn, kích động các đối tượng trong nước lợi dụng phản biện xã hội để tập hợp lực lượng chống đối chính trị, thúc đẩy sự đối kháng trong xã hội, tạo các lực lượng đối lập. Họ nhân danh phản biện để phản bác, chống đối các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Họ thường lợi dụng các thời điểm nhạy cảm chính trị của đất nước như trước và trong quá trình tổ chức đại hội Đảng, các kỳ bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp hoặc khi diễn ra những sự kiện quốc tế quan trọng; khi Quốc hội, Chính phủ lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo luật, chương trình, đề án... để lấy danh nghĩa phản biện xã hội tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của đất nước.

Những hoạt động này của các thế lực thù địch khá đa dạng, song tập trung ở một số thủ đoạn: 1) Lợi dụng internet, mạng xã hội, lấy danh nghĩa phản biện xã hội để đưa ra những bài nói, bài viết, các video clip nêu những ý kiến sai lệch về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quyết sách cụ thể ở các bộ, ngành, địa phương; 2) thông qua hình thức gửi “thư ngỏ”, “kiến nghị” gửi các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức và lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước với dụng ý không lành mạnh; 3) lợi dụng các diễn đàn quốc tế, các cơ quan báo chí nước ngoài để nêu quan điểm bằng bài nói, bài viết, trả lời phỏng vấn với nội dung xuyên tạc, thổi phồng, bôi đen những hạn chế trong nước, nhất là tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy nhà nước, hòng làm cho thế giới hiểu sai về đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam; 4) khi Đảng, Nhà nước, các cơ quan bộ, ngành, địa phương không tiếp nhận những ý kiến “phản biện” (thực chất là các luận điệu, quan điểm, ý kiến phản động, phá hoại) thì vu khống Đảng, Nhà nước ta vi phạm, đàn áp dân chủ.

Cách đây hơn 10 năm, trong quá trình Đảng, Nhà nước ta lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của các tầng lớp nhân dân vào dự thảo Hiến pháp năm 2013, một nhóm nhân sĩ, trí thức, cựu quan chức có tư tưởng bất mãn, cực đoan chính trị đã tập hợp nhau lại để đưa ra cái gọi là “kiến nghị” đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Điều 4 của Hiến pháp, với lý lẽ vừa hết sức ngụy biện, vừa suy diễn một cách tùy tiện, vừa công kích nói xấu Đảng ta.

Hay gần đây, lợi dụng chủ trương góp ý dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), một số trang web, blogger đã tham gia “góp ý” theo kiểu cố ý bẻ cong sự thật, làm cho người dân hiểu sai từ “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” thành “đất đai là độc quyền sở hữu của Nhà nước”, coi đó là cội nguồn của đầu cơ, tham nhũng đất đai. Thậm chí, họ còn xuyên tạc rằng việc sửa luật như “đẽo cày giữa đường”, “càng sửa càng mù mờ”... từ đó kích động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Điểm qua một vài ví dụ trên để thấy rằng, dưới chiêu bài “dân chủ”, lấy danh nghĩa phản biện xã hội, các thế lực thù địch, chống đối, phản động không từ một thủ đoạn nào để phá hoại đất nước và chế độ ta. Mục đích của chúng đương nhiên không phải để “góp ý”, giúp cho Đảng, Nhà nước thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, quản lý, mà là để phá hoại uy tín của Đảng, Nhà nước, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ, bất đồng trong nội bộ Đảng; chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, gây mất ổn định chính trị, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đi tới mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ ĐÚNG MỰC VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Phản biện xã hội là việc phân tích, đánh giá, lập luận, tranh luận có tính chất độc lập, khoa học của các lực lượng xã hội (bao gồm cá nhân hoặc tổ chức) nhằm khẳng định hoặc bác bỏ, hay đề xuất sửa đổi chủ trương, chính sách, từ đó giúp cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh cho phù hợp hơn với lợi ích chung của cộng đồng. Xét về bản chất, phản biện xã hội là một hình thức thể hiện quyền tự do được xây dựng trên cơ sở quyền tự do ngôn luận. Theo đó, phản biện xã hội chính là quyền bày tỏ ý kiến một cách có hệ thống và có cơ sở khoa học nhằm thực hiện quyền dân chủ của cá nhân đã được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về quyền con người.

Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Hiến pháp và pháp luật, nước ta đã cụ thể hóa quyền tham gia phản biện xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã hiến định một số quyền con người, quyền công dân có nội dung liên quan mật thiết đến phản biện xã hội như quyền được thông tin, quyền tự do ngôn luận, quyền trưng cầu ý dân, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Theo đó, Điều 28 quy định: “1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan Nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; 2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”.

Hiến pháp năm 2013 cũng chính thức ghi nhận phản biện xã hội với tính chất là một chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Quy định này lại tiếp tục được cụ thể hóa tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020; Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022...

Nhằm làm cho hoạt động phản biện xã hội thực sự đi vào hiện thực cuộc sống, tạo ra bầu không khí dân chủ và cởi mở trong xã hội, Đảng, Nhà nước ta còn chú trọng quan tâm hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thực hiện phản biện xã hội. Các điều kiện đó là:

Thứ nhất, xây dựng hệ thống thể chế minh bạch, dân chủ, ghi nhận đầy đủ các quyền của chủ thể phản biện xã hội (bao gồm quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, quyền thực hiện phản biện xã hội...); quy định rõ trách nhiệm công khai thông tin và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước.

Thứ hai, bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin của người dân, xác định rõ trách nhiệm cung cấp và công khai thông tin từ phía các cơ quan công quyền, đặc biệt là các cơ quan hành chính; quy định rõ quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin cũng như có chế tài rõ ràng, cụ thể và nghiêm minh đối với những hành vi che giấu hoặc từ chối cung cấp thông tin của các cơ quan và công chức nhà nước.

Thứ ba, nâng cao ý thức tôn trọng tự do ngôn luận, đối thoại, lắng nghe và phản hồi của chủ thể được phản biện, trực tiếp là các cơ quan, cán bộ, công chức Nhà nước, kết hợp giữa giáo dục với cơ chế ràng buộc để chủ thể được phản biện không chỉ lắng nghe ý kiến của xã hội mà còn phải biết tiếp thu, hiện thực hóa nó trong những chính sách cụ thể; xây dựng cơ chế thông tin hai chiều giữa Nhà nước và công dân.

Thứ tư, nâng cao trình độ dân trí của cộng đồng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để mọi người dân nhận thức rõ về quyền lợi và trách nhiệm công dân; giúp nhân dân có nhận thức đầy đủ về nguyên tắc, nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành phản biện xã hội...

Những dẫn chứng trên đây đã cho thấy, phản biện xã hội ở Việt Nam không chỉ kế thừa mà còn có sự bổ sung, phát triển các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế và khu vực về dân chủ, tự do ngôn luận nói chung, về phản biện xã hội nói riêng. Việc khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân tham gia phản biện xã hội, qua đó phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là một chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được thể hiện trong các nghị quyết của Đảng, trong hiến pháp và pháp luật của Nhà nước.

Phản biện xã hội ở Việt Nam là một phương thức hữu hiệu để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, là bước phát triển cao của hình thức dân chủ trực tiếp, thể hiện rõ vai trò chủ thể quyền lực của nhân dân trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Người dân có thể sử dụng quyền lực của mình một cách trực tiếp thông qua việc giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, hoặc kiến nghị, đóng góp ý kiến, phản biện, hoặc trực tiếp tham gia xây dựng chính sách, pháp luật và biểu quyết khi được trưng cầu ý kiến.

Như vậy, phản biện xã hội ở Việt Nam không chỉ là con đường, phương thức để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình mà còn là để bảo vệ quyền làm chủ của mình; không chỉ là công cụ để nhân dân kiểm soát quyền lực Nhà nước mà còn để bảo vệ Đảng, Nhà nước.

Bản chất tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa quy định phản biện xã hội ở Việt Nam phải thể hiện được tính xây dựng, không phải để tạo ra sự xa cách, chia rẽ, đối lập nhân dân với Đảng, Nhà nước, mà là để nhân dân tiến gần hơn với hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, làm cho “ý Đảng hợp với lòng dân”, để nhân dân thực thi một cách trực tiếp, thực chất hơn quyền lực của mình, đồng thời giúp cho Nhà nước hoàn thành tốt hơn vai trò phục vụ nhân dân. Do đó, mọi âm mưu, hành vi lợi dụng phản biện xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ phá hoại mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc cần phải kiên quyết đấu tranh, bác bỏ./.