Thứ Tư, 1 tháng 1, 2025

 🇻🇳 ĐỔI MỚI, SÁNG TẠO, TĂNG TỐC, BỨT PHÁ, ĐƯA ĐẤT NƯỚC VỮNG BƯỚC TIẾN VÀO KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH, PHÁT TRIỂN GIÀU MẠNH, VĂN MINH, THỊNH VƯỢNG CỦA DÂN TỘC


---

Nhân dịp đón Năm Mới 2025, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính có bài viết "Đổi mới, sáng tạo, tăng tốc, bứt phá, đưa đất nước vững bước tiến vào Kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng của dân tộc". 


Thông tin Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết của Thủ tướng:


"Những kết quả quan trọng, toàn diện, nổi bật đạt được trên các lĩnh vực trong bối cảnh khó khăn, thách thức nhiều hơn thời cơ, thuận lợi của năm 2024 khẳng định nỗ lực vượt bậc, ý chí kiên cường, quyết tâm sắt đá tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; qua đó củng cố nền tảng, tạo động lực mạnh mẽ để phấn đấu thực hiện thành công Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) năm 2025, góp phần hoàn thành cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ của giai đoạn 2021-2025, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng của dân tộc Việt Nam.


I. Năm 2024, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, nhiều vấn đề chưa có tiền lệ, vượt dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt; xung đột quân sự leo thang ở nhiều nơi; tình hình chính trị bất ổn tại một số quốc gia; kinh tế, thương mại, đầu tư toàn cầu phục hồi chậm, không đồng đều, thiếu vững chắc; các vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, lương thực, an ninh mạng ngày càng nghiêm trọng. Ở trong nước, thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn thách thức nhiều hơn; nền kinh tế tiếp tục chịu "ảnh hưởng kép" từ những yếu tố bất lợi bên ngoài và những hạn chế, bất cập nội tại kéo dài nhiều năm; trong khi thiên tai, bão lũ gây thiệt hại lớn cho sản xuất kinh doanh và đời sống của Nhân dân.


Trong bối cảnh đó, với tinh thần nỗ lực vượt bậc "biến nguy thành cơ", "thay đổi trạng thái, xoay chuyển tình thế"; với phương châm "kỷ cương trách nhiệm, chủ động kịp thời, tăng tốc sáng tạo, hiệu quả bền vững", "chỉ bàn làm, không bàn lùi"; ngay từ những ngày đầu năm 2024, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội; chủ động, linh hoạt, bám sát thực tiễn, thực hiện đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trên các lĩnh vực; trong đó ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; tập trung tháo gỡ những vướng mắc, điểm nghẽn về thể chế, pháp luật; đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm; chú trọng các nhiệm vụ phát triển văn hóa, xã hội, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường; tăng cường phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; củng cố quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế; đồng thời nắm chắc tình hình, phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả trước những biến động từ bên ngoài.


Nhờ sự quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt của cả hệ thống chính trị, Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà thường xuyên, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, tình hình KTXH nước ta tiếp tục phục hồi tích cực, với xu hướng tốt hơn qua từng tháng, từng quý, tính chung cả năm 2024 đạt và vượt toàn bộ 15 chỉ tiêu chủ yếu, trong đó có những kết quả nổi bật trên nhiều lĩnh vực, được Nhân dân cả nước và cộng đồng quốc tế đánh giá cao.


Việt Nam tiếp tục là điểm sáng về tăng trưởng và thuộc nhóm nước tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới. Tăng trưởng GDP cả năm ước đạt khoảng 7%; quy mô kinh tế đạt khoảng 470 tỷ USD; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực; tỷ trọng khu vực nông nghiệp còn khoảng 11%. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện; tăng năng suất lao động ước đạt 5,7%, vượt mục tiêu đề ra; chỉ số tự do kinh tế tăng 13 bậc, lên vị trí 59/176 quốc gia, vùng lãnh thổ[1].


Việt Nam được đánh giá cao về kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh thế giới biến động mạnh, nhiều khó khăn. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2024 tăng khoảng 3,6%, trong khi vẫn thực hiện tăng lương, tăng giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý. Các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ghi nhận kỷ lục, cùng với kỷ lục xuất khẩu nông sản trên 62 tỷ USD; thặng dư thương mại ước đạt khoảng 24 tỷ USD, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Nhờ nền kinh tế phục hồi tích cực và tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý thuế, tổng thu NSNN vượt trên 19% dự toán (khoảng 320 nghìn tỷ đồng), góp phần bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển; nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia và bội chi NSNN thấp hơn giới hạn quy định[2].


Việt Nam tiếp tục là điểm đến an toàn, hấp dẫn của các doanh nghiệp, đối tác, nhà đầu tư quốc tế; thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất thế giới, đạt khoảng 40 tỷ USD, trong đó vốn FDI thực hiện khoảng 25 tỷ USD; là một trong 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới với 17 FTA, trở thành một mắt xích quan trọng trong các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ sang nền kinh tế số, kinh tế xanh, công nghệ cao, thân thiện với môi trường; đặc biệt đã xác lập được vị thế quan trọng trong chuỗi công nghiệp bán dẫn toàn cầu, thu hút được nhiều tập đoàn công nghệ lớn. Giá trị thương hiệu quốc gia năm 2024 đạt 507 tỷ USD, xếp thứ 32/193, tăng 1 bậc so với năm 2023.


Các đột phá chiến lược được tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt và đạt nhiều kết quả rõ nét. Tập trung rà soát, hoàn thiện thể chế, pháp luật; Quốc hội đã thông qua nhiều Luật, Nghị quyết nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn cho phát triển trên các lĩnh vực[3]. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược được đẩy mạnh toàn diện; đã đưa vào khai thác trên 2.000 km đường bộ cao tốc; hoàn thành Dự án đường dây 500 kV mạch 3 Quảng Bình - Hưng Yên trong thời gian ngắn kỷ lục 6 tháng; tập trung chuẩn bị, khẩn trương triển khai các dự án đường sắt quốc gia. Phát triển nguồn nhân lực chuyển biến tích cực; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp được thúc đẩy mạnh mẽ. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2024 xếp hạng 44/132 quốc gia, vùng lãnh thổ, tăng 02 bậc so với năm 2023. Công tác quy hoạch được đẩy mạnh; đã phê duyệt, triển khai thực hiện toàn bộ 111 quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch cấp tỉnh và quy hoạch quốc gia; đồng thời tập trung xử lý các dự án tồn đọng, kém hiệu quả, kéo dài[4]; góp phần khơi thông nguồn lực, chống lãng phí, tạo không gian, động lực mới cho phát triển.


Phát triển văn hóa, xã hội được chú trọng; an sinh xã hội được bảo đảm; đời sống người dân tiếp tục được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm còn khoảng 1,9%; thu nhập bình quân người lao động tăng khoảng 7,4%; chỉ số hạnh phúc tăng 11 bậc, xếp thứ 54/143[5]; chỉ số phát triển bền vững (SDGs) xếp thứ 54/166 quốc gia, vùng lãnh thổ, tăng 1 bậc so với năm 2023[6]. Kịp thời khắc phục hậu quả và hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 3 với những hình ảnh, nghĩa cử cao đẹp, xúc động, ấm áp "tình dân tộc, nghĩa đồng bào" trên mọi miền đất nước.


Công tác cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh. Tập trung đơn giản hoá, cắt giảm thủ tục hành chính; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo; nâng cao hiệu quả xử lý tham nhũng, tiêu cực, không để ảnh hưởng đến phát triển KTXH, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin trong Nhân dân.


Độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững; tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh; uy tín, vị thế đất nước tiếp tục được nâng cao. Thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân được tăng cường, củng cố vững chắc; công nghiệp quốc phòng đạt nhiều kết quả tích cực. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Hợp tác quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cấp[7], ngoại giao kinh tế được chú trọng; tạo lập được cục diện đối ngoại thuận lợi; góp phần giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển.


II. Vui mừng, phấn khởi trước những thành tựu, kết quả nổi bật đạt được trong năm 2024, nhưng chúng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận còn những hạn chế, bất cập, khó khăn, thách thức cần được tiếp tục tập trung xử lý, giải quyết, hóa giải một cách kịp thời, hiệu quả trong thời gian tới. Trong đó, ổn định kinh tế vĩ mô còn tiềm ẩn rủi ro, sức ép điều hành về tỷ giá, lãi suất, lạm phát còn lớn, nhất là trước những tác động bất lợi từ bên ngoài. Tình hình sản xuất kinh doanh một số lĩnh vực còn khó khăn; sức mua thị trường phục hồi chậm, chưa rõ nét. Việc triển khai một số dự án kết cấu hạ tầng còn vướng mắc; giải ngân vốn đầu tư công chưa đáp ứng yêu cầu.


Thể chế, pháp luật vẫn là "điểm nghẽn của điểm nghẽn"; tư duy xây dựng pháp luật còn nặng về quản lý hơn là kiến tạo phát triển; quy trình, thủ tục có điểm còn bất cập. Một số quy định pháp luật, cơ chế, chính sách còn chậm được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Phân cấp, phân quyền còn vướng mắc, vẫn còn nhiều công việc cụ thể ở cấp trung ương; thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh có lĩnh vực còn rườm rà, ách tắc. Lãng phí vẫn còn trong nhiều ngành, lĩnh vực, gây nhiều hệ lụy, làm suy giảm nguồn lực, tăng gánh nặng chi phí, tạo rào cản, bỏ lỡ thời cơ cho phát triển của đất nước.


Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, chưa góp phần tạo đột phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, tầng lớp nhân dân chưa được cải thiện nhiều; đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn. Việc giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ùn tắc giao thông, ngập úng tại các thành phố lớn còn chậm. Biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ, sạt lở, ngập lụt, sụt lún, khô hạn biến động khó lường, gây hậu quả nặng nề. Tình hình tội phạm công nghệ cao, lừa đảo qua mạng và công tác bảo đảm an ninh, trật tự ở một số địa bàn diễn biến phức tạp...


Những hạn chế, bất cập, khó khăn, thách thức nêu trên có những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan chủ yếu là do tình hình thế giới phức tạp, khó lường, nhiều khó khăn, thách thức; hậu quả của đại dịch COVID-19 tiếp tục có những ảnh hưởng tiêu cực; trong khi đó thiên tai, bão lũ, nhất là bão số 3 (Yagi) gây hậu quả nặng nề. Nguyên nhân chủ quan là do kỷ luật, kỷ cương có lúc, có nơi chưa nghiêm; phân cấp, phân quyền ở một số lĩnh vực còn vướng mắc; một bộ phận cán bộ né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm; việc nắm bắt tình hình, tham mưu, phản ứng chính sách một số trường hợp chưa kịp thời, hiệu quả, chưa tận dụng hết các cơ hội phát triển; tinh thần nỗ lực vượt khó, tự lực, tự cường của một số cơ quan, đơn vị và một bộ phận cán bộ, công chức chưa cao…


Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình các lĩnh vực và từ thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quý, sâu sắc, góp phần bổ sung, hoàn thiện về tư duy, phương pháp luận, định hướng chính sách và tổ chức thực hiện trong thời gian tới.


Thứ nhất, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng là sức mạnh vô địch, là yếu tố nền tảng căn bản cho phát triển bền vững, là điểm tựa để vượt qua mọi khó khăn; cần phát huy tinh thần tự lực, tự cường, nỗ lực đổi mới vươn lên của toàn dân tộc; luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết.


Thứ hai, phải có tư duy phát triển đột phá, tầm nhìn chiến lược, nhìn xa, trông rộng, nghĩ sâu, làm lớn; làm việc nào dứt việc đó; coi trọng thời gian, trí tuệ, sự sáng tạo, quyết đoán, đúng thời điểm. Tập trung nắm chắc tình hình, phản ứng chính sách linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.


Thứ ba, phải tập trung khơi thông, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực; lấy nội lực là cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định và ngoại lực là quan trọng, cần thiết, đột phá; phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh, trí tuệ, bản lĩnh con người Việt Nam.


Thứ tư, phải đặc biệt chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; lấy con người là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là nguồn lực, động lực quan trọng nhất cho sự phát triển; không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần, "không để ai bị bỏ lại phía sau".


Thứ năm, phải tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; quyết liệt cải cách thủ tục hành chính; kiên quyết, kiên trì xóa bỏ cơ chế "xin - cho"; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, góp phần củng cố niềm tin trong Nhân dân và toàn xã hội.


III. Thời gian tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; kinh tế thế giới phục hồi chậm, rủi ro gia tăng; xu hướng phân tách, phân cực ngày càng rõ nét. Trong nước, bên cạnh những yếu tố thuận lợi, nền kinh tế tiếp tục xu hướng phục hồi, các chủ trương, cơ chế, chính sách mới đang tiếp tục phát huy hiệu quả tích cực; nhưng khó khăn, thách thức còn rất lớn, nhất là từ những yếu tố bất lợi bên ngoài và những hạn chế, bất cập nội tại kéo dài; các yếu tố an ninh phi truyền thống, thiên tai, biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, già hoá dân số tác động, ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng; trong khi nước ta là nước đang phát triển, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, quy mô còn khiêm tốn, độ mở cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế.


Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tăng tốc, bứt phá để về đích để thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2021-2025, là năm diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nước - kỷ niệm 95 năm thành lập Đảng, 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, 135 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 80 năm thành lập Nước và là năm tiến hành Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng của dân tộc, như đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã định hướng. Để thực hiện thành công mục tiêu chiến lược phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; ngay từ năm 2025 chúng ta phải nỗ lực tối đa, tạo những yếu tố đột phá thu hút đầu tư, thúc đẩy mạnh mẽ sản xuất kinh doanh, phấn đấu đạt mức tăng trưởng ít nhất 8% hoặc phấn đấu cao hơn trong điều kiện thuận lợi; trên cơ sở đó tạo nền tảng vững chắc để đạt tốc độ tăng trưởng hai con số từ năm 2026.


Đất nước trong những thời điểm lịch sử cần những quyết sách mang tính lịch sử. Việc thực hiện các mục tiêu chiến lược kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập Nước trên đây là sứ mệnh đầy thử thách, nhưng cũng rất vẻ vang của các thế hệ chúng ta hôm nay và mai sau, là điểm kết nối quá khứ, hiện tại và tương lai, là điều kiện tiên quyết để đưa đất nước thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, vươn lên trở thành nước phát triển. Chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được với tư duy đổi mới, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, giải pháp đột phá, cách làm hiệu quả, tổ chức thực hiện kịp thời, linh hoạt, hiệu quả. Tập trung hiện thực hoá những tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của đất nước, từng cấp, từng ngành, mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, từng người dân Việt Nam cần phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng, "dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung"; "đã nói là làm, đã cam kết là phải thực hiện; đã làm, đã thực hiện là phải có hiệu quả, cân đong, đo đếm được"; quán triệt và thực hiện hiệu quả phương châm "Đảng chỉ đạo, Chính phủ thống nhất, Quốc hội đồng tình, Nhân dân ủng hộ, Tổ quốc mong đợi, thì chỉ bàn làm, không bàn lùi, làm việc nào ra việc đấy, làm việc nào dứt việc đó".


Nghị quyết Đại hội Đảng XIII, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đã thể hiện rõ các nhiệm vụ, giải pháp trên tất cả các lĩnh vực và cần được các cấp, các ngành, các địa phương triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả với tinh thần "rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả"; trong đó tập trung vào một số nội dung trọng tâm sau:


1. Tiếp tục tập trung hoàn thiện thể chế, pháp luật để thực sự là "đột phá của đột phá", tạo động lực phát triển đất nước với tinh thần "chính sách thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị thông minh". Đặc biệt chú trọng tư duy đổi mới, kiến tạo phát triển, tạo ra không gian phát triển mới. Đổi mới, số hoá, công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả của các loại thị trường; thực hiện đồng bộ các giải pháp để phục hồi, phát triển lành mạnh thị trường bất động sản và sớm nâng hạng thị trường chứng khoán. Quyết liệt sắp xếp lại tổ chức bộ máy theo hướng "Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả" gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức theo tinh thần Nghị quyết 18-NQ/TW; có chính sách cụ thể, tạo thuận lợi cho cán bộ, công chức dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách, đơn giản hoá thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử, thực hiện Đề án 06; thực hiện hiệu quả các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, bảo đảm khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế.


2. Tiếp tục ưu tiên thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Nâng cao năng lực phân tích, dự báo; điều hành chủ động, kịp thời, linh hoạt, hài hoà, hiệu quả các chính sách tài khoá, tiền tệ để khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là trong Nhân dân. Tập trung làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, nhất là các giải pháp kích cầu đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu; đồng thời tạo đột phá thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, nhất là chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển các ngành, lĩnh vực mới nổi như chíp bán dẫn, dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây...


3. Tập trung phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại; đẩy nhanh các dự án trọng điểm; kết nối hệ thống đường bộ cao tốc với sân bay, cảng biển; khẩn trương triển khai đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị; Phấn đấu đến hết năm 2025 hoàn thành 3.000 km đường bộ cao tốc và trên 1.000 km đường bộ ven biển. Phát triển mạnh hạ tầng số, hạ tầng đô thị, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, thể dục thể thao…; nghiên cứu, khai thác hiệu quả không gian ngầm, không gian biển, không gian vũ trụ.


4. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Phát triển mạnh các ngành, lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, ứng dụng công nghệ cao, theo hướng xanh hoá, hiệu quả, bền vững; giảm chi phí logistics; đánh thức tiềm năng, phát triển mạnh các loại hình du lịch. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; xây dựng chính sách khuyến khích phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp tư nhân; đẩy mạnh thu hút có chọn lọc đầu tư nước ngoài; tham gia sâu rộng hơn vào các chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.


5. Xác định rõ và có cơ chế, chính sách, giải pháp đột phá cả ở tầm chiến lược và sách lược để nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đối số thực sự là quốc sách hàng đầu theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, tạo sự bứt phá, bay cao, vươn xa trong nỗ lực "bắt kịp, tiến cùng, tăng tốc, bứt phá và vượt lên", đưa đất nước vào quỹ đạo phát triển nhanh và bền vững. Tập trung rà soát, có cơ chế, chính sách đột phá nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, thúc đẩy tăng năng suất lao động. Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tạo động lực, truyền cảm hứng cho cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân, người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, đặc biệt là cho thế hệ trẻ Việt Nam xung kích đi đầu, vươn lên mạnh mẽ.


6. Chú trọng phát triển văn hóa hài hòa với kinh tế, xã hội; xây dựng cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp văn hoá, công nghiệp giải trí; xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam phát triển toàn diện; thực hiện tốt các chính sách người có công, bảo trợ xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững; chú trọng các chính sách dân tộc, tôn giáo, phát huy tinh thần "đạo pháp và dân tộc", sống "tốt đời, đẹp đạo". Triển khai hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển KTXH vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, phát triển văn hóa và phòng, chống ma tuý. Đẩy mạnh phong trào thi đua "Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước trong năm 2025"; phấn đấu sớm hoàn thành trên 100 nghìn căn nhà ở xã hội.


7. Đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, khắc phục những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Tiếp tục đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.


8. Tiếp tục củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; giữ vững độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia; đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh lưỡng dụng; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường các giải pháp kiềm chế tội phạm, phấn đấu kéo giảm 5% số vụ phạm tội về trật tự xã hội; bảo đảm trật tự an toàn giao thông; chú trọng nâng cao hiệu quả phòng, chống cháy, nổ.


9. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế; tiếp tục đưa quan hệ với các đối tác ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả, đan xen lợi ích. Nâng cao chất lượng tham mưu, dự báo chiến lược, chủ động ứng phó, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi chưa lâm nguy. Thúc đẩy mạnh mẽ công tác ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, giao lưu nhân dân phục vụ phát triển đất nước.


10. Đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông, nhất là truyền thông chính sách; tăng cường tuyên truyền, cổ vũ, nhân rộng những mô hình hay, cách làm sáng tạo, gương người tốt, việc tốt. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên giáo, dân vận, phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân, góp phần tạo đồng thuận xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn đấu hoàn thành toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KTXH đề ra.


* * *


Nhiệm vụ đặt ra cho năm 2025 và thời gian tới là rất nặng nề. Phát huy những thành tựu đạt được sau gần 40 năm đổi mới; với tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng, ý thức trách nhiệm cao, ý chí tự lực, tự cường của cả hệ thống chính trị, Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, đất nước ta nhất định sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KTXH năm 2025, góp phần hoàn thành cao nhất kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2021 - 2025. Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam đã được thử thách qua lịch sử hào hùng đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc ta sẽ tiếp tục tỏa sáng để đưa đất nước ta vươn lên tầm cao mới, đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa trong kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng của dân tộc, đưa đất nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu, như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu hằng mong muốn"./.


Phạm Minh Chính

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ


---

[1] Theo xếp hạng Quỹ di sản (Heritage Foundation).


[2] Trong đó, dư nợ công khoảng 36-37% GDP, dư nợ Chính phủ khoảng 33-34% GDP.


[3] Năm 2024, Quốc hội đã thông qua 31 luật, 67 nghị quyết, chiếm hơn 40% tổng số luật, nghị quyết đã thông qua từ đầu nhiệm kỳ khóa XV đến nay; riêng Kỳ họp thứ 8 thông qua 18 luật và 21 nghị quyết.


[4] Trong đó có các dự án nhiệt điện Thái Bình 2, Vân Phong 1, Sông Hậu 1, Khí hóa lỏng Cái Mép - Thị Vải; chuỗi dự án điện khí điện Lô B - Ô Môn; các nhà máy đạm, nhà máy thép Việt - Trung…


[5] Theo báo cáo của Mạng lưới Giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc (UN).


[6] Theo Báo cáo của Liên Hợp Quốc (UN).


[7] Trong năm 2024 đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với Australia, Pháp, Malaysia; Đối tác toàn diện với Mông Cổ, UAE, Đối tác chiến lược với Brazil; ký kết nhiều cam kết, thỏa thuận quốc tế trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước và nhân dân, các cấp, các lĩnh vực.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẮT KHẨN CẤP NGƯỜI PHỤ NỮ ĐÁNH NHÂN VIÊN GÁC TÀU Ở TP HCM!

     Ngày 1/1, Công an TP Thủ Đức ra quyết định bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Thùy Trang (SN 1988, ngụ tỉnh Bạc Liêu) để điều tra về hành vi Cố ý gây thương tích.

Theo cảnh sát, tối 30/12/2024, Trang chạy xe máy chở anh Ngô Thành Tiến (SN 1988, ngụ TP Thủ Đức) trên đường Kha Vạn Cân, hướng từ chùa Ưu Đàm ra đường Phạm Văn Đồng.

Khi đến chắn gác tàu hỏa km 1717+600 phường Hiệp Bình Chánh, Trang gặp tàu hỏa di chuyển đến, nhân viên Hoàng Thị Bình thực hiện nhiệm vụ chắn barie gác tàu hỏa đảm bảo an toàn hành lan đường sắt.

Lúc này, một đôi nam nữ bị vướng lại bên trong, bà Bình nói đợi tàu qua rồi mở chắn cho đi. Sau đó, một thanh niên mặc áo GrabBike đứng cạnh gác chắn dùng tay nâng rào chắn lên để đôi nam nữ chạy xe vào hướng chùa Ưu Đàm, nên bà Bình yêu cầu nam thanh niên dừng lại và xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau.

Lúc này, Trang đậu xe cạnh gác chắn lên tiếng: "Cho người ta qua, làm gì mà ghê vậy". Khi đó, bà Bình đáp lời: "Bà biết gì mà nói, bà im lại đi". Nghe vậy, Trang bực tức nên lao vào đánh bà Bình đến khi được mọi người can ngăn.

Nạn nhân sau đó đến Bệnh viện TP Thủ Đức cấp cứu rồi đến Công an phường Hiệp Bình Chánh trình báo và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Trang. Tại cơ quan điều tra, Trang thừa nhận hành vi như trên./.



Môi trường ST.

 

Phát huy vai trò đấu tranh trên không gian mạng của “Lực lượng 47”

(Baohatinh.vn) - Để tiếp tục nâng cao hiệu quả đấu tranh trên không gian mạng, Bộ CHQS tỉnh Hà Tĩnh cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên; đồng thời kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của “Lực lượng 47”…

Ngày 15/3, Đảng ủy Quân sự tỉnh Hà Tĩnh tổ chức hội nghị sơ kết 5 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 47/CT-CT ngày 8/1/2016 của Tổng cục Chính trị về tổ chức lực lượng chống quan điểm sai trái thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong quân đội (gọi tắt là “Lực lượng 47”).

Dự hội nghị có Thiếu tướng Phan Văn Sỹ - Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Văn Hùng.

Phát huy vai trò đấu tranh trên không gian mạng của “Lực lượng 47”

Trong 5 năm qua, Đảng ủy Quân sự tỉnh Hà Tĩnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, kiện toàn “Lực lượng 47” của cơ quan Bộ Chỉ huy và các đơn vị theo đúng hướng dẫn của trên.

Với phương châm “xây để chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “nhân rộng tích cực đẩy lùi tiêu cực”, 5 năm qua, các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang tỉnh đã có hàng trăm tin, bài đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần nhân lên việc tốt, ngăn chặn các thông tin xấu độc trên không gian mạng.

Phát huy vai trò đấu tranh trên không gian mạng của “Lực lượng 47”

Thiếu tướng Phan Văn Sỹ - Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 4 đánh giá cao công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao của LLVT Hà Tĩnh.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Văn Hùng thông tin: Trong những năm tiếp theo, dự báo tình hình thế giới, khu vực, trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp và khó lường. Các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng mạng Internet và các trang mạng xã hội để chống phá, đặc biệt trong dịp bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Phát huy vai trò đấu tranh trên không gian mạng của “Lực lượng 47”

Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Văn Hùng đề nghị Bộ CHQS tỉnh cần tiếp tục kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của “Lực lượng 47”.

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả đấu tranh trên không gian mạng, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đề nghị Đảng ủy Quân sự tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang nhận diện đúng âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Bộ CHQS tỉnh tiếp tục kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của “Lực lượng 47”; phối hợp chặt chẽ với Ban Chỉ đạo 35 các cấp và các lực lượng chức năng để cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng nhận thức, gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh trên không gian mạng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Phát huy vai trò đấu tranh trên không gian mạng của “Lực lượng 47”

Dịp này, Đảng ủy Quân sự tỉnh khen thưởng 2 tập thể và 6 cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Chỉ thị 47.

 Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng theo quy định của Luật An ninh mạng

1. Về tổ chức và nguồn nhân lực của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.

 

Theo quy định tại Điều 30 Luật An ninh mạng, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng sẽ được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Ngoài ra lực lượng bảo vệ an ninh mạng còn được bố trí tại Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

 

Điều 31 Luật này quy định: Công dân Việt Nam có kiến thức về an ninh mạng, an toàn thông tin mạng, công nghệ thông tin là nguồn lực cơ bản, chủ yếu bảo vệ an ninh mạng. Nhà nước có chương trình, kế hoạch xây dựng, phát triển nguồn nhân lực bảo vệ an ninh mạng. Khi xảy ra tình huống nguy hiểm về an ninh mạng, khủng bố mạng, tấn công mạng, sự cố an ninh mạng hoặc nguy cơ đe dọa an ninh mạng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định huy động nhân lực bảo vệ an ninh mạng. Thẩm quyền, trách nhiệm, trình tự, thủ tục huy động nhân lực bảo vệ an ninh mạng được thực hiện theo quy định của Luật An ninh quốc gia, Luật Quốc phòng, Luật Công an nhân dân và quy định khác của pháp luật có liên quan.

 

2. Chức năng, nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng

 

Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được giao thực hiện các hoạt động sau nhằm phòng, chống hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

 

- Thẩm định an ninh mạng:

 

Thẩm định an ninh mạng là hoạt động xem xét, đánh giá những nội dung về an ninh mạng để làm cơ sở cho việc quyết định xây dựng hoặc nâng cấp hệ thống thông tin. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Quốc phòng thẩm định an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quân sự; Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an thẩm định an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ Quốc phòng và Ban cơ yếu Chính phủ.

 

- Đánh giá điều kiện an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia:

 

Đánh giá điều kiện về an ninh mạng là hoạt động xem xét sự đáp ứng về an ninh mạng của hệ thống thông tin trước khi đưa vào vận hành, sử dụng.

 

Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Quốc phòng đánh giá, chứng nhận đủ điều kiện an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quân sự; Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an đánh giá, chứng nhận đủ điều kiện an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ Quốc phòng và Ban cơ yếu Chính phủ.

 

-  Kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia:

 

Kiểm tra an ninh mạng là hoạt động xác định thực trạng an ninh mạng của hệ thống thông tin, cơ sở hạ tầng hệ thống thông tin hoặc thông tin được lưu trữ, xử lý, truyền đưa trong hệ thống thông tin nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý nguy cơ đe dọa an ninh mạng và đưa ra các phương án, biện pháp bảo đảm hoạt động bình thường của hệ thống thông tin.

 

Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an kiểm tra an ninh mạng đột xuất đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, trừ hệ thống thông tin quân sự do Bộ Quốc phòng quản lý, hệ thống thông tin cơ yếu thuộc Ban Cơ yếu Chính phủ và sản phẩm mật mã do Ban Cơ yếu Chính phủ cung cấp để bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Quốc phòng kiểm tra an ninh mạng đột xuất đối với hệ thống thông tin quân sự.

 

- Giám sát an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia:

 

 Giám sát an ninh mạng là hoạt động thu thập, phân tích tình hình nhằm xác định nguy cơ đe dọa an ninh mạng, sự cố an ninh mạng, điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, mã độc, phần cứng độc hại để cảnh báo, khắc phục, xử lý.

 

Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thực hiện giám sát an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia thuộc phạm vi quản lý; cảnh báo và phối hợp với chủ quản hệ thống thông tin trong khắc phục, xử lý các nguy cơ đe dọa an ninh mạng, sự cố an ninh mạng, điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, mã độc, phần cứng độc hại xảy ra đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

 

- Ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia:

 

Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Quốc phòng chủ trì điều phối hoạt động ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng xảy ra đối với hệ thống thông tin quân sự. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an chủ trì điều phối hoạt động ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng xảy ra đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ Quốc phòng và Ban cơ yếu Chính phủ; tham gia ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia khi có yêu cầu; thông báo cho chủ quản hệ thống thông tin khi phát hiện có tấn công mạng, sự cố an ninh mạng;

 

Phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế:

 

Khi phát hiện các thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được quyền thực hiện các biện pháp sau:

 

+ Ngăn chặn, yêu cầu tạm ngừng, ngừng cung cấp thông tin mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ các hoạt động thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng viễn thông, mạng Internet, sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến theo quy định của pháp luật;

 

+ Yêu cầu xóa bỏ, truy cập xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

 

+ Phong tỏa, hạn chế hoạt động của hệ thống thông tin; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền theo quy định của pháp luật;

 

- Phòng, chống tấn công mạng:

 

Khi xảy ra tấn công mạng xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, gây tổn hại nghiêm trọng trật tự, an toàn xã hội, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng chủ trì, phối hợp với chủ quản hệ thống thông tin và tổ chức, cá nhân có liên quan áp dụng biện pháp xác định nguồn gốc tấn công mạng, thu thập chứng cứ; yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng chặn lọc thông tin để ngăn chặn, loại trừ hành vi tấn công mạng và cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan.

 

- Phòng, chống khủng bố mạng:

 

Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành có liên quan triển khai công tác phòng, chống khủng bố mạng, áp dụng biện pháp xử lý khủng bố mạng xảy ra đối với hệ thống thông tin quân sự. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành có liên quan triển khai công tác phòng, chống khủng bố mạng, áp dụng biện pháp vô hiệu hóa nguồn khủng bố mạng, xử lý khủng bố mạng, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả xảy ra đối với hệ thống thông tin, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ Quốc phòng và Ban cơ yếu Chính phủ.

 

- Phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng:

 

Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng phối hợp với chủ quản hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia triển khai các giải pháp kỹ thuật, nghiệp vụ để phòng ngừa, phát hiện, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng.

 

- Đấu tranh bảo vệ an ninh mạng:

 

Đấu tranh bảo vệ an ninh mạng là hoạt động có tổ chức do lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thực hiện trên không gian mạng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

 

- Bảo vệ trẻ em trên không gian mạng:

 

Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và các cơ quan chức năng có trách nhiệm áp dụng biện pháp để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm hành vi sử dụng không gian mạng gây nguy hại cho trẻ em, xâm phạm đến trẻ em, quyền trẻ em.

 

Để ngăn ngừa khả năng lạm quyền của lực lượng chuyên trách, Khoản 5 Điều 8 Luật An ninh mạng đã nghiêm cấm hành vi lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi. Bên cạnh đó, các dữ liệu, thông tin thu được được quản lý theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định pháp luật khác có liên quan./.

 

Một số giải pháp nâng cao chất lượng các bài đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên internet và mạng xã hội của "Lực lượng 47"

Thứ sáu, 07/02/2020 - 08:50 chiều GMT

“Lực lượng 47” trong quân đội là những cán bộ, chiến sĩ bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ, công tác chuyên môn, nghiệp vụ, còn tham gia viết tin, bài, bình luận, chia sẻ thông tin tích cực, tuyên truyền quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam; đồng thời tích cực và chủ động phản bác các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đăng tải trên các phương tiện truyền thông, nhất là trên không gian mạng.

Thời gian qua, các bài đấu tranh của “Lực lượng 47” tại các đơn vị đã thường xuyên được đổi mới về nội dung, đa dạng hóa về hình thức, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế nhất định như: Một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm đúng mức chất lượng, hiệu quả của các bài viết của lực lượng này; nội dung và hình thức, biện pháp đấu tranh chưa phong phú, đa dạng, hiệu quả chưa cao; số lượng bài viết có tính chiến đấu, sâu sắc, thuyết phục chưa nhiều... Để nâng cao chất lượng, hiệu quả các bài đấu tranh của “Lực lượng 47” trên internet và mạng xã hội, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, nắm chắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước trong viết bài đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội.

Các bài đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet và mạng xã hội (không gian mạng) thực chất là cuộc đấu tranh ý thức hệ nhằm bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và sự nghiệp cách mạng... Việc nắm chắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, các quy định của quân đội là cơ sở củng cố và phát triển thế giới quan, phương pháp luận khoa học, cơ sở pháp lý vững chắc nhất để viết bài phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Vì vậy, cần quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, định hướng của Đảng, Nhà nước về chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ nhằm bảo vệ an ninh quốc gia; đặc biệt là Chỉ thị số 03/CT- BQP ngày 23/1/2014 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin và một số vấn đề về tổ chức hoạt động tác chiến không gian mạng; Chỉ thị số 47/CT-CT ngày 8/1/2016 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về tổ chức lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong quân đội. Bên cạnh đó, cần vận dụng linh hoạt, khéo léo các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước sát với các tình huống và hoàn cảnh cụ thể, tránh rập khuôn, cứng nhắc, cảm tính, làm mất tính chiến đấu trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái trên không gian mạng.

Hai là, phát huy vai trò trách nhiệm, tính tích cực, chủ động của “Lực lượng 47” trong tiếp cận thông tin có định hướng để viết bài đấu tranh trên không gian mạng.

Trong thời đại bùng nổ thông tin thì việc làm chủ thông tin có vai trò hết sức quan trọng trong định hướng dư luận xã hội theo hướng tích cực, tránh việc bị lợi dụng, tạo cớ, xuyên tạc; không để rơi vào thế “bị động”, “chống đỡ” mà phải “chủ động” trong định hướng thông tin. Yêu cầu đặt ra đối với các bài đấu tranh của “Lực lượng 47” là phải nhạy bén, kịp thời, nắm chắc bản chất, diễn biến của sự kiện. Thực tiễn vừa qua, nhiều sự việc đã bị kẻ xấu xuyên tạc, bóp méo sự thật thông qua các thủ đoạn cắt, dán, dàn dựng Video, biên tập làm mới thông tin cũ, bịa đặt thông tin mới...,nhưng các bài đấu tranh, ngăn chặn của “Lực lượng 47” chưa nhạy bén, kịp thời, gây bức trong dư luận. Việc cung cấp, tiếp nhận và cập nhật các thông tin chính thống, có định hướng được thực hiện thông qua tài liệu thông báo chính trị nội bộ; các buổi nói chuyện chuyên đề, thông báo thời sự; tổ chức các lớp học tập nghị quyết, chỉ thị của Đảng... Bên cạnh đó, cần phát huy cao độ tính tích cực, nhạy bén, chủ động của “Lực lượng 47” trong tiếp nhận, khai thác, sử dụng thông tin để nâng cao hiệu quả, hiệu suất các bài đấu tranh vạch trần, “bẻ gãy” các quan điểm sai trái trên không gian mạng.

Ba lànắm chắc đặc điểm, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng để tổ chức viết bài đấu tranh hiệu quả.

Để bài đấu tranh đạt hiệu quả thì phải hiểu và nắm chắc âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của kẻ thù. Hoạt động đấu tranh chống các quan điểm sai trái internet và mạng xã hội diễn ra rất phức tạp, khó lường, dưới nhiều sắc thái và cấp độ khác nhau. Các thế lực thù địch sử dụng không gian mạng làm phương tiện tuyên truyền thông qua các hình thức: lập và sử dụng các website, dịch vụ thư điện tử (E-mail), trang mạng xã hội như Facebook, Zalo; các dịch vụ hội thoại (chat), điện thoại (VoIP), diễn đàn (Forum), Twitter, Youtube, MySpace. Đặc biệt, chúng sử dụng kỹ thuật sao chép, cắt dán hình ảnh để tạo dựng sự kiện “giả như thật”; mở diễn đàn với nhiều tên gọi khác nhau, như: “chống tham nhũng”, “liêm chính”, “cứu quốc”, “hội những người Việt Nam yêu nước”, “hãy vì tự do, dân chủ”... để đăng tải các bài viết, bình luận mạo danh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây nhiễu loạn thông tin nhằm kích động, lôi kéo, gây sự chú ý của dư luận.

Theo đó, các bài đấu tranh của “Lực lượng 47” phải thể hiện được sự sắc bén trong nắm bắt, hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Tập trung tuyên truyền cho cán bộ, chiến sỹ và nhân dân nâng cao cảnh giác, tuyệt đối không được truy cập những trang mạng, blog... các diễn đàn có nội dung phản động, độc hại có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức, tư tưởng và hành động. Các lực lượng đấu tranh của các cơ quan, đơn vị thường xuyên theo dõi, phản ứng kịp thời bằng những bài viết, bình luận, chia sẻ nội dung có tính đấu tranh, tuyên truyền tốt để phản bác làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của địch.

Bốn là, chủ động bồi dưỡng, xây dựng “Lực lượng 47” với trình độ nghiên cứu lý luận giỏi, nhạy bén trong viết bài đấu tranh chống các quan điểm sai trai của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

“Lực lượng 47” với lý luận giỏi, có trình độ cao là cốt “vật chất” và là yêu cầu cơ bản trong nâng cao chất lượng các bài đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trên internet và mạng xã hội hiện nay. Tuy nhiên, vẫn còn một số bài đấu tranh, nhiều ấn phẩm, công trình của “Lực lượng 47” chưa có điểm nhấn thể hiện tính sáng tạo, còn nặng về “tổ hợp” lý luận, thiếu thực tiễn nên sức thuyết phục chưa cao. Thực tế cho thấy, chỉ khi “Lực lượng 47” được xây dựng, bồi dưỡng vững mạnh cả về phẩm chất chính trị, cả về trình độ lý luận, thực sự xứng tầm thì các bài đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch mới có sự “đột phá” mạnh mẽ. Do đó, cần tập trung bồi dưỡng cho “Lực lượng 47” về phương pháp khoa học trong nghiên cứu lý luận chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn. Củng cố, kiện toàn và phát huy vai trò chủ động, tích cực của “Lực lượng 47” trong đấu tranh với các thông tin xấu độc của kẻ thù. Thường xuyên bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ khai thác, sử dụng thành thạo các phương tiện, kỹ thuật để chủ động nhận diện và đấu tranh với các quan điểm sai trái, phản động trên internet và mạng xã hội. Cần phát huy cao độ vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chỉ huy, cơ quan chính trị trong bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho “Lực lượng 47”. Tăng cường quản lý đội ngũ phóng viên, cộng tác viên, biên tập viên, báo cáo viên. Chủ động “phủ xanh” thông tin, không để “khoảng trống” thông tin trên không gian mạng. Hướng dẫn và quản lý tốt hoạt động sử dụng mạng internet và mạng xã hội; quy định rõ việc cung cấp, khai thác, sử dụng thông tin, tránh để lộ, lọt thông tin.

Tóm lại, những giải pháp trên có vị trí, vai trò, nội dung và yêu cầu thực hiện khác nhau, song có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau. Trong chỉ đạo tổ chức đấu tranh, cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị và “Lực lượng 47” cần có sự vận dụng linh hoạt trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, có biện pháp nhận định, đánh giá tình hình, tổ chức viết bài đấu tranh hiệu quả nhất, đảm bảo sự kịp thời trong nhận diện và phản bác quan điểm, tư tưởng, thông tin sai trái, làm thất bại hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

 

Đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện phản văn hóa trong Quân đội hiện nay

Ngày 02/11/2021200

Văn hóa trong Quân đội là sự hòa quyện các giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam với những đặc trưng văn hóa của hoạt động quân sự. Để đạt mục tiêu “phi chính trị hóa” Quân đội, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá Quân đội với các thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Do vậy, chủ động đấu tranh ngăn ngừa mọi biểu hiện phản văn hóa để Quân đội luôn là môi trường mẫu mực, điển hình về văn hóa và là trung tâm giáo dục, rèn luyện bộ đội về phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới.

Nhận diện những biểu hiện phản văn hóa trong Quân đội

Để nhận diện được các biểu hiện phản văn hóa, đòi hỏi mỗi người phải nâng cao nhận thức tới tầm lý trí, hòa nhập vào tư duy khoa học đạt tới sự trưởng thành của ý thức. Các biểu hiện phản văn hóa xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống, dưới rất nhiều diện mạo khác nhau, thường thể hiện ở những biểu hiện về lối sống, cách ứng xử về tính cá nhân, ích kỷ, vụ lợi xảy ra trong xã hội. Biểu trưng đầu tiên của các hiện tượng phản văn hóa là nó đứng về phía cái sai, nhân danh cái sai, ủng hộ, cổ vũ cho cái sai, ra sức trấn áp, hù dọa cái đúng. Phản văn hóa thường xuất hiện từ cái sai, cái phản khoa học, chống lại công lý và chân lý.

Ở các đơn vị quân đội, bên cạnh hệ giá trị văn hóa phản ánh sâu sắc các chuẩn giá trị chân, thiện, mỹ cũng tồn tại các biểu hiện phản văn hóa. Đặc biệt, trước những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường trong xu thế hội nhập và sự phát triển của Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư, các biểu hiện phản giá trị văn hóa đang hằng ngày, hàng giờ tác động, thẩm lậu vào trong môi trường văn hóa quân sự. Nổi lên là những biểu hiện tiêu cực, như: bệnh thành tích, không trung thực, thiếu khách quan, minh bạch; một bộ phận cán bộ, đảng viên, chiến sĩ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, chế độ quy định của đơn vị. Các chuẩn mực văn hóa ứng xử giữa cấp trên và cấp dưới, tình đồng chí, đồng đội có biểu hiện nhạt phai vẫn xảy ra, thiếu đi sự chuẩn mực trong mối quan hệ qua lại giữa quân nhân và tập thể quân nhân; xen vào đó là những quan hệ do lợi ích vật chất chi phối, v.v. Những giá trị phản văn hóa đó tác động không chỉ làm cho một số cán bộ, chiến sĩ, nhạt phai mục tiêu, lý tưởng, xa rời đạo đức cách mạng, mà còn làm suy giảm uy tín, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

Cảnh giác, đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện phản văn hóa ở các đơn vị trong Quân đội hiện nay

Quân đội với vai trò là trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ cả về lý tưởng, phẩm chất, năng lực, lối sống, thì không thể để cho sự tồn tại của những biểu hiện phản văn hóa len lỏi trong môi trường hoạt động quân sự. Hiện nay, bên cạnh những tiêu cực bên ngoài xã hội tác động đến tâm lý, tình cảm của bộ đội, thì các thế lực thù địch ra sức lợi dụng không gian mạng, dùng mọi thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm hiểm nhằm thẩm thấu những nội dung văn hóa xấu độc vào trong môi trường quân đội, hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ chạy theo ham muốn tầm thường, từ đó nhạt phai lý tưởng, xa rời mục tiêu chiến đấu, v.v. Bởi vậy, nhận diện, nêu cao cảnh giác và đấu tranh ngăn ngừa các biểu hiện phản văn hóa ở các đơn vị hiện nay cần được tiến hành chủ động, tích cực, kiên quyết với những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường giáo dục, bồi đắp giá trị văn hóa làm chuyển biến từ nhận thức tới hành động cho cán bộ, chiến sĩ. Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”1, các đơn vị cần tập trung giáo dục lòng tự hào truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, bồi đắp phẩm chất nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa, người quân nhân cách mạng. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng; coi trọng giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống; giáo dục pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, quy định của đơn vị, nhất là nội dung về xây dựng nền nếp chính quy; gắn giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng với hoạt động huấn luyện, rèn luyện bộ đội. Cùng với giáo dục, bồi đắp các chân giá trị văn hóa, cần đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, đấu tranh phê phán những biểu hiện lệch chuẩn giá trị, những thói hư, tật xấu. Tổ chức tốt phong trào Thi đua Quyết thắng, thực hiện hiệu quả là Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) và Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 08/7/2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về “đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong các đơn vị Quân đội”. Đây vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa sự phản văn hóa, thực hiện phương châm kết hợp giữa “xây” và “chống”, lấy “cái đẹp” dẹp “cái xấu”. Thời gian qua, Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa trong các đơn vị Quân đội” đã góp phần quán triệt, hiện thực hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người mới xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ đời sống của cán bộ, chiến sĩ; đồng thời, bồi đắp, củng cố, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Tuy nhiên, vẫn còn “Một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cơ quan, đơn vị và cơ quan chức năng chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ vai trò, ý nghĩa, tính toàn diện và mục tiêu của Cuộc vận động”2. Trước yêu cầu mới, để Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa trong các đơn vị Quân đội” đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực, cần tập trung xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần lành mạnh, phong phú; hướng mọi hoạt động của cán bộ, chiến sĩ tới những chuẩn mực giá trị văn hóa trong môi trường văn hóa quân sự. Xây dựng các quan hệ văn hóa văn minh, lành mạnh; trong đó, coi trọng các giá trị đạo đức, làm nền tảng vững chắc cho thực hành đạo đức, thực hành văn hóa chính trị của cán bộ, chiến sĩ, mà cốt lõi nhất là quan hệ cấp trên, cấp dưới, đồng chí đồng đội. Tích cực xây dựng thiết chế, cảnh quan văn hóa hài hòa, thân thiện, hiện đại tạo nên cả diện mạo cũng như chiều sâu của đơn vị chính quy, vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; tổ chức tốt các hoạt động văn hóa đa dạng, phong phú, đáp ứng với nhu cầu sáng tạo, tiếp nhận, hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của bộ đội.    

Ba là, phát huy vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên. Giá trị văn hóa nhân cách ở mỗi cá nhân được hình thành, phát triển tuân theo quy luật về sự tích hợp và lan tỏa văn hóa. Nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp có tác dụng lan tỏa rất lớn trong giáo dục, định hướng giá trị văn hóa nhân cách của cán bộ, chiến sĩ. Nhận rõ vai trò của nêu gương trong lãnh đạo, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”3. Bởi vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08i-QĐ/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), “Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Nội dung là toàn diện, song trọng tâm là: đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc là chuẩn mực quan trọng. Trên cơ sở đó, mỗi cán bộ, đảng viên, mà trước hết là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải không ngừng học tập và thực hành đạo đức cách mạng, “đi trước”, làm gương cho quần chúng về đạo đức, tri thức, phong cách và tinh thần trách nhiệm cao cả đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tạo sự lan tỏa các giá trị văn hóa nhân cách đến bộ đội.

Bốn là, nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của hệ thống chỉ huy, tăng cường kiểm tra xử lý các biểu hiện vi phạm. Đây là giải pháp nhằm ngăn ngừa những tác động tiêu cực từ bên ngoài, kịp thời phát hiện, xử lý các biểu hiện phản văn hóa nảy sinh trong đơn vị. Nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của hệ thống chỉ huy các cấp cần được tiến hành một cách đồng bộ: từ việc đổi mới, hoàn thiện các quy chế, quy định đến vận hành hệ thống chỉ huy, quản lý hiệu lực, hiệu quả. Trong đó, cần làm tốt từ công tác tuyển sinh đầu vào, tuyển quân hằng năm; kiên quyết không để các đối tượng không đủ tiêu chuẩn “lọt” vào cơ quan, đơn vị. Trên cơ sở tiêu chí chung, các cấp, các ngành cần cụ thể hóa và xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đạo đức về văn hóa công vụ riêng cho ngành mình trong xây dựng mối quan hệ gắn kết giữa văn hóa, đạo đức với pháp luật cho mọi quân nhân. Thực hiện tốt các quy chế, quy định trong giáo dục chính trị, tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật và các chế độ quy định của đơn vị, nhất là quy định về tham gia mạng xã hội của quân nhân: không truy cập trang tin xấu độc, không bình luận tán đồng, ủng hộ quan điểm, luận điệu tiêu cực, sai trái trên các phương tiện thông tin truyền thông, mạng xã hội, v.v. Coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội, duy trì thực hiện tốt các khâu, các bước: nắm, quản lý, dự báo, định hướng và xử lý tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, phát huy tốt vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, bảo vệ chính trị nội bộ, tổ chiến sĩ bảo vệ ở đơn vị; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, nhất là vi phạm đạo đức, lối sống làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ ” đã có nền tảng ngay từ khi thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, nét đẹp văn hóa đó được lưu giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội hãy góp sức mình để nét đẹp truyền thống đó ngày càng được bồi đắp, trở thành giá trị vĩnh hằng. Lấy cái đẹp dẹp cái xấu, không để “con sâu làm rầu nồi canh”; nêu cao cảnh giác nhận diện và đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với mọi biểu hiện phản văn hóa, không để văn hóa xấu độc thâm nhập vào đơn vị. Việc này, cần sự vào cuộc của lãnh đạo, chỉ huy các cấp và mọi cán bộ, chiến sĩ để lưu giữ và nhân lên giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, góp phần “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”4.