Thứ Ba, 1 tháng 7, 2025

Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo.

 


Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”[1]. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo tập trung ở các nội dung sau:

Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Khoản 1, Điều 6, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”.

Đảng ta khẳng định, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân, là đã thực sự tôn trọng sự tồn tại khách quan của tôn giáo hiện nay. Quan điểm trên của Đảng là cơ sở bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của một bộ phận quần chúng nhân dân; Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm và bảo đảm nhu cầu sinh hoạt tinh thần của bộ phận quần chúng nhân dân có đạo; thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật; các tôn giáo được quyền hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và bình đẳng trước pháp luật.

Hai là, thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.

Quan điểm của Đảng thể hiện, các tôn giáo được bảo đảm hoạt động bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật cho phép; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống cách mạng của của đồng bào có đạo, tôn vinh những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Nghiêm cấm việc đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”[2]

Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.

Đại đa số tín đồ, chức sắc là nhân dân lao động, công tác tôn giáo không phải là hạn chế hay xóa bỏ tôn giáo mà thực chất là tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng có đạo nhận rõ nghĩa vụ và quyền lợi của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng ta khẳng định: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”[3]

Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

Giải quyết vấn đề tôn giáo là vấn đề chiến lược liên quan đến mọi mặt đời sống chính trị - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước. Cho nên công tác tôn giáo đòi hỏi phải có sự tham gia và thực hiện của toàn xã hội, trọng tâm là hệ thống chính trị. Khi giải quyết các vấn đề về tôn giáo phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, tuân theo luật pháp Nhà nước, là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế - xã hội; tổ chức và cán bộ trực tiếp làm công tác tôn giáo có vai trò quyết định sự thành công trong công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo và đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.

Năm là, mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ, tín đồ các tôn giáo có quyền tiến hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện tại gia đình và tham gia các hoạt động tôn giáo, học tập giáo lý, đạo đức, phục vụ lễ nghi tôn giáo tại cơ sở thờ tự nếu như các hoạt động đó không trái với chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, không được lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm trái với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không được hoạt động mê tín dị đoan.

Chính sách của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo.

Một là, thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Phát huy các nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, tín ngưỡng. Phê phán và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, mê tín, dị đoan”[4]

Hai là, to điềụ kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Khoản 1, Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 ghi rõ: Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

Ba là, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo” trong quần chúng, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, tăng cường thông tin tuyên truyền về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo; tự giác và phối hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống đối chế độ.

Năm là, hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 171.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 50 - 51.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 171.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 144.

Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

 


Việt Nam là một quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo, nhiều người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau đang tồn tại. Hiện nay (tính đến tháng 12 năm 2020), Nhà nước đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo với hơn 27 triệu tín đồ, chiếm khoảng 28% dân số cả nước, trên 55.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc, gần 30.000 cơ sở thờ tự[1].

Đại đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, chủ yếu là nông dân cư trú trên địa bàn cả nước, một bộ phận tín đồ là đồng bào dân tộc thiểu số theo các tôn giáo cư trú ở các địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.

Trong công cuộc đổi mới đất nước, cơ bản chức sắc, chức việc và tín đồ các tôn giáo tích cực thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hành đạo trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Phát huy tinh thần yêu nước, gắn bó với dân tộc, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Tình hình tôn giáo ổn định; đa số chức sắc, chức việc và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, góp phần đấu tranh, phản bác luận điệu xuyên tạc, vu cáo chính quyền vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo”[2].



[1] Bộ Nội vụ, Danh mục các tổ chức tôn giáo, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo tính đến tháng 12/2020 (Kèm theo Công văn số 6955/BNV-TGCP, ngày 28/12/2020 của Bộ Nội vụ).

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 45.

Thực chất giải quyết vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội


Vấn đề tôn giáo bao gồm mối quan hệ giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo và giữa những người theo các tôn giáo khác nhau trong nội bộ quốc gia và giữa các quốc gia với nhau trong quan hệ quốc tế, diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

Giải quyết vấn đề tôn giáo là tổng thể các hoạt động tích cực, chủ động, có kế hoạch của toàn bộ hệ thống chính trị, nhằm khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo đến mọi mặt của đời sống con người và xã hội; giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức về tinh thần; tập hợp và đoàn kết các lực lượng cách mạng tạo nên động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, giải quyết vấn đề tôn giáo vừa là mục đích vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Thực chất giải quyết vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội được thể hiện ở các nội dung sau:

Giải quyết vấn đề tôn giáo là nhằm khắc phục những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo, giải phóng quần chúng nhân dân ra khỏi sự áp bức tinh thần của tôn giáo, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện. Bởi vì, tôn giáo do con người sáng tạo ra, rồi quay lại áp bức con người về tinh thần. Con người càng hiến dâng cho thần thánh bao nhiêu thì càng đánh mất bản chất người bấy nhiêu. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản là phải xoá bỏ mọi sự áp bức con người, trong đó có sự áp bức của tôn giáo.

Với mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, để con người làm chủ tự nhiên, xã hội và làm chủ bản thân. Mặc dù, những giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo có phù hợp nhất định với xã hội mới, nhưng ý thức hệ tôn giáo với triết lý nhân sinh thụ động có ảnh hưởng tiêu cực đến thái độ, hành vi của con người. Do đó, để giải phóng con người một cách toàn diện, tất yếu phải giải phóng họ ra khỏi ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo, V.I. Lênin đã chỉ rõ: “Tôn giáo là một trong những hình thức áp bức về tinh thần, luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt đời cho người khác hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng và cô độc”[1]. Như vậy, việc giải phóng nhân dân lao động khỏi tôn giáo là yêu cầu khách quan, hợp quy luật phát triển của xã hội - xã hội chủ nghĩa.

Giải quyết vấn đề tôn giáo nhằm phát huy một số giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống tốt đẹp của tôn giáo trong công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới; đồng thời nâng cao nhận thức, đề cao cảnh giác trong nhân dân chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, giải quyết vấn đề tôn giáo cần phải tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân và luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nghiêm trị mọi hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng; kiên quyết đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng.

Giải quyết vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội nhằm tập hợp, đoàn kết các lực lượng cho cách mạng. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp khó khăn, lâu dài, đòi hỏi các Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải tập hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, thành phần trong xã hội; trong đó đồng bào theo tôn giáo là một thành phần, lực lượng quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Do đó, giải quyết vấn đề tôn giáo phải hướng vào vận động quần chúng, xây dựng khối đoàn kết dân tộc, không phân biệt tín, ngưỡng tôn giáo và tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, như V.I. Lênin chỉ rõ, chúng ta phải tán thành và thực hiện cho bằng được chủ trương giáo hội hoàn toàn tách khỏi nhà nư­ớc và dứt khoát tuyên bố tôn giáo là một việc t­ư nhân đối với nhà n­ước, nhưng đối với đảng của chúng ta không thể coi tôn giáo là việc tư nhân được.

Hai là, giải quyết vấn đề tôn giáo phải phân biệt rõ hai mặt: chính trị và tư tưởng.

Về mặt chính trị: Quan điểm mácxít cho rằng, trong lịch sử xã hội loài người, những tín ngưỡng, tôn giáo xuất hiện trong chế độ cộng sản nguyên thủy chỉ biểu hiện thuần túy về mặt tư tưởng. Khi xã hội xuất hiện giai cấp và nhà nước thì tôn giáo cũng bắt đầu có những biểu hiện về mặt chính trị. Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng thực chất là phân biệt sự khác nhau của hai loại mâu thuẫn cùng tồn tại trong bản thân tôn giáo.

Trong xã hội chủ nghĩa, mặt chính trị trong tôn giáo phản ánh mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế, chính trị giữa một bên là Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân lao động, bao gồm cả những người có đạo và những người không có đạo; và bên kia là các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để thực hiện những ý đồ chính trị phản động, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân lao động. Khi phát hiện và xác định chính xác mâu thuẫn đối kháng xuất hiện trong tôn giáo thì phải sử dụng biện pháp chuyên chính để giải quyết kịp thời và triệt để. Có như vậy mới loại bỏ được sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch, bảo vệ được thành quả cách mạng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đoàn kết tốt hơn đông đảo quần chúng có tín ngưỡng tôn giáo với toàn dân tộc, bảo đảm cho hoạt động tôn giáo diễn ra một cách bình thường, đúng pháp luật, đáp ứng nhu cầu chính đáng và hợp pháp của bộ phận nhân dân theo các tôn giáo khác nhau.

Ngày nay, các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ” biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó tôn giáo là vấn đề được chúng triệt để chú ý lợi dụng để thực hiện chiến lược này, hòng âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam. Các thế lực thù địch đã gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề nhân quyền và dân quyền nhằm che đậy ý đồ sâu xa của chúng, thường xuyên rình rập tìm mọi khe hở để thực hiện ý đồ chống phá. Điều đó nhắc nhở các Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa cần nêu cao tinh thần cảnh giác, giải quyết kịp thời, cương quyết đối với những phần tử lợi dụng, giả danh, đội lốt tôn giáo.

Về mặt tư tưởng: Trong tôn giáo, mặt tư tưởng phản ánh những khác biệt, những mâu thuẫn về nhận thức, về quan niệm giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo và những người không có tín ngưỡng tôn giáo hay giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau. Đây là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, không có tính chất đối kháng.

Sự khác biệt về mặt nhận thức, tư tưởng giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo và những người không có tín ngưỡng tôn giáo còn tồn tại lâu dài và sẽ là ảo tưởng khi đặt yêu cầu ngay một lúc phải có sự thống nhất tuyệt đối về nhận thức, tư tưởng đối với mọi thành viên trong xã hội. Việc hướng ước mơ của quần chúng tín đồ tôn giáo về “hạnh phúc” hư ảo ở “thế giới bên kia” sang hạnh phúc thực sự ở thế giới hiện tại là một quá trình lâu dài. Quá trình ấy có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của khoa học, trình độ dân trí, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và giải quyết hài hòa các mối quan hệ xã hội.

Sự phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng trong tôn giáo, trên thực tế không hề đơn giản, nhưng lại là rất cần thiết, vì có phân biệt được hai mặt đó thì mới tránh khỏi khuynh hướng “tả” hoặc “hữu” trong quá trình quản lý; mới ứng xử và giải quyết phù hợp những vấn đề nảy sinh từ tín ngưỡng, tôn giáo.

Ba là, tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân, Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của nhân dân.

Trong chủ nghĩa xã hội tôn giáo vẫn còn tồn tại lâu dài, đến với tín ngưỡng, tôn giáo là những đòi hỏi, mong muốn, khát vọng của một bộ phận quần chúng nhân dân. Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải thực thi chính sách nhất quán việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của nhân dân. Mỗi công dân có quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo tôn giáo nào và đều bình đẳng trước pháp luật. Việc vào đạo, chuyển đạo hay bỏ đạo trong quy định của pháp luật hiện hành là quyền tự do của mỗi người. Nhà nước xã hội chủ nghĩa thừa nhận và đảm bảo cho mọi công dân có hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo đều bình đẳng về mặt nghĩa vụ và quyền lợi, không có sự phân biệt và đối xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo. Các tôn giáo được nhà nước thừa nhận đều bình đẳng trước pháp luật. Các giáo hội có trách nhiệm động viên tín đồ của mình thực hiện bổn phận của giáo dân và nghĩa vụ công dân, phấn đấu sống “tốt đời, đẹp đạo” phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc. Khoản 1, Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tin ngưỡng, tôn giáo và không tin ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”[2].

Bốn là, chống khuynh hướng tả khuynh và hữu khuynh khi xem xét giải quyết các vấn đề tôn giáo.

Trong chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tín ngưỡng, tôn giáo còn tồn tại trong xã hội là tất yếu khách quan. Bởi nguyên nhân nảy sinh ra tôn giáo về nhận thức, về chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa và tâm lý vẫn còn tồn tại. Khắc phục và loại bỏ được các nguyên nhân nảy sinh tôn giáo là một quá trình khó khăn, phức tạp, lâu dài, gắn với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, nâng cao nhân thức nhân dân. Đòi hỏi các Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải khi xem xét giải quyết các vấn đề tôn giáo phải tôn trong quy luật khách quan, tránh khuynh hướng tả khuynh, chủ quan, nóng vội, không tôn trọng thực tiễn, muốn xóa bỏ ngay ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống xã hội bằng việc tuyên chiến, đàn áp tôn giáo mà không chú ý đến cải tạo và giải quyết cơ sở tồn tại, nảy sinh của nó. Đồng thời trong quá trình giải quyết vấn đề tôn giáo, các Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng phải chống khuynh hướng hữa khuynh, bảo thủ, trì trệ, giáo điều, dập khuôn, tách việc giải quyết vấn đề tôn giáo khỏi cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân.

Năm là, cần có quan điểm lịch sử, cụ thể, khách quan, toàn diện khi giải quyết vấn đề tôn giáo.

Ở các thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò tác động của từng tôn giáo đối với đời sống xã hội không ngang bằng nhau. Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn có sự khác biệt. Vì vậy, cần có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và xử lý đối với những vấn đề liên quan đến tôn giáo.

Trong lịch sử, có những tôn giáo khi mới xuất hiện như một phong trào bảo vệ lợi ích của người nghèo, bị áp bức và nô lệ. Nhưng rồi, tôn giáo ấy lại biến thành công cụ của giai cấp thống trị, bóc lột. Có những giáo sĩ suốt đời hành đạo theo xu hướng đồng hành với dân tộc, nhưng có những giáo sĩ lại  hợp tác với các thế lực phản động đi ngược lại lợi ích quốc gia dân tộc. Điều đó đòi hỏi khi xem xét, giải quyết vấn đề tôn giáo Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải luôn có thái độ và cách xử lý phù hợp với điều kiện lịch sử và từng trường hợp cụ thể để đánh giá một cách khách quan, toàn diện cả những mặt tích cực và mặt tiêu, trách giáo điều, dập khuôn cứng nhắc.

Những nguyên tắc trên là một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, do vậy khi giải quyết các vấn đề nảy sinh của tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc trên, không được xem nhẹ một nguyên tắc nào. Đồng thời, quá trình giải quyết vấn đề tôn giáo phải đạt được các yêu cầu chủ yếu sau: thường xuyên chú trọng tuyên truyền giáo dục thế giới quan, phương pháp luận mác xít, chủ nghĩa vô thần khoa học, nâng cao dân trí và trình độ văn hoá cho nhân dân; phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật và chất tinh thần của nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo; thực hiện kiên trì, thận trọng, tỷ mỉ, mềm dẻo và đúng nguyên tắc trong giải quyết vấn đề tôn giáo; xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo, nhằm tập hợp lực lượng cách mạng thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa; phát huy tinh thần yêu nước, sống "tốt đời, đẹp đạo" của các chức sắc tôn giáo, hướng họ chấp hành tốt chính sách và pháp luật nhà nước; kiên quyết trừng trị những phần tử lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để chống phá cách mạng, chống lại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 169.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2016, tr. 81. 

Đội ngũ chức sắc tôn giáo và giáo dân dưới chủ nghĩa xã hội

 


Trong hàng ngũ giáo sĩ hình thành các phái cấp tiến và bảo thủ, nhiều giáo sĩ có tư tưởng tiến bộ, chỉ chăm lo phần đạo, tích cự ủng hộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, chống sự lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng. Tuy vậy, vẫn còn số ít chức sắc, tín đồ bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá sự nghiệp cách mạng và nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa đã đưa nhân dân lao động trong đó có quần chúng giáo dân trở thành người làm chủ xã hội mới, không còn bị áp bức. Mặt khác, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, các Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn quan tâm chăm lo về mọi mặt đối với nhân dân, trong đó có đồng bào giáo dân. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân nói chung, của đồng bào giáo dân nói riêng ngày được nâng cao, do đó sự tác động, ảnh hưởng của tôn giáo ngày càng giảm dần. Ảnh hưởng của tôn giáo bị thu hẹp, nhất là trong thanh niên, việc theo đạo vì sự lan truyền, xác tín; đến nơi thờ tự của các tôn giáo không phải để sinh hoạt tôn giáo mà là sinh hoạt văn hoá, giao tiếp; hiện tượng khô đạo, nhạt đạo, không hiểu giáo lý, nghi lễ phổ biến trong thanh niên hiện nay.

Giáo dân được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, trong tham gia sinh hoạt và các hoạt động tôn giáo được pháp luật nhà nước bảo hộ. Do vậy, giáo dân luôn ủng hộ và thực hiện nghiêm quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản và pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cũng có một bộ phận giáo dân bị kẻ thù lợi dụng, mua chuộc, kích động dẫn đến nhận thức và hành động sai sái chống phá cách mạng.

Những chuyển biến trên chỉ là biểu hiện hình thức bề ngoài, không làm thay đổi bản chất của tôn giáo. Tôn giáo vẫn luôn bị các thế lực phản động triệt để lợi dụng vào mục đích chính trị của chúng. Vị vậy, khi giải quyết vấn đề tôn giáo phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân.

Tổ chức, giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo dưới chủ nghĩa xã hội

 


Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, những người lao động thoát khỏi ách bóc lột, chở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nhà nước xã hội chủ nghĩa không còn sử dụng tôn giáo như là công cụ thần quyền để thống trị, áp bức, bóc lột nhân dân lao động. Nhà thờ tách khỏi nhà nước, tách khỏi trường học, giáo hội không còn chi phối hệ thống giáo dục như trong xã hội cũ. Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa đề ra chính sách tôn giáo trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, hướng các tổ chức tôn giáo chuyên chăm lo việc đạo, động viên quần chúng giáo dân, tín đồ nêu cao tinh thần yêu nước, gắn bó với dân tộc, thực hiện sống tốt đời đẹp đạo. Do vậy, các tổ chức tôn giáo chỉ quan tâm tới việc đạo, tổ chức và tiến hành các hoạt động tôn giáo theo giáo lý, giáo luật, giáo lễ của từng tôn giáo song đều chấp hành và tuân thủ nghiêm ngặt luật pháp của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, bên cạnh đó trước âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động, chia rẽ giữa tôn giáo với nhà nước nên đã có những tổ chức tôn giáo vi phạm pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống phá cách mạng.

Giáo lý, giáo luật và nghi lễ tôn giáo có sự thay đổi mềm dẻo hơn, bớt khắt khe hơn phù hợp với luật pháp xã hội chủ nghĩa. Các quy định ra nhập đạo, tín đồ, những điều răn dạy, lời khuyên, kiêng kỵ, nghi lễ của các tôn giáo đều có sự thay đổi mềm dẻo hơn cho phù hợp với xã hội hiện đại. Bởi lẽ, trong chủ nghĩa xã hội, mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động ngày càng được bảo đảm, đáp ứng và nâng cao, nên ảnh hưởng của tôn giáo đối với họ cũng ngày một giảm dần; đặc biệt nhu cầu về sự an ủi, ban phát, che trở của lực lượng siêu nhiên. Họ đến với tôn giáo nhằm mục đích chính là sinh hoạt văn hóa, nêu cao ý thức cộng đồng. Chính vì thế, để quần chúng đến với tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội giáo lý, giáo luật và nghi lễ tôn giáo phải có sự điều chỉnh mềm dẻo hơn và bớt khắt khe hơn, song phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam

 


Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc, từ thực tiễn lịch sử đấu tranh cách mạng và tình hình thế giới trong thời đại hiện nay. Đảng và Nhà nước luôn coi vấn đề dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt. Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn xác định giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là nhiệm vụ có tính chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng ta đã chỉ rõ: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”[1]. Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta đã xác định: “Xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[2].

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khoá IX và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ những quan điểm cơ bản sau:

Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh-quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế-xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.

Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội - 1991, tr. 16.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 172.

Tình hình dân tộc ở nước ta hiện nay


Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục khẳng định các nguyên tắc trong quan hệ dân tộc ở Việt Nam, đó là “bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”1. Chúng ta cần thực hiện nguyên tắc tôn trọng giữa các dân tộc ở Việt Nam vì 54 dân tộc ở Việt Nam chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng nên cần phải tôn trọng lợi ích của nhau trong quá trình phát triển, tôn trọng bản sắc văn hóa riêng. Trước đây, văn kiện Đại hội Đảng nói là các dân tộc đoàn kết, bình đẳng, nhưng hiện nay đặt bình đẳng trước đoàn kết. Điều đó là do bình đẳng chính là cơ sở để thực hiện đoàn kết dân tộc. Bình đẳng dân tộc là thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc ở Việt Nam, chỉ có thực hiện được điều này mới có đoàn kết thực sự giữa các dân tộc ở Việt Nam.

Quyền bình đẳng giữa các dân tộc cơ bản đã được Hiến pháp xác định và được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố. Nền kinh tế nhiều thành phần ở miền núi và các vùng dân tộc từng bước hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa. Việc triển khai thực hiện nhiều chính sách, chương trình, dự án đầu tư đã làm cho kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và đời sống nhân dân ở nhiều vùng đồng bào dân tộc được cải thiện rõ rệt. Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được những kết quả to lớn. Mặt bằng dân trí được nâng lên. Mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ đã được thực hiện; hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được hình thành từ Trung ương đến tỉnh, huyện, cụm xã. Văn hóa phát triển phong phú hơn; đời sống văn hóa của đồng bào được nâng cao một bước; văn hóa truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy. Các loại bệnh dịch cơ bản được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi; việc khám, chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa được quan tâm hơn.




1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 170. 

Nâng cao trình độ văn hoá dân chủ của nhân dân

 


Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là một giá trị xã hội, phản ánh trình độ phát triển của nền văn minh nhân loại, phản ánh trình độ phát triển của con người với tư cách là chủ thể của xã hội. Để có một xã hội dân chủ, để nhân dân lao động có thể làm chủ được xã hội, tham gia vào công việc quản lý xã hội, quản lý nhà nước, mỗi người công dân phải có một trình độ văn hoá tương ứng, đặc biệt là trình độ văn hoá dân chủ. Trình độ văn hoá dân chủ thấp, hay thiếu văn hoá dân chủ về thực chất vẫn là một chế độ dân chủ hình thức. Văn hoá dân chủ được hợp thành bởi ba yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, bao gồm: Ý thức dân chủ, có nghĩa là nhân dân lao động cần hiểu rõ thế nào là dân chủ, muốn có dân chủ thực sự cần có những điều kiện gì, cần phê phán các quan điểm sai trái gì về dân chủ. Năng lực thực hành dân chủ, đặc biệt là năng lực sử dụng pháp luật và biến việc thực hiện pháp luật trở thành các thói quen, nếp sống hàng ngày, năng lực giáo dục pháp luật. Nhân cách dân chủ, có nghĩa là nhân cách công dân của chế độ xã hội chủ nghĩa với đầy đủ những tiêu chí, chuẩn mực, đặc trưng của con người mới xã hội chủ nghĩa. Trình độ văn hoá dân chủ có một quá trình lịch sử phát triển từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn. Do đó, nâng cao trình độ văn hoá dân chủ cho nhân dân lao động cũng phải tuân thủ theo quy trình lịch sử đó. Nâng cao trình độ văn hoá dân chủ cho nhân dân lao động, không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan thực hành dân chủ mà còn là sự nỗ lực vươn lên của mỗi công dân, không chỉ là vấn đề giáo dục ý thức tư tưởng mà còn là phát triển điều kiện kinh tế cần thiết và xây dựng, hoàn thiện cơ chế.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nội dung chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 


 Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có nội dung toàn diện, bao quát các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, từ các mối quan hệ giữa con người với con người đến quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữa công dân với nhà nước, với tổ chức và thể chế hiện hành.

Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, là điều kiện quyết định nhất để thực hiện dân chủ trong các lĩnh vực khác. Hạt nhân của dân chủ trong lĩnh vực kinh tế là bảo đảm lợi ích của người lao động, kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân người lao động với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Nội dung căn bản của dân chủ trong lĩnh vực kinh tế thời kỳ quá độ là phát triển kinh tế hàng hoá với cơ cấu nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhằm đảm bảo sự phát triển năng động và sáng tạo của con người vì chính cuộc sống của mỗi người và toàn bộ cộng đồng. Sự phát triển dân chủ trong lĩnh vực kinh tế cần hướng vào việc thể chế hoá quyền sở hữu của các thành phần kinh tế, làm cho nhân dân lao động yên tâm đầu tư và hăng hái sản xuất, kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, thực hiện quyền làm chủ trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh, phân phối và làm nghĩa vụ đối với nhà nước.

Dân chủ trong lĩnh vực chính trị, được thể hiện ở việc đảm bảo quyền công dân trong lĩnh vực chính trị như bầu cử, ứng cử, lựa chọn và bãi miễn các đại biểu trong cơ quan dân cử và cán bộ do cơ quan dân cử bầu; quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước; quyền được tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến vào đường lối, chủ trương, chính sách, những quyết định quan trọng của đất nước (bao gồm cả việc trưng cầu ý kiến nhân dân và việc nhân dân trực tiếp bỏ phiếu quyết định các vấn đề sống còn của đất nước); quyền tham gia xây dựng luật pháp và đòi hỏi nhà nước quản lý điều hành đúng pháp luật; quyền bảo vệ chế độ chính trị, xã hội, bảo vệ hệ thống quyền lực của nhân dân, chống lại mọi hành động phá hoại của các thế lực thù địch.

Dân chủ trong lĩnh vực xã hội, được thể hiện trước hết ở việc đảm bảo cho mọi người có việc làm phù hợp với khả năng của mình; quyền được hưởng thụ quỹ phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng; quyền được học tập nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và nghề nghiệp; quyền được chăm lo bảo vệ sức khỏe, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí; quyền bình đảng về nghĩa vụ và quyền lợi, về cống hiến và hưởng thụ của các thành viên trong xã hội.

Dân chủ trong lĩnh vực văn hoá tinh thần, được thể hiện ở quyền được tham gia sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá tinh thần của các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính; quyền được thông tin; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do phê bình chất vấn của nhân dân; quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo của các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ vì lợi ích của nhân dân lao động và vì tiến bộ xã hội. Dân chủ trong lĩnh vực văn hóa còn thể hiện ở việc giải phóng con người khỏi những thiên kiến lạc hậu, loại bỏ mọi sự áp bức về tinh thần và đưa văn hóa đến cho mọi người.

Trong khi thực hiện dân chủ trong các lĩnh vực trên, Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân,  nghiêm trị những hành vi xâm phạm quyền tự do của nhân dân, vừa phải khắc phục những khuynh hướng dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan, dân chủ tư sản, những biểu hiện lệch lạc, đối lập hoặc tách rời dân chủ với tập trung dân chủ, với kỷ cương và pháp luật, tách rời quyền lợi và nghĩa vụ, tách rời giữa yêu cầu dân chủ với điều kiện thực tế, khả năng hiện thực của nền kinh tế.

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

 


Những chính sách dân tộc cơ bản của Đảng và Nhà nước ta hiện nay được biểu hiện cụ thể như sau:

Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Từng bước nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số ở vùng núi cao. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc và chia rẽ dân tộc, nghiêm cấm lợi dụng vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái với pháp luật và trái với chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.

Đảm bảo các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo sự chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; chăm lo giáo dục, đào tạo, y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tạo sinh kế, việc làm, định canh, định cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu vùng xa, vùng biên giới. Triển khai các chương trình dự án phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn.

Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều bền vững. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thường xuyên quan tâm, chăm lo đến sự phát triển văn hoá, giáo dục của mỗi dân tộc. Tạo điều kiện đến mức tốt nhất để thực hiện xoá mù chữ, phổ cập giáo dục đối với các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số; đồng thời khai thác và phát huy cao nhất bản sắc văn hoá, truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc vào xây dựng và phát triển đất nước.

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho nhân dân các dân tộc, nhất là giáo dục cho họ về lòng tự hào dân tộc. Đồng thời giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, yêu Tổ quốc Việt Nam, tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế cho đồng bào các dân tộc. Kiên quyết đấu tranh và kịp thời đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng.

Quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 


Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khoá IX và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ những quan điểm cơ bản sau:

Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”[1].

Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.

Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật , Hà Nội - 2021, tr. 170.

Đặc điểm, tình hình dân tộc ở Việt Nam hiện nay

 


Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 tộc người, trong đó người Kinh (người Việt) chiếm khoảng 85,4% số dân, các tộc người còn lại chỉ chiếm khoảng 14,6%, các dân tộc ở nước ta phân bố rải rác trên địa bàn cả nước[1]. Trong đó, đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta cư trú trên địa bàn rộng lớn chiếm 3/4 diện tích đất nước, chủ yếu là miền núi, vùng cao và trên toàn tuyến biên giới, đây là những nơi giữ vị trí chiến lược về an ninh - quốc phòng.

Các dân tộc trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết, bất kỳ dân tộc nào miễn là người dân Việt Nam thì luôn đoàn kết keo sơn gắn bó một lòng một dạ. Thời chiến, các dân tộc đồng lòng chống giặc, bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay thời bình, các dân tộc cùng nhau xây dựng và bảo vệ nền hòa bình dân tộc. Tính cố kết dân tộc, hòa hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã trở thành truyền thống của dân tộc ta.

Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ nhau, hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở Việt Nam ngày càng gia tăng. Các dân tộc không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng. Và sự thống nhất giữa các dân tộc và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng được củng cố.

Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau. Do điều kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của các chế độ áp bức bóc lột trong lịch sử nên sự chênh lệch trình độ phát triển kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc, giữa các vùng dân cư thể hiện rõ rệt.

Dân tộc Việt Nam có nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, cùng với nền văn hóa cộng đồng, mỗi dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt lại có đời sồng văn hóa mang bản sắc riêng, góp phần làm phong phú thêm nên văn hóa của cộng đồng. Rất nhiều bản sắc văn hóa tạo thành nét đặc trưng riêng của mỗi dân tộc làm phong phú cho nền văn hóa dân tộc nước nhà.

Nền kinh tế nhiều thành phần ở miền núi và các vùng dân tộc từng bước hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa. Việc triển khai thực hiện nhiều chính sách, chương trình, dự án đầu tư đã làm cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân ở nhiều vùng đồng bào dân tộc được cải thiện rõ rệt. Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được những kết quả to lớn. Mặt bằng dân trí được nâng lên, mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ đã được thực hiện; đời sống văn hóa của đồng bào được nâng cao một bước; văn hóa truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy. Các loại bệnh dịch cơ bản được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi; việc khám, chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa được quan tâm hơn.

Hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc và miền núi bước đầu được tăng cường và củng cố. Tình hình chính trị, trật tự xã hội cơ bản ổn định; an ninh, quốc phòng được giữ vững.

Tuy nhiên, kinh tế ở miền núi và các vùng dân tộc còn chậm phát triển, nhiều nơi còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập quán canh tác còn lạc hậu. Chất lượng sản phẩm thấp, tiêu thụ rất khó khăn. Tình trạng du canh, du cư, di cư tự do còn diễn biến phức tạp, một số hộ còn thiếu đất sản xuất. Kết cấu hạ tầng ở một số vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng còn rất thấp kém. Kinh tế lâm nghiệp chuyển biến chậm, chính sách đối với lâm nghiệp chưa thật sự bảo đảm cho đồng bào sống và gắn bó với nghề rừng. Nhiều nơi môi trường sinh thái đang tiếp tục bị suy thoái.

Ở nhiều vùng dân tộc và miền núi tỉ lệ đói nghèo hiện còn cao so với bình quân chung của cả nước; khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng; chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp, việc đào tạo nghề chưa được quan tâm, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng phát triển. Một số bản sắc tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc thiểu số đang bị mai một; mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào còn thấp.

Hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều vùng dân tộc và miền núi còn yếu: Trình độ của đội ngũ cán bộ còn thấp, công tác phát triển đảng chậm; cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi hoạt động chưa hiệu quả, không sát dân, không tập hợp được đồng bào.

Ở một số nơi tôn giáo phát triển không bình thường, trái pháp luật và truyền thống, phong tục, tập quán của nhân dân; một số nơi đồng bào bị các thế lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng, kích động, lôi kéo vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.



[1] Tổng cục Thống kê, Báo cáo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019.

Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng của các thế lực thù địch

 


Những quan điểm, hành vi sai trái về vấn đề dân tộc rất đa dạng như: Tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc lớn, dân tộc cực đoan, kỳ thị dân tộc, chia rẽ dân tộc, tự ti dân tộc, phân biệt chủng tộc. Tuy mang những sắc thái khác nhau và có nội dung cụ thể khác nhau, nhưng nhìn chung các quan điểm này đều là lực cản to lớn của việc giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động, gây mất ổn định chính trị - xã hội; đồng thời, bằng nhiều thủ đoạn tinh vi khác lôi kéo, ép buộc các dân tộc chậm phát triển chịu sự chi phối hoặc lệ thuộc vào chúng. Sử dụng âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hoàn bình” như một con bài lợi hại nhằm phá hoại những thành quả của cách mạng xã hội chủ nghĩa và ngăn cản quá trình cách mạng thế giới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Thực tế cho thấy các quan điểm dân tộc sai trái đó có mức độ ảnh hưởng nhất định đến một bộ phận nhân dân lạc hậu, kém trình độ văn hoá mà nhiều khi cả trong một số cán bộ, đảng viên quan điểm, lập trường thiếu vững vàng. Vì vậy, đấu tranh chống những quan điểm, hành vi sai trái về dân tộc là một nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên trong suốt quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Giải quyết đúng đắn quan hệ dân tộc và giai cấp

 


Để giải quyết tốt vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa thì nhất thiết phải giải quyết đúng đắn, khoa học mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp. Theo Lênin, vấn đề dân tộc luôn luôn phụ thuộc vào vấn đề giai cấp, vì vậy không được tuyệt đối hoá vấn đề dân tộc hoặc đặt dân tộc lên trên giai cấp. Sự phụ thuộc của dân tộc với giai cấp được biểu hiện ở chỗ: Dân tộc chỉ ra đời trên cơ sở trình độ nhất định của kết cấu kinh tế - xã hội và giai cấp - xã hội; phong trào cách mạng của các giai cấp, nhất là của giai cấp công nhân luôn tác động đến phong trào dân tộc, mà tiêu biểu là phong trào giải phóng dân tộc; các vấn đề giai cấp, mâu thuẫn giai cấp và giải quyết mâu thuẫn đó đều ảnh hưởng quyết định đến vấn đề dân tộc và các quan hệ dân tộc; quan điểm, chính sách của giai cấp lãnh đạo trong một chế độ xã hội cụ thể quyết định xu thế phát triển của dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc.

Tuy nhiên, tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của dân tộc đối với giai cấp cũng có giá trị thực tiễn to lớn, đó là: Sự tồn tại và tác động của các yếu tố tâm lý, tình cảm, ý thức dân tộc nói riêng và truyền thống văn hoá nói chung, nhất là các yếu tố thuộc phong tục, tập quán; trong một số khu vực địa lý - dân cư còn có một số dân tộc - tộc người còn ở tình trạng phân hoá xã hội - giai cấp ở mức thấp, nhưng nơi đó yếu tố dân tộc giữ vai trò nổi trội; các yếu tố của quá trình phát triển tộc người thường xuyên tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội và các quan hệ giai cấp trong các quốc gia, dân tộc cụ thể.

Xu hướng phát triển của dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

 


Dân tộc (tộc người): Là một cộng đồng người ổn định được hình thành trong lịch sử, có chung một nguồn gốc, đặc điểm sinh hoạt kinh tế, có chung một ngôn ngữ, một nền văn hóa và ý thức tự giác tộc người. Dân tộc - tộc người thường được nhận biết qua những đặc trưng chủ yếu như: Các thành viên trong cùng một dân tộc có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế; có một ngôn ngữ chung (thường là tiếng mẹ đẻ); có chung đặc điểm sinh hoạt văn hóa; có chung một ý thức tự giác dân tộc được biểu hiện cao nhất ở việc tự nhận tên gọi của dân tộc mình. Trên thực tế, có tộc người có đủ các đặc trưng trên, nhưng có tộc người không còn đủ các đặc trưng, trong trường hợp đó, ý thức tự giác tộc người là tiêu chí nhận biết còn lại cuối cùng của dân tộc.

Dân tộc (quốc gia dân tộc): Là một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, chế độ chính trị và nền kinh tế thống nhất, chung một ngôn ngữ và một nền văn hóa. Theo nghĩa này, dân tộc có các đặc trưng sau: Có một lãnh thổ chung, được phân định bằng đường biên giới giữa các quốc gia, mà trên lãnh thổ đó có một hay nhiều tộc người cùng sinh sống; có đời sống kinh tế chung, với một thị trường, một đồng tiền chung thống nhất làm nền tảng, điều kiện vật chất cơ bản bảo đảm sự cố kết bền chặt của quốc gia dân tộc; có một ngôn ngữ giao tiếp chung, trong quốc gia dân tộc - quốc ngữ, thường là ngôn ngữ của dân tộc đa số được chọn làm ngôn ngữ chung trong giao tiếp; có tâm lý chung biểu hiện ở nền văn hóa, tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc, là yếu tố cơ bản đối với các quốc gia dân tộc; có một thể chế chính trị với một nhà nước thống nhất để quản lý, điều hành mọi hoạt động của quốc gia dân tộc và quan hệ với các quốc gia dân tộc khác, đây là đặc trưng quan trọng quy định bản chất chính trị và sự phát triển của quốc gia dân tộc.

Nghiên cứu vấn đề dân tộc, phong trào dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin đã chỉ ra hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc:

Xu hướng thứ nhất, các dân tộc tách ra để trở thành các dân tộc độc lập, các cộng đồng dân cư tách ra để xác lập cộng đồng dân tộc độc lập. Trong thực tế, xu hướng này biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc, thành các quốc gia độc lập mà ở đó, mỗi dân tộc có quyền quyết định vận mệnh chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình. Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản như: Phong trào đấu tranh chống áp bức, bóc lột để thành lập các quốc gia dân tộc độc lập.

Xu hướng thứ hai, liên hiệp lại với nhau giữa các dân tộc, đó là xu hướng các tộc người trong cùng một quốc gia hoặc nhiều dân tộc ở các quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. Xu hướng này do nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ, giao lưu kinh tế, văn hoá và xu thế toàn cầu hoá. Xu hướng này tác động mạnh mẽ khi chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.

Trong thời đại hiện nay, hai xu hướng của sự phát triển dân tộc được biểu hiện rất phong phú và đa dạng trên phạm vi toàn thế giới:  

Xét trong phạm vi các quốc gia xã hội chủ nghĩa có nhiều dân tộc (tộc người), hai xu hướng này phát huy tác dụng cùng chiều, bổ sung hỗ trợ cho nhau và diễn ra trong từng tộc người và trong cả cộng đồng dân tộc. Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các dân tộc. Tuy nhiên, sự hoà quyện đó không xoá bỏ sắc thái và những đặc thù của dân tộc. Ngược lại, nó bảo lưu, giữ gìn và phát huy những tinh hoa, bản sắc dân tộc. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa cả hai xu hướng trên đều loại trừ các tư tưởng và hành vi kỳ thị dân tộc, chia rẽ dân tộc, tự ti dân tộc, dân tộc hẹp hòi…

Xét trên phạm vi thế giới, hai xu hướng này biểu hiện nổi bật ở phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, nô dịch đòi giành lấy quyền tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình. Thời đại ngày nay, còn có xu hướng các dân tộc muốn xích lại gần nhau để hợp thành một quốc gia thống nhất. Các dân tộc có lợi ích chung mang tính khu vực dựa trên những yếu tố gần nhau về địa lý, giống nhau về môi trường thiên nhiên, tương đồng về mặt văn hoá…đều có nhu cầu nguyện vọng liên kết với nhau để phát triển.

Dân tộc xã hội chủ nghĩa là loại hình dân tộc phát triển cao nhất trong lịch sử, ra đời và phát triển gắn liền với thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Dân tộc xã hội chủ nghĩa mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của dân tộc nói chung. Tuy nhiên, dân tộc xã hội chủ nghĩa còn có những đặc điểm riêng: Có nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là chủ yếu; giai cấp công nhân là người đại diện, nhân dân lao động làm chủ. Cơ cấu xã hội - giai cấp dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo; quan hệ bình đẳng, không có bóc lột, lợi ích dân tộc gắn liền lợi ích giai cấp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất đa dạng, kết hợp truyền thống với hiện đại.

Thực chất của vấn đề dân tộc là sự mâu thuẫn, xung đột lợi ích trong nội bộ tộc người, giữa các tộc người trong quốc gia đa tộc, giữa các quốc gia dân tộc, nhất là về các quyền cơ bản của các dân tộc: Quyền được tồn tại với tính cách là một tộc người, dân tộc; quyền độc lập của tộc người, dân tộc; quyền dân tộc tự quyết, quyền dân tộc bình đẳng; quyền độc lập về kinh tế và những điều kiện để phát triển kinh tế lâu dài, bền vững; quyền giữ gìn và phát triển ngôn ngữ, bản sắc văn hoá....Giải quyết vấn đề dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo nên động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng nhân dân lao động khỏi sự áp bức, bóc lột và nô dịch, góp phần thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản.