Thứ Năm, 31 tháng 7, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM, BÍ THƯ QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ THƯỜNG VỤ QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG!

     Chiều 31-7, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương chủ trì Hội nghị Thường vụ Quân ủy Trung ương xem xét, cho ý kiến công tác chuẩn bị tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030.

Tham dự hội nghị có các đồng chí: Chủ tịch nước Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương.

Dự hội nghị có các đồng chí: Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (điều hành hội nghị); Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

Tham dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương: Đại tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Cùng dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: Thượng tướng Lê Huy Vịnh; Thượng tướng Vũ Hải Sản; Thượng tướng Phạm Hoài Nam; Thượng tướng Nguyễn Hồng Thái; Thượng tướng Nguyễn Trường Thắng; các đồng chí lãnh đạo Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam; lãnh đạo các tổng cục, cơ quan chức năng thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng.

Báo cáo khẳng định, chấp hành Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 14-4-2025 của Bộ Chính trị và các quy định, kết luận, hướng dẫn của Trung ương về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, đạt được những kết quả quan trọng. Trong đó, đã chỉ đạo 100% chi bộ, đảng bộ bộ phận, đảng bộ cơ sở, đảng bộ cấp trên trực tiếp cơ sở và nhiều đảng bộ trực thuộc Quân ủy Trung ương hoàn thành tổ chức đại hội bảo đảm đúng nguyên tắc, thủ tục, đạt kết quả tốt; tuyệt đại đa số nhân sự dự kiến cơ cấu cấp ủy, đại biểu dự đại hội đảng bộ cấp trên trúng cử với số phiếu tín nhiệm cao.

Cùng với đó, quán triệt kết luận của Quân ủy Trung ương và chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 14, Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương đã chủ động làm tốt công tác chuẩn bị về mọi mặt, nhất là về văn kiện và công tác nhân sự đại hội.

Có thể khẳng định, dự thảo văn kiện đại hội đã được chuẩn bị công phu, khoa học; quán triệt, cụ thể hóa dự thảo văn kiện của Trung ương trình Đại hội XIV của Đảng, tiếp thu tối đa ý kiến của các cơ quan, ban đảng Trung ương và các đồng chí nguyên Ủy viên Quân ủy Trung ương là lãnh đạo Bộ Quốc phòng, thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cùng các cơ quan chức năng của Quân ủy Trung ương và các đảng ủy trực thuộc Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội. Đến nay, các văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII đạt được sự thống nhất cao cả về bố cục, nội dung và cách diễn đạt.

Qua nghe báo cáo, Chủ tịch nước Lương Cường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và đại biểu dự hội nghị đã tham gia đóng góp, bổ sung một số ý kiến quan trọng. Trong đó, các ý kiến đều đánh giá cao công tác chuẩn bị, nhất là dự thảo văn kiện chính trị trình đại hội bảo đảm chất lượng, có tính khái quát, cô đọng, dung lượng hợp lý, kết cấu khoa học. Đồng thời, gợi mở, định hướng một số nội dung cần bổ sung, làm rõ, diễn đạt sâu sắc thêm, nhất là đối với phần phương hướng, mục tiêu, giải pháp lãnh đạo, các khâu đột phá và chương trình hành động của đại hội để cơ quan chức năng tiếp thu, hoàn thiện vào các dự thảo văn kiện.

Phát biểu kết luận hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương ghi nhận, biểu dương, đánh giá cao sự tích cực, chủ động của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và các cơ quan chức năng, đơn vị liên quan đã phối hợp làm tốt mọi mặt công tác chuẩn bị của đại hội; chỉ đạo, hướng dẫn các cấp tổ chức đại hội bảo đảm đúng tiến độ, quy định, đạt kết quả tốt.

Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá, dự thảo báo cáo chính trị trình đại hội được chuẩn bị nghiêm túc, khoa học, tiếp thu, lĩnh hội ý kiến đóng góp, trí tuệ của các cơ quan, đơn vị chức năng. Nội dung báo cáo có tính khái quát cao, bảo đảm toàn diện, làm nổi bật những thành tích, kết quả Đảng bộ Quân đội đã lãnh đạo đạt được trong nhiệm kỳ 2020-2025, chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm, nêu rõ nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và đề ra phương hướng, giải pháp lãnh đạo trong nhiệm kỳ 2025-2030.

Tổng Bí thư Tô Lâm thống nhất với phần đánh giá tình hình, hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân trong dự thảo báo cáo; đồng thời, yêu cầu cơ quan chức năng làm rõ thêm một số nội dung về giải pháp khắc phục khuyết điểm trong thời gian tới. Đối với các bài học kinh nghiệm và mục tiêu, phương hướng, khâu đột phá trình bày trong dự thảo báo cáo, Tổng Bí thư Tô Lâm cơ bản nhất trí với các nội dung, lưu ý cần làm rõ thêm công tác nắm, dự báo, phân tích, đánh giá tình hình để chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước xử trí hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ và lãnh đạo thực hiện tốt chức năng tham mưu về quân sự, quốc phòng; tham mưu hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Tổng Bí thư Tô Lâm lưu ý, nên bổ sung, thể hiện rõ nét hơn các nội dung về điều chỉnh quy hoạch xây dựng thế trận quốc phòng; công tác phối hợp giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị cũng như lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ SSCĐ, nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục, đào tạo, ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống; công tác đột phá nâng cao chất lượng xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật; đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng để làm cơ sở xây dựng nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại.

Tổng Bí thư Tô Lâm cũng định hướng, đối với phần phương hướng, mục tiêu, giải pháp lãnh đạo cần thể hiện rõ hơn nữa những nội dung mà Đảng bộ Quân đội xác định tập trung lãnh đạo triển khai thực hiện trong nhiệm kỳ tới, nhất là việc đột phá vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, xây dựng mỗi cán bộ, chiến sĩ là “chiến sĩ số”; tập trung nâng cao hiệu quả công tác tài chính, sắp xếp lại các doanh nghiệp Quân đội bảo đảm hoạt động hiệu quả, đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước cũng như công tác đẩy mạnh hoạt động hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng, công tác hoàn thiện thể chế quân sự, quốc phòng; việc thực hiện hiệu quả chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài vào Quân đội...

Cùng với các nội dung trên, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương thống nhất với các nội dung trong dự thảo báo cáo kiểm điểm cùng nội dung dự thảo nghị quyết, dự thảo chương trình hành động, tờ trình báo cáo Bộ Chính trị và thời gian dự kiến tổ chức đại hội cũng như công tác nhân sự đại hội.

Tổng Bí thư Tô Lâm giao Tổ biên tập phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng tổng hợp, tiếp thu ý kiến của các đại biểu dự hội nghị; sớm hoàn chỉnh dự thảo các văn kiện để báo cáo thông qua theo quy định, bảo đảm đại hội được tổ chức theo đúng kế hoạch, thành công tốt đẹp, thực sự mẫu mực về mọi mặt./.





Theo QĐND
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 🇷🇺🤝🇻🇳NGA KHÁNH THÀNH QUẢNG TRƯỜNG HỒ CHÍ MINH TẠI THÀNH PHỐ SAINT PETERSBURG ❤️♥️🇻🇳

     Ngày 29/7, trong khuôn khổ chuyến công tác Nga, Phu nhân Tổng Bí thư Tô Lâm, bà Ngô Phương Ly đã tham dự lễ gắn biển tên Quảng trường Hồ Chí Minh và thăm Trường Trung học số 488, nơi có không gian bảo tàng về vị lãnh tụ Việt Nam.

Lễ gắn biển tên Quảng trường Hồ Chí Minh diễn ra vào dịp kỷ niệm 135 năm ngày sinh Người, 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Liên bang Nga. Trung tâm của Quảng trường là bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tọa lạc ở vị trí trang trọng của quận Vyborgsky của thành phố Saint Petersburg, ngay ngã tư đại lộ Khai sáng và Phố Hồ Chí Minh.

Tại buổi lễ sáng 29/7, Phu nhân Ngô Phương Ly cùng các đại biểu xúc động hồi tưởng về vị anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, đồng thời là người bạn lớn của nhân dân Nga./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM GẶP MẶT CÁN BỘ LÃO THÀNH CÁCH MẠNG, BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG, TƯỚNG LĨNH, ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN!

     Sáng 31-7, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương gặp mặt đại biểu cán bộ lão thành cách mạng, tiền khởi nghĩa, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, tướng lĩnh, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Dự gặp mặt có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương; Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Đại tướng Phan Văn Giang, Phó bí thư Quân ủy Trung ương (QUTƯ), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Nguyễn Văn Nên, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh.

Dự gặp mặt có Đại tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ QUTƯ, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Thường vụ QUTƯ, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Thường vụ QUTƯ; Thượng tướng Phạm Hoài Nam; Thượng tướng Nguyễn Hồng Thái.
Cùng dự gặp mặt có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo một số ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; đại biểu cán bộ lão thành cách mạng, tiền khởi nghĩa, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, tướng lĩnh, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong không khí tháng 7-mùa tri ân thiêng liêng của dân tộc, chương trình gặp mặt được tổ chức để tưởng nhớ, tri ân và tôn vinh những con người đã viết nên bản hùng ca bất tử bằng máu xương và lòng yêu nước, dệt nên trang sử vàng chói lọi, giữ vững độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và góp phần dựng xây đất nước hùng cường.

Các tướng lĩnh, Anh hùng lực lượng vũ trang, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, người có công với cách mạng là biểu tượng thiêng liêng của lòng yêu nước, của đức hy sinh và khí phách Việt Nam. Tri ân các thế hệ đi trước, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn khắc ghi công ơn bằng nghĩa tình sâu nặng và hành động thiết thực. Chính từ mạch nguồn ấy, Quân đội ngày càng lớn mạnh, chính quy, hiện đại, xứng đáng là lực lượng trung thành với Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, là thành trì vững chắc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam độc lập, hùng cường, mãi trường tồn./.




Theo QĐND
Yêu nước ST.

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: THIỆU ĐỀ NGHỊ CỦA PHÍA MALAYSIA, THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH VỪA CÓ CUỘC ĐIỆN ĐÀM VỚI THỦ TƯỚNG MALAYSIA ANWAR IBRAHIM!

     Thủ tướng Malaysia đã thông tin cập nhật tới Thủ tướng Phạm Minh Chính về một số biện pháp của Malaysia trên cương vị Chủ tịch ASEAN giải quyết tình hình căng thẳng tại biên giới Campuchia - Thái Lan.

Thủ tướng Anwar Ibrahim nhấn mạnh chủ trương của Malaysia là thúc đẩy đối thoại và đảm bảo đoàn kết, thống nhất trong giải quyết vấn đề căng thẳng biên giới hai nước; tiếp tục kêu gọi hai bên kiềm chế, không sử dụng vũ lực, giải quyết hòa bình và thỏa đáng các bất đồng trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc, Hiến chương ASEAN, Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á.

Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao việc hai Thủ tướng thường xuyên điện đàm để kịp thời phối hợp, chia sẻ thông tin trong các vấn đề hai bên cùng quan tâm, thể hiện tin cậy chính trị ngày càng cao giữa hai nước nói chung và giữa lãnh đạo cấp cao hai bên nói riêng theo tinh thần quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện. 

Thủ tướng trân trọng chuyển lời thăm hỏi, chúc sức khỏe của Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tới Thủ tướng Malaysia.

Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao những nỗ lực của cá nhân Thủ tướng Anwar Ibrahim cũng như của Malaysia trên cương vị Chủ tịch ASEAN trong thúc đẩy giải quyết vấn đề căng thẳng biên giới giữa Campuchia – Thái Lan; đặc biệt đã tổ chức cuộc gặp giữa Thủ tướng Campuchia và Quyền Thủ tướng Thái Lan ngày 28/7 vừa qua và đạt được thỏa thuận ngừng bắn, là bước đi tích cực đầu tiên giúp kiểm soát leo thang xung đột giữa hai nước.

Thủ tướng khẳng định, Việt Nam luôn ủng hộ và sẵn sàng tham gia vào các nỗ lực của ASEAN nói chung và phối hợp với nước Chủ tịch Malaysia nói riêng trong giải quyết các vấn đề khu vực và giữ vững đoàn kết nội khối; sẵn sàng cử đại diện tham gia các cơ chế do ASEAN chủ trì để bảo đảm thực hiện thỏa thuận ngừng bắn giữa Campuchia và Thái Lan theo đề xuất của Chủ tịch Malaysia và quan tâm hỗ trợ nhân đạo cho người dân 2 nước.

Trao đổi về hợp tác song phương, hai Thủ tướng nhất trí sẽ tiếp tục trao đổi, tăng cường tin cậy, phối hợp có các biện pháp để làm sâu sắc hơn nữa Quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện, trong đó tập trung thúc đẩy hợp tác đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ, năng lượng, truyền tải điện giữa Việt Nam, Malaysia, Singapore để hình thành lưới điện ASEAN; sớm ký kết Thỏa thuận về thương mại gạo để Việt Nam hỗ trợ bảo đảm an ninh lương thực cho Malaysia.

Hai Thủ tướng cũng trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, trong đó có vấn đề thương mại và thuế quan với các nước, vì hòa bình, ổn định, phồn vinh của hai nước, của khu vực và thế giới./.
Yêu nước ST.

LUẬN ĐIỆU PHẢN ĐỘNG CỦA NHỮNG KẺ MẠO DANH LỰC LƯỢNG CỨU QUỐC!

     Trên trang “Radiodls” đã đăng bài của “Lực lượng cứu quốc” với tựa đề: “Phải sửa đổi hoặc hủy bỏ Điều 331 trong Bộ luật Hình sự của Việt Nam”. Bài viết đã cố tình cổ súy cho hoạt động vi phạm, lợi dụng quyền tự do dân chủ khi cho rằng “… Nhà Nước CSVN đã lạm dụng điều 331 để xử lý hành chính hoặc hình sự hóa các ý kiến trái chiều của người dân một cách tùy tiện. Với những lý lẽ nêu trên, nhà nước CSVN cần phải hủy bỏ Điều 331 khỏi bộ Luật Hình sự của Việt Nam". Đây là những luận điệu phản động của những kẻ mạo danh “Lực lượng cứu quốc”, cần nhận diện, đấu tranh bác bỏ. Bởi vì:
1. Áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân là một yêu cầu mang tính khách quan.
Hiện nay, các quyền tự do dân chủ liên quan đến tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được quy định tại Điều 331 Bộ luật Hình sự đó là: Mọi công dân có quyền được tự do tín ngưỡng, tôn giáo, công dân có thể lựa chọn theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không một ai được phép xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật; Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. 
Điều 331 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng quy định về "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" là sự cụ thể hóa Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân; giúp điều chỉnh, ngăn chặn, có chế tài đối với các hành vi vi phạm, lệch chuẩn trong các quan hệ xã hội, ngăn ngừa những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân... Điều này vừa thể hiện rõ tính nghiêm minh của pháp luật, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với các hành vi vi phạm pháp luật, răn đe, trừng phạt thích đáng đối với những đối tượng có hành vi vi phạm, vừa mang tính nhân văn, nhân đạo tạo cơ hội cho người mắc sai lầm, vi phạm có cơ hội cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội. Qua đó, cho thấy ban hành quy định tại Điều 331 Bộ luật hình sự là hoàn toàn mang tính khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này trong xã hội, không để các thế lực thù địch và phần tử xấu lợi dụng vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền. 
Do vậy, việc “lực lượng cứu quốc” kêu gọi xóa bỏ Điều 331 Bộ luật Hình sự là nhằm đưa các đối tượng chống phá ra ngoài vòng pháp luật; xuyên tạc hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng để hạ bệ, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam, chính quyền các cấp, hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước. 
2. Ở Việt Nam, các quyền tự do dân chủ của công dân luôn được Nhà nước bảo vệ và tôn trọng.
Trong lịch sử lập pháp Việt Nam hiện đại từ năm 1945 đến nay, quá trình hình thành quy định về tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân gắn liền với việc ghi nhận và cụ thể hóa các quyền cơ bản của công dân. Quyền và nghĩa vụ của công dân phải được quy định song hành với nhau. Nhà nước công nhận và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân, đồng thời cũng yêu cầu công dân thực hiện các quyền ấy với tinh thần xây dựng, không lợi dụng quyền để xâm hại lợi ích của người khác và lợi ích công cộng.
Nhà nước luôn đặt quyền tự do dân chủ của công dân lên hàng đầu, sự tôn trọng và đảm bảo được quy định rõ trong Hiến pháp và các quy định của pháp luật. Điều 15, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: "Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác". Điều luật đã thể hiện được quyền bình đẳng, dân chủ, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển sáng tạo của xã hội; Nhà nước ta luôn luôn coi trọng các quyền tự do cơ bản của công dân và coi đó là một trong những nguyên tắc xây dựng pháp luật Nhà nước. Mặt khác, điều luật được xây dựng nhằm duy trì xã hội trật tự, ổn định, trong đó không chỉ công dân, mỗi tổ chức, mà bản thân Nhà nước và những người đứng đầu chính quyền cũng phải tôn trọng pháp luật. 
Tóm lại, những luận điệu nêu ra trong bài viết của những kẻ mạo danh lực lượng cứu quốc đã bộc lộ dã tâm thâm độc, xuyên tạc sự thật về tội lợi dụng quyền tự do dân chủ đã được quy định tại Điều 331 của Bộ luật Hình sự, làm giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng và chế độ. Do vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ âm mưu, thủ đoạn trên./.
Khuyết danh ST.

KHÔNG NGỪNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỂ ĐẢNG NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH!

     Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn cách mạng mới, dân tộc đang đứng trước những thời cơ, vận hội to lớn để phát triển. Để hiện thực hóa được “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, liên tục rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. 

Không thể có một hình thức, phương thức tối ưu, duy nhất để giáo dục đạo đức, cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đó phải là một quá trình, là sự kết hợp bởi nhiều yếu tố, nhưng quan trọng hơn hết là sự “tự nhận thức”, “thẩm thấu chủ động”, thường xuyên “tự răn, tự rèn” để đạo đức cách mạng trở thành “cốt cách”, là “lẽ sống” của mỗi cán bộ, đảng viên./.
Yêu nước ST.

Thứ Tư, 30 tháng 7, 2025

 

NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ
CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 Từ quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền thống của dân tộc luôn coi con người là nhân tố trung tâm, quyết định sự phát triển lịch sử. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không trừu tượng mà là con người hiện thực, cụ thể. Con người ở đây bao hàm cả “đồng bào” trong nước và “đồng bào” trên thế giới theo nghĩa “Bốn bể là nhà, bốn phương vô sản đều là anh em”.

Theo Hồ Chí Minh: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng hơn là cả loài người”[1]. Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng tuyệt đối ở khả năng tự giải phóng của con người và không ngừng rèn luyện, phát huy khả năng ấy thành sức mạnh để lật đổ giai cấp thống trị, giành lấy độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện mục tiêu cao cả ấy, nhất thiết phải dùng sức mạnh của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Người khẳng định: "Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân"[2]. Đây là nét nổi bật xuyên suốt trong tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh. Khác hẳn với các quan điểm quân sự phong kiến, tư sản thường nhấn mạnh vai trò tài năng tướng lĩnh, dựa vào quân đội nhà nghề, binh khí kỹ thuật tối tân, hiện đại. Hồ Chí Minh dựa chắc vào dân, khơi nguồn lực lượng và sức sáng tạo của nhân dân. Người khẳng định có dân là có tất cả. Dân khí mạnh thì không súng ống nào chống lại nổi. Cách mạng phải động viên, giác ngộ con người để họ đứng lên tự giải phóng và đem lại hạnh phúc cho mình. Không sức mạnh nào có thể tiêu diệt được sức mạnh của quần chúng nhân dân khi họ đã được tổ chức, lãnh đạo nhất tề đứng lên để tự giải phóng mình.

Hồ Chí Minh coi khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng là sản phẩm của sức mạnh, sức sáng tạo của quần chúng nhân dân; sự vùng dậy của quần chúng lao động dưới ngọn cờ của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi trong sự nghiệp chống lại áp bức, bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa đế quốc. Người nói: Cách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc của một, hai người. Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ chờ năm, bảy người giết hai, ba anh vua, chín, mười anh quan là được. Người phê phán những xu hướng manh động, phiêu lưu, khủng bố cá nhân. Bởi vì, ám sát là làm liều và kết quả ít, vì giết thằng này còn thằng khác, giết sao cho hết.

Nêu cao ngọn cờ đại nghĩa, Người chăm lo giáo dục toàn dân hiểu tại sao phải làm cách mạng, tại sao phải kháng chiến. Người nói: Thà chết được tự do còn hơn sống làm nô lệ. Người xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân trong mặt trận dân tộc thống nhất trên cơ sở liên minh công nông, động viên sức mạnh của toàn dân vào công cuộc kháng chiến cứu quốc. Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của quần chúng nhân dân trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Người tin tưởng vững chắc vào ý chí quyết tâm, khả năng vô tận, sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân. Để tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Người kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Trong kháng chiến chống Pháp, Người nêu rõ: Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại. Người kêu gọi: bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Trong kháng chiến chống Mỹ, Người nêu rõ: chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước. Ba mươi mốt triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già, trẻ, gái, trai phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng.

Công việc quân sự không phải chỉ là việc riêng của quân đội mà được đồng bào cả nước thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đấu tranh vũ trang, chiến tranh cách mạng, chiến tranh yêu nước không còn là lĩnh vực riêng của quân đội, mà toàn dân tộc ta đã tự giác đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do, vì thống nhất Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Coi sức mạnh giải phóng là sức mạnh của cả dân tộc đứng lên "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Khởi nghĩa vũ trang là khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh yêu nước là chiến tranh nhân dân, đó là sự thể hiện sâu sắc tính nhân văn, dân chủ, nhân đạo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Mặt khác, phương thức tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng của Hồ Chí Minh mang đậm tinh thần dân chủ, sáng tạo trong việc động viên toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Từ góc độ triết lý nhân văn, kháng chiến toàn dân chính là sự giải phóng động lực nội tại của một cộng đồng dân tộc, quốc gia, giải phóng năng lực trí tuệ, sức sáng tạo của toàn thể những con người có khát vọng sống trong tự do, độc lập. Toàn dân kháng chiến gắn với toàn diện kháng chiến, chủ trương trên nhằm phát huy hết mọi sức mạnh của toàn dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ kháng chiến bằng quân sự mà cả bằng chính trị, địch vận, ngoại giao, kinh tế và văn hoá, tăng gia, sản xuất hay tản cư, phá hoại “làm vườn không nhà trống” cũng là kháng chiến.

Trải qua hơn nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý giá về sử dụng sức mạnh của quần chúng nhân dân với các hình thức đấu tranh cách mạng. Đối với quân đội, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát triển nhiều nội dung quan trọng của Học thuyết Mác - Lênin về quân đội phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng nước ta. Trên cơ sở xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp của quần chúng để xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân từ thấp đến cao, từ thô sơ đến hiện đại. Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quán triệt quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về bản chất quân đội, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: quân sự không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội nhân dân Việt Nam phải được xây dựng thành một đội quân cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân, có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; quân đội của nhân dân, do nhân dân xây dựng, vì nhân dân mà chiến đấu; một đội quân chiến đấu, sản xuất, công tác.

Hồ Chí Minh giải quyết hết sức đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa con người và vũ khí. Với quan điểm “người trước, súng sau”, “vũ khí là cần, nhưng quan trọng hơn là người vác súng”. Do đó, Người hết sức quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, Người chỉ thị cho ngành cung cấp (hậu cần) là phải làm thế nào để một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải, phải đi thẳng đến chiến sỹ. Người yêu cầu cán bộ phải hết sức chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của cấp dưới và chiến sĩ. Cùng với khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội, Hồ Chí Minh không hề coi nhẹ vai trò vũ khí, kỹ thuật. Ngay từ khi thành lập quân đội, Người đã chọn nhiều cán bộ khoa học có phẩm chất, năng lực, trí tuệ, đặt nền móng vững chắc xây dựng và phát triển ngành quân giới để bảo đảm vũ khí, kỹ thuật cho chiến đấu; xây dựng cơ quan, đơn vị, nhà trường quân đội; xây dựng các quân chủng, binh chủng ngày càng hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc giải phóng đất nước trước đây cũng như sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay.

  Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa chính trị và quân sự; trong mối quan hệ ấy “quân sự phục tùng chính trị” và “chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc”[3]. Do đó, trong xây dựng quân đội và lực lượng vũ trang phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường công tác đảng, công tác chính trị; tăng cường huấn luyện, rèn luyện để bộ đội phải tinh, sức chiến đấu phải mạnh; xây dựng kỷ luật; xây dựng đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế.. Đồng thời, Người căn dặn cán bộ phải học tư tưởng chiến lược, chiến thuật, học cách dạy bộ đội đánh giặc, học phương pháp chỉ huy chiến đấu; phải kế thừa truyền thống, kinh nghiệm quý báu của dân tộc, tinh hoa quân sự thế giới, khoa học - nghệ thuật quân sự của giai cấp vô sản.

Hồ Chí Minh đã giáo dục cho quân đội ta phải giúp đỡ mọi mặt đối với cách mạng các nước anh em. Người viết thư động viên và nhắc nhở bộ đội: giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình. Phải coi việc giúp bạn như chính việc của mình, phải tôn trọng, kính yêu bạn, không được có tư tưởng ban ơn, bao biện làm thay.

Đối với nhân dân và quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, quân đội ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng. Những lời huấn thị của Người luôn nhắc nhở quân đội ta làm tốt nhiệm vụ quốc tế của mình. Đó là những biểu hiện rực rỡ của tính quốc tế và tính thời đại của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong xây dựng, lãnh đạo Quân đội nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

  Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quân đội mãi mãi soi sáng quá trình xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta, một quân đội luôn trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Cán bộ, chiến sỹ thương yêu nhau như ruột thịt, chia ngọt, xẻ bùi. Quân với dân như cá với nước, đoàn kết, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau. Quân đội ta có tinh thần yêu nước chân chính và tinh thần quốc tế cao cả.

 Quân đội nhân dân Việt Nam trong suốt gần 80 năm chiến đấu, xây dựng, trưởng thành xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng ta, Nhà nước ta; là đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất, đội quân công tác; giữ vững và tăng cường sự đoàn kết giữa Đảng với nhân dân, quân đội với nhân dân. Quân đội nhân dân Việt nam mãi mãi là của dân, do dân, vì dân, vì nhân dân mà chiến đấu; mãi mãi là “Bộ đội Cụ Hồ”; Quân đội nhân dân Việt Nam trở thành một di sản quân sự mang đậm tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.

[1] . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb,CTQG, H, 2000, tập 5, tr.644
[2] . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb, CTQG, H. 2000, tập 5, tr.409
[3]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb, CTQG, H. 2000, tập 6, tr. 319.

 

NHẬN DIỆN BẢN CHẤT CỦA “BẤT TUÂN DÂN SỰ”

TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Rạng sáng 11/6/ 2023 Nhóm đối tượng dùng vũ khí tấn công trụ sở UBND xã Ea Tiêu, Ea Ktur, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk đã gây ra tổn thất nghiêm trọng về người và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương...Đây là một hành động hết sức dã man cần được phân tích sâu rộng, chỉ rõ nguồn gốc, bản chất  của hành động mà ngay cả những kẻ trực tiếp hành động cũng phải được biết.

Có thể khẳng định đây là một trong những hành động “Bất tuân dân sự”. Vậy bản chất của “Bất tuân dân sự”tại Việt Nam hiện nay là gì? Bài viết sau đây làm rõ vấn đề cần đề cập ở trên.

“Bất tuân dân sự” là khái niệm quen thuộc được sử dụng trong đời sống chính trị các nước phươmg Tây. “Bất tuân dân sự” ra đời từ cách đây hơn 2000 năm, trải qua thời gian dài được nghiên cứu, bổ sung, áp dụng vào thực tiễn nên nội hàm của khái niệm này ngày càng được hoàn thiện. Trong những năm gần đây, “Bất tuân dân sự” đã hiện diện trên thực tế tại Việt Nam. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan và khách quan, “Bất tuân dân sự” đã trở thành một trào lưu nguy hiểm trong xã hội khi nó đã và đang kháng cự lại sự quản lý của chính quyền các câp. Đặc biệt nguy hiểm hơn, khi “Bất tuân dân sự” đã có dấu hiệu sự can dự, hướng lái của các thế lực thù địch, tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Nhận diện bản chất của “Bất tuân dân sự” không chỉ giúp lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, các cơ quan chức năng, cán bộ, đảng viên, mọi quân nhân, công nhân viên chức, người lao động nhận diện, phân biệt rõ ràng về bản chất các hoạt động chống đối chính quyền của “Bất tuân dân sự”, mà còn giúp xây dựng các biện pháp phòng ngừa, đối phó hiệu quả, kịp thời là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Qua nghiên cứu các quan điểm, hoạt động và quá trình hình thành “Bất tuân dân sự”, có thể rút ra: “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là hành động phản kháng của người dân khi quyền và lợi ích bị xâm hại, bị các thế lực thù địch lợi dụng kích động tạo thành mâu thuẫn đối kháng giữa người dân với chính quỵền, từ đó hình thành các phong trào phản kháng Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ XHCN ở nước ta. “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam hiện nay đã ở mức nguy hiểm, có xu hướng phát triển thành phong trào, trở thành nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến sự tồn vong của chế độ.

Về bản chất, “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là những hoạt động nhằm vô hiệu hóa một hoặc nhiều quyết sách của chính quyền bằng “sức mạnh hòa bình” của quần chúng; vô hiệu hoặc làm giảm khả năng sử dụng công cụ bạo lực của chính quyền; thường được bắt đầu một cách “tự phát”, “vô hại”, nhỏ lẻ, nhưng sau đó lây lan và được tổ chức khá chặt chẽ. “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là hệ quả của quá trình tác động, thẩm thấu, “chuyển hóa” lâu dài. Trong đó, các thế lực thù địch đã thẩm thấu các giá trị, tư tưởng trái ngược lại quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam khiến cho quần chúng nhân dân “nhờn luật”, hình thành tư tưởng “phản kháng ý thức hệ” khi bị kích động hoặc xung đột về lợi ích và sự nhũng nhiễu của một bộ phận tha hóa trong bộ máy công quyền…

Tăng cường dân chủ hóa đời sống xã hội


Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã nhận thức rõ vai trò của dân chủ và tập trung xây dựng thiết chế, hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế và chính sách để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân. Nhận thức ngày càng rõ vai trò, sức mạnh của dân chủ, tại Đại hội XII, lần đầu tiên “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa” đã trở thành một thành tố của chủ đề Đại hội và tiêu đề của Báo cáo Chính trị.

Phát huy nguồn lực con người và dân chủ hóa đời sống xã hội có mối quan hệ và tác động biện chứng lẫn nhau. Đó là hai vấn đề có chung một mục đích là tôn trọng con người, vì sự phát triển toàn diện của con người. Dân chủ chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra một môi trường xã hội lành mạnh, tự do để con người hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Dân chủ hóa đời sống xã hội, tác động vào nhu cầu chủ đạo của con người, vào khát vọng ngàn đời của người lao động là tự do và công bằng xã hội. Thực tiễn lịch sử đã có không ít những bằng chứng hùng hồn về sức mạnh rời non, lấp biển từ nhu cầu tự do của con người, của các giai cấp, các dân tộc. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, nhu cầu đó cũng có những yêu cầu và nội dung khác nhau. Vấn đề ở chỗ, muốn huy động được tối đa năng lực của nhân dân lao động vào sự nghiệp cách mạng, các Đảng Cộng sản phải luôn luôn quan tâm đến nhu cầu hàng đầu đó của người lao động.

Dân chủ hóa đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào việc khắc phục, hạn chế những tiêu cực kìm hãm sự phát triển của con người, xâm phạm quyền con người, coi thường nhân phẩm con người, do đó, kích thích tính tích cực, chủ động của con người, làm cho con người và hoạt động của họ hướng tới cái thiện, cái đẹp và tính nhân đạo trong cuộc sống của mình; có tinh thần trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm công dân cao hơn trong lời nói và việc làm của họ. Một xã hội dân chủ thực sự của người lao động vừa là điều kiện cơ bản, vừa đặt ra yêu cầu cao đối với việc không ngừng hoàn thiện nhân cách của mỗi con người.

Cùng với tiến trình đổi mới, quá trình dân chủ hóa đã diễn ra trong mọi lĩnh vực của đất nước. Về kinh tế, mô hình kinh tế quan liêu bao cấp từng bước được thay thế bằng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế là giá đỡ vật chất cho dân chủ và quá trình dân chủ hóa. Trong nền kinh tế thị trường, người dân được tự do kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm và được khuyến khích làm giàu hợp pháp, đảng viên cũng được làm kinh tế tư nhân. Xung lực to lớn mà dân chủ trong kinh tế mang lại đã góp phần giải phóng tiềm lực trong dân, đưa nước ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và danh sách nước nghèo.

Về chính trị, việc đổi mới chính trị được tiến hành đồng bộ với đổi mới kinh tế đã tạo ra quá trình dân chủ hóa của hệ thống chính trị. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là một đặc trưng và cũng là một phương hướng cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Theo đó, Nhà nước đảm nhiệm vai trò tạo dựng hành lang pháp lý và quản lý vĩ mô, còn quản lý sản xuất và kinh doanh thuộc về các doanh nghiệp. Nền hành chính quốc gia đã từng bước theo hướng nhà nước phục vụ, nhà nước kiến tạo. Quốc hội không chỉ đóng vai trò là cơ quan lập pháp mà còn ngày càng thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện chính sách. Hoạt động của Tòa án và Viện Kiểm sát cũng có nhiều đổi mới như tăng cường vai trò của luật sư và sự tranh tụng tại tòa để hạn chế sự oan sai.

Để quá trình dân chủ hóa tiếp tục được thực thi trên thực tế, cần tập trung giải quyết tốt một số nội dung, biện pháp, đó là: Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vấn đề dân chủ. Đổi mới công tác tổ chức cán bộ; tránh các hiện tượng “mua quan, bán tước”, minh bạch hóa công tác cán bộ, phải đổi mới hơn nữa công tác bầu cử, đẩy mạnh công tác tranh cử, phải coi trọng sự đánh giá của nhân dân về cán bộ và phát huy vai trò gương mẫu của người đứng đầu. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra và truyền thông để kịp thời ngăn chặn các hiện tượng phản dân chủ. Hoàn thiện thiết chế, chế tài phù hợp để hiện thực hóa vai trò, trách nhiệm phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. 

Thực hiện chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người

 


Chính sách xã hội được coi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước; là động lực to lớn, phát huy tính năng động, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta khẳng định: “Chính sách xã hội là chính sách chăm lo cho con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, là chủ thể, mục tiêu, động lực, nguồn lực để phát triển bền vững đất nước; là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn xã hội; thể hiện đặc trưng, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng trưởng kinh tế gắn với bảo đảm chính sách xã hội; tạo điều kiện để Nhân dân được thụ hưởng thành quả của sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc[1].

Thực hiện chính sách xã hội đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của chủ nghĩa xã hội, trước hết, có tác dụng kích thích tính tích cực, sáng tạo của con người. Động lực quan trọng và chủ yếu nhất, thúc đẩy tính tích cực và sáng tạo của con người là lợi ích. Phạm trù lợi ích ở đây được hiểu theo nghĩa rộng rãi nhất, bao gồm lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích của mỗi cá nhân và lợi ích tập thể, cộng đồng. Con người hoạt động tích cực để cải tạo thế giới quan xung quanh mình, tác động vào tự nhiên và xã hội là do sự thúc đẩy của lợi ích sống còn của họ, C. Mác chỉ rõ, mọi tư tưởng sẽ tự làm nhục mình nếu tách rời khỏi lợi ích. Bất cứ lĩnh vực hoạt động sống nào của con người mà ở đó họ không tìm thấy lợi ích của mình thì ở đó không thể có bất cứ một thái độ tích cực và sáng tạo nào có tính chất bền vững. Chính sách xã hội không chỉ quan tâm đến lợi ích của xã hội và tập thể lao động nói chung, mà còn quan tâm đến lợi ích của mỗi con người cụ thể trong mối quan hệ với lợi ích tập thể, lợi ích xã hội. Hoạt động tích cực và sáng tạo của nhân dân lao động là vì lợi ích của mỗi con người trong mối quan hệ với lợi ích tập thể và xã hội. Sự tuyệt đối hoá lợi ích tập thể và xã hội trước đây, đã làm hạn chế tính tích cực, chủ động, sáng tạo của con người trong chủ nghĩa xã hội.

Để phát huy tốt hơn nữa nguồn lực con người, cần tập trung thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, chính sách xoá đói, giảm nghèo nhằm giảm dần khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng miền. Tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách về lao động, việc làm, thu nhập, để người lao động có điều kiện nâng cao trình độ tri thức, tay nghề, có môi trường rèn luyện phấn đấu, cống hiến và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần. Phát triển và lành mạnh hóa xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp. Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Thực hiện đồng bộ chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ, nếp sống, nhằm tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2023

 

Đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 


Nhận thức rõ sự tác động của kinh tế đối với phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay, Đảng ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa, khích lệ nhân dân ngày càng tích cực tham gia đóng góp sức lực, trí tuệ vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn góp phần nâng cao vị thế của người lao động trong quá trình sản xuất. Tạo điều kiện cho mọi người dân làm chủ tư liệu sản xuất của toàn xã hội, ở mọi thành phần kinh tế. Nền kinh tế thị trường tạo ra những thuận lợi, giúp con người thay đổi những quan niệm và thói quen cũ gắn liền với nền sản xuất tự cấp tự túc. Nói cụ thể hơn, quan niệm tự cấp, tự túc trong vòng khép kín bảo thủ chuyển thành quan niệm giao lưu, khai thác, tìm tòi và mở ra cái mới; quan niệm bình quân, cào bằng chuyển thành quan niệm thi đua, cạnh tranh tạo nên những động lực tinh thần để phát triển… Những chuyển biến đó sẽ góp phần tăng cường thêm một bước ý thức của mỗi cá nhân, thúc đẩy sự hình thành những cá nhân tự giác và đưa xã hội lên một trình độ mới. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn huy động rộng rãi nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương, đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, của đơn vị; đã tạo ra môi trường thuận lợi để phát huy nguồn lực con người trong lĩnh vực kinh tế.

Phát huy sáng kiến của người lao động, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của họ, thực hiện phân phối công bằng, công khai, dân chủ. Động viên mọi người dân bỏ vốn để sản xuất kinh doanh, khai thác thế mạnh của các địa phương, phát triển ngành nghề truyền thống, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy trình độ tay nghề, năng lực quản lý kinh doanh của mỗi thành viên trong xã hội, để cùng với Nhà nước giải quyết những khó khăn của đất nước.

Tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, khơi dậy lương tâm nghề nghiệp, nêu cao trách nhiệm của mỗi người dân trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Làm cho mọi người thấy được trách nhiệm của mình phải lao động nghiêm túc, có chất lượng, có hiệu quả, tạo ra hàng hóa tốt, nâng cao chất lượng dịch vụ. Điều đó vừa tạo điều kiện cho xã hội phát triển, vừa là điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả. Phê phán mạnh mẽ thói lười biếng, làm bừa, làm ẩu; ngăn chặn làm ăn phi pháp, phi đạo lý.

Phát huy hơn nữa nguồn lực con người trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Nguồn lực con người là tổng hoà các yếu tố về số lượng, chất lượng và cơ cấu của một cộng đồng người, có thể huy động được vào hoạt động thực tiễn vì sự tiến bộ và phát triển xã hội.

Về mặt số lượng, nguồn lực con người được xác định trên quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, sự tiếp nối các thế hệ, giới tính và sự phân bố dân cư giữa các vùng, các miền, giữa các ngành kinh tế, giữa các lĩnh vực đời sống xã hội.

Về mặt chất lượng, nguồn lực con người phản ánh chất lượng dân số, đặc biệt là chất lượng của lực lượng lao động hiện tại và trong tương lai gần (dưới dạng tiềm năng), thể hiện qua các yếu tố như: Sức khoẻ cơ thể và sức khoẻ tâm thần, mức sống, tuổi thọ, trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp, trình độ phát triển trí tuệ, năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi, kỹ năng lao động, văn hóa lao động, các khía cạnh tâm lý, ý thức, đạo đức, tư tưởng, tình cảm, tính cách, lối sống trong đó, trí lực, thể lực, đạo đức là những yếu tố quan trọng nhất.

Về mặt cơ cấu, nguồn lực con người phản ánh ở khía cạnh cơ cấu dân cư và cơ cấu lao động trong các ngành, các vùng; cơ cấu lao động đã qua đào tạo trong các lĩnh vực và khu vực kinh tế; cơ cấu trình độ lao động; cơ cấu độ tuổi trong lực lượng lao động; cơ cấu nguồn lao động dự trữ... Cơ cấu dân cư và lao động ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của nguồn lực con người.

Con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực, nguồn lực nội tại, cơ bản trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội. Là một nguồn lực, cũng như các nguồn lực khác, con người tạo ra sức mạnh và tham gia vào quá trình thúc đẩy sự phát triển của một quốc gia, dân tộc. Song, nguồn lực con người khác các nguồn lực khác ở chỗ, có nó, các nguồn lực khác mới phát huy được tác dụng và có ý nghĩa tích cực, vì thế nó là nguồn lực của mọi nguồn lực. Mặt khác, nó không chỉ là chủ thể quyết định sự vận động và phát triển xã hội, mà còn là khách thể của các quá trình kinh tế - xã hội. Sức mạnh của nguồn lực con người biểu hiện qua sức mạnh của thể lực, trí lực, niềm tin, ý chí... của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng không chỉ trong thực tế mà còn ở dạng tiềm năng. Những nhân tố trên có quan hệ hữu cơ và trong điều kiện ngày nay, trí lực có vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, cần xem xét con người với tất cả hiện trạng, tiềm năng, đặc điểm và sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội.

Phát huy nguồn lực con người trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là quá trình khơi dậy, sử dụng và phát triển tính tích cực chính trị - xã hội cùng với năng lực sáng tạo của nhân dân lao động vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Thực chất của phát huy nguồn lực con người trong xây đựng chủ nghĩa xã hội chính là thực hiện một cách đồng bộ, có hệ thống các biện pháp kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhằm khơi dậy, sử dụng, phát triển tất cả các yếu tố số lượng, chất lượng, cơ cấu của nguồn lực con người, đáp ứng với đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; quá trình đó bao gồm những nội dung chủ yếu:

Khơi dậy tính tích cực chính trị - xã hội, năng lực sáng tạo của nhân dân. Đây thực chất là quá trình “đánh thức” những tiềm năng vốn có nhưng chưa bộc lộ hoặc bộc lộ chưa đầy đủ của từng cá nhân và tập thể… để phục vụ cho việc khai thác, sử dụng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là khơi dậy tính tích cực chính trị - xã hội (biểu hiện: tình yêu đất nước, yêu con người, ý thức trách nhiệm đối với xã hội, ý chí quyết tâm, tinh thần say mê, sáng tạo trong lao động) của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Sử dụng những tiềm năng, tính tích cực chính trị - xã hội và năng lực sáng tạo của nhân dân. Đây là quá trình tổ chức hoạt động thực tiễn để nhân dân tham gia; thông qua đó để phát huy tính tích cực chính trị - xã hội và năng lực sáng tạo của mỗi người. Thực chất của khâu này là tìm ra các cách thức, cơ chế, chính sách tốt nhất để tác động vào những đột phá nhằm tạo động lực, làm tăng tính tích cực, tự giác, năng động, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phát triển tính tích cực chính trị - xã hội, năng lực sáng tạo của nhân dân. Thực chất là quá trình phát triển về số lượng, hoàn thiện về cơ cấu và làm gia tăng giá trị của con người trên các mặt: phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ, khả năng lao động sáng tạo, thể lực… làm cho họ trở thành những người lao động vừa hồng vừa chuyên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Quá trình này được tiến hành liên tục, thường xuyên nhằm tăng cường sức mạnh, tạo cơ sở, tiền đề tiếp tục khơi dậy và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Cần phát huy hơn nữa gái trị con người xã hội chủ nghĩa hiện nay

 


Con người xã hội chủ nghĩa là sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển lịch sử tự nhiên, là tổng hợp các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức và trình độ phát triển của chủ nghĩa xã hội, đồng thời là chủ thể của các quan hệ xã hội đó.

Con người xã hội chủ nghĩa là con người có ý thức, trình độ và năng lực làm chủ tự nhiên, xã hội và chính bản thân. Đó là con người luôn đề cao trách nhiệm cá nhân đối với tương lai của đất nước, dân tộc; tích cực phấn đấu vươn lên để góp công sức vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa; tham gia tích cực vào quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội; đấu tranh chống mọi quan điểm, thái độ tiêu cực trong xã hội. Con người xã hội chủ nghĩa còn phải có năng lực nhận thức để nắm bắt các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội; đồng thời phát huy tính tích cực, sáng tạo, thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ.

Con người xã hội chủ nghĩa là con người lao động mới, có tri thức, có ý thức kỷ luật, có tinh thần hợp tác với đồng nghiệp, biết đánh giá chất lượng lao động, hiệu quả lao động của bản thân. Con người xã hội chủ nghĩa kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện lười lao động, thích hưởng thụ; tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, ứng dụng khoa học công nghệ vào lao động sản xuất để làm giàu cho xã hội, cho gia đình và bản thân.

Con người xã hội chủ nghĩa là con người sống có văn hóa, có tình nghĩa; giải quyết đúng đắn các quan hệ xã hội; có ý thức nâng cao trình độ tri thức mọi mặt, ra sức rèn luyện sức khoẻ, bảo đảm phát triển toàn diện cá nhân. Họ không chỉ là những người có tri thức, có sức khỏe, tích cực hăng say lao động để cống hiến cho xã hội mà còn là những người có lối sống lành mạnh, giàu lòng nhân ái, vị tha, yêu thương con người; sẵn sàng giúp đỡ nhau trong cuộc sống; luôn tin tưởng, tôn trọng nhau; giải quyết hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của tập thể, của xã hội.

Con người xã hội chủ nghĩa là con người giàu lòng yêu nước, có tình thương yêu giai cấp, thương yêu đồng loại, có ý thức và kiên quyết đấu tranh bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ những thành quả cách mạng; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của kẻ thù; sẵn sàng chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc; đồng thời luôn nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, giúp đỡ giai cấp công nhân và nhân dân lao động yêu chuộng hòa bình; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản cách mạng.

Xây dựng gia đình quân nhân hiện nay

 


Quân đội, trực tiếp là cán bộ, chiến sĩ, con em của các gia đình làm nhiệm vụ tuyên truyền, vận động gia đình mình và các gia đình khác thực hiện tốt mội chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng gia đình, góp phần xây dựng hậu phương quân đội vững chắc để cán bộ, chiến sĩ yên tâm công tác, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ.

Các đơn vị Quân đội trực tiếp giúp đỡ các địa phương và gia đình trên địa bàn đóng quân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị, bảo vệ tính mạng, tài sản, cuộc sống bình yên cho nhân dân và các gia đình; tham gia phòng chống thiên tai, dịch bệnh. Chăm lo xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ, hạnh phúc. Đấu tranh với những biểu hiện sai trái trong quan hệ quân dân, phá vỡ hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng đến phẩm chất “Bộ đội cụ Hồ”, góp phần xây dựng hậu phương quân đội vững chắc.

Xây dựng gia đình gắn chặt với xây dựng khu tập thể dân cư, làng, bản văn hóa


Xây dựng gia đình gắn chặt với xây dựng khu tập thể dân cư, làng bản văn hoá là một biện pháp quan trọng nhằm tạo ra một môi trường xã hội lành mạnh,  mà ở đó phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình. Bởi vì, môi trường, hoàn cảnh xung quanh có tác động rất lớn đến con người và mỗi gia đình. Đoàn kết yêu thương, đùm bọc, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau là nét đẹp truyền thống của dân tộc, gia đình Việt Nam.

Xây dựng khu tập thể dân cư, làng bản văn hoá là nhằm tạo ra một môi trường xã hội trong sạch lành mạnh, an toàn, thuận lợi nhất để các gia đình đoàn kết, động viên, giúp đỡ nhau cùng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.                        

Cần thực hiện xây dựng khu tập thể dân cư, làng, bản theo tiêu chuẩn văn hóa mới, xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở làng, xã, đấu tranh đẩy lùi các tệ nạn xã hội và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Nâng cao hiệu quả, tính thiết thực trong xây dựng gia đình văn hóa, gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. 

Xây dựng các mối quan hệ thực sự bình đẳng trong gia đình

 


Đây là giải pháp quan trọng không thể thiếu trong xây dựng gia đình. Bởi lẽ, một trong những cơ sở quan trọng hình thành nên văn hoá gia đình là các mối quan hệ trong gia đình: quan hệ giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái, anh - chị - em, con cháu - ông bà, cô dì, chú bác. Do vậy, xây dựng các mối quan hệ trong gia đình thực sự bình đẳng trực tiếp góp phần xây dựng gia đình văn hoá, bảo đảm cho gia đình là tế bào lành mạnh của xã hội.

Gia đình mới ở Việt Nam được xây dựng, trên cơ sở các quan hệ bình đẳng, thương yêu, có trách nhiệm cùng chia sẻ, gánh vác công việc của các thành viên để thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình và nghĩa vụ xã hội. Trong số các quan hệ giữa các thành viên gia đình, cần đề cập hai quan hệ cơ bản nhất: quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ - các con. Việc hình thành và từng bước phát triển gia đình mới, cần chú ý đến bình đẳng trong quan hệ vợ - chồng.

Kết hợp nhiều giải pháp, biện pháp, trong đó sự đồng bộ của việc đề ra và thực hiện các chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục... góp phần quan trọng tạo ra và từng bước củng cố quan hệ bình đẳng vợ - chồng trong tham gia quyết định các vấn đề trọng đại của gia đình cũng như tham gia các hoạt động xã hội. Trong gia đình mới, vợ chồng thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau cần tiến bộ. Đặc biệt phải quan tâm đến đặc điểm giới tính để tạo điều kiện phù hợp cho vợ chồng hoàn thành được nhiệm vụ gia đình và công tác xã hội. Chung thủy vẫn là nét bản chất của tình yêu sau hôn nhân; đồng thời là yêu cầu của hình thức hôn nhân mới. Chung thủy là yếu tố quan trọng để gia đình có hạnh phúc bền vững.

Cùng với quan hệ vợ chồng, trong xây dựng gia đình mới cần chú ý đến quan hệ cha, mẹ - con cái. Bố mẹ yêu thương và không phân biệt đối xử với các con, tôn trọng và hướng dẫn những nhu cầu chính đáng của các con. Nuôi dạy các con thành người có ích cho xã hội là nghĩa vụ của bố mẹ. Các con phải biết ơn, kính trọng, nghe lời khuyên nhủ của bố mẹ và không ngừng học hỏi vươn lên giữ vững truyền thống tốt đẹp của gia đình. Trong gia đình, việc mâu thuẫn và khác biệt giữa các thế hệ là điều khó có thể tránh khỏi. Giải quyết những mâu thuẫn và khác biệt để không dẫn tới những xung đột trên cơ sở tôn trọng những nét riêng cần thiết, tâm lý lứa tuổi, hạn chế những mặt yếu, kết hợp những mặt mạnh của các thế hệ là trách nhiệm thường xuyên của gia đình và xã hội.

Ngoài ra, trong gia đình cần xây dựng những mối quan hệ tốt giữa anh chị em với nhau. Nếu trong gia đình có nhiều thế hệ, phải chú ý đến những mối quan hệ khác, như ông bà và cháu chắt; bố mẹ chồng với con dâu; bố mẹ vợ và con dể; chú bác, cô dì và các cháu các quan hệ này cần được xây dựng trên tinh thần bình đẳng, tình thương và có trách nhiệm để cho gia đình êm ấm, trở thành tế bào lành mạnh của xã hội.

Cùng với đó, cần xây dựng tốt mối quan hệ giữa gia đình với tập thể cộng đồng xã hội. Bởi vì, sự tác động của xã hội đóng vai trò hết sức quan trọng, thông qua các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá - giáo dục, tuyên truyền vận động. Mối quan hệ đó được biểu hiện ra như: quan hệ họ hàng, thân tộc, làng xóm, các tổ chức nơi cư trú. Trong đó cần lưu ý là những tác động ấy sao cho trở thành các nhân tố và điều kiện khách quan, bên ngoài cho quá trình thực hiện tốt các chức năng cơ bản của gia đình và làm tốt trách nhiệm xã hội.

Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo để phát huy hơn nữa nguồn lực con người


Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là giải pháp quan trọng hàng đầu để phát huy nguồn lực con người, bởi lẽ, giáo dục và đào tạo là cơ sở hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực hoạt động thực tiễn của mỗi cá nhân và cả cộng động người. Thông qua hoạt động giáo dục và đào tạo, trình độ năng lực của con người ngày càng được nâng cao, giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011) Đảng ta nhấn mạnh: Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đến đại hội lần thứ XII của Đảng (năm 2016) khẳng định: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học, phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Để đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ. Đổi mới chương trình, nội dung phương pháp giảng dạy và học tập, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế.

Tăng cường các nguồn lực cho giáo dục - đào tạo. Ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho giáo dục - đào tạo. Cùng với đó, cần tích cực huy động các nguồn lực ngoài ngân sách. Khuyến khích và tạo điều kiện để cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài giúp đỡ, đầu tư vào lĩnh vực giáo dục - đào tạo theo quy định của Nhà nước. Xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu giáo dục - đào tạo trong điều kiện mới. Tăng cường thực hiện chương trình bồi dưỡng giáo viên, bồi dưỡng chuẩn hóa, nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ giáo viên.

Đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giáo dục theo tinh thần tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục - đào tạo. Nhà nước thực hiện đúng chức năng định hướng phát triển, tạo lập khung pháp lý và kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực thi pháp luật, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục - đào tạo, chống bệnh thành tích. Đổi mới tổ chức và hoạt động, đề cao và bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường, nhất là trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. 

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới

 


Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước khẳng định: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021-2030), Đảng đã đưa ra mục tiêu tổng quát về xây dựng, phát triển con người như sau: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc”[1]. Đảng ta đã gắn nhân tố con người gắn với xây dựng văn hóa làm nền tảng tinh thần với hàm ý văn hóa và con người là cặp đôi biện chứng, trong đó con người là chủ thể sáng tạo văn hóa và thụ hưởng các giá trị, sản phẩm văn hóa. Đảng ta cũng đã nêu ra những tiêu chí, những chuẩn mực của con người Việt Nam trong giai đoạn mới đó là: Giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi, sống có văn hoá, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính, có khả năng sáng tạo và ứng dụng khoa học - công nghệ vào quá trình lao động sản xuất và quản lý; có nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực, kỹ năng, trách nhiệm xã hội… việc xây dựng con người phải thông qua hoạt động thực tiễn, cụ thể của từng người.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 231.

Phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao được coi là khâu đột phá chiến lược, là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững

 


Trong bối cảnh toàn cầu hoá và kinh tế tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao đang trở thành nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với bất cứ quốc gia nào thì việc lựa chọn phát triển nhanh nguồn nhân lực là khâu đột phá là tất yếu, khách quan và phù hợp. Nhận thức rõ điều đó, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định, phát triển nhanh nguồn nhân lực là một trong ba “khâu đột phá” chiến lược; trong đó phải: “Chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài; có chính sách vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia cả trong và ngoài nước”2 để hiện thực hóa mục tiêu: Đến năm 2025, nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Theo đó, phát triển nguồn nhân lực là cơ sở để xây dựng đất nước có nền kinh tế phát triển cao; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển nhanh, bền vững trong những năm tiếp theo.