Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG!

     Xin trân trọng giới thiệu bài viết "VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG" của Tổng Bí thư Tô Lâm nhân dịp kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2026)!

Ngay sau thành công rực rỡ của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2026) với một tinh thần hân hoan đặc biệt. Dấu mốc 96 năm của Đảng càng có ý nghĩa, khi chúng ta bước vào năm đầu tiên của nhiệm kỳ mới – năm khởi đầu có vai trò quyết định trong việc cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đưa các mục tiêu chiến lược thành hiện thực. Niềm tự hào về chặng đường vẻ vang 96 năm dưới cờ Đảng quang vinh đang tiếp thêm sức mạnh, khơi dậy khí thế mới, niềm tin mới để chúng ta vững tin tiến bước.

Trải qua 96 mùa Xuân kể từ ngày ra đời, đặc biệt là hơn 80 năm Đảng cầm quyền, Đảng ta đã chứng tỏ một sức sống bền bỉ, bản lĩnh kiên cường và đường lối lãnh đạo đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Từ khi có Đảng, dân tộc ta, với truyền thống ngàn năm văn hiến, đã viết tiếp những trang sử hào hùng: lãnh đạo Nhân dân tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; lãnh đạo toàn dân chiến thắng thực dân, đế quốc trong các cuộc kháng chiến trường kỳ, thu non sông về một mối và đưa cả nước tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mỗi bước thăng trầm của lịch sử đều là thử thách tôi luyện Đảng ta ngày càng trưởng thành, vững mạnh hơn trên con đường phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Chặng đường 96 năm qua đã khẳng định: không có lực lượng chính trị nào ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam đủ uy tín, năng lực và bản lĩnh lãnh đạo cách mạng với mục tiêu vì Nhân dân. Vai trò cầm quyền và lãnh đạo toàn diện của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều làm nên sức mạnh, uy tín của Đảng không chỉ ở những chiến công hiển hách, mà còn ở tinh thần cầu thị, dám nhìn thẳng vào sự thật, dũng cảm nhận khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa. Nhờ đó, Đảng ta luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Hành trình 96 năm của Đảng đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Trước hết, ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phải luôn được kiên định nắm vững – đó là hai mục tiêu chiến lược, gắn bó chặt chẽ với nhau trong suốt tiến trình cách mạng. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa xã hội là nền tảng vững chắc bảo đảm nền độc lập chân chính, lâu bền cho dân tộc. Thấm nhuần chân lý đó, Đảng ta luôn luôn kiên định con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã lựa chọn: vừa kiên quyết bảo vệ bằng được độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, vừa bền bỉ xây dựng chủ nghĩa xã hội vì hạnh phúc của Nhân dân.

Bài học sâu sắc, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đó là sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhân dân vừa là người làm nên những thắng lợi lịch sử, vừa là nguồn sức mạnh vô tận để Đảng tồn tại và phát triển. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Đảng ta được Nhân dân tin tưởng giao phó sứ mệnh và Đảng không có lợi ích nào khác ngoài phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: "Đảng không phải là tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng." Lời dạy của Bác vẫn vẹn nguyên giá trị, nhắc nhở rằng Đảng phải luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, lấy dân làm gốc và lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất. Thực tiễn cũng cho thấy, một khi quan liêu, tham nhũng, xa rời Nhân dân, thì đó sẽ là nguy cơ khôn lường cho vận mệnh đất nước và chính sự tồn vong của Đảng. Do đó, giữ gìn mối quan hệ máu thịt với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng luôn là nguyên tắc sinh tử. Sự ủng hộ, tin yêu của Nhân dân chính là thước đo uy tín, nguồn sức mạnh và "bí quyết" thắng lợi của Đảng ta trong mọi giai đoạn cách mạng.

Bên cạnh đó, Đảng ta luôn coi trọng và không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công" – lời hiệu triệu của Bác Hồ đã kết tinh chân lý: đoàn kết là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn nhất của cách mạng Việt Nam. Đảng phải biết phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đây vừa là bài học, vừa là phương châm hành động để Đảng lãnh đạo Nhân dân vượt qua mọi khó khăn, đưa đất nước vươn lên tầm cao mới trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

Bài học lớn bao trùm lên tất cả là: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Lịch sử 96 năm qua khẳng định vai trò tiên phong, "đội quân dẫn đường" của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Đảng muốn lãnh đạo lâu dài thì phải luôn tự hoàn thiện, tự làm mới, giữ vững bản chất cách mạng và tính tiên phong. Đảng ta phải không ngừng học tập, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng nâng cao trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức thực tiễn để đủ sức giải quyết những vấn đề mới do thực tiễn cách mạng đặt ra. Đồng thời, Đảng phải thường xuyên cảnh giác, đấu tranh phòng chống những nguy cơ lớn đối với mình, nhất là sai lầm về đường lối, chệch hướng, tụt hậu về kinh tế, bệnh quan liêu, tham nhũng và sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ tiếp tục là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ ta.

Ở mỗi bước ngoặt lịch sử, Đảng đều kịp thời đề ra chủ trương đúng đắn và nghiêm khắc sửa chữa sai lầm, khuyết điểm nếu có. Sự dũng cảm "tự soi, tự sửa" giúp Đảng tránh rơi vào giáo điều, trì trệ, không ngừng lớn mạnh để đáp ứng yêu cầu của cách mạng qua từng giai đoạn. Từ những bài học lịch sử, Đảng ta luôn chủ động đưa ra những quyết sách kịp thời; tiêu biểu là công cuộc Đổi mới từ thập niên 1980 đã đưa đất nước thoát khủng hoảng và phát triển mạnh mẽ. Gần đây, trước nạn tham nhũng, suy thoái trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận và quyết tâm thực hiện để chấn chỉnh, đẩy mạnh đấu tranh với tinh thần "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật".

Hôm nay, nhìn lại chặng đường gần một thế kỷ qua, chúng ta tự hào nhận thấy: dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ một dân tộc nô lệ, đói nghèo, Việt Nam đã vươn lên thành một quốc gia độc lập, thống nhất, tự chủ, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế; từ một đất nước kiệt quệ sau các cuộc chiến tranh, chúng ta đã tiến hành công cuộc Đổi mới 1986, đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Nhìn ra thế giới, có thể khẳng định: cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam đang ngày một nâng cao. Bạn bè năm châu biết đến Việt Nam như một dân tộc anh hùng trong đấu tranh giành độc lập, đồng thời là một đối tác tin cậy, một quốc gia yêu chuộng hòa bình và đang vươn lên mạnh mẽ về kinh tế. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đó khẳng định chân lý: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là "ngọn cờ tập hợp sức mạnh toàn dân tộc" trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại hội XIV của Đảng đã đề ra những định hướng, mục tiêu chiến lược quan trọng cho giai đoạn sắp tới, đặc biệt là quyết tâm thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm. Trách nhiệm lịch sử đặt lên vai toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là phải hiện thực hóa những mục tiêu, khát vọng đó thành hiện thực sinh động. Mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên – nhất là người đứng đầu – cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu đi đầu trong triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, chủ động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm. Toàn Đảng phải tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách quyết liệt, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương; nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu; củng cố mối quan hệ máu thịt với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để kiểm soát quyền lực và chỉnh đốn đội ngũ. Đồng thời, toàn hệ thống chính trị phải vào cuộc đồng bộ, phát huy hiệu quả để đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong mỗi người dân Việt Nam.

Gần một thế kỷ ra đời, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta đã thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Chặng đường phía trước sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm của Đảng cầm quyền, với truyền thống anh hùng và tinh thần đoàn kết của cả dân tộc, nhất định chúng ta sẽ vượt qua mọi trở ngại, tranh thủ thời cơ, tiếp tục giành những thắng lợi to lớn hơn nữa. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục chung sức đồng lòng, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và sức sáng tạo của con người Việt Nam trong thời đại mới. Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, chúng ta vững bước tiến lên, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, quyết tâm xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Vững bước dưới cờ Đảng quang vinh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nguyện đem hết tâm huyết, trí tuệ và bản lĩnh để kiến tạo một nước Việt Nam hùng cường, để Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại, để chúng ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu trong kỷ nguyên mới. Mùa xuân của đất nước sẽ mãi tươi đẹp, bền vững khi mỗi người Việt Nam – dù ở cương vị nào – đều nỗ lực xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh, chung tay xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh. Để mai sau nhìn lại, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam có thể tự hào đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cao cả của dân tộc, đã sống và cống hiến xứng đáng cho Tổ quốc, cho Nhân dân./.


QV-ST!

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

KHÔNG THỂ ĐÁNH TRÁO BẢN CHẤT, XUYÊN TẠC VỊ TRÍ, VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM!

     Trước, trong thời gian diễn ra Đại hội XIV của Đảng, mức độ và tính chất các hoạt động chống phá của các cá nhân, tổ chức thù địch, phản động có chiều hướng phức tạp, tinh vi hơn, đặc biệt là trên không gian mạng. Tuy nhiên, sự thành công của Đại hội là minh chứng thuyết phục bác bỏ những luận điệu sai trái.

Những ngày qua, nhân kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2026), các thế lực thù địch, tổ chức phản động lưu vong, phần tử cơ hội chính trị lại tiếp tục luận điệu tuyên truyền chống phá, bôi nhọ thành quả, vai trò lãnh đạo của Đảng.

Những luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng

Gần đây, một số bài viết đưa ra xu hướng tư tưởng của những người tự xưng “đi tìm con đường cứu nguy cho dân tộc”, “tìm con đường thứ 3”… và ngụy biện rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền”; “Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”; “phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì đất nước mới phát triển”...

Họ tìm cách ngụy tạo, cắt dán thông tin, đổi trắng thay đen, bịa đặt những chi tiết không đúng sự thật hòng bôi nhọ danh dự, uy tín, lịch sử hào hùng, vẻ vang của Đảng và các đồng chí lãnh đạo Đảng. Lợi dụng mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với các đảng cộng sản trên thế giới, các thế lực thù địch đưa ra ý kiến bình luận, so sánh sai lệch về lịch sử Đảng ta với lịch sử các đảng cộng sản anh em trên thế giới, quy chụp Đảng ta là “rập khuôn”, “bắt chước”.

Từ đó, họ đánh tráo bản chất, xuyên tạc về sự lựa chọn con đường XHCN tại Hội nghị thành lập Đảng năm 1930 là một “sai lầm lịch sử”. Hướng lái, xuyên tạc từ sai lầm này đến sai lầm trong việc đưa ra Chính cương, Sách lược vắn tắt là “giáo điều”, “sao chép” máy móc mô hình đấu tranh giai cấp từ bên ngoài, gây ra sự chia rẽ dân tộc, đưa đất nước vào con đường đấu tranh giai cấp cực đoan, trái với truyền thống dân tộc và là “nguyên nhân của những đau thương trong lịch sử”.

Qua đó, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị phủ nhận tính tất yếu khách quan của việc lựa chọn con đường đi lên CNXH; phủ nhận tính chính nghĩa, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cho đây chỉ là cuộc “đảo chính”, là “sự ăn may” tại thời điểm Nhật đảo chính Pháp và đầu hàng đồng minh tạo nên một “khoảng trống quyền lực”. Xuyên tạc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược là sai lầm, ngụy biện rằng không nhất thiết phải tiến hành chiến tranh cách mạng, không nhất thiết phải sử dụng bạo lực để “tránh việc gây chết chóc cho người dân vô tội, cho đồng bào ở cả hai miền Nam - Bắc”. Họ phủ nhận nỗ lực, thành tựu đạt được sau 40 năm đổi mới, miệt thị do Đảng lãnh đạo nên Việt Nam ngày càng tụt hậu, đất nước lạc hậu, kinh tế kém phát triển, xã hội không có tự do, dân chủ…

Những luận điệu này thực chất chỉ là “bổn cũ soạn lại”, mang tính cũ mòn, sáo rỗng nhưng họ chỉ “hâm nóng” vào các dịp Việt Nam kỷ niệm ngày thành lập Đảng hay tổ chức các sự kiện chính trị quan trọng. Về bản chất, các luận điệu đó hoàn toàn sai trái và nguy hiểm bởi đánh tráo bản chất, xuyên tạc về vai trò, ý nghĩa lịch sử sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò của Đảng đối với công cuộc lãnh đạo dân tộc giải phóng đất nước, đánh đuổi xâm lăng, lật đổ chế độ áp bức, bóc lột, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, thống nhất giang sơn.

Hiện nay, dưới những vỏ bọc như “phản biện xã hội”, “góp ý xây dựng”, “lo cho tương lai đất nước”…, nhiều đối tượng đã cố tình bóp méo bản chất các chủ trương, chính sách lớn của Đảng trong đổi mới, phát triển đất nước, xuyên tạc rằng đường lối phát triển đất nước “thiếu thực tế”, “lệch hướng”, “không theo kịp thời đại”, làm méo mó những quan điểm có tầm nhìn chiến lược của Đảng; gây hoang mang dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước.

Những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động hòng làm thay đổi nhận thức, tâm lý, tình cảm của cán bộ, đảng viên và quần chúng, gây hoài nghi, mất niềm tin vào lịch sử của Đảng, phủ nhận công lao vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng, kích động tâm lý nghi ngờ trong nội bộ, gây chia rẽ giữa Đảng với nhân dân. Một khi niềm tin bị xói mòn, sự đồng thuận xã hội bị phá vỡ thì đó chính là mảnh đất màu mỡ để các thế lực chống phá thúc đẩy những kịch bản chính trị nguy hiểm như đã từng diễn ra ở nhiều nước trên thế giới, được gọi là “cách mạng màu”.

Lịch sử đã chọn Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo

Năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp theo tiếng gọi “Cần Vương” do các văn thân, sĩ phu lãnh đạo đã nổ ra mạnh mẽ nhưng tất cả đều bị đàn áp và lần lượt tan rã. Những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống xâm lược Pháp lại liên tục nổ ra như: Phong trào Đông Du (1905), Việt Nam Quang phục Hội (1912) do Phan Bội Châu khởi xướng; phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh phát động (1906-1908); phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và nhiều nhân sĩ yêu nước lãnh đạo. Tất cả các phong trào đều lần lượt thất bại bởi sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù.

Cuối những năm 20 của thế kỷ XX, nhiều tổ chức và đảng phái chính trị ở Việt Nam được thành lập và đều có khuynh hướng, mục tiêu đấu tranh đòi độc lập dân tộc như Việt Nam Nghĩa đoàn, Hội Phục Việt, Đảng Thanh niên Việt Nam, Việt Nam Quốc dân Đảng, Hội kín Nam Kỳ... Đặc biệt, nửa cuối năm 1929, đầu năm 1930, ở Việt Nam xuất hiện 3 tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản đã tiếp tục thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, 3 tổ chức cộng sản lại hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, tạo ra sự chia rẽ, mất đoàn kết, làm phân tán sức mạnh chung của phong trào, điều này nếu để lâu sẽ không có lợi cho cách mạng Việt Nam.

Ngày 3/2/1930, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất 3 tổ chức cộng sản nói trên. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa tuân theo quy luật chung, vừa tuân theo quy luật lịch sử đặc thù của Việt Nam đã giải quyết triệt để cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mở ra một thời đại mới trong lịch sử xây dựng, phát triển đất nước.

Sứ mệnh và vai trò của Ðảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định ngay từ khi mới thành lập, được chỉ rõ trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và nay đang thực hiện công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được thể hiện trong những năm 30 của thế kỷ XX đến nay đã đánh dấu bằng các mốc son chói lọi. Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam) - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á; thắng lợi vang dội của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân, đế quốc, giải phóng và thống nhất đất nước; những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước.

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh mới

Trải qua 96 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh vai trò lịch sử và bản lĩnh của một Đảng cầm quyền chân chính: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, đồng thời không ngừng đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử. Có thể khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với hệ thống nghị quyết chiến lược mang tính kiến tạo, đất nước ta đang đứng trước vận hội phát triển mới. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không phải là sự thay đổi con đường, mà là sự phát triển ở tầm cao mới của con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn - con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Từ nền móng vững chắc là thế và lực đã được tạo dựng, Đại hội XIV đã vạch ra tầm nhìn dài hạn để dẫn dắt dân tộc ta vững tin dưới lá cờ vinh quang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi mục tiêu: Đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Để có thể gánh vác sứ mệnh lớn lao ấy, đòi hỏi Ban Chấp hành Trung ương khóa mới phải thật sự là một tập thể đoàn kết và vững mạnh, trí tuệ và bản lĩnh; dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới và dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân. Sức mạnh của Đảng, được bồi đắp thông qua quá trình lãnh đạo có tính hệ thống, kiên định về mục tiêu nhưng linh hoạt trong phương thức, cùng sự đoàn kết của toàn dân tộc, sự đồng thuận và tham gia ngày càng sâu của toàn xã hội trở thành động lực mạnh mẽ để Đảng Cộng sản Việt Nam vững vàng gánh vác trọng trách lịch sử trong thời đại mới.

Trong bối cảnh thế giới biến động, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt và tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu diễn ra sâu rộng, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, Đại hội XIV thể hiện rõ bản lĩnh cầm quyền vững vàng của Đảng: Không dao động trước biến động, không né tránh khó khăn, không thỏa hiệp với những lực cản của sự phát triển. Đại hội nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình đất nước, chỉ rõ cả thành tựu và hạn chế, từ đó hoạch định con đường phát triển của đất nước bằng tư duy tỉnh táo, tinh thần trách nhiệm cao và tầm nhìn cho một kỷ nguyên mới.

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: "Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng, từ đây, mọi người dân Việt Nam, hàng trăm triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng tâm hiệp lực, chung sức đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh”.

Kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng, với niềm tin mới và khí thế mới, toàn Đảng, toàn dân ta bày tỏ niềm tin vào kết quả Đại hội XIV cũng như quyết tâm biến Nghị quyết Đại hội thành động lực hành động, góp phần xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh mới. Thực tiễn đó là minh chứng thuyết phục nhất bác bỏ các thông tin sai trái, các luận điệu quy chụp, phủ nhận thành tựu trên các lĩnh vực, làm thất bại ý đồ chính trị hòng hạ thấp hình ảnh, uy tín, danh dự đất nước và con người Việt Nam, chia rẽ đại đoàn kết toàn dân tộc./.
QV-ST!

VỮNG BƯỚC DƯỚI NGỌN CỜ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUANG VINH!

     Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, mở ra tương lai tươi sáng cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Sự kiện lịch sử trọng đại này là kết quả tất yếu của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở nước ta. Trải qua 96 năm xây dựng và trưởng thành (3/2/1930-3/2/2026), Đảng đã luôn giữ vững vai trò lãnh đạo, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Với bản lĩnh chính trị vững vàng và sự trung thành tuyệt đối với lợi ích của nhân dân, Đảng đang dẫn dắt dân tộc bước vào một hành trình mới đầy khát vọng: Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã xác định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tạo nên bước ngoặt vĩ đại chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước. Chỉ 15 năm sau ngày thành lập, Đảng đã lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, đập tan xiềng xích nô lệ và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp đó, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã viết nên những bản hùng ca chói lọi: Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Sau năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với vô vàn khó khăn do hậu quả chiến tranh và sự bao vây, cấm vận. Trước thực trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng, với bản lĩnh của một Đảng cách mạng, Đại hội VI (1986) đã nhìn thẳng vào sự thật, khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện. Đây là một bước đột phá về tư duy lý luận, chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước thiếu lương thực, chúng ta đã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo và nhiều nông sản đứng hàng đầu thế giới, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh và Việt Nam được quốc tế đánh giá là điểm sáng trong thực hiện các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố. Đảng luôn quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc, xác định nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới. Việc thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã khơi dậy mạnh mẽ nguồn lực và sự sáng tạo trong nhân dân, tạo nên sự đồng thuận xã hội cao độ.

Trên mặt trận đối ngoại, Đảng đã lãnh đạo thực hiện đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Từ một quốc gia bị bao vây, cô lập, đến nay, Việt Nam nâng tổng số quốc gia có quan hệ ngoại giao lên 195, thiết lập được mạng lưới quan hệ Đối tác chiến lược, Đối tác toàn diện với hàng chục nước. Trong đó có việc nâng tầm “gắn kết chiến lược” với nước bạn bè truyền thống, thêm 6 Đối tác chiến lược toàn diện, 9 Đối tác chiến lược và 2 Đối tác toàn diện, đưa số quốc gia có quan hệ từ mức Đối tác toàn diện lên 42, bao gồm toàn bộ các nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các nước G7, hầu hết các nước G20. Việt Nam cũng là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức quốc tế.

Với thành công rực rỡ của Đại hội XIV, dân tộc Việt Nam đang đứng trước vận hội mới để bước vào kỷ nguyên vươn mình. Đây là thời kỳ phát triển bứt phá, hướng tới mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Để hiện thực hóa khát vọng đó, Đảng xác định ch.uyển đ.ổi s.ố là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất mới và hoàn thiện quan hệ sản xuất. Khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo được xem là “chìa khóa vàng”, là yếu tố sống còn để vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Đảng đã ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, tạo hành lang pháp lý để Việt Nam chủ động nắm bắt thành tựu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Song song với phát triển kinh tế, Đảng đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ đã đạt được nhiều kết quả cụ thể, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân. Đảng kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh mới. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín là nhiệm vụ “then chốt của then chốt”. Đảng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, thực hiện tốt các chuẩn mực cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thực sự là những công bộc trung thành của nhân dân.

Chặng đường đã qua là minh chứng sống động cho bản lĩnh, trí tuệ và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với một quá trình nỗ lực phấn đấu kiên trì, bền bỉ và sức sáng tạo phi thường của toàn dân tộc, chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về những gì đã đạt được. Trong kỷ nguyên mới, với tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và ý chí tự lực, tự cường, chúng ta tin tưởng tuyệt đối rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, đất nước sẽ tiếp tục cất cánh, vươn tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu./.

QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - 96 NĂM TIÊN PHONG VÌ TỔ QUỐC VÀ NHÂN DÂN!

     Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện trọng đại trong lịch sử cách mạng và lịch sử dân tộc Việt Nam. Chín mươi lăm năm qua, Đảng luôn toàn tâm, toàn ý, tận lực phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, sẵn sàng chấp nhận hy sinh, tổn thất, kiên cường vượt qua mọi thách thức, khó khăn, hun đúc nên “pho lịch sử bằng vàng”, mở ra các kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc. Đó là kỷ nguyên độc lập dân tộc, thống nhất non sông với chiến thắng vang dội trước chủ nghĩa phát-xít, chủ nghĩa thực dân cũ và mới; kỷ nguyên hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đây là cơ sở vững chắc, tạo dựng niềm tin to lớn để Đảng ta tiếp tục nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, sức chiến đấu, lãnh đạo đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.

Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2025), đồng chí GS, TS Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bài viết quan trọng “Đảng cộng sản Việt Nam - Tiên phong vì Tổ quốc và Nhân dân”. Nhân dịp kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2026), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu lại toàn văn bài viết: 

Đảng kiên cường lãnh đạo dân tộc Việt Nam thực hiện khát vọng độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội

Gần một thế kỷ trước, thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Chủ nghĩa đế quốc gia tăng áp bức, bóc lột khiến cho đời sống nhân dân lao động trên thế giới trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa, trong đó có nước ta. Tuy nhiên, liên tiếp các phong trào đấu tranh ở trong nước đều bị chính quyền thực dân, phong kiến đàn áp dã man. Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam, một nước thuộc địa phương Đông lạc hậu, giai cấp công nhân chưa đông; là kết quả của sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam; gắn liền với tư tưởng và công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đảng ra đời đã chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng. Từ đây, cách mạng Việt Nam được đặt trong quỹ đạo cuộc cách mạng vô sản, thực hiện chân lý lớn nhất của thời đại là Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Để thực hiện mục tiêu sống còn là phải xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, trở thành một quốc gia độc lập, tiến lên xây dựng chế độ xã hội mới, ngay từ khi ra đời và liên tiếp trong 15 năm, Đảng đã phát động và tổ chức các phong trào rộng lớn: Phong trào Cách mạng 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết - Nghệ Tĩnh; phong trào dân chủ 1936 - 1939 trên toàn cõi Đông Dương; phong trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945, đỉnh cao là cao trào kháng Nhật, cứu nước, trực tiếp dẫn đến thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất”. Cho dù gặp phải vô vàn hiểm nguy, gian khổ, chịu rất nhiều tổn thất, song với sứ mệnh cao cả trước Tổ quốc và nhân dân, Đảng luôn thể hiện vai trò lãnh đạo không thể thay thế và bản lĩnh chính trị kiên cường, vì nền độc lập, tự do của dân tộc. Với bản lĩnh, trí tuệ và sức chiến đấu vô song, Đảng đã đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi kiếp lầm than, đưa nhân dân lên vị trí làm chủ đất nước, tạo ra những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và mang tính thời đại. Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, chủ nghĩa Mác - Lênin được vận dụng sáng tạo, đưa đến thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc và đồng thời kiến tạo nền dân chủ mới, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là hiện thân của sức mạnh Việt Nam trong thời đại mới mà cốt lõi là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với sự tham gia của tất cả giai tầng yêu nước. Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, đồng thời kết hợp với sức mạnh thời đại, đón bắt được thời cơ lịch sử khi chủ nghĩa phát-xít sụp đổ. Cũng từ đây, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền.

Để bảo vệ độc lập, tự do, thống nhất, xây dựng chế độ mới, trong 30 năm không ngừng nghỉ, Đảng đã dẫn dắt toàn dân tộc vượt qua nhiều tình thế hiểm nghèo, “nghìn cân treo sợi tóc”, đánh thắng các kẻ thù lớn mạnh trên thế giới. Khi vừa giành được độc lập, Đảng lãnh đạo nhân dân vừa chống “giặc đói”, “giặc dốt”, vừa chống “thù trong, giặc ngoài”. Khi cơ hội đàm phán hòa bình không còn nữa thì chủ động tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, “Chín năm làm một Điện Biên. Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đưa đến việc ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Đông Dương. Khi chủ nghĩa thực dân mới can thiệp, đưa quân đội vào xâm lược hòng chia cắt đất nước ta, Đảng quyết tâm lãnh đạo nhân dân cả nước bền bỉ kháng chiến, tiến hành chiến tranh cách mạng, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, đi tới Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thống nhất non sông. Thắng lợi đó “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Kỷ nguyên giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930 - 1975) được tạo nên bởi chiến thắng vô cùng hiển hách của nhân dân ta trước chủ nghĩa phát-xít, chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới. Mỗi khi cách mạng đứng trước thách thức nghiêm trọng và tình thế hiểm nghèo, thậm chí chưa có tiền lệ trong lịch sử, phải chịu tổn thất to lớn, thì khi đó sự kiên cường, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam đã được Đảng phát huy mạnh mẽ, dẫn dắt toàn dân tộc luôn giữ vững tinh thần cách mạng tiến công bằng sức chiến đấu vô song. Cơ đồ to lớn của đất nước được mở ra với nền độc lập, thống nhất được củng cố vững chắc; chủ nghĩa xã hội bước đầu được xây dựng trong điều kiện chiến tranh và làm nhiệm vụ hậu phương lớn vẫn đạt được những thành tựu to lớn, là tiền đề cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.

Đảng lãnh đạo đất nước thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới và hội nhập

Ngay sau khi đất nước vừa được thống nhất, cách mạng Việt Nam phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thách thức chưa từng có: Hậu quả chiến tranh rất nặng nề, phải khắc phục lâu dài; chủ quyền biên giới quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng, phải kiên quyết bảo vệ, củng cố; các thế lực thù địch bao vây, cấm vận mọi bề, phải kiên trì đấu tranh gỡ bỏ; tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nóng vội trong điều hành kinh tế - xã hội, cộng với những hạn chế, khuyết điểm của nền kinh tế bộc lộ ngày càng rõ, cần được đổi mới; khủng hoảng kinh tế - xã hội xuất hiện và ngày càng trầm trọng, phải nỗ lực khắc phục, vượt qua. Đây cũng là thời điểm tình hình thế giới diễn biến ngày càng bất lợi cho cách mạng Việt Nam. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng toàn diện. Một số đảng cộng sản cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa chủ trương tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa, cải tổ. Trước yêu cầu cấp thiết “đổi mới là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, đất nước và chế độ”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, dũng cảm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật”, kiên trì tổng kết thực tiễn, vững tin ở sức mạnh của nhân dân, quả cảm dứt bỏ tư duy và cách làm không còn phù hợp, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước, quyết tâm khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, tìm con đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, giữ vững ổn định và phát triển đất nước. Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 hoạch định đường lối đổi mới, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bị giảm sút nghiêm trọng. Với tầm cao trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng và sự nhạy bén về thời cuộc, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Quyết tâm của Đảng thể hiện tại Đại hội VII (năm 1991), khi khẳng định dứt khoát: “Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”. Công cuộc đổi mới được tiếp tục triển khai với sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, Việt Nam đã thu được kết quả đáng khích lệ, tạo nền tảng quan trọng để chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, nền kinh tế được nâng lên trình độ cao hơn, phát triển năng động. Việt Nam đã vươn lên nhóm 40 nền kinh tế hàng đầu thế giới, nhóm 20 nền kinh tế có kim ngạch thương mại lớn nhất thế giới. Quy mô nền kinh tế đất nước đã tăng hàng trăm lần so với năm đầu đổi mới. Không chỉ phá bỏ thế bị bao vây, cô lập, Việt Nam tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với tất cả nước lớn và toàn bộ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, là thành viên tích cực của ASEAN và hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế, có quan hệ với 230 thị trường tại các châu lục, là mắt xích quan trọng trong 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã có hiệu lực gắn kết với các nền kinh tế chủ chốt ở khu vực và toàn cầu. Việt Nam đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của nhà đầu tư và khách du lịch, bạn bè quốc tế.

Mục tiêu của Đảng phấn đấu vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân đạt những kết quả quan trọng. Các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế... đều có sự phát triển vượt bậc; phát triển văn hóa - xã hội, con người có nhiều tiến bộ; định hình ngày càng rõ nét hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đất nước ta được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế xem như một điểm sáng về xóa đói, giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.

Sức mạnh tổng hợp quốc gia ngày càng được củng cố và tăng cường; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bảo đảm vai trò quản lý hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.

Sức mạnh chính trị, tinh thần, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần quan trọng vào thành công của quá trình xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và nâng cao.

Lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Đảng kiên định và không ngừng vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho phù hợp với thực tiễn phát triển từng thời kỳ. Trên cơ sở đó, Đảng dẫn dắt dân tộc ta vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, không ngừng đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới thực sự tạo nền tảng, tạo đà cho những bước phát triển nhảy vọt cao hơn của đất nước.

Xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Trong mọi hoàn cảnh, Đảng luôn vững tin vào sự đúng đắn, tính khoa học, tinh thần bách chiến bách thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tin tưởng vào thắng lợi tất yếu của sự nghiệp cách mạng mà Đảng ta, nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Dù trải qua nhiều bước thăng trầm, khó khăn, thách thức, Đảng luôn vững tin ở sức mạnh của nhân dân, sẵn sàng đấu tranh gian khổ vì quyền lợi của nhân dân và có phương cách tập hợp, phát huy sức mạnh của nhân dân. Có được bản lĩnh vững vàng còn nhờ Đảng ta không ngừng rèn luyện ý chí cách mạng, luôn củng cố và đổi mới tổ chức, tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng và của toàn dân tộc. Qua các chặng đường cách mạng, Đảng kịp thời và nghiêm túc đúc kết kinh nghiệm đấu tranh, qua đó rèn luyện bản lĩnh và ý chí cách mạng cho đảng viên và quần chúng, tạo sự chủ động trước các tình huống mới, sẵn sàng đối mặt với thách thức mới. Bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng còn biểu hiện và có nguyên nhân từ việc Đảng luôn quan tâm tự đổi mới và chỉnh đốn, nghiêm túc nhìn nhận và kiên quyết đấu tranh với hạn chế trong việc hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối cách mạng; đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện tiêu cực trong Đảng, thanh lọc khỏi hàng ngũ của Đảng những người không giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng và không còn nhiệt huyết đấu tranh.

Đảng lãnh đạo đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Những thành tựu to lớn đã đạt được trong 96 năm qua bắt nguồn từ con đường cách mạng đúng đắn mà Đảng ta, nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn; từ bản lĩnh chính trị và sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng luôn lấy việc phục vụ nhân dân làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu, luôn trung thành tuyệt đối và vô hạn với lợi ích của dân tộc, của nhân dân; từ sức mạnh to lớn của tinh thần yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; từ nỗ lực và quyết tâm, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng mãnh liệt về độc lập, tự do, hạnh phúc của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam; từ sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của bạn bè quốc tế, nhân dân thế giới đã dành cho Việt Nam.

Thành quả cách mạng vĩ đại đã đạt được còn từ sự hy sinh của hàng triệu anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam và nghĩa vụ quốc tế cao cả; đóng góp to lớn của Nhân dân, những người đã trải bao gian lao trong lao động, sáng tạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, rất đáng trân trọng, tự hào. Đây là nguồn động lực tinh thần to lớn, đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta sống và làm việc có trách nhiệm hơn; không được phép tự mãn với thành quả đạt được, càng không được tự cho mình quyền thụ hưởng một cách vô trách nhiệm thành quả từ sự gian lao, hy sinh của bao lớp cha anh đi trước. Chúng ta cần tiếp nối, kế thừa, phát huy, tiếp tục lan tỏa giá trị truyền thống của dân tộc và cách mạng trong bối cảnh mới.

Hiện nay, thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại. Môi trường an ninh quốc tế ngày càng căng thẳng, phức tạp; cuộc đấu tranh, cạnh tranh quốc tế gay gắt; lực lượng cánh tả, lực lượng tiến bộ, phong trào xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển song còn gặp khó khăn; các thế lực thù địch, phản động ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, nguy hiểm. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự hình thành nền kinh tế tri thức, xã hội tri thức, yêu cầu chuyển đổi mô hình kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao… vừa tạo ra thời cơ, thuận lợi, vừa mang đến thách thức to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng gần một thế kỷ qua của Đảng ta đã chỉ ra rằng: Thời cơ không tự đến mà chủ yếu là do ta chuẩn bị sẵn sàng cho thời cơ, nhạy bén đón bắt đúng thời cơ; vượt qua thách thức chính là thời cơ lớn nhất. Bối cảnh thế giới đòi hỏi và tạo ra cơ hội để Việt Nam tiếp tục sự nghiệp đổi mới với khát vọng lớn lao hơn, bước đi vững chắc hơn, tốc độ nhanh hơn, quyết đoán đột phá mạnh mẽ hơn. Đồng thời, kỷ nguyên đổi mới, phát triển và hội nhập đã nâng cao thực lực, vị thế quốc gia và tiếp thêm khát vọng, tạo đà mạnh mẽ cho đất nước. Đây đang là thời điểm hội tụ được giá trị của dân tộc và thời đại, của truyền thống và đương đại, của vật chất và tinh thần; ý Đảng đang hòa quyện với lòng dân trong khát vọng phát triển đất nước hùng cường. Khởi điểm của kỷ nguyên mới đã đến, chậm trễ là đánh mất cơ hội phát triển. Hơn lúc nào hết, cần phát huy cao độ tinh thần “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”, lấy đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng làm động lực, huy động mạnh mẽ sức dân, gắn kết chặt chẽ ý Đảng với lòng dân làm nền tảng, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu, không ngừng phấn đấu, đóng góp nhiều hơn nữa vào duy trì hòa bình, ổn định, phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng, toàn Đảng, toàn dân tộc Việt Nam đang ra sức phấn đấu, quyết tâm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được sống trong môi trường an ninh, an toàn, an tâm, không ai bị bỏ lại phía sau. Trước các mốc son có tính bước ngoặt này, cán bộ, đảng viên và nhân dân đang rất trông đợi, kỳ vọng lớn lao vào những quyết sách mới, mạnh mẽ và sáng suốt, mang tính đột phá của Đảng.

Kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng gần một thế kỷ qua cũng đã chỉ rõ, chính vào thời điểm then chốt này, hơn lúc nào hết Đảng phải củng cố bản lĩnh, mài sắc trí tuệ, tăng cường sức chiến đấu để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Chúng ta cần tập trung cao độ tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh; không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Đảng lãnh đạo tổ chức thực hiện thật tốt những vấn đề đã và đang đặt ra, đồng thời kiến tạo không gian phát triển mới bằng việc đúc kết và kế thừa tinh hoa truyền thống, đón bắt và phát huy giá trị thời đại và vận hội mới mang tính thời đại; phải xây dựng Đảng vững mạnh và Đảng phải trở thành nhà tổ chức vĩ đại của toàn dân tộc; Đảng là đạo đức, là văn minh, là biểu tượng của trí tuệ và bản lĩnh dân tộc, đi đầu, dẫn dắt toàn dân với tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tiên phong đột phá.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, mỗi thắng lợi to lớn luôn mở ra một thời kỳ phát triển mới với nhiều thuận lợi, cũng đồng thời đặt ra trọng trách mới, cao hơn đối với toàn Đảng, toàn dân. Để tiếp tục tăng cường bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên vững chắc trong kỷ nguyên mới, đòi hỏi Đảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; dựa chắc vào sức mạnh của nhân dân, phát huy dân chủ, quy tụ cao độ sức mạnh của nhân dân vì mục tiêu mang lại lợi ích, hạnh phúc cho nhân dân; kết hợp và phát huy cao độ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong kỷ nguyên mới; bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong mọi tình huống. Đồng thời, Đảng phải tăng cường bản lĩnh, ý chí và tinh thần kiên quyết hành động của từng cán bộ, đảng viên ở mỗi vị trí công tác của mình; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu niềm tin và khát vọng phát triển,

Kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng cũng là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường gần một thế kỷ của cách mạng Việt Nam, nhìn lại mỗi kỷ nguyên rực rỡ mở ra cho dân tộc Việt Nam ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Niềm tự hào về Đảng quang vinh, dân tộc Việt Nam anh hùng, Bác Hồ vĩ đại luôn tiếp thêm cho mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta ý chí lớn lao, sự đồng tâm nhất trí cùng toàn Đảng, toàn dân vững bước thành công trong kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu - Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh./.
---------------------------
(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t. 37, tr. 471
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 109.


QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐƯA SĨ QUAN QUÂN ĐỘI CHÍNH QUY VỀ CÔNG TÁC TẠI BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ CẤP XÃ: CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG ĐẮN, PHÙ HỢP VỚI THỰC TIỄN!

     Nhiều ý kiến đánh giá chủ trương đưa sĩ quan Quân đội chính quy về công tác tại Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã là chủ trương đúng đắn, phù hợp với yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới.

Anh hùng Lao động Hoàng Đức Thảo, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam:

Quốc phòng vững từ cơ sở - Tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển

Việc đưa sĩ quan Quân đội chính quy về công tác tại Ban Chỉ huy Quân sự (CHQS) cấp xã là một chủ trương đúng đắn, không chỉ góp phần củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh mà còn tạo môi trường ổn định, thuận lợi cho phát triển khoa học, công nghệ và cộng đồng doanh nghiệp, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững địa phương trong tình hình mới.

Quốc phòng, an ninh vững chắc ngay từ cơ sở là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng khoa học và công nghệ. Sự tham gia của sĩ quan Quân đội chính quy tại cấp xã giúp nâng cao hiệu quả quản lý, dự báo và xử lý các tình huống phát sinh, qua đó giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đổi mới sáng tạo ở địa phương.

Bên cạnh đó, sĩ quan Quân đội được đào tạo bài bản, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cao. Khi tham gia công tác tại Ban CHQS cấp xã, đội ngũ này không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng mà còn góp phần lan tỏa phong cách làm việc chuyên nghiệp, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng tại cơ sở. Đây là yếu tố rất quan trọng đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp khoa học và công nghệ, triển khai các dự án tại địa phương.

Trong bối cảnh chu.yển đ.ổi s.ố quốc gia, sự hiện diện của sĩ quan Quân đội tại cấp xã là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ trong quản lý quốc phòng địa phương; phòng, chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn, bảo đảm an ninh trật tự. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp khoa học và công nghệ tham gia cung cấp giải pháp, sản phẩm công nghệ phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội.

Tôi đề nghị các cấp, các ngành tiếp tục quan tâm hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi để sĩ quan Quân đội công tác lâu dài, ổn định tại cơ sở. Khuyến khích tăng cường phối hợp giữa lực lượng quân sự địa phương với cộng đồng doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong ứng dụng công nghệ, chuy.ển đ.ổi s.ố, nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Có cơ chế thí điểm các mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ nhiệm vụ quốc phòng ở cấp xã, qua đó phát huy tiềm năng trí tuệ và nguồn lực của doanh nghiệp trong nước.

Đại tá La Quang Mão, nguyên Tổng biên tập Báo Quốc phòng Thủ đô:

Bồi dưỡng kiến thức liên ngành cho sĩ quan Quân đội khi về địa phương làm việc

Việc đưa sĩ quan Quân đội chính quy về công tác tại Ban CHQS cấp xã là bước đi phù hợp với yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới. Chủ trương này thể hiện rõ tư duy đổi mới, chủ động, sát thực tiễn của Đảng, Nhà nước và Quân đội trong công tác quân sự, quốc phòng địa phương.

Chủ trương góp phần chuẩn hóa, chính quy hóa lực lượng quân sự địa phương, bởi sĩ quan Quân đội chính quy về cơ sở sẽ trực tiếp kèm cặp, huấn luyện, truyền thụ phương pháp công tác cho lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, qua đó từng bước khắc phục tình trạng không đồng đều về trình độ, năng lực giữa các địa phương.

Khi sĩ quan Quân đội cùng ăn, cùng ở và làm việc cùng dân, trực tiếp tham gia xây dựng nông thôn mới, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, chăm lo an sinh xã hội…, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ càng được củng cố vững chắc trong lòng nhân dân. Qua đó, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Quân đội và nhân dân.

Ngoài ra, hiện nay các thách thức an ninh phi truyền thống đa chiều, đòi hỏi lực lượng ở cơ sở phải có tư duy tổng hợp, khả năng phối hợp liên ngành và xử lý linh hoạt. Sĩ quan được đào tạo chính quy có lợi thế rõ rệt trong yêu cầu này.

Tôi mong rằng việc bố trí sĩ quan Quân đội về Ban CHQS cấp xã phải thực sự xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ, tránh hình thức, dàn trải. Sĩ quan được lựa chọn cần có năng lực thực tiễn, kỹ năng vận động quần chúng, tinh thần gắn bó lâu dài với cơ sở, không chỉ giỏi chuyên môn quân sự mà còn am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán, pháp luật.

Để chủ trương phát huy hiệu quả cao nhất, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách phù hợp về nhà ở, điều kiện sinh hoạt, chế độ đãi ngộ và lộ trình phát triển lâu dài cho sĩ quan công tác tại cơ sở. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức liên ngành về quản lý nhà nước, pháp luật, dân vận, y tế cộng đồng, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh… để sĩ quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ./.

QV-ST!

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

CÙNG BÀN LUẬN!

     Một màn trình diễn tuyệt vời của cái gọi là “tiêu chuẩn kép” đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Tiêu chuẩn kép và thói đạo đức giả không thể tồn tại nếu không có nhau, và chúng cùng nhau che đậy những giá trị lệch lạc nhất mà phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ, thích gọi là “nền dân chủ của thế giới văn minh”!

Tiêu chuẩn kép là chủ đề khá thú vị, và liên quan đến rất nhiều “nô lệ tự do” đang hò hét rất là to hiện nay. Và cũng rất tình cờ (hoặc không tình cờ), gần như 100% những người đang hò hét về việc “chiến thắng cho Ukraina” cũng là những người đang cố hết sức đòi “dân chủ” và ủng hộ cho “giá trị Mỹ” ở Việt Nam. Nói thẳng ra, phần nhiều trong số đó là những kẻ bất mãn, tự nhận mình là những cá nhân “có ý thức”, và nói chung là những người có “tư duy nô lệ tự do”. Vậy là sao?

Ta hãy xem “tiêu chuẩn kép” thể hiện như thế nào.

Năm 1991, Ukraina muốn “ly khai” khỏi sự phụ thuộc vào “Matxcova độc ác” để “thẳng tiến về hướng Tây”. “Matxcova độc ác” nói: “Không sao, cứ đi đi”. Năm 2014, Crưm và Donbas quyết định ly khai khỏi “Ukraina tốt đẹp”. “Ukraina tốt đẹp” nói: “Chúng mày phải ch*ết”. Và thế là “Ukraina tốt đẹp” cắt điện và nước của Crưm, thi*êu sống người dân Odessa, pháo kích vào cuộc diễu hành trong ngày lễ ở Mariupol, ném bom Donbas, gi*ết hại vô số người già và trẻ em… Rất là rõ ràng: Matxcova là độc ác, Kiev là rất tốt.

Năm 1999, cuộc bạo loạn của người Kosovo đòi ly khai do phương Tây xúi giục bắt đầu ở Serbia. Sau đó, NATO “nhân đạo”, dẫn đầu là Hoa Kỳ “dân chủ”, đã tấn công Serbia, bắt đầu bằng các chiến dịch ném bom phá hủy các trung tâm phát thanh truyền hình, các nhà máy điện, cầu đường, bệnh viện, nhà thờ, khu dân cư… Cho đến năm 2022, Ukraina đã ném bom, pháo kích vào Donbas, gi*ết hại hàng chục nghìn dân thường trong suốt 8 năm. Rồi nước Nga “độc ác” quyết định can thiệp và cố gắng thuyết phục chính quyền Kiev thực hiện Hiệp định Istanbul. Chỉ bốn năm sau đó, người Nga “độc ác” mới bắt đầu tấn công các nhà máy điện (không phải nhà thờ, bệnh viện…). Thế nhưng NATO vẫn là rất tốt, còn Nga thì quá độc ác.

Khi Kosovo tách khỏi Serbia, đó là điều tốt, đó là “quyền tự quyết của các dân tộc”. Khi Catalonia cố gắng ly khai khỏi Tây Ban Nha, hoặc Ireland và Scotland ly khai khỏi Anh, hoặc Donbas quyết định ly khai khỏi Ukraina, đó là điều xấu, đó là chủ nghĩa ly khai, và đó là điều đáng bị trừng phạt.

Taliban chống lại Liên Xô được gọi là “những chiến binh tự do”. Chính Taliban đó chống lại Hoa Kỳ thì lại bị gọi là “khủng*bố”.

Saddam Hussein chống lại Iran là một người tốt, một đồng minh của Mỹ và Anh. Saddam Hussein chống lại Kuwait là một bạo chúa, một nhà độc tài, một tội phạm chiến tranh.

Hugo Chavez và Nicolas Maduro, những người thắng cử hợp pháp, lại là những nhà độc tài. Zelensky hủy bỏ các cuộc bầu cử để chiếm đoạt quyền lực lại là “người bảo vệ dân chủ”.

Mỹ xâm lược Iraq, Afghanistan, Libya. Israel ném bom Gaza, Lebanon, Syria, Qatar, Iran. Tất cả là “thế giới dựa trên luật lệ”. Nga tiến hành chiến dịch quân sự đặc biệt, đó là “sự xâm lược trắng trợn”.

Chế độ Zelensky tấn công nhà máy nhiệt điện ở Belgorod: Hoan hô, giỏi quá! Nga, để đáp trả, tấn công nhà máy nhiệt điện ở Kiev: Đó là diệt*chủng, cứu chúng tôi với!

Ở Liên Xô, Chernobyl là một thảm họa, là một tội ác do giới cầm quyền gây ra. Ở Nhật Bản, vụ nổ Fukushima và xả nước nhiễm phóng xạ ra đại dương là rất bình thường, mọi thứ đều ổn.

Nga có thặng dư thương mại và dự trữ vàng, ngoại hối ngày càng tăng: Nền kinh tế Nga đang tan nát.
Hoa Kỳ nợ hơn 38 nghìn tỷ đô-la: Nền kinh tế thịnh vượng và rất ổn định.

Một vụ nổ súng ở ngoại ô Matxcova khiến 2 người thiệt mạng (duy nhất trong 5 năm gần đây): Hãy nhìn xem, thập niên 90 đã trở lại.

Vụ xả súng ở Chicago khiến 71 thương vong: Có gì đâu, một ngày cuối tuần yên bình. Vệ binh Quốc gia tiến vào Minneapolis để đàn áp bạo loạn, và thống đốc đang công khai phản đối và đứng về phía người biểu tình: Có gì to tát đâu, mọi việc bình thường và ổn định.

Trump đe dọa chiếm lấy Greenland: Putin đã để mất Greeland rồi! Thật là dễ chịu.

Luật “Đăng ký Đại diện Nước ngoài” (FARA) của Mỹ là bảo vệ tự do và dân chủ. Cũng luật như thế này ở nước khác là “bóp nghẹt tự do”, là “chủ nghĩa toàn trị và chuyên chế”.

Boris Johnson nói: “Hãy chiến đấu thôi, đến người cuối cùng”. Và những người dân “độc lập” vội vàng thực hiện mệnh lệnh. Độc lập là như vậy đấy! Và không hề bịa đặt: ngay từ những năm 2010, người Ukraina đã nói rằng sự phục tùng của họ đối với người Mỹ không hề làm giảm đi “Tự do và độc lập” của họ.

Cây cầu bị sập ở Baltimore đã nằm đó 2 năm, và sẽ không thể được xây dựng lại trong tương lai gần: Đó chỉ là chuyện nhỏ, không đáng quan tâm. Trong khi đó, ở Murmansk, các cột điện cao thế bị gãy đổ do bão tuyết và công tác khắc phục hoàn thành trong 12 giờ: Đó chỉ là tuyên truyền giả dối của Nga.

Vậy ai thực sự bị lừa ở đây, và ai đã bị lừa hoàn toàn? Không có chuyện bị lừa đâu, đó là chứng rối loạn đa nhân cách, khi hai thái cực tuyệt đối cùng tồn tại/đấu tranh trong một cái đầu, cuối cùng hòa làm một trong trạng thái “say đắm”.

Tuần tới tại Kiev, nhiệt độ sẽ xuống tới -22°C (theo GisMeteo). Như vậy, việc đào hố trong nghĩa trang trên nền đất đóng băng ở nhiệt độ đó thực sự là một thách thức./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KHỞI TỐ BỊ CAN NGUYỄN ĐÌNH THẮNG VỀ TỘI “KHỦNG BỐ”!

     Ngày 30-1, thông tin từ Bộ Công an cho biết, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Đình Thắng về tội “Khủng bố”, quy định tại khoản 2 Điều 299 Bộ luật Hình sự.

Bộ Công an cho biết, ngày 16-1-2026, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk khởi tố vụ án hình sự “Khủng bố” xảy ra ngày 11-6-2023 tại tỉnh Đắk Lắk.

Kết quả điều tra vụ án, đến nay có đủ căn cứ xác định Nguyễn Đình Thắng (sinh ngày 9-3-1958 tại TP Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; nơi cư trú trước khi vượt biên ra nước ngoài: Số 14/40C Kỳ Đồng, phường Nhiêu Lộc, TP Hồ Chí Minh) đã có hành vi chỉ đạo, xúi giục, giúp sức cho Y Quynh Bdap chỉ đạo số đối tượng trong nước thực hiện hành vi khủng bố, giết người vào ngày 11-6-2023 tại tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 30-1-2026, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Đình Thắng về tội “Khủng bố”, quy định tại khoản 2 Điều 299 Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phê chuẩn các quyết định, lệnh trên.

Hiện, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đang phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk điều tra, làm rõ vụ án, hành vi phạm tội của bị can Nguyễn Đình Thắng để xử lý theo quy định pháp luật./.
QV-ST!

THU HỒI “KHI ÉN ĐƯA THOI”: KHÔNG THỂ NHÂN DANH NGHIÊN CỨU ĐỂ XUYÊN TẠC LỊCH SỬ!

    Theo thông tin được Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam chia sẻ trên trang cá nhân, ông bày tỏ sự hoan nghênh đối với quyết định của Nhà xuất bản Thế giới trong việc thu hồi và tiêu hủy cuốn sách Khi én đưa thoi” - một ấn phẩm bị dư luận chỉ ra là chứa nhiều sai phạm nghiêm trọng về lịch sử!

Thực tế, sau khi vấp phải làn sóng phản biện gay gắt và sự lên án mạnh mẽ từ xã hội, Nhà xuất bản Thế giới đã buộc phải ra quyết định thu hồi, tiêu hủy cuốn sách nói trên. Đây là động thái cần thiết nhằm khắc phục hậu quả đã gây ra, đồng thời cho thấy trách nhiệm không thể né tránh của đơn vị xuất bản trước những tác động tiêu cực đối với nhận thức lịch sử và đời sống xã hội.

“Khi én đưa thoi” là tuyển tập các bài viết từng đăng trên tạp chí Xưa và Nay, đề cập đến các vấn đề con người, lịch sử và văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, thay vì tiếp cận lịch sử một cách khách quan, khoa học và có trách nhiệm, cuốn sách lại bị dư luận chỉ ra là chứa nhiều chi tiết sai lệch, cách nhìn phiến diện, thậm chí có dấu hiệu tôn vinh, đánh giá lệch lạc một số nhân vật lịch sử như Gia Long, Lê Văn Duyệt. Những nội dung này không chỉ gây tranh cãi trong giới nghiên cứu mà còn tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đối với nhận thức xã hội, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu bảo vệ tính chuẩn xác, chuẩn mực của lịch sử dân tộc ngày càng được đặt ra nghiêm ngặt.

Cần nhấn mạnh rằng, tạp chí Xưa và Nay là cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam - một tổ chức nghề nghiệp có uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu và phổ biến lịch sử. Nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, là người gắn bó chặt chẽ với quá trình hình thành và phát triển của tạp chí, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng nội dung ngay từ những ngày đầu. Vì vậy, những sai lệch nghiêm trọng xuất hiện trong ấn phẩm không thể bị xem nhẹ hay quy về những “sơ suất kỹ thuật” đơn thuần, mà đòi hỏi phải được nhìn nhận một cách nghiêm túc về trách nhiệm học thuật, trách nhiệm xã hội và trách nhiệm chính trị trong hoạt động nghiên cứu, biên soạn và xuất bản lịch sử.

Việc thu hồi, tiêu hủy “Khi én đưa thoi” là cần thiết, song quan trọng hơn, đây phải được coi là một bài học cảnh tỉnh sâu sắc: lịch sử không phải là lĩnh vực để tùy tiện diễn giải theo cảm tính hay quan điểm cá nhân, càng không thể bị bóp méo dưới danh nghĩa “nghiên cứu”, “đa chiều” hay “cách nhìn mới”. Tôn trọng sự thật lịch sử là yêu cầu tối thiểu và cũng là ranh giới không thể vượt qua trong hoạt động khoa học và xuất bản./.
Ảnh: Ông Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam - được cho là một trong số những nhà cải cách hàng đầu của lịch sử Việt Nam theo quan điểm của phương Tây.

Ảnh 2: Cuốn sách “Khi én đưa thoi” lật sử - xuyên tạc lịch sử gây phẫn nộ Nhân dân cả nước!
QV-ST!

NHỮNG CON RẮN ĐỘC CỦA NGÀNH GIÁO DỤC LIÊN XÔ GÓP PHẦN LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ XÔ VIẾT!

     Ngày 27/01, Bộ Giáo dục LB Nga đã thừa nhận những sai lầm khi ban hành các tài liệu hướng dẫn giáo viên “tránh thao túng cảm xúc và không ép buộc học sinh trải nghiệm những cảm xúc nhất định khi giảng dạy về cuộc phong tỏa Leningrad”, và bỏ câu “tất cả những người sống sót sau cuộc phong tỏa Leningrad đều là anh hùng” trong sách giáo khoa. Bộ Giáo dục LB Nga cũng yêu cầu một số sửa đổi, loại bỏ hoàn toàn các bài thơ, đoạn trích thơ của những tác giả phản động như Joseph Alexandrovich Brodsky (một tên phản bội và tội phạm đang định cư tại Hoa Kỳ, một số bài thơ và trích đoạn thơ của hắn đã được đưa vào sách giáo khoa trong khoảng 2010 – 2015), đồng thời đưa trở lại những bài văn, thơ của Pushkin, Yesenin… vào sách giáo khoa.

Các tài liệu hướng dẫn giảng dạy và chỉnh sửa sách giáo khoa này đã được ban hành từ năm 2019 bởi Viện Giáo dục sau đại học. Về bản chất, đây không phải một “sai lầm” đơn lẻ trong giáo dục, mà là một “cơ chế” đã được vận hành trơn tru nhằm loại bỏ công tác giáo dục khỏi sự kiểm soát của Bộ Giáo dục, chuyển giao nó cho các cấu trúc có nguồn gốc phương Tây: Viện Chiến lược Phát triển Giáo dục, từng do Maxim Kostenko đứng đầu. Những sự kiện này không phải là sự cố ngẫu nhiên, đó là nỗ lực có chủ đích nhằm phá hoại nước Nga từ bên trong, là “chiến lược tấn công” vào lĩnh vực giáo dục, một trong những thành trì của chủ quyền quốc gia, nhằm xóa bỏ ký ức lịch sử trong nhận thức của thanh thiếu niên.
Maxim Kostenko là người có tiểu sử gắn bó chặt chẽ với Quỹ Soros, UNESCO và các tổ chức phi chính phủ khác tại Nga, là một “đứa trẻ của Soros”. Trong nửa cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, Kostenko đã tích cực hoạt động cho các tổ chức phi chính phủ nước ngoài - Quỹ Xã hội Mở và Quỹ Hỗ trợ Viện Xã hội Mở của George Soros. Từ 2015, anh ta thường xuyên được mời hợp tác với các chương trình của Liên Hợp Quốc (UNICEF, ILO, UNFPA, UNESCO), EU, Ngân hàng Thế giới, Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA), Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Canada (CIDA), Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), các tổ chức từ thiện tư nhân của Mỹ như Quỹ Ford, Quỹ John và Catherine… và các thực thể nước ngoài khác (hầu hết các tổ chức này hiện đã bị cấm hoạt động ở Nga). Kostenko liên tục nhấn mạnh cam kết của mình đối với việc từng bước đưa vào áp dụng các hình thức giáo dục mới (cải cách) nhằm mục đích số hóa hơn nữa môi trường giáo dục, có tính đến các phương pháp tiếp cận mới. Theo đó, “yếu tố then chốt trong việc xây dựng hệ thống giáo dục quốc gia là cá nhân hóa quá trình giáo dục, tận dụng tiềm năng của các công nghệ mới, bao gồm trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo, dữ liệu lớn… để từng bước loại bỏ vở và sách giáo khoa truyền thống bằng các tài liệu kỹ thuật số, thay thế giáo viên bằng trợ lý AI...”. Nghe rất quen, đúng không? Đây là một luận điệu toàn cầu hóa mang tính phá hoại phổ biến, hiện diện ở nhiều nước trên thế giới.
Kostenko, cùng với Zyryanov (nguyên Thứ trưởng Giáo dục), Ivanova (Giám đốc Khoa học ISRO), Rakova (nguyên Phó Giám đốc Sberbank) không phải là một nhóm ngẫu nhiên. Đây là những người trưởng thành trong hệ sinh thái của dự án tự do toàn cầu những năm 1990–2010 của Soros và UNESCO. Trong thế giới quan của họ, “tiến bộ” là sự bác bỏ các thể chế truyền thống (gia đình, cộng đồng, dân tộc, lịch sử, văn hóa như là nền tảng của bản sắc). Khi Kostenko quảng bá kỹ thuật số như là “nền tảng của trường học tương lai”, anh ta không hề phát minh ra điều gì mới mẻ mà chỉ lặp lại những luận điệu “toàn cầu hóa tự do”, nhằm mục đích loại bỏ sách giáo khoa giấy, bài tập về nhà và chính thể chế giáo viên. Đây không phải là sự đổi mới hay cải cách. Đây là công nghệ của sự tha hóa, biến thanh thiếu niên thành đối tượng bị kiểm soát, bị tước đoạt ký ức lịch sử và khả năng hành động tập thể chủ động. Đánh vào hệ thống giáo dục là một cách để loại bỏ khỏi đấu trường chính trị thế lực thực sự đe dọa những người theo chủ nghĩa toàn cầu.
Câu chuyện về giáo dục ở nước Nga như trên có thể thấy ở khắp nơi trên thế giới. Ở Việt Nam cũng không ngoại lệ. Chúng ta cũng đang nhập khẩu nhiều thứ rác rưởi mang tên “toàn cầu hóa giáo dục” này từ phương Tây. Những cái tên như Soros, USAID, Fulbright… đã trở nên khá quen thuộc. Logic đã biến mất khỏi chương trình học ở trường, được thay thế bằng sự hỗn loạn trong tâm trí non nớt của thanh thiếu niên. Lịch sử bị coi là môn học tùy chọn; Các trích đoạn tối tăm, u ám của “Nỗi buồn chiến tranh”, những sửa đổi tùy tiện, những bản dịch ngu ngơ… được đưa vào sách giáo khoa nhằm bóp méo bản chất các sự kiện lịch sử; Vai trò và quyền hạn của giáo viên bị hạ thấp (ngang với học sinh); Báo chí truyền thông loạn cào cào, mất kiểm soát; Các thể loại “nhà xuất bản” tự do mọc lên trong mọi lĩnh vực, cho ra đủ loại rác rưởi văn hóa; Lũ lật sử được trao cơ hội đội mồ sống dậy…
Ngày nay, giáo dục đã trở thành chiến trường chính không phải giữa “truyền thống” và “hiện đại”, mà là giữa hai mô hình tương lai: một nền văn minh độc lập dựa trên trách nhiệm tập thể, và một mô hình toàn cầu hóa trong đó con người bị biến thành nguồn lực bị kiểm soát từ bên ngoài. Giới tinh hoa toàn cầu hóa đã chuyển từ “bành trướng mềm” sang tấn công công khai vào những thành trì của chủ quyền quốc gia: trường học, gia đình và ký ức lịch sử. Nói chung là kẻ thù ở khắp mọi nơi!
Không biết “bộ Dục” của Việt Nam ta đã tỉnh giấc chưa, hay còn “ngủ gật” đến bao giờ?
QV-ST!

VĂN HÓA - THỂ THAO: CẶP SONG SÁT NGUY HIỂM NHẤT ĐÔNG NAM Á CỦA ĐT VIỆT NAM!

▶️ Bóng đá Việt Nam đang sở hữu một trong những hàng công đáng gờm nhất khu vực với sự kết hợp giữa hai cái tên nổi bật: Nguyễn Xuân Son và Nguyễn Đình Bắc, một người ở đỉnh cao phong độ, một người đại diện cho thế hệ trẻ đầy bùng nổ.

▶️ Nguyễn Xuân Son đang cho thấy hiệu suất ghi bàn hủy diệt khi ghi 8 bàn chỉ sau 4 trận gần nhất. Tiền đạo của Nam Định không chỉ sắc bén trong vòng cấm mà còn mang đến sức mạnh, tốc độ và khả năng tạo đột biến cực cao trước mọi hàng thủ.

▶️ Ở chiều ngược lại, Nguyễn Đình Bắc cũng không hề kém cạnh với 4 bàn thắng và 2 kiến tạo sau 6 trận cho các cấp độ đội tuyển. Chân sút sinh năm 2004 ngày càng trưởng thành, tự tin trong xử lý và đã trở thành trụ cột mới trên hàng công ĐT Việt Nam.

▶️ Đình Bắc vừa được vinh danh là VĐV trẻ của năm tại Cúp Chiến thắng 2025, phần thưởng xứng đáng cho hành trình bùng nổ từ U23 châu Á đến SEA Games 33. Đây được xem là bước đệm lớn để anh vươn tầm ở cấp độ ĐTQG.

▶️ Một người là “sát thủ” vòng cấm, một người là mũi khoan tốc độ, kỹ thuật và giàu năng lượng Xuân Son và Đình Bắc đang tạo nên cặp đôi tấn công toàn diện bậc nhất Đông Nam Á.

➡️ Với hai mũi nhọn này trên hàng công, ĐT Việt Nam hoàn toàn có quyền mơ về một giai đoạn bùng nổ mới, nơi mọi hàng thủ trong khu vực đều phải dè chừng trước sức tấn công áo đỏ./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THIẾT LẬP VĂN HÓA ỨNG XỬ TRÊN KHÔNG GIAN SỐ!

     Trong bối cảnh không gian mạng trở thành mặt trận đặc biệt quan trọng gắn chặt với an ninh quốc gia, trật tự xã hội và niềm tin của nhân dân, Chỉ thị số 57-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị được ban hành, nhằm thiết lập văn hóa ứng xử trên không gian số!

Trong văn hóa Việt Nam, từ lâu nay đã hình thành một nguyên tắc bền chặt: Lời nói gắn với con người, danh dự gắn với trách nhiệm. Ở làng, xã truyền thống hay trong đời sống hiện đại, việc xưng danh không chỉ để phân biệt mà để ràng buộc mình vào những chuẩn mực chung.

Trên không gian mạng, với đặc trưng ẩn danh và tốc độ lan truyền tức thì đã làm đứt gãy mối liên hệ ấy. Khi không cần phải chịu trách nhiệm, nhiều người sẵn sàng tung tin giả, buông lời công kích, xúc phạm nhân phẩm, thậm chí chống phá lợi ích quốc gia... Đó là biểu hiện rõ ràng của sự xuống cấp trong văn hóa ứng xử.

Chỉ thị 57, với yêu cầu xây dựng hệ thống định danh và xác thực điện tử thống nhất, xử lý triệt để sim rác, tài khoản ảo là một nỗ lực khôi phục lại trật tự đạo lý trên không gian mạng. Khi mỗi phát ngôn không còn vô chủ thì không gian số sẽ không còn là “vùng xám” của trách nhiệm.

Một môi trường với thông tin đúng được bảo vệ, thông tin xấu độc bị loại trừ, nơi cái đẹp, cái tử tế lan tỏa thì ở đó, đạo đức không còn là lời kêu gọi chung chung mà được nâng đỡ bằng thể chế, công nghệ và kỷ cương. Để Chỉ thị 57 đi vào cuộc sống, điều quan trọng là biện pháp triển khai phải minh bạch, tôn trọng quyền riêng tư và dữ liệu cá nhân. Khi người dân hiểu rằng định danh không phải để giám sát mà để bảo vệ sự tử tế và công bằng thì chuẩn mực văn hóa số sẽ được hình thành một cách tự giác, bền vững./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HÃY SỬ DỤNG MXH CỦA NGƯỜI VIỆT NAM, MIỄN PHÍ VÀ NHIỀU TÍNH NĂNG HỮU ÍCH!

     Các nền tảng MXH lớn như Facebook, Instagram, X hay Snapchat đang dần chuyển sang mô hình thu phí, báo hiệu hồi kết của thời kỳ “miễn phí hoàn toàn nhờ quảng cáo”!

Các MXH lớn từng miễn phí hoàn toàn thì nay đang thử nghiệm hoặc áp dụng các dịch vụ trả phí. Thay vì chỉ kiếm tiền bằng quảng cáo như trước, các ông lớn như Meta (Facebook, Instagram) hay X (Twitter), Snapchat… đang dần đưa ra gói trả tiền để “bỏ qua” quảng cáo hoặc được dùng thêm tính năng. Nói cách khác, “thời của các dịch vụ hoàn toàn miễn phí, chỉ hỗ trợ bởi quảng cáo dường như đang sắp kết thúc” - ít nhất là ở những thị trường phát triển như Mỹ và châu Âu.

Xu hướng thu phí mạng xã hội có nhiều nguyên nhân: quảng cáo trực tuyến đang bão hòa, luật bảo vệ dữ liệu ngày càng chặt (đặc biệt ở EU), và người dùng muốn quyền kiểm soát dữ liệu tốt hơn. Reuters nhận xét động thái của các công ty công nghệ “phản ánh một xu hướng rộng hơn khi họ gặp áp lực từ quy định về quyền riêng tư”. Tại châu Âu, Ủy ban châu Âu đã phạt Meta 200 triệu EUR vì đã vi phạm yêu cầu cung cấp lựa chọn dịch vụ quảng cáo ít cá nhân hóa hơn và yêu cầu Meta cung cấp gói bỏ quảng cáo. Ở Mỹ, chưa có quy định tương tự nhưng các “ông lớn” cũng lường trước thay đổi luật pháp.

Tại VN, người dùng MXH rất đông. Theo Reuters, Việt Nam có 60-70 triệu người dùng Facebook, đứng trong top 10 thế giới, tạo ra khoảng 1 tỷ USD doanh thu hàng năm cho công ty này. YouTube cũng có 60 triệu người dùng ở VN và TikTok có khoảng 20 triệu. Với quy mô đông đảo như vậy, dù các gói trả phí hiện chỉ áp dụng ở EU, Anh hay một số quốc gia cụ thể, người Việt sẽ sớm cảm nhận tác động. Ví dụ, báo chí trong nước đã dựa trên tỷ giá để nói rằng gói bỏ quảng cáo Facebook gần 3 GBP/tháng tương đương khoảng100.000 đồng. Tuy nhiên, VN hiện chưa có công bố chính thức nào về áp dụng phí sử dụng MXH. Dù vậy, các động thái trên toàn cầu hứa hẹn sẽ lan sang thị trường Việt nếu chính sách quản lý truyền thông xã hội ở đây tiếp tục siết chặt: từ yêu cầu lưu trữ dữ liệu nội địa đến việc kiểm soát loại nội dung được phép đăng.

Nhìn chung, “thời MXH miễn phí vô điều kiện” đang qua đi. Các công ty lớn đang chuyển hướng sang các mô hình doanh thu đa dạng hơn, trong đó người dùng sẽ trả tiền cho trải nghiệm ít quảng cáo hoặc nhiều quyền lợi hơn. Điều này mở ra những triển vọng mới: doanh thu từ đăng ký có thể giúp giảm sự phụ thuộc vào quảng cáo và thỏa mãn các quy định pháp lý. Nhưng đồng thời cũng tạo ra câu hỏi lớn: liệu phần đông người dùng có chấp nhận trả tiền hàng tháng cho MXH hay sẽ tìm đến các nền tảng đối thủ? Các cuộc khảo sát sơ bộ cho thấy, nhiều người còn miễn cưỡng với trả phí, ít nhất là ở thời điểm hiện nay.

Lựa chọn tốt hơn là hãy sử dụng MXH của người Việt Nam hoàn toàn miễn phí và nhiều tính năng hữu ích nhé cả nhà!
QV-ST!

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: VIETTEL THỬ NGHIỆM THÀNH CÔNG GIẢI PHÁP XÁC THỰC MẠNG “KHÔNG OTP”!

     Ngày 30-1, Tổng công ty Giải pháp Doanh nghiệp Viettel (Viettel Solutions) - thành viên của Tập đoàn Viettel cho biết, Viettel đã phối hợp cùng công ty Shush Inc. (Mỹ) thử nghiệm thành công mô hình giải pháp xác thực mạng (Network Authentication) thay thế cho hình thức xác thực bằng tin nhắn OTP truyền thống!

Trong bối cảnh các mối đe dọa mạng, gian lận danh tính, chiếm đoạt tài khoản ngày càng tinh vi, đây được xem là bước khởi đầu quan trọng trong việc triển khai mô hình xác thực mạng không cần mã OTP. Đây là phương thức xác minh người dùng trực tiếp qua mạng di động, thay vì gửi mã OTP qua tin nhắn như trước đây, qua đó góp phần giảm thiểu gian lận, tăng cường bảo mật, nâng cao trải nghiệm người dùng, phù hợp với định hướng phát triển định danh số và hệ sinh thái Fintech tại Việt Nam.

Nền tảng Sherlock của Shush được đưa vào thử nghiệm, đóng vai trò là bộ xử lý logic trung tâm, thực hiện kết hợp và chuyển hóa các API - có thể hiểu là “cầu nối” cho phép các hệ thống công nghệ kết nối và xác thực với nhau một cách an toàn, mà không tác động vào hạ tầng nhà mạng. Trong khuôn khổ dự án thử nghiệm, Viettel và Shush đã triển khai và tích hợp nền tảng này lên Open Gateway – nền tảng kết nối và cung cấp API tập trung của Viettel. Quá trình thử nghiệm tập trung đánh giá khả năng khai thác độ tin cậy của địa chỉ IP do mạng di động cấp phát, từ đó mang lại các tính năng nâng cao trong xác thực di động và phòng chống gian lận, hướng tới khả năng thay thế tin nhắn OTP truyền thống trong tương lai.

Giải pháp mang lại nhiều ưu điểm cụ thể như: Giảm phụ thuộc vào phương thức OTP truyền thống; nâng cao trải nghiệm người dùng và đặc biệt giúp xác thực số thuê bao người dùng một cách an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận trong các dịch vụ số. Viettel dự định thương mại hóa các dịch vụ xác thực mạng đối với các lĩnh vực như mạng xã hội, dịch vụ tài chính, công nghệ y tế, và bảo mật ứng dụng di động.

Theo ông Đoàn Đại Phong, Phó tổng giám đốc Viettel Solutions chia sẻ: “Tại Viettel, chúng tôi luôn tìm kiếm những phương thức mới để mang đến các trải nghiệm số an toàn và sáng tạo cho khách hàng và đối tác. Việc thử nghiệm cho phép chúng tôi đánh giá các dịch vụ xác thực mạng thế hệ mới dựa trên API, đáp ứng yêu cầu bảo mật tuyệt đối thông qua nhà mạng”.

Ông Eddie DeCurtis, Đồng sáng lập kiêm Tổng giám đốc điều hành Shush Inc., cho biết: “Đây là một bước tiến quan trọng hướng tới việc hình thành một lớp định danh toàn cầu dựa trên mạng di động. Chúng tôi rất tự hào được hợp tác cùng Viettel — đơn vị đầu tiên tại Việt Nam triển khai mô hình xác thực mạng an toàn, dựa trên API, ngay ở cấp độ nhà mạng”.

Với Viettel, sự an toàn và lợi ích của khách hàng luôn là trọng tâm trong mọi hoạt động đổi mới. Viettel chủ động tiếp cận, tiếp thu và ứng dụng các công nghệ xác thực tiên tiến, đồng thời nghiên cứu, phát triển và triển khai theo hướng phù hợp với bối cảnh, hạ tầng và yêu cầu thực tiễn tại Việt Nam, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ và mức độ an toàn trong các trải nghiệm số./.
QV-ST!