Trước Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XIV, các thế lực thù địch và những
kẻ thiếu thiện chí tập trung chống phá, xuyên tạc về hoạt động của Quốc hội ta.
Họ cho rằng, Quốc hội ta hoạt động không dân chủ, Quốc hội không có vai trò
thực chất(!) Nhưng thực tế, hiệu quả hoạt động và sự quan tâm đặc biệt của xã
hội đối với hoạt động của Quốc hội những năm qua đã vạch trần các luận điệu
xuyên tạc nói trên. Các luận điệu đó, chỉ là đòn vô vọng của những kẻ có mưu đồ
đen tối nhằm chống phá cách mạng nước ta.
Quốc hội-Nơi gặp gỡ của “ý Đảng, lòng
dân”
Mỗi quốc gia đều có một chế độ chính trị phù hợp với lịch sử, văn hóa và
điều kiện kinh tế-xã hội của mình. Chế độ chính trị mà toàn thể dân tộc Việt
Nam đang đồng lòng, nỗ lực xây dựng là chế độ chính trị pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, hướng tới xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã
hội. Đây là vấn đề cốt lõi, hết sức rõ ràng của chế độ chính trị nước ta. Vai
trò lãnh đạo của Đảng đã được quy định rõ trong Hiến pháp của Việt Nam, mà mới
nhất là Hiến pháp năm 2013 (Điều 4 của Hiến pháp năm 2013), phù hợp với ý chí
của toàn dân tộc, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Trước khi được thông qua,
dự thảo Hiến pháp năm 2013 đã được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi toàn dân, bằng
nhiều hình thức phong phú, cả ở trong nước và ở nước ngoài. Kết quả lấy ý kiến
cho thấy, đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, người dân đều đồng tình như dự
thảo Hiến pháp và cho rằng mục tiêu, lý tưởng của Đảng không có gì khác hơn là
lợi ích của dân tộc, đất nước và nhân dân.
Hiến pháp năm 2013 cũng quy định rõ: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động
của Nhà nước”. Quốc hội do nhân dân bầu ra, là cơ quan nhà nước cao nhất thực
hiện quyền lực của nhân dân. Chỉ Quốc hội mới có quyền thể chế ý chí, nguyện
vọng của nhân dân thành Hiến pháp và pháp luật, thành các quy định chung mang
tính chất bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi tầng lớp trong xã hội.
Hiến pháp đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã
hội. Điều này không hề làm mất đi vai trò của Quốc hội. Bởi quyền lực nhà nước
ở nước ta là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội,
nhưng đó là sự lãnh đạo có nguyên tắc và theo quy định. “Các tổ chức của Đảng
và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013). Như vậy, mối quan hệ giữa Đảng và Quốc hội
vẫn là mối quan hệ biện chứng, hai chiều, nghĩa là Đảng lãnh đạo hoạt động của
Quốc hội, nhưng sự lãnh đạo đó vẫn phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật,
không thể đứng trên, đứng ngoài Hiến pháp và pháp luật đã được Quốc hội thông
qua. Đảng lãnh đạo nhưng luôn tôn trọng và phát huy vai trò của Quốc hội, không
áp đặt, không làm thay, mà định hướng nội dung và phương thức hoạt động của
Quốc hội. Đảng lãnh đạo, chứ Đảng không điều hành công việc của Quốc hội.
Nơi nhân dân gửi gắm niềm tin
Có thể thấy, kể từ khi ra đời tới nay, Quốc hội ta đã hoàn thành xuất
sắc vai trò, sứ mệnh của mình đối với đất nước, với dân tộc. Trong những năm
gần đây, hoạt động của Quốc hội ngày càng đổi mới, ngày càng thể hiện rõ tính
dân chủ và hiệu quả ngày càng được nâng cao. Tất cả các vấn đề lớn thuộc mọi
lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế-xã hội, văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh,
đối ngoại,... của đất nước đều được Quốc hội thảo luận và quyết nghị. Với tính chất
Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN, vì vậy, tất cả chủ trương, đường lối
của Đảng muốn đi vào đời sống, để toàn dân nghiêm túc thực hiện thì đều phải
được thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật.
Vai trò quan trọng của Quốc hội thể hiện qua việc các chương trình, kế
hoạch quan trọng là “xương sống” hoạt động của Nhà nước như kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước hằng năm, các kế hoạch đầu tư
công... phải được Quốc hội thông qua mới có thể triển khai thực hiện.
Công tác xây dựng pháp luật của Quốc
hội được thực hiện theo những quy trình rất chặt chẽ, bảo đảm tính dân chủ,
công khai, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước. Quốc hội làm
việc theo chế độ nghị trường và quyết định theo đa số. Các dự án luật muốn trình
ra Quốc hội cho ý kiến, xem xét, thông qua thì cơ quan soạn thảo trình Chính
phủ cho ý kiến, rồi Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước
khi trình ra Quốc hội, nếu không đạt phải tiếp tục chỉnh sửa. Khi dự án luật
trình ra Quốc hội, cùng với tờ trình của Chính phủ thì phải kèm theo báo cáo
thẩm tra của cơ quan thuộc Quốc hội. Sau đó, Quốc hội sẽ cho ý kiến trên tinh
thần dân chủ, công khai, theo quy trình thảo luận ở tổ, rồi thảo luận tại hội
trường, được cơ quan báo chí truyền thông phản ảnh minh bạch. Để tăng tốc độ
xây dựng pháp luật, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thông thường một dự án luật được
Quốc hội cho ý kiến và thông qua trong 2 kỳ họp. Tuy nhiên, với những dự án
luật quan trọng, nhạy cảm thì Quốc hội có thể xem xét, cho ý kiến trong 3 kỳ
họp. Có những dự án luật phải được chỉnh sửa nhiều lần mới hoàn chỉnh để được
Quốc hội thông qua. Điều này cho thấy, vai trò lập pháp của Quốc hội là rất rõ
ràng, và ý kiến của các đại biểu Quốc hội là rất quan trọng.
Không khí dân chủ, cởi mở của Quốc hội, vai trò của các đại biểu Quốc
hội càng được thể hiện rõ trong các phiên chất vấn và trả lời chất vấn. Đại
biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng
Chính phủ, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân
dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà
nước. Người được chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc tại phiên
họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trong trường
hợp cần thiết, Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho phép trả lời bằng văn
bản.
Các nội dung bàn về kinh tế-xã hội, và đặc biệt là các phiên chất vấn
trong những kỳ họp của Quốc hội khóa XIV ngày càng sôi nổi, được phát
thanh-truyền hình trực tiếp, thu hút sự quan tâm theo dõi, đánh giá, góp ý của
cử tri và nhân dân cả nước. Việc tranh luận được khuyến khích khiến vấn đề chất
vấn được làm rõ ràng hơn, nhất là các mặt hạn chế, trách nhiệm cán bộ và nêu rõ
giải pháp. Sau phiên chất vấn, Quốc hội sẽ ra nghị quyết về nội dung này, từ đó
có cơ sở để theo dõi vấn đề đã được đặt ra và giám sát lời hứa hẹn của những
người trả lời chất vấn. Việc Quốc hội tăng cường hoạt động chất vấn, khiến cho
những người giữ các chức danh mà Quốc hội bầu, phê chuẩn luôn phải nỗ lực thể
hiện rõ trách nhiệm của mình, không thể lơ là.
Một hoạt động cũng thể hiện vai trò,
vị thế của Quốc hội, đó là hoạt động lấy phiếu tín nhiệm. Qua 3 lần lấy phiếu
tín nhiệm của hai nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII và khóa XIV, hoạt động này đã cho
thấy hiệu quả trong việc thúc đẩy những người giữ chức danh được lấy phiếu tín
nhiệm phải tìm các giải pháp để nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành bộ, ngành,
cơ quan mà mình phụ trách. Vì vậy, có những vị bộ trưởng, trưởng ngành rất buồn
khi có nhiều phiếu tín nhiệm thấp, nhưng chính sự đánh giá đó là cơ hội để họ
nhìn lại mình, biến thành động lực vươn lên, khắc phục những điểm còn hạn chế,
hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn, đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của đất nước.
Thực tế, ở lần lấy phiếu tín nhiệm sau, đại đa số các vị bộ trưởng, trưởng
ngành nói trên đều có số phiếu tín nhiệm cao hơn hẳn lần trước đó.
Các chương trình giám sát của Quốc hội cũng thể hiện rõ hiệu quả. Cùng
với những nội dung giám sát thường xuyên như về kết quả thực hiện kế hoạch phát
triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước... thời gian qua, Quốc hội đã chọn
những vấn đề “nóng” nhất, được cử tri và nhân dân quan tâm nhất để tiến hành
giám sát tối cao. Ví dụ, tại Kỳ họp thứ chín vừa qua, Quốc hội đã thực hiện
giám sát chuyên đề: “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm
hại trẻ em” khi trong xã hội xuất hiện những vụ xâm hại trẻ em gây bức xúc dư
luận.
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, cùng với việc quyết liệt đấu tranh
chống tham nhũng, chống tiêu cực trong bộ máy hành chính Nhà nước nói chung,
Quốc hội cũng rất quyết liệt chống tiêu cực trong đội ngũ của mình. Quốc hội
khóa XIV ghi nhận số đại biểu Quốc hội phải rời vị trí khi chưa hết nhiệm kỳ,
có lẽ ở mức độ kỷ lục. Có những trường hợp không được công nhận tư cách đại
biểu Quốc hội do vi phạm pháp luật như Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Thị Nguyệt
Hường; có những trường hợp bị mất quyền đại biểu Quốc hội vì vi phạm pháp luật,
như Đinh La Thăng, Nguyễn Quốc Khánh, Châu Thị Thu Nga; một số trường hợp vì vi
phạm kỷ luật Đảng đã bị miễn nhiệm, cho thôi nhiệm vụ đại biểu Quốc hội như Lê
Đình Nhường, Võ Kim Cự, Phan Thị Mỹ Thanh, Hồ Văn Năm. Có thể nói, việc gương
mẫu xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật của các đại biểu Quốc hội,
cho thấy hiệu lực của Quốc hội không chỉ từ vai trò, chức năng theo quy định
của Hiến pháp, pháp luật mà còn từ phẩm chất, tư cách và năng lực hoạt động của
các đại biểu Quốc hội.
Qua các cuộc tiếp xúc cử tri trước và
sau các kỳ họp Quốc hội, đại đa số cử tri và nhân dân đều vui mừng vì hiệu quả
hoạt động, uy tín của Quốc hội ngày càng được nâng cao, Quốc hội ngày càng thể
hiện tốt vai trò đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Điều đó đã
tăng cường niềm tin của cử tri và nhân dân đối với Quốc hội. Mỗi kỳ họp Quốc
hội luôn là sự kiện chính trị-xã hội được cử tri và nhân dân đặc biệt quan tâm,
theo dõi. Bởi cử tri tin tưởng rằng, những nguyện vọng, ý kiến tâm huyết của
mình luôn được Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trân trọng, lắng nghe, bàn thảo
nghiêm túc và từ đó cho ra những quyết sách đúng đắn, đóng góp tích cực cho sự
phát triển của đất nước, nâng cao đời sống nhân dân.
Thực tế đó là minh chứng bác bỏ đanh thép đối với những luận điệu của
những đối tượng có âm mưu đen tối, cố tình xuyên tạc rằng “Quốc hội không có
vai trò thực chất, chỉ quyết nghị theo chỉ đạo của Đảng, chỉ mang tính hình
thức, người dân thì quay lưng, ngoảnh mặt với hoạt động của Quốc hội”.
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn vì lợi ích của nhân dân, Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng luôn vì lợi ích của nhân dân! Điều đó không
chỉ đúng và biện chứng về mặt lý luận, mà luôn được chứng minh rõ ràng trong
thực tế, không ai có thể phủ nhận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét