Với chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà cốt lõi là lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, C. Mác đã chỉ ra quy luật phát triển của xã hội loài người thực chất là sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội, thông qua cách mạng xã hội. Sự thay thế đó là một quá trình lâu dài và được quyết định bởi những mâu thuẫn nội tại của các hình thái kinh tế - xã hội ấy. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội được xem như là một cơ thể sống, một cơ cấu xã hội hoàn chỉnh, luôn luôn biến động bởi sự tác động tổng hợp của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong sự tác động đó, con người luôn giữ vai trò trung tâm và quan trọng nhất, quyết định sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội. Vì thế, C. Mác khẳng định: “Trong tất cả những công cụ sản xuất, thì lực lượng sản xuất hùng mạnh nhất là bản thân giai cấp cách mạng”.
Trong
khi khẳng định tính tất yếu của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, C.
Mác cũng chứng minh tính tất yếu của hình thái kinh tế - xã hội mà hình thái
kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa nhất thiết phải chuyển sang, đó là hình thái
kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, trong đó giai đoạn đầu là xã hội xã hội
chủ nghĩa. Sự vận động, phát triển, thay thế các hình thái kinh tế - xã hội từ
thấp đến cao là quy luật tất yếu của lịch sử xã hội loài người, chứ không phải
của riêng một dân tộc hay quốc gia nào.
Đối
chiếu với lịch sử phát triển xã hội loài người cũng như thực tiễn phát triển xã
hội của nhân loại ngày nay, có thể thấy, sự tổng kết nói trên của C. Mác là
hoàn toàn đúng đắn, vượt xa thời đại mà ông sống về tư duy cũng như tầm nhìn.
Quan điểm duy vật lịch sử cùng với lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của C.
Mác là nền tảng trong việc hình thành nhận thức về xã hội tư bản chủ nghĩa hiện
đại và xã hội xã hội chủ nghĩa với đầy đủ những đặc điểm về bản chất, mâu
thuẫn, xu hướng vận động, phát triển cũng như con đường đưa chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa cộng sản trở thành hiện thực.
Lý
luận kinh tế chính trị của C. Mác với học thuyết giá trị thặng dư lại chỉ ra
mục đích và bản chất của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư và lợi
nhuận tối đa, là nguồn gốc dẫn tới sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội.
Nhiều học giả tư sản cố gắng phủ nhận học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác
bằng cách lý giải rằng, chính máy móc tạo ra giá trị, còn sức lao động của công
nhân thì được trả công sòng phẳng, vì thế, nhà tư bản không hề bóc lột công
nhân, mà họ làm giàu chính đáng nhờ “bóc lột” máy móc. Tuy nhiên, C. Mác và Ph.
Ăng-ghen đã chỉ ra những mâu thuẫn cũng như khuyết tật cố hữu của chủ nghĩa tư
bản, đồng thời cung cấp căn cứ lý luận xác đáng để đi đến khẳng định: “Sự sụp
đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.
Ngày nay, trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, dưới tác động của cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với quá trình toàn cầu hóa và kinh tế tri
thức, giá trị thặng dư được tạo ra ngày càng nhiều hơn cho nhà tư bản. Vai trò,
vị trí của giai cấp công nhân, người lao động mặc dù được đề cao và đời sống
của họ cũng được cải thiện nhiều mặt; song, xét về địa vị, họ vẫn là những
người lao động làm thuê, phục vụ mục đích làm gia tăng giá trị thặng dư cho nhà
tư bản. Bản chất áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản hiện đại không hề thay
đổi. Những mâu thuẫn vốn có của xã hội tư bản chủ nghĩa, nhất là mâu thuẫn giữa
tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và chế độ chiếm hữu
tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng trở nên sâu sắc. Trước thực tiễn đó, bản
thân chủ nghĩa tư bản, dù ở phương Đông hay phương Tây, đều phải điều chỉnh để
thích nghi và tồn tại.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét