KỶ NIỆM NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3 VÀ
KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG
Cuối thế kỷ 19, Chủ nghĩa Tư bản ở Mỹ đã phát triển một cách mạnh mẽ, Nền kỹ nghệ đã thu hút nhiều Phụ nữ và trẻ em vào các nhà máy, xí nghiệp. Nhưng bọn chủ tư bản trả lương cho họ rất rẻ mạt, căm phẫn trước sự bất công đó, ngày 8/3/1899 nữ công nhân ở Mỹ đã đứng lên đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ lam. Phong trào bắt đầu từ nữ công nhân ngành dệt và ngành may tại Thành phố Si – Ca - Gô và Nưu ước. Mặc dù bọn Tư bản thẳng tay đàn áp, chị em vẫn đoàn kết chặt chẽ, đấu tranh buộc chúng phải nhượng bộ. Cuộc đấu tranh của công nhân Mỹ đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào Phụ nữ lao động trên thế giới đặc biệt Phụ nữ ở Đức, một nước đại kỹ nghệ tiên tiến lúc bấy giờ. Phong trào đấu tranh đã xuất hiện hai nữ chiến sỹ lỗi lạc, đó là Bà Cla-ra-zet-kin (Đức) và bà Lô-Ra Lúc- xăm- bua (Ba lan). Nhận thức được sự mạnh mẽ và đông đảo của lực lượng lao động nữ và sự cần thiết phải có tổ chức, phải có lãnh đạo để giành thắng lợi cho phong trào phụ nữ, nên năm 1907 hai Bà đã cùng phối hợp với Crup-xcai-a (Vợ của Lê- Nin) vận động thành lập Ban “Thư ký phụ nữ Quốc tế”, Bà Cla-ra-zet-kin được cử làm Bí thư.
Ngày 26 và 27 tháng 8 năm 1910, Đại hội
phụ nữ quốc tế họp tại Cô-pen-ha-gen (Thủ đô nước Đan Mạch) đã quyết định lấy
ngày 8/3 làm ngày Quốc tế phụ nữ, ngày đoàn kết đấu tranh của phụ nữ với khẩu
hiệu: Ngày làm việc 8 giờ; việc làm ngang nhau; bảo vệ bà mẹ và trẻ em. Từ đó
ngày 8/3 đã trở thành ngày truyền thống của phụ nữ lao động trên toàn thế
giới.
Từ đó đến nay, ngày 8/3 trở thành ngày hội của phụ nữ thế giới, đoàn kết
đấu tranh để tự giải phóng, thực hiện quyền nam nữ bình đẳng và cũng từ đó, phụ
nữ tiến bộ khắp năm Châu tổ chức kỷ niệm ngày 8/3 với những nội dung và hình
thức phong phú.
Ở nước ta,
ngày 8/3 còn là ngày kỷ niệm cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, 2 vị nữ anh hùng
dân tộc đầu tiên đã đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc, giành lại chủ quyền dân
tộc.
Hai Bà Trưng là cách gọi tôn
kính đối với hai nữ anh hùng là Trưng Trắc và Trưng Nhị đã lãnh đạo cuộc khởi
nghĩa của nhân dân ta lật đổ ách thống trị của nhà Đông Hán vào năm 40 sau Công
nguyên. Hai Bà Trưng là hai chị em sinh đôi, con của lạc tướng Huyện Mê Linh,
Theo thần tích Đền Hạ Lôi thì hai Bà sinh vào năm Giáp tuất tức năm 14 sau Công
nguyên. Lớn lên, nhờ được sự chăm sóc và giáo dục của người mẹ hiền là bà Man
Thiện, cả hai chị em đều mạnh khoẻ, giỏi võ nghệ, tính khí hùng dũng, gan dạ lại
thích làm việc nghĩa cả. Trưng Trắc lấy chồng là Thi sách, con trai lạc tướng
Chu Diên – cũng là người có chí lớn, bấy giờ Nhà Hán đô hộ nước ta, áp bức bóc
lột rất nặng nề. Thái thú Giao chỉ (Đồng bằng Bắc Bộ) lúc ấy là Tô Định rất
tham bạo, Y ra sức tìm cách trấn áp các dòng họ lạc tướng cũ, hòng kéo dài ách
đô hộ nước ta. Nhiều người đã bị Y giết, trong đó có Thi Sách chồng bà Trưng
Trắc. Nghe tin Thi Sách bị Thái thú Tô Định giết, Trưng Trắc và em rất đau buồn
và căm phẫn, quyết nổi dậy đánh đổ bọn xâm lược, Trưng Nhị được cử đi liên hệ
với các hào kiệt ở các nơi, còn Trưng Trắc ở nhà chiêu mộ binh sĩ. Mùa xuân năm
40, khi Bà dựng cờ khởi nghĩa ở Hát Môn (Hà Tây), trong buổi lễ ra quân, Trưng
Trắc đã đọc 4 lời thề:
Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa Họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng Chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh thành
Nghĩa quân tiến đánh Trụ sở quân Giao chỉ ở Luy Lâu (Huyện Thuận Thành,
Tỉnh Bắc Ninh). Nghĩa quân đánh đâu thắng đấy, Hai Bà thu phục được 65 thành.
Trưng Trắc được tôn lên làm Vua, Sử gọi là Trưng Vương hay Trưng Nữ Vương.
Không được bao lâu, năm 42, Nhà Hán sai Mã Viện đem quân sang đàn áp. Bị Giặc
chặn đánh ở nhiều nơi. Cuối xuân, đầu hạ năm 43, quân của Hai Bà đánh mạnh vào
doanh trại nhưng bị thất bại. Quân Hán thừa cơ tấn công, quân của Hai Bà phải
rút về Cấm Khê (Ba Vì - Hà Tây). Tại đây một trận chiến quyết liệt xảy ra và
kết thúc bằng sự hy sinh của hai vị nữ anh hùng.
Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo
Chị em thất thế đánh liều với sông
Để tỏ lòng ngưỡng mộ và thương tiếc hai vị nữ anh hùng hy sinh vì sự
nghiệp cao cả của Dân tộc, nhiều nơi nhân dân địa phương lập Đền thờ tưởng nhớ
Hai Bà Trưng. Trong rất nhiều nơi thờ, có 3 nơi được nhiều người biết đến là
Đền Hát Môn (Phúc Thọ – Hà Tây), đền Hạ Lôi (Yên Lãng- Vĩnh Phúc) và Đền Đồng
Nhân (Hà Nội).
Truyền thuyết dân gian kể rằng Hai Bà tự trẫm ở Hát Giang (đoạn sông Đáy
tiếp liền với sông Hồng). Nhưng sử sách của ta cũng như sử của Trung Quốc đều
chép là Hai bà hy sinh trong chiến đấu ở chiến trường Cẩm Khê.
Lễ tưởng niệm
Hai Bà Trưng không chỉ để cho chúng ta có dịp tưởng nhớ công đức 2 bà mà còn để
cho tất cả chúng ta hãnh diện về khí phách anh hùng, sự nghiệp phi thường của 2
bà, một tấm gương sáng để hậu thế noi theo. Chiến công hiển hách của 2 bà đã
ghi những nét son vào lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc, là niềm tự hào và
ý chí vươn lên của phụ nữ Việt Nam.
Tiếp nối truyền thống hào hùng đó, phụ nữ
Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh tiếp tục cống hiến, đóng góp sức mình vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ thực tiễn cuộc sống và chiến đấu, đã hình
thành nên những phẩm chất, đức tính quý báu rất riêng của người phụ nữ Việt
Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát qua 8 chữ vàng: “Anh hùng,
bất khuất, trung hậu, đảm đang”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét