Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

Hoàn cảnh lịch sử chủ nghĩa xã hội khoa học được bổ sung, phát triển từ năm 1946 đến năm 1975

 


 Trên thế giới, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới chứng kiến sự phát triển của ba dòng thác cách mạng, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống thế giới, tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự, khoa học - kỹ thuật, nhất là của Liên Xô. Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ la tinh. Phong trào hòa bình dân chủ lên cao ở các nước tư bản. Tuy nhiên, trong hệ thống xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện sự bất đồng, nhất là sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng trở nên gay gắt.

Sự hình thành trật tự thế giới hai cực diễn ra sau Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, với Hội nghị Ianta phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa các cường quốc đã hình thành nên trật tự thế giới mới do Mỹ và Liên Xô đứng đầu. Thế giới bước vào thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Những năm 50 của thế kỷ XX, nhiều nước tư bản sau khi đã khôi phục được nền kinh tế nhờ sự giúp đỡ của Mỹ theo “kế hoạch Mácsan”, tham gia khối NATO, ngày càng đi vào thi hành chính sách phản dân chủ, ra sức phá hoại, chia rẽ phong trào công nhân, tiến công các đảng cộng sản.

Ở trong nước, sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, đất nước ta rơi vào tình thế khó khăn như “ngàn cân treo sợi tóc”. Ở miền Bắc (từ vĩ tuyến 16 Đà Nẵng trở ra) có gần 20 vạn quân Tưởng kéo vào theo sau là bọn Việt Quốc, Việt Cách với âm mưu thủ tiêu chính quyền cách mạng, đưa bọn tay sai lập chính quyền bù nhìn và thực hiện chính sách cướp bóc nhân dân Việt Nam. Ở Miền Nam (từ vĩ tuyến 16 trở vào) có trên một vạn quân Anh lấy danh nghĩa vào tước vũ khí của Nhật, nhưng kỳ thực là chúng mở đường cho thực dân Pháp cướp lại nước ta. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp chính thức xâm lược nước ta lần thứ 2. Lợi dụng tình thế khó khăn của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh Đông Dương.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, cách mạng Việt Nam vừa có những thuận lợi mới, vừa đứng trước nhiều khó khăn, phức tạp. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, làm căn cứ địa chung cho cả nước. Đất nước ta bị chia làm hai miền, kinh tế miền Bắc nghèo nàn, lạc hậu, miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta. Sau tháng 7 năm 1954, đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam là Đảng lãnh đạo đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền khác nhau: hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Từ đầu năm 1965, để cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chế độ Sài Gòn và sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân Mỹ và quân các nước chư hầu vào miền Nam, tiến hành cuộc “chiến tranh cục bộ”; đồng thời dùng không quân, hải quân tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Trước tình hình đó, Đảng ta đã quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên phạm vi toàn quốc. Ở miền Bắc, kế hoạch 5 năm lần thứ Nhất đã đạt và vượt các mục tiêu về kinh tế, văn hóa. Sự chi viện sức người, sức của của miền Bắc cho cách mạng miền Nam được đẩy mạnh. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 giành thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét