Trên
thế giới, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thế
giới chứng kiến sự phát triển của ba dòng thác cách mạng, chủ nghĩa xã hội đã
trở thành một hệ thống thế giới, tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự, khoa
học - kỹ thuật, nhất là của Liên Xô. Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục
phát triển ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ la tinh. Phong trào hòa bình dân chủ
lên cao ở các nước tư bản. Tuy nhiên, trong hệ thống xã hội chủ nghĩa đã xuất
hiện sự bất đồng, nhất là sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng trở
nên gay gắt.
Sự hình thành trật tự thế giới hai cực
diễn ra sau Chiến tranh thế giới thứ hai kết
thúc, với Hội nghị Ianta phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa các cường quốc đã
hình thành nên trật tự thế giới mới do Mỹ và Liên Xô đứng đầu. Thế giới bước
vào thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang giữa hai phe xã hội chủ nghĩa
và tư bản chủ nghĩa. Những năm 50 của thế kỷ XX, nhiều nước tư bản sau khi đã
khôi phục được nền kinh tế nhờ sự giúp đỡ của Mỹ theo “kế hoạch Mácsan”, tham
gia khối NATO, ngày càng đi vào thi hành chính sách phản dân chủ, ra sức phá hoại,
chia rẽ phong trào công nhân, tiến công các đảng cộng sản.
Ở trong nước, sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, đất nước ta rơi vào tình thế khó
khăn như “ngàn cân treo sợi tóc”. Ở miền Bắc (từ vĩ tuyến 16 Đà Nẵng trở
ra) có gần 20 vạn quân Tưởng kéo vào theo sau là bọn Việt Quốc, Việt Cách với
âm mưu thủ tiêu chính quyền cách mạng, đưa bọn tay sai lập chính quyền bù nhìn
và thực hiện chính sách cướp bóc nhân dân Việt Nam. Ở Miền Nam (từ vĩ tuyến 16
trở vào) có trên một vạn quân Anh lấy danh nghĩa vào tước vũ khí của Nhật,
nhưng kỳ thực là chúng mở đường cho thực dân Pháp cướp lại nước ta. Ngày 23
tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp chính thức xâm lược nước ta lần thứ 2. Lợi dụng
tình thế khó khăn của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã can thiệp trực tiếp vào cuộc
chiến tranh Đông Dương.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954,
Hiệp định Giơnevơ được ký kết, cách mạng Việt Nam vừa có những thuận lợi mới, vừa
đứng trước nhiều khó khăn, phức tạp. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, làm
căn cứ địa chung cho cả nước. Đất nước ta bị chia làm hai miền, kinh tế miền Bắc
nghèo nàn, lạc hậu, miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Đế quốc Mỹ trở
thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta. Sau tháng 7 năm 1954, đặc điểm lớn nhất
của cách mạng Việt Nam là Đảng lãnh đạo đồng thời hai chiến lược cách mạng ở
hai miền khác nhau: hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam,
xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Từ đầu năm 1965, để cứu vãn
nguy cơ sụp đổ của chế độ Sài Gòn và sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc
biệt”, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân Mỹ và quân các nước chư hầu vào miền Nam, tiến
hành cuộc “chiến tranh cục bộ”; đồng thời dùng không quân, hải quân tiến hành
cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Trước tình hình đó, Đảng ta đã quyết
định phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên phạm vi toàn quốc. Ở miền
Bắc, kế hoạch 5 năm lần thứ Nhất đã đạt và vượt các mục tiêu về kinh tế, văn
hóa. Sự chi viện sức người, sức của của miền Bắc cho cách mạng miền Nam được đẩy
mạnh. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 giành thắng lợi, giải
phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét