Thứ Ba, 18 tháng 2, 2020

Nâng cao bản lĩnh chính trị khi tham gia không gian mạng không để mắc mưu của các thế lực thù địch





Sử dụng mạng xã hội đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu của số đông người dùng mạng. Lợi dụng sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và mạng  Internet, các thê lực thù địch đã triệt để lơi dụng để tuyên truyền, phát tán nhiều loại thông tin sai trái, thù địch, độc hại trên mạng xã hội với mức độ, tần suất ngày càng tăng nhằm chống phá cách mạng nước ta, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống xã hội, đòi hỏi người dùng mạng nói chung, mỗi đảng viên, cán bộ, chiến sỹ nói riêng cần phải tỉnh táo, nhận thức đúng trách nhiệm của mình trong ứng xử trên không gian mạng.

Nội dung chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch trên mạng xã hội rất đa dạng, từ kinh tế, xã hội đến văn hóa, giáo dục đào tạo, y tế đến pháp luật, quốc phòng, an ninh, trật tự, môi trường thậm chí đến cả diễn biến về tình hình sức khỏe của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước.
Nguy hiểm hơn, thời gian gần đây mạng xã hội được các thế lực thù địch lợi dụng triệt để nhằm tuyên truyền, phát tán nhiều loại thông tin xuyên tạc với mức độ, tần suất ngày càng nhiều. Điều này đã tiếp tay cho thông tin xấu, thông tin chưa được kiểm chứng được chia sẻ, lan truyền một cách khó kiểm soát, khiến những người nhận thức chưa đầy đủ, thiếu thông tin chính thống, những người nắm và hiểu vấn đề còn nông cạn… tham gia cổ xúy cho cái xấu, cái sai, bất chấp hậu quả tai hại của nó đối với đạo đức xã hội, đối với sự phát triển của đất nước.
Điển hình là các vụ việc kích động biểu tình vì môi trường, xuống đường vì biển đảo, hay các vụ việc kích động phản đối dự luật đặc khu, luât an ninh mạng, tình hình nhân quyền tại Việt Nam, đời tư và tình trạng sức khỏe của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước hoặc các sự việc có tính chất nóng hổi, gây nhiều tò mò, bức xúc trong dư luận thời gian vừa qua…
Vì vậy, hơn bao giờ hết, mỗi đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và mỗi cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang cần phải tỉnh táo, sáng suốt trong việc thực hiện chức trách của mình; phải trở thành nhân tố nòng cốt trong xây dựng mặt trận đoàn kết toàn dân; phải trí tuệ, bản lĩnh, khôn khéo, trong đấu tranh trên mạng xã hội.
Mỗi cá nhân cần nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình khi tham gia mạng xã hội, nhằm tạo ra một hợp lực đủ mạnh để ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin sai lệch, xấu, độc của thế lực phản động.
Để làm được điều đó, trước hết cần giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về bảo vệ chủ quyền quốc gia, các lợi ích và sự nguy hại đến từ không gian mạng, đặc biệt là việc giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng.
Thường xuyên định hướng thông tin trên các phương tiện chính thống và phải bồi dưỡng kỹ năng nhận diện các âm mưu, thủ đoạn trên mạng xã hội cho mỗi cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân.
Phát huy vai trò, trách nhiệm, tính chủ động của các cơ quan, đơn vị chuyên trách, nhất là các cơ quan chuyên trách an ninh mạng như Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an; Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng, Bộ Quốc phòng; lực lượng bảo vệ an ninh mạng tại bộ, ngành, ủy ban nhân dân tỉnh, cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
Mỗi người dân, tổ chức và các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhà trường cần nắm vững mọi hoạt động và tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên, quần chúng, có nội dung giáo dục, định hướng, điều chỉnh nhận thức đúng đắn, kịp thời; có trách nhiệm trong quản lý thông tin có liên quan tới cán bộ, đảng viên và quần chúng, có kế hoạch bảo vệ chính trị nội bộ trên không gian mạng nói chung, hoạt động trên mạng xã hội nói riêng.
Mạng xã hội không xấu, điều quan trọng là mỗi cá nhân phải phải tự xây dựng được cho mình bản lĩnh tiếp nhận và vững vàng khi tham gia vào không gian ảo những cũng không ít cạm bẫy này.
                                                                                     NVH

Hoạt động chống phá mới trong Chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch và giải pháp phòng chống



Hoạt động chống phá mới trong Chiến lược “Diễn biến hoà bình”
của các thế lực thù địch và giải pháp phòng chống

Chiến lược “Diễn biến hoà bình” (DBHB) là âm mưu lâu dài, xuyên suốt, không thay đổi của các thế lực thù địch chống phá ta, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, “phi chính trị hoá” Quân đội, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian gần đây, quan hệ giữa Việt Nam với các nước thù địch đã có nhiều bước phát triển tích cực trên nhiều mặt; qua đó, đã tạo thuận lợi cho Việt Nam trong duy trì phát triển lĩnh vực ngoại giao, quân sự, kinh tế, xã hội, khắc phục một số khó khăn trong giải quyết hậu quả chiến tranh, phòng chống dịch bệnh, biến đổi khí hậu... Tuy nhiên, âm mưu của các thế lực thù địch là chúng không hề thay đổi và luôn có những âm mưu, thủ đoạn chống phá mới. Do đó, chúng ta vẫn phải thường xuyên cảnh giác, chủ động đối phó với mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá mới của các thế lực thù địch, bọn phản động trong và ngoài nước, nhất là các thủ đoạn lôi kéo, tác động chuyển hóa, thúc đẩy “tự diễn biến”.
Để thực hiện cho bằng được chiến lược DBHB ở Việt Nam trong điều kiện thực tiễn hiện nay, kẻ địch nhận thấy đây là vấn đề khó khăn, chưa thể thực hiện ngay được, cần tiến hành từng bước: do đó, các thế lực thù địch chủ trương “tạm thời chấp nhận” vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, tận dụng mọi cơ hội để thúc đẩy quan hệ ngoại giao, quan hệ đối tác toàn diện, thông qua đó để tiếp cận, tác động chuyển hoá, làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam thay đổi dần dần quan điểm, đường lối, xa rời chủ nghĩa Mác - nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từng bước ngả theo xu hướng “xã hội dân sự, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, phục vụ ý đồ chiến lược của chúng. Theo đó, các thế lực thù địch đã tiến hành một loạt các thủ đoạn hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả các mặt, tập trung chống phá một số lĩnh vực chủ yếu sau:
Trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, văn hóa - xã hội: các thế lực thù địch luôn phủ định chủ nghĩa Mác - nin; theo đó, phủ định chủ nghĩa xã hội với những cấp độ khác nhau. Họ lập luận rằng: ngay từ đầu vận dụng vào Việt Nam đã “không phù hợp” vì các nhà kinh điển đã không nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn đầy đủ, chỉ nghiên cứu ở một số nước tư bản Châu Âu, không có ở Châu Á. Phương Tây và Phương Đông từ xa xưa đã rất khác nhau, vì vậy vận dụng vào Việt Nam là khiên cưỡng. Chúng cho rằng: chính Đảng ta đã phải thừa nhận “chủ nghĩa tư bản đang thắng thế, chủ nghĩa xã hội đang tạm thời lâm vào thoái trào”; nhiều đảng cộng sản và cánh tả lần lượt thất bại trong bầu cử…, tình hình đó chứng tỏ chủ nghĩa Mác - nin đã “cáo chung”, bằng chứng rõ nhất là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Từ phủ định chủ nghĩa Mác - nin, họ đi tới phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, với lập luận: nếu coi tư tưởng Hồ Chí Minh là “sự vận dụng toàn diện của chủ nghĩa Mác - nin vào Việt Nam” thì nay “gốc” đã đổ, ắt “ngọn” phải đổ theo.
Ngoài ra, chúng tăng cường tuyên truyền, xuyên tạc nhằm loại bỏ chủ nghĩa         Mác - nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi đời sống xã hội, đồng thời quảng bá tư tưởng dân chủ tư sản trong các thế hệ người Việt; hậu thuẫn cho các tổ chức “xã hội dân sự”; tìm cách kết nối, xây dựng ngọn cờ trong cựu sinh viên, trong các doanh nghiệp, khối kinh tế tư nhân của Việt Nam nhằm chuẩn bị lực lượng nòng cốt, sẵn sàng kích động, gây bất ổn chính trị, xã hội; lợi dụng báo chí truyền thông, kể cả truyền thông chính thống để tuyên truyền, hướng lái chính sách Việt Nam theo ý đồ của chúng; tăng cường tìm cách thúc đẩy quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam và xây dựng cái gọi là nền dân chủ ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, lực lượng phản động người Việt ở trong và ngoài nước gia tăng tìm cách liên kết lực lượng, thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự”… ở nước ngoài: bọn phản động đã tập hợp “dân chủ đa nguyên”; tại Pháp đã thống nhất cách thức đưa người về nước móc nối, điều hành các tổ chức chống đối, xây dựng ngọn cờ” trong giới truyền thông và xây dựng các tổ chức “xã hội dân sự” trong nước... ở trong nước, chúng đẩy mạnh thực hiện ý đồ đa nguyên xã hội trước, đa đảng chính trị sau”. Theo đó, chúng tìm cách thành lập nhiều hội, nhóm mới để đấu tranh đòi sửa đổi những điều luật, đòi các quyền lợi cơ bản của con người; tìm, tuyển thủ lĩnh” để thành lập đảng chính trị đối lập ở Việt Nam. Chúng dùng mọi thủ đoạn, luận điệu để phủ nhận công cuộc đổi mới đất nước và chế độ XHCN ở nước ta; qua đó, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng xuyên tạc: sau hơn 30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng nền kinh tế Việt Nam vẫn không bứt phá lên được, tụt hậu so với các nước trong khu vực ngày càng lớn; hệ thống chính trị xuống cấp nghiêm trọng... Chúng xuyên tạc chống phá, gia tăng các hoạt động viết, tán phát các tài liệu liên quan đến quan hệ Việt - Trung; đặc biệt, nhằm vào các hoạt động gần đây của Trung Quốc ở Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam để kích động, xuyên tạc, vu cáo, bóp méo sự thật, đòi bài Trung, thân Mỹ”; sẵn sàng kích động, lôi kéo nhân dân xuống đường biểu tình phản đối Trung Quốc, nhằm gây bất ổn chính trị, xã hội, phá hoại kinh tế...
Mặt khác, chúng còn luôn tìm mọi thủ đoạn để chống phá tiến trình xây dựng, sửa đổi và ban hành các dự luật ở Việt Nam; chúng tập trung tuyên truyền, kích động, vận động, gây sức ép lên Quốc hội về việc xây dựng, sửa đổi, ban hành các Bộ luật như: Luật Trưng cầu dân ý, Luật Biểu tình, Luật về hội, Luật Tín ngưỡng tôn giáo, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Dân sự...
Trên lĩnh vực kinh tế: chúng lợi dụng quan hệ kinh tế để xâm nhập, gây sức ép nhằm từng bước chuyển hoá nền tảng chính trị Việt Nam theo ý đồ của chúng. Theo đó, thời gian qua các thế lực thù địch đã lợi dụng quá trình đàm phán TPP để ép Việt Nam mở cửa thị trường theo hướng có lợi cho chúng; cho phép thành lập “Công đoàn độc lập” tại Việt Nam; sử dụng các thiết chế tài chính, tiền tệ quốc tế để ép ta cải cách chính trị, điều chỉnh luật pháp; thông qua đầu tư, viện trợ để xâm nhập những ngành kinh tế quan trọng, ở địa bàn nhạy cảm; thúc đẩy tư nhân hóa để có điều kiện gây sức ép và “chuyển hóa” chế độ chính trị ở Việt Nam. Sử dụng Quỹ phòng chống HIV/AIDS (Quỹ PEPFAR ) để nuôi dưỡng người nhiễm HIV/AIDS làm lực lượng xung kích gây rối, bạo động ở trong nước khi cần. Các tổ chức xã hội dân sự ở trong nước lợi dụng các quyết sách, các dự án kinh tế xã hội, dự án luật đã và sẽ được ban hành thực hiện để moi móc sơ hở, thiếu sót nhằm lôi kéo quần chúng xuống đường, tập dượt  biểu tình, tạo tiền đề cho các cuộc bạo động lớn trong thời gian tới khi cần thiết...
Đối với Quân đội: chúng luôn gia tăng tìm cách lôi kéo, tác động “chuyển hóa”, chống phá Quân đội ta bằng mọi thủ đoạn, hoạt động như: thúc đẩy hợp tác quân sự, quốc phòng để tác động “chuyển hóa” Việt Nam; chỉ đạo các Blogger, lợi dụng báo chí, truyền thông chống phá quân đội, đòi phi chính trị hoá Quân đội. Ngoài ra, chúng luôn tìm mọi cách nhằm kích động người dân biểu tình, tuần hành gây mất ổn định xã hội; chống phá lực lượng vũ trang, chia rẽ giữa Đảng với nhân dân, giữa Quân đội với Công an…
Để ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta, cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Theo đó, phải “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ XHCN... Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”.
Hai là, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của đất nước; độc lập, tự chủ trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thực hiện tốt công cuộc đổi mới, đường lối đối nội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh...
Ba là, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. 
Bốn là, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; quản lý chặt chẽ các đối tượng chống đối, hoạt động của các hội đoàn, câu lạc bộ, các cuộc hội thảo, không để các thế lực thù địch móc nối, lôi kéo, lợi dụng hội thảo làm diễn đàn tuyên truyền chống phá Đảng, chế độ ta.
Năm là, chăm lo bảo vệ và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ vững chắc chế độ XHCN, đủ khả năng bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, đảo của Tổ quốc trong mọi tình huống. Theo đó, lực lượng Quân đội phải tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; luôn chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá mới của các thế lực thù địch; ngăn chặn, đấu tranh phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe doạ an ninh truyền thống và phi truyền thống.
Sáu là, kiên quyết đấu tranh trên mặt trận ngoại giao đối với các tổ chức, cá nhân người nước ngoài xuyên tạc, hỗ trợ, hậu thuẫn cho bọn phản động ở trong và ngoài nước tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta.
Trong những năm vừa qua, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương, chúng ta đã từng bước vô hiệu hoá, liên tiếp đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn DBHB của các thế lực thù địch trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo vệ vững chắc nền tảng chủ nghĩa Mác - nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Tổ quốc Việt Nam XHCN. Bên cạnh đó, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước: kinh tế tiếp tục phát triển, chính trị tiếp tục ổn định, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện; vị trí, vai trò nước ta trên trường quốc tế ngày càng tăng... Thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tăng cường đẩy mạnh thực hiện chiến lược “DBHB đối với Việt Nam, chúng sẽ tấn công ta cả kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng, làm cho trên mất phương hướng, dưới rối loạn mất ổn định, dẫn đến tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, hoặc suy yếu tiến tới sụp đổ. Tuy nhiên, mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động mới của chúng có thực hiện được hay không còn phụ thuộc nhiều yếu tố. Chúng ta có đủ điều kiện để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chiến lược “DBHB của các thế lực thù địch trong tình hình mới.
                                                                                                              NDT.02.20


BẢN CHẤT CÂU CHUYỆN ĐẠI TÁ CÔNG AN TUYÊN BỐ BỎ ĐẢNG
——————————

Những ngày qua trên mạng xã hội đưa tin về việc một cựu đại tá công an tuyên bố “thoát đảng” và “trở về nhân dân”. Đó là câu chuyện về ông Nguyễn Đăng Quang, nguyên là cán bộ công an, đã lấy oán để báo ơn của Đảng. Ông này ăn hưởng bổng lộc nhờ Đảng, đến khi nghỉ hưu, ông không chấp hành các quy định của Đảng, đến nay bị Đảng công bố quyết định khai trừ thì ông trở mặt, nói xấu Đảng và tỏ ra hoan hỉ khi nhận quyết định khai trừ, cùng với đó là những lời cổ xúy, lôi kéo chống Đảng.

Câu chuyện về ông đại tá về hưu tuyên bố “bỏ đảng” dường như được các tổ chức chống phá trong và ngoài nước hết sức hân hoan chia sẻ rầm rộ, bàn tán xôn xao, tung hứng, bởi trường hợp của ông Quang không nằm ngoài kế hoạch của các tổ chức này nhằm tuyên truyền hạ uy tín của Đảng nhân sự kiện Đảng Cộng sản đang tổ chức 90 năm ngày thành lập.

Cụ thể, ông Nguyễn Đăng Quang đã vi phạm các quy định của Đảng, 17 năm qua không hề sinh hoạt đảng, giấu nhẹm hồ sơ đảng khi nghỉ hưu. Tuy nhiên khi bị Đảng khai trừ, ông ta tuyên bố “Ngay khi còn đang phục vụ trong lực lượng vũ trang, tôi đã âm thầm “khai trừ Đảng khỏi lòng tôi” rồi”; “Chính xác việc trên là từ khi nào, tôi không nhớ rõ, chỉ biết rằng nó bắt đầu ngay sau khi nhận ra mình đặt lòng tin nhầm chỗ“. Không những thế, ông Quang bịa đặt rằng: “Các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, khi nhận quyết định nghỉ hưu, thường họ không chuyển giấy sinh hoạt cho các đảng bộ địa phương, mà lặng lẽ cất kỹ dưới đáy tủ như kỷ niệm của một thời đáng quên”.

 Ông Nguyễn Đăng Quang

Sự tha hóa về chính trị tư tưởng của ông Nguyễn Đăng Quang được thể hiện ở việc ông hùa theo số đối tượng chống đối, hợp tác với nhiều tổ chức trong và ngoài nước nhằm bôi nhọ và hạ uy tín của Đảng. Ông ta không chịu tự ra khỏi Đảng vì còn muốn lợi dụng Đảng để trục lợi, đồng thời lợi dụng danh nghĩa đảng viên để để có danh trả lời phỏng vấn đài báo nước ngoài, để có danh đứng cùng hàng với “lão thành cách mạng” đòi đảng phải thay đổi chế độ, đường lối với “tâm huyết đảng viên”. Ông Quang chẳng những hăng hái tham gia ký tên, soạn thảo các kiến nghị, thư ngỏ như: “Danh sách ký tên vào tuyên bố tội ác đầu độc biển miền Trung Việt Nam”; “61 đảng viên đòi đảng CSVN phải dân chủ hóa”; “20 cựu tướng lĩnh, sĩ quan Việt Nam hỏi vụ sáp nhập Việt Nam vào Tàu, Bản Kiến nghị hỏi về lộ trình Việt Nam gia nhập vào Trung Quốc 2020”;… hòng kêu gọi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận các thành tựu cách mạng do Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được trong suốt 90 năm qua. Ông còn trượt dài trên con đường tự diễn biến, tự chuyển hóa bằng việc công khai chống Đảng, Nhà nước, tham gia các nhóm xã hội dân sự, lên mạng xã hội “luận bàn thế sự”, trả lời phỏng vấn đài, báo hải ngoại nhằm bôi nhọ Đảng. Người ta còn thấy ông Quang nhiều lần chụp hình với số đối tượng hoạt động "dân chủ" chống chế độ như Nguyễn Quang A, Nguyễn Xuân Diện... hay có mặt ở Đồng Tâm cùng với các đối tượng trong "tổ đồng thuận"... Phải chăng những việc làm kể trên đối với ông Nguyễn Đăng Quang mới được gọi là “lòng tin đặt đúng chỗ”?

Ông Nguyễn Đăng Quang gặp gỡ đối tượng Lê Đình Kình ở Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội

Sự việc trên không chỉ khẳng định sự tha hóa về tư tưởng chính trị của chính ông Quang, mà còn cho thấy ông ta là một kẻ thực dụng, cơ hội và “lật mặt như lật bàn tay”. Ông tuyên bố đã “khai trừ Đảng khỏi lòng tôi” từ khi còn đang công tác, ấy vậy mà đến khi nghỉ hưu ông ta mới lên tiếng tuyên bố “thoát Đảng”. Đến đây thì ai cũng hiểu ông Quang còn muốn lợi dụng Đảng để trục lợi, còn muốn nhận bổng lộc của Đảng đem lại, kể cả khi giờ đây ông ta còn đang nhận lương hưu đều đặn cũng nhờ chế độ mà trở mặt chống Đảng. Đó là một sư “vong ơn” đến trở trẽn của nhân vật này.

Qua câu chuyện “hân hoan thoát Đảng” của ông Quang, không những ông ta không đạt được mục đích cổ xúy, kích động được tư tưởng chống đối, mà thay vào đó người ta chỉ thêm khinh bỉ đối với nhân cách và đạo đức của ông ta./.

Nguồn: Việt Nam Daily News
SỰ "LẠM, MẠO NHẬN" CỦA NHỮNG KẺ "BẤT CHÍNH DANH", RẤT KHỐN NẠN, CẦN DẸP SẠCH !

Mấy năm lại đây xuất hiện một số thành phần bất hảo, từ loại "có học" đến thứ "vô học", thậm chí có kẻ là tội phạm, nhưng thích tự xưng "đại diện" cho ai đó, hoặc nhóm gì gì, một cách trơ tráo, bất lương. Đó là một sự "mạo nhận, hoặc lạm nhận", của những kẻ "bất chính danh", với động cơ xấu xa và đen tối; những loại này rất khốn nạn, pháp luật và xã hội cần chung tay dẹp sạch, để cho đất nước được yên bình.

Những kẻ này, có thể nêu mấy ví dụ sau:

1. Cha con Lê Đình Kình, cùng Bùi Viết Hiểu vốn là những "quan tham", đã bị kỷ luật và sa thải, cùng nhóm "Đồng Thuận" là những thành phần "đầu bò, đầu bướu", siêng ăn, nhác làm, chuyên cờ bạc, nghiện ngập; nhưng chúng đã "mạo, lạm nhận" là "đại diện cho người dân Đồng Tâm" (!!). Sự vi phạm pháp luật và tội ác man rợ của chúng đã và sẽ bị đền tội xứng đáng, trước người dân Đồng Tâm lương thiện.

2. Những kẻ cơ hội, bất mãn, trong đó có nhóm "Tứ đại cu" (bài trước đã nói rõ), NoU ba xạo...tự nhận mình là "nhân sỉ, trí thức" ngụy biện cho tội ác của cha con Lê Đình Kình và nhóm "Đồng Thuận", cũng là sự "mạo, lạm nhận" rất trơ tráo. Bởi có hàng triệu trí thức chân chính, họ biết đâu là đúng, việc gì là sai, chứ không ngu muội như các vị. Họ nhìn những kẻ này cũng như tên "vô học", chứ "nhân sỉ" cái nỗi gì, có mà "nhân đĩ" (con đĩ chính trị hết thời).

3. Lại có kẻ tự xưng là CCB,TB (Nguyễn Xuân Bình, phường Láng Hạ, HN), cũng là sự "lạm nhận vô liêm sỉ". Có chăng là thứ "du thủ, du thực" mà người ta thường thấy kẻ này tự xưng là TB để hù dọa, phe vé ở sân Mỹ Đình mỗi khi có những trận giao đấu bóng đá được người hâm mộ quan tâm. "Người lính Cụ Hồ", dầu là đang tại ngũ, hay đã về với đời thường, thì họ vẫn giữ đúng tư cách một người quân nhân cách mạng, xứng đáng với niềm tin yêu của người dân, chứ đâu như kẻ "phong thần" cho giặc.

4. Những danh hiệu, quân hàm sĩ quan mà Nhà nước phong cho ai đó là sự ghi nhận, cho người xứng đáng. Chứ khi không còn xứng đáng nữa, thì mặc nhiên nó đã bị tước bỏ; có chăng là còn mức lương tương đương chưa bị tước bỏ mà thôi; chứ có đâu còn là "tá, tướng" mà khoe mẽ. Mấy hôm rồi Nguyễn Đăng Quang, lên mấy đài "thối mồm" của ngoại quốc, xúc phạm sự hy sinh của những chiến sỹ vốn là đồng chí của mình, Y khoe mẽ là "đại tá CA" mà không biết ngượng mồm. Dầu chưa có một văn bản tước quân hàm của Y, thì cũng là một sự "lạm nhận" rất bỉ ổi, bởi "y phục không xứng kỳ đức" đã từ lâu.

5. Có những Lm, thực chất là những kẻ "Pharisêu giả hình", nhưng đã mạo nhận "nhân danh Chúa"; thay vì đem Tin mừng đến cho mọi nguời, thì lại đem đến cho Chiên lành sự ám ảnh, thù hằn và đau khổ. Sự mạo nhận này là sự báng bổ rất nặng nề đối với Thiên Chúa; những kẻ nầy chắc chắn sẽ bị trừng phạt còn hơn đối với Satan, Giuda, cho dầu hiện tại chúng đang tác oai, tác quái đâu đó ở thế gian này.

Những kẻ "mạo, lạm nhận" nêu trên, tuy khác nhau về cách thức, nhưng đều giống nhau ở bản chất "lừa đảo" để "dẫn dụ" người dân chống lại chính quyền, hòng lật đổ chế độ, phá hoại sự yên bình của xã hội, triệt tiêu yếu tố ổn định chính trị, ngăn cản sự phát triển của đất nước. Chúng là những kẻ "bất chính danh", không đại diện cho bất cứ người dân lương thiện nào, hay một tổ chức hợp pháp nào cả. Vì chúng hèn mọn, lạc lõng, bất lực, nhưng tham vọng đen tối thì qúa lớn (đến mức vô vọng), nên "mạo, lạm nhận" cái vốn chúng không có.

"Trò Mèo" này rất khốn nạn, pháp luật và xã hội cần mạnh mẽ chung tay dẹp cho sạch. Nhà nước đừng chần chừ gì nữa, hãy dọn chúng như dọn sạch những thứ đồ giả độc hại, hãy cách ly chúng như cách ly con bệnh dễ lấy lan, hiện tại đang đe dọa thành "đại dịch" rất nguy hiểm này.
st
CHỜ ĐỢI NGÀY VIỆT NAM SẠCH BÓNG CORONA

Việt Nam rất có khả năng trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới chữa khỏi cho toàn bộ các ca bệnh nhiễm Corona. Hôm nay, sẽ có thêm 6 ca xuất viện, nâng tổng số ca bệnh phục hồi lên tới 13/16 bệnh nhân bị nhiễm. Một điều đáng chú ý khác, sẽ có 4 ca bệnh phục hồi tại một trung tâm y tế tuyến cấp huyện tại Bình Xuyên, Vĩnh Phúc, đánh dấu năng lực kiểm soát dịch bệnh ngay từ các đơn vị y tế quy mô nhỏ.

Đồng thời, kể từ ngày 13/02, Việt Nam không ghi nhận thêm ca nhiễm, các bệnh viện dã chiến, trung tâm cách ly đang hoạt động ở tuần thứ 2, Việt Nam cũng có thể trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới tuyên bố: Khống chế thành công đại dịch Corona (*)

Nhật Bản, Đài Loan, Hong Kong, EU, điểm chung của họ là gì? Có nền kinh tế và y tế phát triển, giàu có. Nhưng họ cũng có một điểm chung mà họ không hề mong muốn: Họ đều đã ghi nhận các trường hợp tử vong vì Corona.

Như tại Hoa Kỳ chẳng hạn, theo CNN, một bệnh viện đã cho xuất viện nhầm một bệnh nhân nhiễm Corona. Một vụ “phốt” khác, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC) đã phải thu hồi các bộ KIT xét nghiệm Corona vì các bộ KIT gửi đến các bang đã bị lỗi.

Levchenko, một thành viên tại diễn đàn Hanoi Massive Community viết rằng “Việt Nam có đường biên giới với Trung Quốc và mối quan hệ chặt chẽ, nhưng họ chỉ có 16 trường hợp nghi nhiễm Corona. Tôi đang ngưỡng mộ đất nước nhỏ bé này. Họ đang làm những việc không thể tin được”. Cũng trên diễn đàn ấy, nhiều người nước ngoài cảm thấy tin tưởng, họ có thể sống, làm việc, vui chơi tại Việt Nam thoải mái, thì một số người Việt, lại nghĩ rằng: Chính phủ Việt Nam đang lừa dối và không dám công bố số liệu thực sự.

Thanh niên bên bển, James Tran: “Số liệu có thể được ngụy tạo”. Một bình luận ngay bên dưới: “WHO không phải là một thằng ngu”.

“Bạn sẽ không thể bị nhiễm Corona, có bị nhiễm thì cũng nhanh khỏi thôi, vì chúng tôi có cao sao vàng và dầu gió”.

Đến giờ mình vẫn không thể hiểu nổi, có những con người lại luôn tin vào các nguồn tin từ các tài khoản ảo trên mạng, từ RFA hay Việt Tân. Trong khi những con số từ WHO thì họ không tin. Thật là kỳ lạ!

Việt Nam đã làm được gì: Chữa bệnh miễn phí cho cả người nước ngoài và người có quốc tịch Việt Nam, điều phối các phương tiện chở người Việt về nước miễn phí, cách ly miễn phí nốt. Điều này có quốc gia thứ 2 nào làm được không?

Việt Nam đã tái khẳng định một lần nữa: Khắc chế thành công SARS không phải là một việc ăn may. Nếu may mắn một lần thì đồng ý, nhưng chẳng có thứ may mắn nào lại đến nhiều lần. Từ SARS, H1N1, MERS và giờ là Corona. Đó là kết quả của cả một quá trình và năng lực. WHO đã đánh giá: “Việt Nam đã xử lý dịch Covid - 19 rất tốt. Đây là năng lực quốc gia trong việc sẵn sàng ứng phó và kiểm soát các vấn đề y tế khẩn cấp, và năng lực này đã được thử thách và kiểm nghiệm qua các sự kiện thực tế ở Việt Nam.” - Không tốt làm sao mà được, đúng không?

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đưa ra tuyên bố chung với cộng đồng ASEAN về dịch bệnh Corona hôm 15/02, phía Việt Nam sẵn sàng đứng đầu và điều phối các hoạt động hợp tác chung giữa các kênh chuyên ngành liên quan để thống nhất cách tiếp cận đồng bộ, hiệu quả trong công tác phòng, chữa bệnh Corona tại ASEAN.

“Chúng tôi đã làm được một cái việc. Người ta cho là không làm được. Một cái việc là tưởng như là huyền thoại nhưng mà nó lại thành sự thực. Điều đó được chứng tỏ rằng, nếu mà có sự quyết tâm lớn, không có gì là không thể làm được” - Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nói như vậy và nó lại đúng vào thời điểm như hiện tại.

"Việt Nam đã chiến thắng thì có quyền ít nhất là mặt hướng lên cao và tay nắm chặt hiên ngang." - Mượn từ một bài viết trước đây của mình.

Chúng ta đang chờ đến ngày, Việt Nam sạch bóng Corona. (*) Áp dụng với các quốc gia có tuyên bố dịch bệnh.

#sưcmanhvietnam

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp Việt Nam


Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm ý thức về tầm quan trọng của vấn đề này trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu chung là phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

        Quán triệt, kế thừa, phát triển quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Người, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện chủ chương, cơ chế, chính sách, pháp luật về tôn giáo, tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân thực hành quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình.
Theo dòng chảy của lịch sử, Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, kể cả tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập. Người có tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được yên tâm và an toàn hành đạo theo đúng nghĩa của một đạo giáo chân chính. Điều này thể hiện rất rõ ở chỗ, hệ thống văn bản pháp quy của Nhà nước Việt Nam có nhiều bậc thì quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện ở bậc cao nhất, hiến định rất rõ ràng trong đạo luật gốc - đó là Hiến pháp. Hiến pháp, văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, mỗi lần sửa đổi, bổ sung và ban hành luôn luôn kế thừa và phát triển để quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân trở thành một trong những quyền cơ bản của con người.
         Ngay sau khi giành được chính quyền năm 1945, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, trong bản Hiến pháp đầu tiên của một nước Cộng hòa non trẻ đã khẳng định: “Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (tại Điều 1, Chương 1); hay: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng” (tại Điều 10, Chương 2).
Quyền tự do tín ngưỡng của công dân không chỉ thể hiện trong văn bản pháp quy có giá trị cao nhất mà Đảng ta đã dành những sự ưu ái, tin tưởng đặc biệt đối với đồng bào, nhân sỹ, trí thức là người các tôn giáo thể hiện trong thành phần nội các Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc bấy giờ (có nhiều vị Bộ trưởng, Cố vấn của Chính phủ là người theo các tôn giáo). Đến bản Hiến pháp năm 1959, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được tái khẳng định và cụ thể hóa, tại Điều 26 quy định: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”.
Trong bản Hiến pháp này, quyền tự do tín ngưỡng đã được mở rộng theo hướng công dân được “theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Điều này cho thấy tự do tín ngưỡng không chỉ là quyền theo tôn giáo mà còn có cả quyền không theo tôn giáo. Quy định như vậy thể hiện một cách nhìn toàn diện và đầy đủ hơn những quan hệ xã hội, một mặt là sự mở rộng hơn, làm sâu sắc thêm quyền đó;      
               Mặt khác, là cơ sở pháp lý nhằm bảo vệ quyền của những người không có đạo, phòng ngừa trường hợp có người vì những lý do nào đó họ bị ép buộc theo một tôn giáo nào đó. Điều này cũng tạo ra sự bình đẳng, đoàn kết giữa người có đạo với người không có tín ngưỡng trong khối Đại đoàn kết dân tộc. 
Kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959; Hiến pháp năm 1980, tại Điều 68 đã ghi nhận: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. 
          Qua đó cho thấy, quyền tự do tín ngưỡng tiếp tục được khẳng định. Ở đây, quyền tự do tín ngưỡng bao gồm cả nội dung phòng ngừa hành vi lợi dụng quyền này để chống phá cách mạng, đồng thời quy định này làm rõ căn cứ để nhận diện hoạt động lợi dụng tôn giáo, đó là những hoạt động vi phạm pháp luật, chính sách của Nhà nước, tuyên truyền mê tín dị đoan cũng như các hủ tục lạc hậu nhằm mưu cầu cá nhân, phá hoại thành quả cách mạng.
Hiến pháp 1992, bản Hiến pháp ra đời sau khi Đảng ta bắt tay vào công cuộc đổi mới (Đại hội VI, năm 1986), tại Điều 70, Chương V hiến định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. 
         Như vậy, Nhà nước ta tiếp tục khẵng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, thể hiện về tính chất cũng như ý nghĩa quan trọng của tôn giáo trong đời sống xã hội, quyền tự do tín ngưỡng đã được Nhà nước quan tâm và khẳng định đầy đủ phù hợp với xu thế phát triển của xã hội dân chủ và tiến bộ.
Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện; nhằm đáp ứng, phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, ngày 28/11/2013, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp 2013 (có hiệu lực từ 01/01/2014), gồm 11 chương, 120 điều. Hiến pháp 2013 có nhiều điểm mới cả về nội dung và kỹ thuật lập hiến; bố cục hợp lý, chặt chẽ và khoa học, bảo đảm các quy định của Hiến pháp đúng tầm là đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất, có tính ổn định lâu dài; Quy định bao quát các quyền cơ bản về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa của con người; Theo đó, điểm đổi mới quan trọng là thể hiện quan điểm nhất quán về vấn đề quyền và nghĩa vụ con người.
         Hiến pháp 2013, tiếp tục khẵng định quyền con người là quyền tự nhiên, Nhà nước phải thừa nhận, tôn trọng và cam kết bảo đảm, bảo vệ quyền con người đúng như những công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong khi đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được trình bày mở rộng hơn, với các chế định toàn diện và sâu sắc theo hướng ngày càng hoàn thiện, dân chủ, tôn trọng, tạo điều kiện tốt nhất cho tín đồ các tôn giáo và tổ chức tôn giáo hoạt động một cách lành mạnh và công bằng nhất.
Tại Điều 24, Chương II quy định:
1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
       Có thể thấy rằng, so với các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp 2013 là một bước tiến quan trọng, một sự kế thừa và phát triển trong thời kỳ đất nước ta "Đổi mới và hội nhập sâu" với thế giới. Theo đó, Hiến pháp 2013 cho thấy thái độ cũng như chính sách dân chủ của Nhà nước ta đối với quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, coi đó là một nhu cầu và là một quyền tất yếu của người dân cần phải được tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện để họ thực hiện tốt nhất quyền đó. 
Đồng thời, ở đây dùng khái niệm “Mọi người” chứ không phải là “công dân” như các bản Hiến pháp trước đây. Bản chất của vấn đề đã có sự thay đổi căn bản, điều đó thể hiện chính xác quyền con người đối với vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. Khái niệm “Công dân” là thể hiện mối quan hệ giữa người dân với Nhà nước, với thể chế Chính trị. Nhà nước ta là Nhà nước thế tục, nghĩa là Nhà nước phi tôn giáo, khẳng định quyền tự do tôn giáo và nguyên tắc tách biệt giữa Nhà nước và Giáo hội, không can thiệp vào công việc nội bộ của các tôn giáo. Vì thế, khi ghi nhận “Mọi người” sẽ bao trùm rộng hơn so với “công dân” vì trong thực tế không phải ai cũng có quyền công dân. Ví dụ, một người tù, mặc dù đã mất quyền công dân nhưng vẫn có quyền tự do thờ phụng, thực hành tôn giáo của mình .v.v… Việc ghi nhận “Mọi người” có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 
      Có thể nói, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện tinh thần đổi mới và thể hiện được ý Đảng, lòng dân, phản ánh được nguyện vọng của đại đa số nhân dân, thể hiện tinh thần dân chủ, đổi mới, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, trong đó chế định liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có một vai trò, vị trí quan trọng. Quan điểm trước sau như một, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của mọi người, đi liền với củng cố khối đoàn kết toàn dân, vừa bảo đảm được lợi ích của dân tộc và Tổ quốc, vừa không làm ảnh hưởng đến tình cảm tôn giáo - một hình thái ý thức xã hội nhạy cảm và phức tạp. Để thực hiện được điều đó thì rất cần đến một hành lang pháp lý với tư cách là công cụ để nhân dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình.
       Tóm lại, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm ý thức được tầm quan trọng của vấn đề này trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Quán triệt, kế thừa, phát triển quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Người, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện chủ chương, cơ chế, chính sách, pháp luật về tôn giáo, tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân thực hành quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình.
Hiến pháp - văn bản có giá trị pháp lý cao nhất qua năm lần ban hành, sửa đổi đều đề cập đến vấn đề quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hướng ngày càng hoàn thiện, dân chủ, tôn trọng, tạo điều kiện tốt nhất cho chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo và tổ chức tôn giáo hợp pháp phát triển một cách lành mạnh và công bằng nhất. Thực hiện tốt quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân có ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu chung là phát triển và bảo vệ Tổ quốc./.

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2020

Không để xã hội bị thông tin xấu độc lung lạc


          Trong giai đoạn hiện nay, khi mà toàn Đảng đang bước vào giai đoạn tiến hành Đại hội Đảng các cấp để tiến tới Đại hội Dảng toàn quốc lần thứ XIII, Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và xảo quyệt, đưa tin thất thiệt, thật giả lẫn lộn, dẫn đến tâm lý hoang mang, nghi ngờ, phân tâm trong xã hội. Những thông tin xấu độc trên không gian mạng luôn tạo ra cơ hội cho các thế lực thù địch tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá, gây mất ổn định chính trị, kinh tế-xã hội ở nhiều địa phương, không chỉ những đô thị lớn mà nó còn len lỏi về tận những vùng nông thôn.

KỶ NIỆM 41 NĂM CUỘC CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

Nhắc lại để nhớ!
Cách đây 41 năm, rạng sáng 17/2/1979, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía Bắc. Thực hiện Lệnh tổng động viên của Chủ tịch nước, quân và dân Việt Nam đã cầm súng, chiến đấu để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.