Thứ Năm, 12 tháng 11, 2020

“LỎM” - KẺ PHẢN ĐỘNG CHÍNH HIỆU

 


Trong bài viết với tiêu đề: “Phản động” rút cuộc là gì? Trên trang Boxitvn.net ngày 22/9/2020, kẻ có bút danh là “Lỏm” sau khi mượn học thuật, đưa ra những kết luận lệch lạc, sai trái, phản khoa học, “y đã hiện nguyên hình là một kẻ phản động chính hiệu, dùng chính những tri thức lệch lạc, sai trái, phản khoa học ấy của mình để đả phá cách mạng, bôi nhọ chế độ, phủ nhận thành tựu cách mạng của Đảng, nhân dân ta.

Hắn cho rằng “phản động tự thân nó không có nghĩa xấu”; “nhưng… phản động càng giỏi lại càng dễ bị ăn đòn”; rồi lại cho rằng “những người phản động không đơn giản là những người muốn đứng yên hay muốn quay ngược bánh xe lịch sử… họ hoàn toàn có thể là những người muốn tiến lên phía trước, vươn tới đỉnh cao mới, chỉ là không theo kiểu cách mạng đang diễn ra”.

Thật nực cười với lập luận vờ ngô nghê của “Lỏm”, đã là “phản động’ thì làm sao mà là hành động tốt mà y lại khẳng định “tự thân nó không có nghĩa xấu”?! Bởi nghĩa của “Phản động” là chỉ ý kiến hoặc hành động phản đối, chống đối các phong trào chính trị hoặc phong trào xã hội đúng đắn, tiến bộ - phản đối, chống cách mạng. Mà “cách mạng” là thay cũ đổi mới”, cái “mới” ở đây là cái đúng đắn, tiến bộ, hợp quy luật; nếu không mạng những đặc tính như thế thì dù cái nào đó thay cái cũng cũng không được coi là cái mới và như cái hành động để đưa tới sự ra đời của cái như thế cũng sẽ không thuộc phạm trù “cách mạng”, thậm trí nó đối lập với cách mạng - “phản động”.

Động cơ mục đích của “Lỏm” khi luận bàn về “Phản động” rút cuộc là gì? Chung quy là “…không theo kiểu cách mạng đang diễn ra”. Không hiểu “Lỏm” không đủ dung khí hay không đủ khả năng và trình độ để nói lên con đường mà “Lỏm” và những kẻ phản động như “Lỏm” “muốn tiến lên phía trước, vươn tới đỉnh cao mới”, nhưng “không theo kiểu cách mạng đang diễn ra” ấy rút cuộc là con đường nào? Chẳng phải lịch sử Việt Nam đã quá rõ ràng, sau biết bao tìm tòi thử nghiệm với mục đích “tiến lên phía trước, vươn tới đỉnh cao mới” dưới các ngọn cờ tư tưởng, “kiểu cách mạng” khác nhau đã chứng tỏ rằng “...đối với nước ta không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do hạnh phúc cho nhân dân ngoài con đường xã hội chủ nghĩa”. Lịch sử xã hội đang trải qua những bước quanh co, nhưng loài người tất yếu tiến lên chủ nghĩa xã hội, đó là quy luật tất yếu của lịch sử.

“Theo kiểu cách mạng đang diễn ra”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 "long trời, lở đất," thành lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với tinh thần "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ," "không có gì quý hơn độc lập, tự do"; trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối vào ngày 30/4/1975. Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc Đổi Mới, từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất-kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng-an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Còn có con đường nào khác “kiểu cách mạng đang diễn ra” mà có thể “tiến lên phía trước, vươn tới đỉnh cao mới” thực sự thì có lẽ lịch sử dân tộc cũng không đợi chờ đến lúc này để “Lỏm” có cơ hội suy ngẫm, tìm tòi. Đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan, sợi chỉ đỏ xuyên suốt cách mạng Việt Nam nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Bất cứ kẻ nào, thế lực nào đả phá cách mạng, bôi nhọ chế độ, phủ nhận thành tựu cách mạng của Đảng, nhân dân ta đều là phản động đáng vạch mặt, lên án./.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Trung với nước, hiếu với dân”

 

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “Trung với nước, hiếu với dân” phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc; phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ trách nhiệm và quyền lợi của người làm chủ đất nước.



Về những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam, quan điểm đạo đức Hồ Chí Minh đã bao quát những mối quan hệ cơ bản của con người trong xã hội. Đó là với đất nước, với dân tộc phải “Trung với nước, hiếu với dân”. Trung, hiếu là phẩm chất đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và phương Đông được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trung với nước, hiếu với dân là điều chủ chốt của đạo đức cách mạng. Trung với nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đấu tranh giành độc lập và làm cho đất nước “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Nước là của dân, dân là chủ nước, cho nên trung với nước là trung với dân, trung thành với lợi ích của nhân dân, “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”… Hiếu với dân là Đảng, Chính phủ, cán bộ nhà nước phải là “đầy tớ trung thành của dân”, “phải tận trung với nước, tận hiếu với dân”./.

 


Sai lầm, khuyết điểm của các nước đi theo con đường xã hội chủ đã và đang mắc phải, không chứng tỏ lý luận về chủ nghĩa xã hội là sai lầm

 

Một số thế lực thù địch, phản động hiện nay cho rằng, “một loạt sai lầm, khuyết điểm mà các nước đi theo con đường XHCN, trong đó có nước ta đã và đang mắc phải, chứng tỏ lý luận về CNXH là sai lầm và lỗi thời”. Chúng ta thấy rằng, rocx ràng chúng đang cố tình đổ cho học thuyết Mác - Lênin có lỗi trong những khó khăn, hạn chế, sai lầm của quá trình xây dựng, phát triển đất nước theo con đường XHCN.

Sự bảo thủ, trì trệ trong nhận thức, những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN không phải bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác – Lênin. Chúng ta không hề giấu giếm những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày tại Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Tăng trưởng kinh tế thấp hơn 5 năm trước, không đạt mục tiêu đề ra; năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp... Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi... Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ; kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm...”. Đảng cũng nghiêm khắc thừa nhận rõ rằng, tình trạng trên có những nguyên nhân khách quan nhưng “trực tiếp và quyết định nhất là nguyên nhân chủ quan”. Đó là những hạn chế trong đánh giá, dự báo tình hình, trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, trong công tác lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy, chính quyền, v.v..

Việc có những sai lầm, khuyết điểm, khó khăn, hạn chế trong quá trình xây dựng đất nước là khó tránh khỏi. Xây dựng CNXH là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, có tính khoa học, đòi hỏi thời gian, nguồn lực to lớn và nhiều điều kiện khác. Chúng ta bắt tay vào xây dựng CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề sau cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài suốt 30 năm. Cái khó khăn lớn nhất của chúng ta có lẽ trước hết không phải từ sự thiếu thốn về của cải, vật chất mà đa phần chính ở lối nghĩ, tác phong mang nặng tính chất của nền văn hóa nông nghiệp. Không có kinh nghiệm tiền lệ, không có sự hỗ trợ của phe XHCN như trước đây. Nhiều thế lực đang dòm ngó, chống phá. Trong điều kiện ấy, những thành tựu mà công cuộc đổi mớiđạt được là đặc biệt quan trọng. Chúng ta đã duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao trên 6,5% năm trong suốt 30 năm thực hiện chính sách đổi mới. Từ GDP bình quân đầu người chỉ 80USD đã tăng lên mức trên 2.100USD. Đời sống nhân dân đã được cải thiện một bước cơ bản. Những điều đó là không thể phủ nhận và mặc nhiên đã được nhiều tổ chức, cá nhân trên thế giới, trong đó có nhiều học giả phương Tây thừa nhận.

Để có được những thành tựu to lớn đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những bước đi dũng cảm về nhận thức, sự đổi mới mạnh mẽ về chính sách kinh tế - xã hội. Từ một nền kinh tế bao cấp hoàn toàn dựa trên sở hữu công cộng, chúng ta đã chuyển sang xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần sở hữu, rồi chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Từ một Nhà nước xây dựng theo mô hình nền chuyên chính vô sản, chúng ta đã chuyển sang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Từ chỗ bị bao vây cấm vận, chỉ có quan hệ với các nước khối XHCN là chủ yếu, chúng ta đã mở cửa hội nhập quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 quốc gia và vùng lãnh thổ trên tổng số 193 thành viên Liên Hợp quốc, trong đó có 2 đối tác toàn diện đặc biệt, 15 đối tác chiến lược, 11 đối tác toàn diện, hai đối tác chiến lược theo từng lĩnh vực.

Từ thực tế ấy, không thể có lý gì để nói rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam bảo thủ, cố chấp hay định kiến mà không đổi mới nhận thức, đổi mới chính sách về CNXH và xây dựng CNXH, cũng như không thể đổ cho học thuyết Mác - Lênin có lỗi trong những khó khăn, hạn chế, sai lầm của quá trình xây dựng, phát triển đất nước.

Chủ nghĩa tư bản có thực sự ưu việt?

 


Hiện nay, một số nhà nghiên cứu phương Tây và một bộ phận cán bộ, đảng viên trong nước cho rằng: “điều kiện kinh tế và xã hội ở các nước tư bản phát triển được cải thiện rất nhiều so với ở các nước đi theo con đường XHCN, chứng tỏ CNTB là ưu việt”. Chúng cố minh chứng sự hơn hẳn về điều kiện vật chất, trình độ phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ và một số lĩnh vực khác của các nước tư bản phát triển so với các nước đi theo con đường XHCN hiện nay. Thật nực cười, tính ưu việt của một chế độ xã hội so với chế độ xã hội khác tại sao lại chỉ có thể duy nhất dựa vào điều kiện vật chất, trình độ phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ. Đó chỉ là cách nhìn thực tại, phiến diện, không thấy đằng sau và phía trước của sự phát triển ấy là gì.

Đúng là không ai có thể phủ nhận một thực tế là các nước TBCN phát triển đã có được những thành tựu phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ kéo theo những cải thiện nhất định về điều kiện sống của người dân. Nhưng trước hết, cần phải nhìn cho rõ những thành tựu đó do đâu mà có. CNTB đã có nhiều trăm năm phát triển. Trên con đường phát triển của CNTB, bánh xe vận hành của nó đã lăn đi trong ngập ngụa máu và nước mắt của nhân loại cần lao, thống khổ trên khắp các lục địa. “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”, đó là lời tự thú có tính chất phản tỉnh của Terry Eagleton - một học giả người Anh. Chỉ cần giở lại các trang lịch sử của nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha... sẽ thấy ngay những gì mà chế độ tư bản đã hành xử với đồng loại của mình. Những kẻ thực dân từ cựu lục địa châu Âu đã phá vỡ cuộc sống bình yên hàng nghìn năm của các bộ tộc người da đỏ, chiếm đoạt đất đai của họ bằng gươm, súng và cả sự tra tấn dã man, rùng rợn ngoài trí tưởng tượng, bằng cách lột da đầu. Trong cuốn sách Sự tàn sát khủng khiếp cuối thời Victoria(Late Victorian Holocausts), học giả người Anh đã viết rằng, hàng chục triệu người Ấn Độ, châu Phi, Trung Quốc, Braxin, Triều Tiên, Nga và nhiều nước khác đã chết do đói, hạn hán và dịch bệnh vào cuối thế kỷ XIX dưới chế độ thực dân xâm lược. Và ngay ở chính các nước tư bản giàu có hiện nay, có ai dám chắc mọi người dân đều có cuộc sống tốt đẹp. Hàng chục triệu người dân Mỹ không có bảo hiểm y tế chỉ có cách chờ tử thần khi mắc bệnh. Ở bang Caliphoócnia, quá nửa nam giới người da đen có ít nhất một lần trong đời phải đi tù...

Làm sao, là người Việt Nam mà ai đó có thể quên được nỗi thống khổ của nhân dân ta trong đêm trường nô lệ hơn 80 năm dưới ách đô hộ của CNTB thực dân Pháp? Bao nhiêu người dân Việt Nam đã chết trong các xưởng máy, hầm lò, trên các cung đường, các bến tàu. Những cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Yên Bái, Xô viết Nghệ - Tĩnh... bị dìm trong bể máu. Hơn hai triệu người chết đói năm 1945. Thực dân Pháp bóc lột người dân thuộc địa Việt Nam đến tận xương tủy, vơ vét hết vàng, than, sắt, đồng... mang về làm giàu cho chính quốc. Gần 20 năm, đế quốc Mỹ thay chân đế quốc Pháp thiết lập ách thống trị, dày xéo đất nước ta. Những nhà tù địa ngục trần gian ở Côn Đảo, Phú Quốc..., những vụ tàn sát ở Thái Bình (Bình Định) năm 1966, Bình Hòa (Quảng Ngãi) năm 1966, Mỹ Lai (Quảng Ngãi) năm 1968..., vụ B52 ném bom rải thảm khu phố Khâm Thiên, bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), phải chăng đó không phải là tội ác thấu trời của chế độ tư bản Mỹ? Ngỡ tưởng, không phải nhìn đâu xa, chính những trang lịch sử khắc nghiệt và đau thương ấy đã đủ để cho các thế hệ chúng ta và con cháu chúng ta hiểu được bản chất của chủ nghĩa tư bản! Vậy mà lạ lùng thay, vẫn có người bước ra khỏi biên giới đã hết lời khen hay, khen đẹp cho các nước tư bản, cho các thành phố hào hoa Tây Âu. Họ có biết đâu hoặc cố tình không biết rằng, những thành phố đó đã trải qua mấy trăm năm xây dựng bằng sức lao động và của cải của bao thế hệ người lao động và cả của cải bóc lột từ các thuộc địa mang về.

Việc xây dựng chế độ XHCN là công việc rất khó, mang tính khoa học, có tính quy luật, đòi hỏi thời gian, nguồn lực, sự lãnh đạo chính trị đúng đắn và các điều kiện không thể thiếu khác. Theo như C.Mác, CNXH chỉ có thể thành công ở một loạt nước tư bản phát triển ở trình độ cao. Nó như là tất yếu thay đổi quan hệ sản xuất xã hội khi lực lượng sản xuất dưới chế độ TBCN đã phát triển, xã hội hóa cao độ, không thể tiếp tục tồn tại trong khuôn khổ quan hệ sản xuất TBCN. Đối với Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, tất cả đều có điểm xuất phát là các nước tư bản có trình độ phát triển thấp hoặc trung bình. Thời gian xây dựng chế độ XHCN hầu như còn rất ngắn. Liên bang Xô Viết (Liên Xô) được thành lập và bắt tay xây dựng CNXH năm 1921, khi vừa ra khỏi cuộc nội chiến. Mới chỉ có chưa đầy 20 năm hòa bình xây dựng, Liên Xô đã phải trải qua cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại với sự tàn phá vô cùng nặng về sức người và sức của. Hơn 20 triệu người chết, hàng loạt thành phố, làng mạc từ biên giới với Ban Lan cho đến phía Tây Mátxcơva bị san phẳng. Từ sau năm 1945, Liên Xô chỉ có hơn 30 năm xây dựng trong hòa bình, đồng thời phải đối mặt với cuộc chạy đua vũ trang do Mỹ và phe đế quốc khởi xướng. Tương tự như vậy, các nước XHCN ở Đông Âu cũng chỉ có xấp xỉ 30 năm xây dựng. Nhưng những thành tựu mà các nước này đạt được là vô cùng to lớn, thậm chí có lĩnh vực vượt qua cả Mỹ và các nước tư bản Tây Âu. Ngoài việc thiết lập cuộc sống công bằng, cải thiện nhanh chóng về nhà ở, giáo dục, văn hóa cho nhân dân, Liên Xô còn đi đầu thế giới về khoa học công nghệ vũ trụ. Vào thời hoàng kim, CHDC Đức là quốc gia bảo đảm điều kiện sống cho trẻ em tốt nhất thế giới. Một yếu tố không thể không nhắc tới, Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đã trở thành đối thủ chính trị không đội chung trời của CNTB ở các nước phương Tây. Người dân các nước phương Tây và các dân tộc thuộc địa nhìn vào các nước XHCN như tấm gương, niềm hy vọng cho cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập, đòi dân chủ, dân sinh. Các thế lực TBCN nhìn vào đó như mục tiêu phá hoại phải loại bỏ bằng được. Cho đến hôm nay, khi Chiến tranh lạnhđã lùi xa hơn 25 năm, nhưng hầu như cách ứng xử trước đây vẫn còn nguyên trong những trừng phạt kinh tế mà các nước tư bản phương Tây nhằm vào nước Nga.

Đối với Việt Nam, chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước thống nhất theo con đường XHCN sau cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài suốt 30 năm. Ngay sau đó, chúng ta lại phải đối mặt với cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc. Trên thực tế, đất nước chỉ ra khỏi cuộc chiến từ năm 1989. Chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước từ con số không khi tất cả những gì có được sau mấy năm hòa bình xây dựng ngắn ngủi đã bị tàn phá hoàn toàn. Hơn thế nữa, hậu quả chiến tranh vô cùng nặng nề. Hàng vạn thương, bệnh binh, người già, trẻ em không nơi nương tựa. Đồng ruộng đầy bom, đạn, mìn còn lại. Những gì chúng ta có được hôm nay sau 30 năm xây dựng là đáng trân trọng, đáng tự hào, mặc dù chưa phải đã được như mong đợi. Đương nhiên là không thể so sánh với các nước tư bản đã có mấy trăm năm phát triển mà không cần quan tâm đến sự thống khổ, hy sinh của lớp lớp người lao động thuộc địa và ở chính quốc. Tuy nhiên, công việc xây dựng một xã hội mới chưa từng có tiền lệ, không bao giờ là dễ dàng, có tính quy luật của nó, không thể xong trong thời gian ngày một, ngày hai, không thể đốt cháy giai đoạn.

Như vậy, rõ ràng là sai lầm khi chỉ nhìn vào bề ngoài những gì đang có ở các nước tư bản phát triển để so sánh, đánh giá tính ưu việt của chế độ TBCN so với chế độ XHCN. Chỉ có bằng sự phân tích sâu sắc, toàn diện, bằng cách nhìn công bằng, lịch sử mới thấy được nguồn gốc, bản chất của sự giàu có của các nước tư bản phát triển, mới thấy hết được những thành công và đóng góp to lớn của CNXH cho sự phát triển của nhân loại và tiến bộ xã hội.

Thật ngộ nhận khi cho rằng chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ do lý thuyết về chủ nghĩa xã hội sai lầm

 


Một trong những luận điệu của thế lực thù địch, phản động cố tình phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay là chúng cho rằng: “CNXH hiện thực được xây dựng theo học thuyết của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I. Lênin ở Liên Xô, các nước Đông Âu đã bị sụp đổ. Hiện thực sụp đổ có nghĩa là lý thuyết sai lầm”. Thật ngộ nhận, sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu hiển nhiên không phải là bằng chứng của sự sai lầm, lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lênin và cùng với nó là con đường xây dựng CNXH. Không có một thứ lôgic nào cho sự suy luận như thế.

Trước hết, cần phải nói rằng mô hình CNXH hiện thực trên thực tế đã mang lại sự thay đổi rung trời chuyển đất, tạo ra một mảng sáng không thể phủ nhận ở Liên xô, Đông Âu và một loạt nước trên thế giới. Nó đã mang lại cuộc sống tốt đẹp cho một phần to lớn của nhân loại. Nó đã tạo nên một sức mạnh to lớn mà trước đó không thể tưởng tượng về nguồn lực vật chất và tinh thần, đủ sức để động viên sức người, sức của, tạo thành lực lượng chủ yếu đánh thắng cả những lực lượng to lớn của liên minh các thế lực tư bản trong Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng như đội quân phát xít tàn bạo của trục ma quỷ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Bằng thực tế sinh động tốt đẹp trên các đất nước xây dựng CNXH, nó đã động viên, thúc đẩy cuộc đấu tranh vì tự do, dân chủ, hòa bình, giải phóng dân tộc trên toàn trái đất. Hàng loạt dân tộc bị áp bức đã giành được độc lập tự do dưới ảnh hưởng và sự giúp đỡ vô tư của các nước XHCN do Liên Xô dẫn đầu. Chính CNXH và cuộc đấu tranh rộng lớn, mạnh mẽ của nhân dân lao động trên toàn thế giới đã là động lực thúc đẩy, buộc các thế lực tư bản, đế quốc phải, một mặt thừa nhận quyền tự do, độc lập của các dân tộc trong hệ thống thuộc địa rộng lớn của CNTB thực dân, đế quốc. Một mặt, tạo thành sức ép, buộc các thế lực tư bản có những cải cách xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân lao động ở chính quốc. CNXH đã là một hiện thực hùng mạnh đủ để những chiến lược gia, các nhà lý luận tư sản phải run sợ, đã đưa ra những dự báo về sự thất bại, kết thúc không thể đảo ngược của chủ nghĩa tư bản. Những thừa nhận đắng cay của Henry Kitsingiơ, Brêginxki thời kỳ những năm 60, 70 thế kỷ XX vẫn còn nguyên đó trong các cuốn sách, bài báo của họ.

Tất nhiên, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã là một bài học đau đớn không chỉ cho những người cộng sản, mà còn cho cả nhân loại tiến bộ. Đó là kết quả của sự bảo thủ, không nhìn thẳng vào thực tế, chậm đổi mới nhận thức và đổi mới các chính sách cũng như những giải pháp cần thiết để giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn như những mâu thuẫn tất yếu nảy sinh trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Đó cũng chính là sự sai lầm do những người cộng sản ở Liên Xô và các nước XHCN trước đây mắc phải do không nhận thức đúng đắn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính biện chứng và quan điểm lịch sử cụ thể trong quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng XHCN, đã do cố chấp và thiên kiến mà bỏ qua bài học phương pháp luận quý báu của V.I.Lênin, không “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất của nước ngoài” để xây dựng, phát triển chế độ XHCN.

Mặt khác, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH cụ thể không hơn, không kém. Tuyệt nhiên đó không phải là sụp đổ của một học thuyết khoa học, càng không thể là sự sụp đổ về một tương lai tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Điều ấy không chỉ được minh chứng bằng việc ngay ở thời điểm hiện nay, một loạt nước ở tây bán cầu ngay cận kề nước Mỹ đang tìm tòi con đường và cách thức để xây dựng CNXH theo một mô hình mới. Nó cũng được minh chứng bởi một loạt quốc gia ở chính châu Âu, nhất là Bắc Âu đã và đang lấy CNXH làm mục đích và cảm hứng để xây dựng, phát triển đất nước mình. Không phải không có lý do, khi họ tự gọi mình là mô hình CNXH phúc lợi. Đương nhiên còn một minh chứng hiện hữu là một số nước kiên trì đi theo con đường XHCN, trong đó có Việt Nam đã đạt được những thành tựu có tính lịch sử trong xây dựng, phát triển.

Từ tất cả thực tế ấy, không thể nói rằng mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước khác sụp đổ trong những năm cuối thế kỷ trước có nghĩa là học thuyết Mác - Lênin về CNXH là sai lầm và lỗi thời! Ngược lại, sẽ là ảo tưởng khi nghĩ rằng CNTB đang thắng thế. Thực tế đang chỉ ra rằng, chính CNTB đang đứng trước những thánh thức đầy nguy hiểm. Chính sự mâu thuẫn lợi ích, căn bệnh bản chất của CNTB đang làm nảy sinh sự chia rẽ khó tránh khỏi trong các liên minh tưởng chừng bền vững của họ. Hiện tượng Brexit của nước Anh chỉ là một dấu hiệu đầu tiên và tất yếu của sự khục khặc từ chính trong lòng của nó khi CNTB ở Tây Âu mất đi đối trọng là khối các nước XHCN. Khi không còn phải đối mặt với nguy cơ từ bên ngoài thì những mâu thuẫn không thể tránh khỏi về lợi ích sẽ hiện nguyên hình, phá vỡ mối liên kết yếu ớt của các thế lực TBCN. Mặt khác, những cuộc khủng bố đã hiện diện ngay trung tâm của châu Âu, đe dọa không chỉ an ninh mà tạo nên sự bất ổn sống còn của chế độ TBCN. Vụ khủng bố ở thành phố Nice giữa đêm Quốc khánh nước Pháp làm hơn 80 người chết và vụ khủng bố bằng phương thức như thế được lặp lại ở Berlin, thủ đô nước Đức ngày 18-12-2016 làm 12 người chết, gần năm chục người bị thương, không chỉ báo hiệu mối nguy lớn về an ninh của châu Âu. Nó còn là hệ quả tất yếu cho chính sách sai lầm, vụ lợi của CNTB trong cách hành xử với các nước nghèo, các quốc gia Bắc Phi và Trung Đông.

Có lẽ ai cũng có thể nhận thấy rằng, sự sai lầm của những người phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện ngay trong chính những cơ sở, lý do để họ phản bác chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó có thể là có sự hiểu nhầm về tính chất của học thuyết - chủ nghĩa Mác - Lênin, hoặc là biết nhưng vẫn cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin với định kiến và mục đích chính trị đen tối của những kẻ chuyên ăn bơ thừa sữa cặn của các thế lực thù địch với cách mạng.

Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là khoa học để nhận thức và cải tạo xã hội

 


Thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu phương Tây và một bộ phận cán bộ, đảng viên trong nước cho rằngchủ nghĩa Mác - Lênin ra đời từ những điều kiện kinh tế - xã hội của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX nên không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay. Bởi vậy, chúng ta không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh trên nền tảng của học thuyết lỗi thời đó”. Những ai đã từng nghiên cứu, chủ nghĩa Mác - Lênin một cách khách quan, đầy đủ và trách nhiệm thì đều nhận thấy nhận định đó thật hồ đồ.

Đúng là học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen ra đời từ giữa thế kỷ XIX, trong điều kiện những mâu thuẫn của CNTB đã trở nên gay gắt, phơi bày tất cả bản chất giai cấp của nó cùng với sự bóc lột người lao động đến cùng cực. C.Mác và Ph.Ăngghen kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, tiếp thu có phê phán toàn bộ những giá trị tinh hoa của quá trình phát triển tư tưởng của nhân loại, đặc biệt là kinh tế - chính trị cổ điển Anh, triết học cổ điển Đức và CNXH không tưởng Pháp. Những học thuyết về giá trị lao động của Ađam Xmít và Đavít Ricácđô, phương pháp biện chứng của Hêghen, chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phơbách, những tư tưởng tiến bộ về xã hội của các nhà tư tưởng Pháp như Sanh Simông, Phuriê cũng đóng góp những cơ sở nhận thức quan trọng vào quá trình hình thành học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen. Cũng cần phải nói rằng, lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra tính quy luật trong sự vận động của xã hội loài người, trong đó nhân tố quyết định là mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Đây chính là cơ sở để C.Mác và Ph.Ăngghen dự báo về tất yếu loài người sẽ tiến tới CNCS qua một giai đoạn quá độ là CNXH.

V.I.Lênin là người tiếp tục phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong điều kiện mới khi CNTB đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. V.I.Lênin có nhiều đóng góp vào phát triển các tư tưởng triết học, kinh tế - chính trị của C.Mác và Ph.Ăngghen. Đặc biệt, V.I.Lênin đã phát triển tư tưởng về khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản ở một nước tư bản riêng biệt; xây dựng học thuyết về một chính đảng mác xít kiểu mới; tổ chức cuộc cách mạng XHCN thắng lợi và vận dụng học thuyết của Mác để phân tích, giải quyết hàng loạt vấn đề trong quá trình xây dựng CNXH ở nước Nga và Liên bang Xô viết.

Đến giữa thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là người vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam để giải quyết những nhiệm vụ to lớn của cách mạng Việt Nam, đánh thắng những đế quốc to, những kẻ thù hung bạo để giành độc lập tự do cho dân tộc, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Điều hiển nhiên và không thể chối cãi là, dù được hiểu theo nghĩa nào, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; quy luật về sự phát triển của sản xuất xã hội, về cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động chống lại áp bức, bóc lột, mưu cầu tự do, hạnh phúc; quy luật về cách mạng XHCN và con đường xây dựng, phát triển đi tới CNCS. Vào thời điểm ra đời của học thuyết này, những tác giả của chủ nghĩa Mác - Lênin đã phê phán CNTB, chỉ ra bản chất bóc lột, tính quy luật trong sự tồn tại và phát triển của nó. Sự phê phán đó là sâu sắc và phản ánh đúng bản chất của thực tiễn xã hội đương thời. Đó là điều đã được thực tế kiểm nghiệm, được hầu hết các nhà nghiên cứu xã hội thừa nhận cho dù họ theo xu hướng chính trị nào. Từ sự phê phán CNTB đương thời, từ phát hiện tính quy luật của lịch sử xã hội loài người và từ cả thái độ nhân văn trước hiện thực tăm tối về sự thống khổ của người lao động dưới ách áp bức, bóc lột của CNTB, C.Mác, Ph.Ăngghen dự báo về một xã hội tương lai như một tất yếu lịch sử sẽ thay thế CNTB.

Cần nói rằng, những gì CNTB hiện đại đang thể hiện vẫn không đi ra ngoài tính quy luật mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra, càng minh chứng cho tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, một mặt tăng thêm tiềm lực cho CNTB. Mặt khác, nó càng thúc đẩy nhanh hơn quá trình xã hội hóa của lực lượng sản xuất, dẫn đến những thay đổi chóng mặt về quy mô, tính chất của quan hệ sở hữu, quản lý, điều hành sản xuất và phân phối của cải xã hội. Quá trình toàn cầu hóa xuất phát trước tiên từ nền kinh tế TBCN, nói cho cùng cũng như cái “áo” trong khung khổ từng quốc gia đã quá chật hẹp, buộc phải nới ra trên phạm vi toàn thế giới. Sự áp bức bóc lột của CNTB theo đó cũng mở rộng mạnh mẽ ra ngoài chính quốc. Sự bóc lột ấy, về bản chất, chẳng khác gì hành vi xâm lược thuộc địa của các đế quốc - TBCN trước đây, chỉ có điều nó được che đậy dưới lớp vỏ hào nhoáng, mỹ miều hơn, nó đi vào các quốc gia nghèo khó bằng cửa chính và bóc lột người lao động bằng những lề luật văn minh, sạch sẽ hơn.

Càng giàu mạnh, các thế lực tư bản càng hung hăng, tìm mọi cách để chiếm đoạt các nguồn tài nguyên, của cải của thế giới, quy phục các quốc gia nghèo khó, yếu thế nhằm phục vụ cho lợi ích của mình. Cuộc chiến tranh Irắc đã đẩy một quốc gia hòa bình vào cuộc chiến đẫm máu, huynh đệ tương tàn suốt hơn một thập niên, đến nay vẫn chưa thấy lối ra. Lý do để phát động cuộc chiến tranh chống lại một dân tộc có chủ quyền, độc lập cách xa nước Mỹ hàng vạn cây số là tàng trữ “vũ khí giết người hàng loạt”, nhưng từ sau chiến dịch Bão táp sa mạcđến giờ người ta đã đào bới, xới lộn cả nước Irắc mà không tìm thấy cái gì là “vũ khí giết người hàng loạt”. Nhưng thực tế thì chính nước Mỹ đang tàng trữ lượng vũ khí hạt nhân đủ phá hủy nhiều lần cuộc sống của nhân loại trên toàn cầu. Đất nước Libia hòa bình cũng trở thành hỗn loạn sau khi Mỹ và các đồng minh phương Tây can thiệp lật đổ chính quyền dân cử Mohamet Cadaphi. Cho dù Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh đã xin lỗi nhưng điều ấy có nghĩa gì khi đất nước Irắc và Libia đã tan hoang, hàng vạn người dân lành đã chết, hàng triệu người dân đang sống trong những điều kiện tồi tệ nhất. Ngay với nước Mỹ, hàng chục nghìn thanh niên đã bỏ xác ở Irắc, ở Trung Đông một cách vô nghĩa. Chắc chắn trong số những thanh niên Mỹ đã chết vô ích ấy không và không thể có con cái các nhà tư bản, các ông chủ ngân hàng. Vậy, lý do cuộc chiến Irắc là gì nếu không phải là dầu mỏ và lợi ích của những ông chủ, các nhà tư bản Mỹ? Một loạt cuộc cách mạng màu do bàn tay Mỹ và các nước phương Tây phát động ở Libia, Siry, Ai Cập... đều có chung một hình thái bên ngoài, mục đích ẩn giấu bên trong và hậu quả tồi tệ không khác gì với cuộc chiến ở Irắc.

Mặt khác, nếu nhìn nhận từ góc độ nhân vănthì CNXH là ước vọng ngàn đời của tất cả những người dân lao động, của những con người có lương tâm cùng tình thương nhân loại, muốn sống trong hòa bình, nhân ái. C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển CNXH từ không tưởng trở thành khoa học khi nhìn nhận nó từ quy luật vận động của lịch sử, như sự vận động tất yếu từ những cơ sở xã hội, những yếu tố kinh tế, vật chất vốn đã được hình thành ngay trong lòng CNTB. Như vậy, CNXH là phù hợp và hợp lý cả về phương pháp luận khoa học và tính mục đích nhân văn.

Với tính chất là một học thuyết khoa học, những người khai sinh ra chủ nghĩa Mác - Lênin chưa bao giờ muốn và chưa có bất cứ một mệnh đề phán đoán nào để quy các luận điểm trong học thuyết của mình về cách mạng xã hội hay về xã hội XHCN tương lai thành những tín điều siêu hình, cứng nhắc. Trong tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăngghen đã trả lời hàng loạt vấn đề lý luận liên quan trực tiếp đến chủ nghĩa xã hội khoa học như: thế nào là giai cấp công nhân và đảng cộng sản; quan hệ giữa giai cấp công nhân với đảng cộng sản; hiểu thế nào là xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN và xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; mối quan hệ ra sao giữa giai cấp công nhân, dân tộc và quốc tế; các giải pháp cần thiết để tiến hành cách mạng XHCN,... Chính Ph.Ăngghen là người rất khách quan, khoa học khi luận giải rất tường minh CNXH từ không tưởng trở thành khoa học, đồng thời yêu cầu những người cộng sản rằng, “...chủ nghĩa xã hội trở thành khoa học mà ngày nay, vấn đề trước hết là phải nghiên cứu thêm, trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ của nó”.

Trong rất nhiều tác phẩm, C.Mác và Ph.Ăngghen đều nhấn mạnh tầm quan trọng của nhận thức, đánh giá, tổng kết thực tiễn để thường xuyên bổ sung, phát triển lý luận, nhất là lý luận về con đường hiện thực hóa CNXH, CNCS. Trong Lời đề tựa cho lần xuất bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vào năm 1872, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết rằng: “...chính ngay “Tuyên ngôn” cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy không nên quá câu nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II”. Quan điểm lịch sử - cụ thể và quan điểm phát triển cũng luôn luôn được V.I.Lênin quán triệt vận dụng trong nhiều nhận thức thực tiễn giải quyết mối quan hệ gắn bó giữa lý luận với thực tiễn. Chính sách Kinh tế mới chính là một dẫn chứng thực tế sáng rõ về quan điểm đó. Chính V.I.Lênin đã có một định nghĩa đầy tính thực tiễn về CNXH mà lâu nay đôi khi những người hậu thế đã bỏ quên hoặc bảo thủ với những định kiến mà không nhìn nhận một cách đúng đắn và nghiêm túc. Người nói: “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất của nước ngoài: Chính quyền xô-viết + trật tự ở đường sắt Phổ + kỹ thuật và cách tổ chức các tơ-rớt ở Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ etc. etc. + + = ∑= chủ nghĩa xã hội”. Nhận định của V.I.Lênin từ gần 100 năm trước vẫn còn nguyên giá trị phương pháp luận đối với chúng ta hiện nay, nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa.

Vậy thì tại sao có thể nói rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời, chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi thời mà chính những người cố tình phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin mới là những người nhầm lẫn, sai lầm, cố tình không nhìn thấy bản chất khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Hoặc giả, họ đã cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin vì một lý do chính trị, vì muốn xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin để bảo vệ cho CNTB và quyền lợi của một nhóm người tư bản hoặc được hưởng lợi không chính đáng từ guồng máy của CNTB. Nếu có lỗi thời chăng, thì chính là lỗi thời ở cách mà chúng ta chưa nghiên cứu đủ sâu sắc, chưa vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách đúng đắn vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề trong quá trình xây dựng CNXH mà thôi. Tuyệt nhiên không thể là sự lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lênin!

VIỆT NAM THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO, DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN

         Dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là những vấn đề phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, tôn giáo. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền đ­­ược giải quyết thành công thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất ổn định xã hội.

Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, phát huy dân chủ và bảo đảm nhân quyền, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.

         Thực tế cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian qua được thể hiện ở tính đoàn kết, thống nhất, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau giữa các dân tộc, các tôn giáo; được thể hiện là sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng, sự quản lý chặt chẽ, thống nhất của Nhà nước, sự đồng thuận của toàn xã hội đã tạo nên khối đoàn kết, thống nhất cùng dựng xây tổ quốc.

          Với những thành quả trên các lĩnh vực thời gian qua, nhất là qua chống dịch COVID-19, qua phòng chống bão lụt của các tỉnh Miền Trung đã thể hiện rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

Phát huy hơn nữa công tác dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

 


Việt Nam là một quốc gia thống nhất đa dân tộc, đa tôn giáo. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, đồng bào các dân tộc không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đoàn kết một lòng trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm, giành độc lập, tự do cho dân tộc, từng bước giải phóng con người khỏi áp bức, bất công.Những thành tựu trong thời kỳ đổi mới đã tạo ra những tiền đề, điều kiện thuận lợi để Việt Nam thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo. Những kết quả trong thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo đã góp phần thúc đẩy sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

Việt Nam luôn khẳng định, con người là trung tâm của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền con người, thực hiện dân chủ rộng rãi  là nhân tố bảo đảm cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Những thành tựu của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; đó là những hành động vi phạm các Công ước quốc tế về nhân quyền và chủ quyền của một quốc gia độc lập. Nhân dân Việt Nam phản đối và quyết tâm chống lại những vấn đề đó.

 

 

 

 

 

 

 

Giải pháp cơ bản phát huy dân chủ, bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam

 


 Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về dân chủ, nhân quyền của nhân dân

  Bồi dưỡng nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ công dân. Nâng cao dân trí, chú trọng đến việc tuyên truyền phổ biến pháp luật, làm cho mọi người dân đều có hiểu biết và có ý thức tôn trọng và thực hiện pháp luật.  

 Bi dưỡng cho cán bộ, công chức nhà nước về pháp luật, biết tôn trọng và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân và quyền con người.

 Tạo môi trường thuận lợi, nhất là thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của hệ thống chính trị để mọi người dân thực sự phát huy quyền làm chủ và quyền con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

 Phát triển kinh tế gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội.

 Đẩy mạnh phát triển kinh tế nâng cao đời sống nhân dân, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo

 Kết hợp phát triển kinh tế với thực hiện công bằng xã hội

 Thực hiện tốt các chính sách xã hội: xóa đói, giảm nghèo; giảm thất nghiệp; thực hiện bình đẳng giới; tạo điều kiện để trợ giúp có hiệu quả cho tầng lớp yếu thế, dễ tổn thương hoặc những người gặp rủi ro trong cuộc sống.

 Mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền con người đi đôi với tăng cường kỷ cương, pháp luật

 Tiếp tục hoàn thiện thể chế DC, NQ tạo hành lang pháp lý bảo đảm quyền con người, quyền công dân gắn với tăng cường hiệu lực pháp luật.

 Hoàn thiện thiết chế dân chủ, trong đó tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Phát huy vai trò và hiệu lực của Nhà nước pháp quyền với một hệ thống pháp luật đầy đủ đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện đại. Nội dung cốt lõi là đổi mới, hoàn thiện cơ chế để người dân kiểm soát được quyền lực nhà nước, ngăn chặn có hiệu quả các hành vi “tiếm quyền”.

Tăng cường kỷ cương, pháp luật, kỷ luật, nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền con người, các hành vi lợi dụng dân chủ, nhân quyền để gây rối chống phá nền dân chủ của Việt Nam.

 Kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trong nhận thức và giải quyết các vấn đề cụ thể

Việt Nam cho rằng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề dân chủ, nhân quyền cần kết hợp hài hòa nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, kinh tế - xã hội, các giá trị văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực. Việt Nam là một nước đa tôn giáo, đa dân tộc; trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp. Những đặc điểm đó quy định những đặc thù riêng trong việc thực hiện dân chủ và bảo đảm quyền con người. Việt Nam tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, mở rộng dân chủ và từng bước thực hiện đầy đủ nội dung các quyền con người phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và các tiêu chuẩn về quyền con người đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.

          Đảng và Nhà nước Việt Nam sẵn sàng hợp tác và đối thoại nhằm thúc đẩy  dân chủ hóa và bảo vệ quyền con người trên cơ sở đối thoại, bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau vì mục đích thúc đẩy dân chủ và bảo vệ quyền con người. Việt Nam cam kết thực hiện các quy định nhân quyền quốc tế, thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam.

Những thành tựu cơ bản trong thực hiện dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

 


 Trên lĩnh vực chính trị

 Quyền dân tộc tự quyết được thực hiện trong thực tiễn

Việt Nam quan niệm rằng, tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền, với quyền đó, nhân dân Việt Nam có quyền lựa chọn quyết định thể chế chính trị của mình.  Quyền tự quyết cao nhất của cả dân tộc Việt Nam trên lĩnh vực chính trị là quyền lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo đó, nhân dân Việt Nam kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định và tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước.

 Mọi người dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, lứa tuổi đều bình đẳng với nhau trước pháp luật

 Công dân Việt Nam đủ điều kiện đều được tham gia bầu cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước; tham gia quản lý nhà nước và xã hội.

 Nhân dân có quyền tham gia các tổ chức xã hội, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tư tưởng và có chính kiến khác nhau (trừ việc chống đối chế độ), tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo, quyền được sống và các quyền cá nhân khác được bảo đảm.

 Trên lĩnh vực kinh tế

 Nhà nước bảo đảm quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh của cá nhân và các đơn vị kinh tế, nhằm phát huy mọi tiềm năng của đất nước.

 Mọi công dân, mọi thành phần kinh tế đều được khuyến khích sản xuất, kinh doanh, làm giầu chính đáng, tạo ra nhiều việc làm nhằm khắc phục tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống của người lao động, góp phần bảo đảm công bằng và an sinh xã hội

 Đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt. Từ năm 1986 đến nay, cứ sau 10 năm, mức sống trung bình của người dân Việt Nam tăng lên khoảng 2 lần. GDP tăng nhanh, giai đoạn 1986 - 2000 tăng bình quân 6,8%/năm; Giai đoạn 2001-2010, tăng bình quân 7.26%/năm; Từ 2011 đến 2015 tăng trưởng GDP thấp nhất là 5,25% (2012), cao nhất là 6,68% (2015); GDP bình quân đầu người năm 2016 đạt 2215 USD, tăng 106 USD so với năm 2015, năm 2018 đạt 2590 USD

 Trên lĩnh vực văn hoá, xã hội

 Nhà nước bảo đảm cho nhân dân được học hành, phát triển, được chăm sóc y tế, được tự do sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa. Đời sống vật chất, văn hóa - tinh thần của các tầng lớp nhân dân từng bước được cải thiện rõ rệt. Các hoạt động văn hóa, thông tin, báo chí, thể thao đã đạt được những tiến bộ quan trọng.

Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phấn đấu đến 2020 80% người trong độ tuổi tốt nghiệp trung học phổ thông.

 Nhà nước Việt Nam bảo đảm về pháp luật và tạo mọi điều kiện để bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Hiện cả nước có 19.000 thư viện, trên 5500 nhà văn hóa các cấp; 3200 di tích văn hóa cấp quốc gia, 48 di tích văn hóa quốc gia đặc biệt; 8 di sản văn hóa và thiên nhiên được UNESCO  vinh danh là di sản thế giới.

 Nhà nước thường xuyên quan tâm đến các chính sách an sinh xã hội. Hệ thống giáo dục, y tế ngày càng phát triển góp phần chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ngày càng tốt hơn.

 Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh

Quốc phòng - an ninh Việt Nam là sự nghiệp của toàn dân (quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân). Mọi công dân Việt Nam bình đẳng về quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do đó, quốc phòng được giữ vững, an ninh chính trị, trật tự xã hội ổn định, an ninh con người được bảo đảm tốt.

Tính ưu việt của dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

 


Dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; cũng có thể được hiểu là một hình thức tổ chức của xã hội, một hình thức tổ chức nhà nước trong đó quyền lực thuộc về nhân dân. Ở đây, dân chủ được hiểu là quyền làm chủ của nhân dân với tư cách là quyền con người.

Nhân quyền hay còn gọi là quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được ghi nhận, bảo đảm bằng pháp luật quốc gia và quốc tế.

Dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam mang giá trị chung toàn nhân loại. Dân chủ, nhân quyền thuộc về tất cả mọi người, không có sự phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế, lãnh thổ, khu vực địa lý v.v... "Trên thực tế tính phổ biến là bản chất của quyền con người”[1]

Tính phổ biến của quyền con người đã được luật pháp quốc tế công nhận. Do vậy, nó đòi hỏi các nhà nước phải hoàn thành nghĩa vụ tôn trọng ở khắp mọi nơi, tuân thủ và bảo vệ tất cả các quyền cho mọi người, mọi công dân, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, Bộ luật nhân quyền quốc tế và các văn kiện quốc tế khác liên quan đến quyền con người.

Ở Việt Nam dân chủ, nhân quyền phụ thuộc trình độ phát triển kinh tế, chế độ chính trị và truyền thống văn hóa Việt Nam. Tính đặc thù biểu hiện:

Thứ nhất, dân chủ ở Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ của đa số nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - đảng duy nhất cầm quyền, vì vậy dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời mang tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.

Thứ hai, ở Việt Nam, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là công cụ, phương tiện bảo đảm cho đa số nhân dân thực hiện quyền làm chủ, quyền con người của mình.

Thứ ba, dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam phản ánh truyền thống văn hóa của  dân tộc Việt Nam, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử.

Do đó, Việt Nam tôn trọng những giá trị chung về quyền con người mà nhân loại đã thừa nhận, cam kết thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; đồng thời phản đối việc áp đặt quan điểm dân chủ, nhân quyền của bất kỳ quốc gia nào đối với Việt Nam.

 Việt Nam khẳng định rằng, “quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia”[2]. Quyền con người gắn với độc lập và chủ quyền quốc gia, bởi vì:

+ Việc giải phóng con người Việt Nam gắn liền với việc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội của Việt Nam. Độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia là điều kiện tiên quyết để thực hiện dân chủ và bảo đảm quyền con người. Nếu không có độc lập dân tộc, không có chủ quyền quốc gia thì không thể có dân chủ và nhân quyền. chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Quyền con người của mỗi cá nhân gắn liền với quyền thiêng liêng của cả dân tộc.

+ Sự thống nhất giữa dân chủ, nhân quyền và chủ quyền

Khi viết Bản Tuyên ngôn độc khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945, Hồ Chí Minh đã trích những lời bất hủ trong Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ (1776) là: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (1789): “Người ta sinh ra tự do bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn dược tự do bình đẳng về quyền lợi”. Trên cơ sở khẳng định những quyền đó là chân lý, Hồ Chí Minh đã suy luận: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền được sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Trong các văn kiện pháp lý của Liện Hợp quốc về quyền con người đều khẳng định: bảo đảm quyền con người trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia; không quốc gia nào, kể cả Liên Hợp quốc có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia. Do vậy, nếu ai đó cho rằng, “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là không thực tế, là sự xuyên tạc.

Thực tế lịch sử Việt Nam chứng tỏ rằng khi đất nước là thuộc địa, mất độc lập thì nhân dân mất quyền dân chủ, mỗi người dân đều mất nhân quyền. Vì vậy, giành độc lập dân tộc trở thành điều kiện tiên quyết để thực hiện dân chủ, nhân quyền.

 Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2013) và các văn bản pháp luật của Việt Nam, quyền làm chủ, quyền con người được thể hiện trên các lĩnh vực: các quyền về dân sự, chính trị; các quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa; các quyền của nhóm dề bị tổn thương.

* Các quyền về dân sự, chính trị, được thể hiện ở các quyền cơ bản sau:

+ Quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm

+ Quyền được bảo vệ khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện

+ Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị bắt, giam, giữ

+ Quyền được xét xử công bằng

+ Quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử

+ Quyền được bảo vệ bí mật đời tư

+ Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở

+ Quyền tự do đi lại và cư trú

+ Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo

+ Quyền tham gia quản lý nhà nước (quyền bầu cử, ứng cử; tham gia thảo luận, kiến nghị với các cơ quan nhà nước; tham gia trưng cầu dân ý; khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm tiếp công dân của nhà nước)

* Các quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa

+ Quyền về việc làm

+ Quyền tự do kinh doanh

+ Quyền sở hữu

+ Quyền có mức sống thích đáng

+ Quyền thành lập và gia nhập công đoàn

+ Quyền được hưởng an sinh xã hội

+ Quyền được chăm sóc sức khỏe

+ Quyền về giáo dục; quyền về văn hóa

*  Các quyền của nhóm dễ bị tổn thương

+ Quyền của phụ nữ; quyền của trẻ em: quyền của người khuyết tật; quyền của người cao tuổi

+ Quyền của các nhóm dễ bị tổn thương khác: Người nghèo; người dân tộc thiểu số; người có công; người bị nhiễm chất độc; người nhiễm HIV/AIDS



[1] Viện Nghiên cứu quyền con người: Tài liệu tham khảo luật quốc tế về quyền con người, Nxb Lý luận chính trị, H. 2005, tr298

[2] Tài liệu tổng kết Chỉ thị 12 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta”, Nxb CTHC, H.2012, tr13

 

Nội dung cốt lõi của công tác dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam là công tác vận động quần chúng

 


Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định nội dung cốt lõi của công tác dân tộc, tôn giáo là công tác vận động quần chúng là bởi: Việt Nam có 54 dân tộc, với khoảng 24 triệu tín đồ các tôn giáo. Đây là lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam và là quần chúng của Đảng, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng trong đồng các dân tộc và trong các tín đồ tôn giáo sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

+ Cốt lõi của công tác dân tộc, tôn giáo là tuyên truyền, giáo dục để đồng bào nhận thức đúng quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước và mục tiêu của cách mạng Việt Nam; tin tưởng và thực hiện theo đúng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

 Công tác dân tộc, tôn giáo là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân Việt Nam

 Về trách nhiệm của Đảng và Nhà nước:

 Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về dân tộc, tôn giáo; Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện. Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn.

 Nhà nước luôn có những giải pháp thích hợp đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 Về trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội:

Các tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Viêt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt nam, Hội Phụ nữ Việt Nam... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện  chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và tôn giáo. Đó là lực lượng trực tiếp giáo dục đồng bào dân tộc, các tín đồ tôn giáo chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

 Về trách nhiệm của lực lượng vũ trang nhân dân:

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong thực hiện Chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là lực lượng đi đầu và là lực lượng chủ yếu thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; đồng thời là lực lượng chủ yếu nắm bắt tình hình dân tộc, tôn giáo để  tham mưu với Đảng và Nhà nước về Chính sách dân tộc, tôn giáo và trực tiếp chịu trách nhiệm xử lý các vấn đề phức tạp của dân tộc và tôn giáo, xử lý các hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch với Việt Nam.

 Vấn đề theo đạo và truyền đạo trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam  phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam

Đây là vấn đề vừa bảo đảm bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa, vừa đảm bảo quyền con người dưới ché độ XHCN ở Việt Nam, đó là:

 Đối với tín đồ các tôn giáo: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo. Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

+ Đối với chức sắc, chức việc, nhà tu hành: có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác. Việc thành lập, hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo; phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức sắc, chức việc tuân theo luật pháp Việt Nam.

+ Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc mở lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo có trách nhiệm gửi văn bản đăng ký đến cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh nơi mở lớp.

Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết các dân tộc và các tôn giáo

 


Đây là quan điểm thể hiện tính nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam veè vấn đề dân tộc, tôn giáo

Vì sao? “Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc’[1].

Đảng và nhà nước Việt Nam cho rằng:

Một là, đồng bào dân tộc theo tôn giáo trước hết là người Việt nam, sau đó mới là tín đồ tôn giáo, là người Việt Nam theo tôn giáo chứ không phải là người theo tôn giáo nhập quốc tịch Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào dân tộc theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự nghiệp do nhân dân và vì nhân dân. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.

Hai là, trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản, tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Để thực hiện tốt quan điểm này, cần thực hiện tốt các vấn đề sau:

 + Đoàn kết đồng bào dân tộc theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào dân tộc  theo tôn giáo và đồng bào dân tộc không theo tôn giáo.

Cơ sở của đoàn kết là: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”[2].

+ Kiên quyết đấu tranh chống những hành động gây chia rẽ, làm suy yếu khối đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích quốc gia dân tộc.

-> Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

-> Chính sách còn chỉ rõ trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề dân tộc, tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý đúng đắn.



[1] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ Bẩy BCHTUW khoá IX, Nxb CTQG, H. 2003, tr.48.

[2]  Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 239- 240.