Thứ Tư, 18 tháng 11, 2020

XU HƯỚNG DỊCH CHUYỂN ĐẦU TƯ VÀ CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-19 VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Dịch bệnh COVID-19 đã làm bộc lộ những rủi ro khi cung ứng các sản phẩm, thiết bị thiết yếu bị gián đoạn, không kịp thời do mạng lưới chuỗi cung ứng trải rộng toàn cầu cũng như nhiều chuỗi cung ứng quá phụ thuộc vào các trung tâm sản xuất và các thị trường lớn, nhất là Trung Quốc. Bên cạnh việc tối ưu hóa sản xuất và chi phí, việc dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng còn nhằm để phân tán và giảm thiểu rủi ro. Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc ngày càng quyết liệt, xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu đang thể hiện mạnh mẽ, đặt ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu dưới tác động của dịch bệnh COVID-19 Thứ nhất, dịch chuyển chuỗi cung ứng kéo theo dịch chuyển đầu tư, di chuyển toàn bộ hoặc một phần sản xuất về nước (reshoring) hoặc sang các nước khác trong khu vực (near-shoring) để giảm phụ thuộc vào Trung Quốc. Bên cạnh đó, một số chuỗi cung ứng được cơ cấu, sắp xếp lại thông qua mở rộng mạng lưới nhà cung cấp (outsourcing) để phân tán rủi ro, như đặt hàng mua linh kiện, nguyên liệu từ nhiều nhà cung cấp ở các nước khác nhau, mà không nhất thiết kéo theo dịch chuyển vốn đầu tư và sản xuất. Các ngành, lĩnh vực đang có nhiều dịch chuyển, bao gồm: dệt may, thiết bị điện tử, viễn thông, phụ tùng, linh kiện ô-tô... (Trong ảnh: Công nhân làm việc tại nhà máy dệt ở tỉnh Giang Tô, Trung Quốc)_Ảnh: AFP Thứ hai, các cấu phần/công đoạn thượng nguồn hoặc gắn với công nghệ cao thường được dịch chuyển về nước(1), trong khi các công đoạn hạ nguồn (lowstream)(2), gia công, lắp ráp thường được dịch chuyển ra nhiều nước nhằm phân tán rủi ro và tối ưu hóa chi phí sản xuất. Các ngành, lĩnh vực đang có nhiều dịch chuyển, bao gồm: dệt may, thiết bị điện tử, viễn thông, phụ tùng, linh kiện ô-tô, hàng hóa, trang thiết bị y tế và dược phẩm thiết yếu, năng lượng, tài chính, bất động sản. Thứ ba, các tập đoàn có khả năng dịch chuyển đầu tư hoặc chuỗi cung ứng chủ yếu là các tập đoàn tiếp cận các thị trường ngoài Trung Quốc có nhu cầu tối ưu hóa về chi phí, các tập đoàn đang đầu tư nhiều vào Trung Quốc có nhu cầu phân tán rủi ro, các tập đoàn chịu tác động trực tiếp của cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc. Đơn cử như, một số tập đoàn trong lĩnh vực công nghệ, máy tính, điện tử, điện thoại, như Foxconn, Winstron, Qishda, Pegatron, Inventec, Apple, Intel…, đã và đang xúc tiến kế hoạch đầu tư hoặc mở rộng sản xuất tại nhiều nước ngoài Trung Quốc, như Ấn Độ, Mexico, một số nước Đông Nam Á để giảm thiểu rủi ro gián đoạn cung ứng khi xảy ra biến động ở thị trường Trung Quốc. Có thể thấy, dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng ra khỏi Trung Quốc thực chất là một xu hướng khách quan đã diễn ra trong nhiều năm nay với động lực chính được thúc đẩy bởi mục tiêu lợi nhuận, tối ưu hóa sản xuất, chi phí và sự phát triển của khoa học - công nghệ. Dưới tác động của dịch bệnh COVID-19, xu hướng này được đẩy mạnh hơn, bởi ngoài các động lực nói trên nay có thêm động lực phân tán và giảm thiểu rủi ro. Dù được đẩy mạnh hơn, song thực tế cho thấy, trước mắt, xu hướng này chưa tạo ra làn sóng mạnh mẽ về dịch chuyển đầu tư trên toàn cầu, cũng như trong khu vực vì chưa có quốc gia nào thay thế được Trung Quốc trong chuỗi cung ứng - sản xuất toàn cầu cả về thị trường lẫn sản xuất. Trong số các nền kinh tế đang phát triển, Trung Quốc đến nay vẫn có năng lực cạnh tranh vượt trội về thị trường, hiệu quả theo quy mô, kết cấu hạ tầng, hệ thống logistics, mạng lưới công nghiệp hỗ trợ và nguồn cung lao động có kỹ năng. Bên cạnh đó, nhiều tập đoàn toàn cầu gắn kết lợi ích chặt chẽ với Trung Quốc về thị trường và sản xuất, nhiều năm đầu tư lớn cho phát triển chuỗi cung ứng tại Trung Quốc nên khó có thể rời đi trong thời gian ngắn(3), nên cho đến nay, hầu như chưa thay đổi chiến lược và kế hoạch đầu tư ở Trung Quốc. Nhiều tập đoàn thuộc nhóm 500 tập đoàn hàng đầu thế giới (Fortune 500) chưa sẵn sàng dịch chuyển toàn bộ hoặc phần lớn sản xuất ra khỏi Trung Quốc. Theo điều tra của Phòng Thương mại Mỹ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU) tại Trung Quốc, hơn 70% số doanh nghiệp Mỹ ở Trung Quốc và 90% số doanh nghiệp Nhật Bản ở miền Đông Trung Quốc chưa có kế hoạch rút khỏi Trung Quốc… Nhiều tập đoàn trong số này mặc dù chưa rút khỏi Trung Quốc nhưng vẫn tìm kiếm các nước khác để đầu tư nhằm giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc và phân tán rủi ro. Về lĩnh vực chuyển dịch, nhiều sản phẩm/chi tiết/công đoạn thượng nguồn vẫn được giữ lại ở Trung Quốc hoặc nếu dịch chuyển khỏi Trung Quốc thì chủ yếu được đưa về nước như Mỹ, Nhật Bản, các nước EU... Những cấu phần sản xuất trong chuỗi cung ứng, giá trị toàn cầu đang hoặc có thể dịch chuyển sang các nước khác chủ yếu là công đoạn hạ nguồn bởi không đòi hỏi cao về công nghệ, cũng như trình độ lao động nên dễ tìm kiếm được địa bàn để phân tán rủi ro. Bên cạnh đó, việc di chuyển các công đoạn hạ nguồn sang các nước có chi phí lao động thấp hơn Trung Quốc còn nhằm kéo dài vòng đời dây chuyền công nghệ. Chính sách của một số quốc gia trước xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng Các nước cung cấp vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp của mình đầu tư về nước. Mỹ ban hành nhiều chính sách để thu hút đầu tư, sản xuất, kinh doanh tại Mỹ, như miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp Mỹ (giảm thuế thu nhập từ 25% xuống 21%), cải cách thủ tục cấp phép đầu tư, đưa ra các tiêu chuẩn linh hoạt hơn nhằm nâng cao tính cạnh tranh của một số ngành công nghiệp Mỹ (năng lượng, ô-tô, nhôm, thép…). Các nước EU thúc đẩy kinh tế “tự chủ chiến lược”, kiểm soát đầu tư ra nước ngoài, như Đức, Italia quy định chặt chẽ hơn đối với đầu tư ra nước ngoài trong các ngành chiến lược; Pháp triển khai chiến lược “sản xuất tại Pháp” nhằm thúc đẩy sản xuất trong nước trong các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, như ô-tô, hàng không, công nghệ số… Nhật Bản dành ngân sách 2,2 tỷ USD, trong đó 2 tỷ USD hỗ trợ các doanh nghiệp Nhật Bản đưa sản xuất từ Trung Quốc về nước và khoảng 200 triệu USD hỗ trợ doanh nghiệp Nhật Bản di chuyển sản xuất, đa dạng hóa nguồn cung trong một số ngành ưu tiên (thiết bị y tế, phụ tùng ô-tô, điện tử, kim loại hiếm…). Hàn Quốc ban hành luật thu hút các doanh nghiệp đã đầu tư ở nước ngoài quay về sản xuất, kinh doanh tại Hàn Quốc… Công nhân làm việc tại nhà máy của hãng Foxconn ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc_Ảnh: reuters Một số nước tăng cường ngăn chặn nhà đầu tư nước ngoài thâu tóm doanh nghiệp trong nước, nhất là trong lĩnh vực công nghệ, kết cấu hạ tầng quan trọng, an ninh - quốc phòng. Mỹ mở rộng phạm vi kiểm duyệt đầu tư đối với các dự án liên quan đến an ninh quốc gia; trao quyền cho Ủy ban Đầu tư nước ngoài (CFIUS) sàng lọc đầu tư trong các lĩnh vực công nghệ và kết cấu hạ tầng trọng yếu. Ấn Độ điều chỉnh chính sách quản lý đầu tư, theo đó, tất cả đầu tư từ các quốc gia láng giềng có chung biên giới với Ấn Độ đều phải được chính phủ xét duyệt. Đức tăng cường kiểm soát đầu tư nước ngoài vào kết cấu hạ tầng quan trọng. Pháp đưa ra danh sách công nghệ chịu sự kiểm soát của chính phủ, giảm tỷ lệ góp vốn của các nhà đầu tư ngoài EU được phép đầu tư vào các doanh nghiệp Pháp, từ 25% xuống 10%. Tây Ban Nha quy định các khoản đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng quan trọng, cung ứng các nguyên liệu chủ chốt, phải được chính phủ phê duyệt. Trong khi đó, một số nước tiếp nhận FDI đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư nhằm cạnh tranh thu hút FDI. Ấn Độ xem xét miễn thuế cho các dự án đầu tư mới trên 500 triệu USD, miễn thuế 4 năm cho các dự án đầu tư trên 100 triệu USD trong các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động, như dệt may, da giày, chế biến thực phẩm. Indonesia ban hành các chính sách ưu đãi mới, hỗ trợ doanh nghiệp nước ngoài chuyển từ Trung Quốc sang Indonesia, thiết lập Khu công nghiệp Brebes dành riêng cho doanh nghiệp Mỹ. Thái Lan đẩy mạnh thu hút đầu tư trong lĩnh vực thiết bị y tế, ưu tiên các dự án công nghệ cao. Malaysia tăng ưu đãi thuế để thu hút đầu tư vào các lĩnh vực chiến lược. Trung Quốc triển khai nhiều biện pháp khá mạnh mẽ nhằm “giữ chân” nhà đầu tư, giảm thiểu việc dịch chuyển sản xuất và chuỗi cung ứng ra ngoài Trung Quốc, như xây dựng các chính sách ưu đãi đặt biệt đối với các doanh nghiệp hàng đầu thế giới, nhất là các tập đoàn đa quốc gia của phương Tây; ban hành Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi; mở rộng các khu thí điểm tự do thương mại (FTZ) với nhiều ưu đãi; tăng cường hợp tác kinh tế với khu vực, trọng tâm là hợp tác khu vực Đông Bắc Á, ASEAN+1, ASEAN+3, thúc đẩy Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); áp dụng một số rào cản kỹ thuật nhằm hạn chế nhà đầu tư rút vốn, chuyển sản xuất ra ngoài Trung Quốc... Cơ hội, thách thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam So với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam có một số lợi thế để tranh thủ sự dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng, như chính trị - xã hội ổn định, nguồn lao động trẻ dồi dào, tiềm năng thị trường gần 100 triệu dân với tầng lớp khá giả ngày càng tăng... Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam tham gia được nhiều doanh nghiệp đánh giá là một lợi thế lớn của Việt Nam để thu hút các nhà đầu tư di chuyển sản xuất sang Việt Nam nhằm tiếp cận các thị trường có FTA với Việt Nam. Đơn cử như, FTA Việt Nam - EU (EVFTA) bắt đầu có hiệu lực từ tháng 8-2020, tạo cho Việt Nam lợi thế đi trước hầu hết các nước trong khu vực từ 7 - 10 năm về đặc quyền tiếp cận thị trường EU rộng lớn với cam kết giảm thuế quan đối với gần 100% dòng thuế. Dây chuyền sản xuất và lắp ráp sản phẩm tại nhà máy Daikin Việt Nam_Ảnh: Tư liệu Đặc biệt, việc thực hiện thành công mục tiêu kép: vừa khống chế được dịch bệnh COVID-19, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đã nâng cao uy tín của Việt Nam như một điểm đến đầu tư an toàn, có năng lực quản trị, cũng như khả năng kháng chịu, thích ứng tương đối tốt trước những biến động của thế giới. Đây cũng là lợi thế của Việt Nam so với nhiều nước trong khu vực còn chưa khống chế được dịch bệnh COVID-19 (Ấn Độ, Indonesia, Philippines…) trong cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài. Nếu phát huy và khai thác tối đa những lợi thế trên, Việt Nam có cơ hội lớn với vị thế thuận lợi, đa dạng hóa, đa phương hóa việc tham gia các chuỗi cung ứng toàn cầu, sẽ thu hút các tập đoàn lớn, tập đoàn công nghệ có nhu cầu dịch chuyển sản xuất và chuỗi cung ứng, nhờ đó thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bên cạnh cơ hội có ý nghĩa lâu dài này, việc thu hút đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực đang dịch chuyển sản xuất và chuỗi cung ứng (điện tử, dệt may, linh kiện ô-tô…) còn trực tiếp góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội trong và sau dịch bệnh COVID-19. Tuy nhiên, cơ hội, thuận lợi luôn đan xen với thách thức, khó khăn. Môi trường đầu tư của Việt Nam hiện còn nhiều điểm yếu, chậm được khắc phục, như hạn chế về năng lực quản lý, kết cấu hạ tầng, thủ tục đầu tư, thiếu lao động có kỹ năng, công nghiệp phụ trợ và mạng lưới logistics… Năng lực các doanh nghiệp trong nước, nhất là trong lĩnh vực công nghệ, là một trở ngại lớn để thu hút các chuỗi cung ứng của các tập đoàn công nghệ vào Việt Nam cũng như hạn chế khả năng Việt Nam tham gia các công đoạn cao trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Những điểm yếu này nếu không sớm khắc phục sẽ làm tăng nguy cơ lún sâu vào bẫy gia công, lắp ráp, khó kiểm soát được các dòng đầu tư chất lượng thấp, đầu tư thâu tóm thị trường và doanh nghiệp trong nước, đầu tư “núp bóng”... Việc tranh thủ được cơ hội tới đâu và có vượt qua được thách thức hay không phụ thuộc nhiều vào cơ chế, chính sách của Nhà nước, ý chí và nỗ lực vươn lên của các doanh nghiệp trong nước. Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20-8-2019, của Bộ Chính trị (khóa XII), “Về đinh hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030”, có chủ trương xuyên suốt là thu hút đầu tư có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu. Ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Chính phủ đã ban hành chương trình hành động thực hiện nghị quyết này, trong đó giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương. Vấn đề đặt ra là cần sớm đưa các chủ trương, chính sách, giải pháp đúng đắn đi vào cuộc sống bằng các biện pháp căn cơ và quyết liệt. Xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu vừa là cơ hội, vừa là thách thức, nên trong thu hút FDI hiện nay và thời gian tới cần quán triệt quan điểm phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Muốn vậy, cần tăng cường sự chủ động, tích cực của các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Trước hết, đó là chủ động, tích cực hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến đầu tư; chủ động tiếp cận các dòng vốn đầu tư có chất lượng thông qua đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, tiếp cận, vận động các tập đoàn lớn, tập đoàn công nghệ; chủ động thúc đẩy hợp tác đầu tư và chuỗi cung ứng trong các khuôn khổ hợp tác với các đối tác có tiềm lực tài chính và công nghệ; chủ động chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài, kiên quyết từ chối các dự án không phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng như không đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn công nghệ, môi trường… Xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với Việt Nam (Trong ảnh: Dây chuyền lắp ráp ô tô tại nhà máy của Công ty cổ phần Ô tô Trường Hải (Thaco) trong Khu kinh tế mở Chu Lai (huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam)) _Nguồn: thacochulai.vn Bên cạnh việc tiếp tục nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực khoa học - công nghệ và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, các cơ quan liên quan cần sớm có quy định, chính sách ưu đãi cụ thể đi kèm với điều kiện được hưởng ưu đãi để thu hút đầu tư vào một số lĩnh vực, như hình thành các chuỗi sản xuất, cung ứng có giá trị gia tăng ở Việt Nam, thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm nghiên cứu - phát triển tại Việt Nam, liên kết với các doanh nghiệp Việt Nam trong các lĩnh vực chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ; xây dựng các quy định có tính sàng lọc đầu tư nước ngoài, như quy định, cơ chế đánh giá yếu tố quốc phòng - an ninh, tiêu chuẩn công nghệ, môi trường, lao động, xuất xứ hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trong thẩm định và cấp phép đầu tư nhằm khuyến khích đầu tư gắn với công nghệ cao; đồng thời, ngăn ngừa các dự án đầu tư tiềm ẩn rủi ro về mất an ninh, ô nhiễm môi trường, công nghệ lạc hậu, đầu tư "núp bóng", trốn tránh thuế quan, chuyển giá, gian lận thương mại… Ngoài các biện pháp trước mắt, biện pháp căn cơ và lâu dài là tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển các doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh có năng lực liên kết với các tập đoàn công nghệ trong các chuỗi cung ứng toàn cầu. Có như vậy, Việt Nam mới tranh thủ được cơ hội, cũng như giảm thiểu các thách thức từ xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu để phát triển nhanh, bền vững và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời gian tới./. -------------------- Theo: tapchicongsan.org.vn

NHỚ THẦY DẠY SỬ NƯỚC NAM !

Thầy đã về nơi cội nguồn Tiên tổ
Cùng cha già hội ngộ đoàn viên
Cõi linh thiêng của thế giới người hiền
Nhưng tinh anh của thầy -Người con vĩ đại
Vẫn lấp lánh và lung linh sáng mãi
Bên ánh cờ sao của Tổ Quốc thân yêu
Bên hơi thở của người dân mỗi sớm mỗi chiều
Lịch sử đã gọi tên thầy -Người anh hùng dân tộc
Đất nước Tiên rồng tự hào nâng tầm vóc
Hỡi người thầy ! Vĩ đại của non sông
Trái tim thầy mang dòng máu Lạc hồng
Nói về thầy là nói về tài thao lược
Nghệ thuật cầm quân chắc ăn theo từng bước
Phong thái toát lên bình thản lạ lùng
Khiến bao kẻ thù phải khiếp vía kinh run
Phong thái ấy xuất phát từ cốt cách
Của một người thầy tâm sáng trong thanh bạch
Một người thầy đã dạy sử nhiều năm
Luôn đau đáu và suy nghĩ trở trăn
Trước lịch sử đau thương giống nòi dân tộc
Nhớ một lần thầy được dẫn ra cửa Bắc
Đất Hà Thành in dấu vết chiến tranh
Được đồng chí cách mạng giải thích rõ rành
Hai vết đại bác này của kẻ thù giặc Pháp
Trong cuộc chiến cam go đối mặt
Khiến Hà Thành phải thất thủ thương đau
Tướng Hoàng Diệu thế thua trận buồn dầu
Nên quyết định quyên sinh tuẫn tiết
Tướng Hoàng Diệu người con trung quân ái quốc
Thà chết chứ không chịu đầu hàng
Thầy nghe mà nhức nhói buốt tâm can
Nỗi đau của thầy hòa cùng nỗi đau dân tộc
Không kìm nén thầy bật thành tiếng khóc
Khắc khoải đau thương trước vận mệnh nước nhà
Mỗi bài giảng từng câu chữ bật ra
Thầy lại truyền lửa cho trò về tình yêu đất nước
Về chí khí hiên ngang kiên cường bất khuất
Về quá khứ đau thương một dân tộc anh hùng
Bài thầy giảng trò nức nở rưng rưng
Cháy bỏng trong tim lòng căm thù sâu sắc
Kiến thức của thầy rộng sâu uyên bác
Càng toát lên cốt cách người thầy
Trò càng học càng thích thú mê say
Thầy yêu sử nên chọn nghề dạy sử
Không màng lợi danh không đắn đo tư lự
Và chính lịch sử đau thương đã sáng suốt chọn thầy
Ôi ! Cuộc đời bao biến động đổi thay
Thầy truyền sử đã trở thành tướng lĩnh
Hồ Chí Minh-Người tài tình quyết định
Giao cho thầy vận mệnh của non sông
Thầy trui rèn hùng hậu một đội quân
"Từ nhân dân mà ra ,vì nhân dân mà chiến đấu "
Trái tim thầy trọn một đời nung nấu
Tổ Quốc giang sơn mãi mãi trường tồn
Cả dân tộc ngàn đời nhớ tri ơn
Khắc sâu tim mình hình bóng người thầy giáo
Uống nước nhớ nguồn tôn sư trọng đạo
Một người thầy dạy lịch sử nước Nam
Tác giả:Nguyễn Thị Tính

Hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng, cây, ngoài trời và thiên nhiên

BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG GỬI THƯ CHÚC MỪNG CÁC NHÀ GIÁO, CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TRONG QUÂN ĐỘI...!

    Thân ái gửi các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11 năm 2020.

    Nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11 năm 2020, thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tôi thân ái gửi tới các thế hệ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đã và đang công tác trong Quân đội lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng đẹp nhất.
    Các đồng chí thân mến!
    Năm học 2019-2020, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhất là dịch Covid-19 tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, trong đó có công tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học của Quân đội, song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các nhà trường trong toàn quân đã tích cực, chủ động triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả nhiều giải pháp để tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội luôn đoàn kết, tích cực, chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực, tác phong công tác, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề sư phạm, lập được nhiều thành tích xuất sắc trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý giáo dục; thực sự là lực lượng nòng cốt, quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của các nhà trường Quân đội; góp phần quan trọng vào sự nghiệp “trồng người”, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững     chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
    Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ghi nhận, biểu dương, khen ngợi những thành tích mà các học viện, nhà trường và đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội đã đạt được trong năm học vừa qua.
    Các đồng chí thân mến!
    Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo; các nhà trường Quân đội cần tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, tích cực triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động của Chính phủ về công tác giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; tập trung đổi mới nội dung, chương trình theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa và liên thông”, sát mục tiêu, yêu cầu đào tạo; phát huy, nhân rộng những mô hình mới, cách làm sáng tạo trong dạy và học; triển khai thực hiện tốt mô hình “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”; xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý và chất lượng ngày càng cao; góp phần đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Quân đội phát triển mạnh mẽ, vững chắc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
    Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội cần tiếp tục phát huy phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” và “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ, không ngừng nâng cao trình độ học vấn, khả năng tư duy, tay nghề sư phạm và kinh nghiệm thực tiễn; tích cực đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng vào giảng dạy nhằm khơi dậy, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khả năng tự học, tự rèn và năng lực hoạt động thực tiễn cho người học, lấy người học làm trung tâm; nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ, tin học để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
    Chúc các đồng chí cùng gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc và không ngừng tiến bộ; luôn xứng đáng với sự quan tâm, tôn vinh, tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội.
    Chào thân ái và quyết thắng!
    Đại tướng NGÔ XUÂN LỊCH
Nguồn: QĐND

NGHĨ VỀ LỜI BÁC DẠY: “GIÁO VIÊN PHẢI CHÚ Ý CẢ TÀI, CẢ ĐỨC"

     Có thể nói, ở bất cứ xã hội nào nghề dạy học luôn được coi là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo. Do vậy, người thầy phải không ngừng rèn đức luyện tài để hoàn thành trọng trách vẻ vang mà xã hội tin tưởng trao gửi. Trong Bài nói chuyện tại Lớp học Chính trị của giáo viên, tháng 8-1959, Bác dạy: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức... Thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con. Trách nhiệm đó rất là vẻ vang, quan trọng”.

    “Tôn sư trọng đạo” là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Vị trí, vai trò của người thầy luôn được xã hội tôn vinh với sự kính trọng, tin tưởng: “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Nhà giáo dục học người Séc (Tiệp Khắc) Comenxki đã từng nói: “Dưới ánh mặt trời, không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao sứ mệnh của người thầy giáo. Phát biểu tại Lớp học Chính trị của giáo viên năm 1959, Người đã khẳng định: “Giáo viên là người phụ trách đào tạo những công dân tiến bộ, những cán bộ tiến bộ cho dân tộc. Nhiệm vụ ấy rất vẻ vang”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong nền giáo dục cách mạng, người giáo viên có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho nước nhà, là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hóa; có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại; bồi dưỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội. Người thầy là yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục, sản phẩm của dạy học là tương lai của dân tộc. Mọi tài liệu, giáo trình dù hay đến đâu nếu không có thầy giáo hướng dẫn thì không phát huy hết tác dụng. Khi đến thăm trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò không thể thay thế của người giáo viên: “Còn gì vẻ vang hơn nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Người thầy giáo tốt, người thầy giáo xứng đáng là người thầy vẻ vang nhất, dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng Huân chương. Song những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh… Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang”. Giá trị, tầm quan trọng của người thầy được thể hiện trong câu nói rất đỗi bình dị của Hồ Chí Minh: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục... Không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hóa”.

    Ðể làm tròn sứ mệnh vẻ vang ấy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi nhà giáo phải là người có đức và có tài. Trong tư tưởng của Người, chúng ta luôn tìm thấy những trăn trở, những yêu cầu, những lời dặn dò và kỳ vọng to lớn đối với việc xây dựng đội ngũ giáo viên phải vừa hồng vừa chuyên, toàn diện cả đức lẫn tài để gánh vác trách nhiệm đào tạo những thế hệ công dân, cán bộ có tài, có đức cho xã hội. Theo Hồ Chí Minh, đức và tài là một thể thống nhất, không thể tách rời. Vì vậy, không thể chỉ có đức mà không cần tài, càng không thể coi trọng tài mà xem nhẹ đức, chúng phải tương hỗ cùng nhau, thống nhất hữu cơ với nhau mới giúp cho con người, nhất là người giáo viên hoàn thành nhiệm vụ cách mạng cũng như hoàn thiện nhân cách bản thân. Trong mối quan hệ biện chứng đó, đức là nền tảng của tài, định hướng cho tài năng phát triển và phát triển đúng hướng - tức phục vụ nhân dân và cách mạng. Ngược lại, tài là thành tố góp phần tạo nên đức, phát huy tác dụng của đức, hoàn thiện đức.

    Theo Hồ Chí Minh trong mối quan hệ tương hỗ đức và tài thì “đức phải có trước tài”, đức là “nền tảng”, là “cái gốc” của người giáo viên. Trong bài nói tại Lớp học Chính trị của giáo viên năm 1959, Bác nhắc nhở: “Có chuyên môn mà không có chính trị giỏi thì dù học giỏi mấy dạy trẻ con cũng hỏng. Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác. Có chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn. Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn, nếu thầy giáo, cô giáo bàng quan thì lại đúc ra một số công dân không tốt, cán bộ không tốt. Nói tóm lại, chính trị là đức, chuyên môn là tài. Có tài mà không có đức là hỏng. Có đức mà chỉ i, tờ thì dạy thế nào? Đức phải có trước tài”. Đức là cái gốc giúp người cán bộ cách mạng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó. Người khẳng định: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Cũng trong Bài nói chuyện tại Lớp học Chính trị của giáo viên, Người nhấn mạnh: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức”.

    Bác Hồ luôn đề cao và yêu cầu cao đối với nghề dạy học xuất phát từ việc trồng cây đã khó, trồng người còn khó hơn, “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm phải trồng người”. Sản phẩm của “trồng người” là tạo ra con người của thế hệ tương lai, do đó không được phép làm ra “phế phẩm”. Một người cán bộ, một công nhân tồi có thể làm hỏng một vài sản phẩm, vài công trình, nhưng một người giáo viên tồi có thể làm hỏng cả một thế hệ, đó là hậu quả khôn lường mà cả xã hội phải gánh chịu. Người nói: “Giáo dục được người thầy giáo, được cả một thế hệ”, thầy tốt thì ảnh hưởng tốt, thầy xấu thì ảnh hưởng xấu; một tấm gương sáng của người thầy sẽ có cả một thế hệ noi theo, ngược lại một hành vi xấu của người thầy có thể làm tổn thương, làm mất niềm tin cả một lớp người. Sách Tam tự kinh có câu: “Giáo bất nghiêm/ sư chi đọa - giáo dục không nghiêm là lỗi ở thầy giáo”. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Học trò tốt hay xấu là do thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu”. Đặc biệt, Người rất quan tâm đến phương pháp nêu gương. Theo Hồ Chí Minh: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền”, thầy cô giáo là những người đi khai sáng trí tuệ, mở mang tri thức, thắp sáng ngọn lửa tâm hồn cho học sinh. Người nhắc nhở: “Các thầy, cô giáo phải trở thành tấm gương sáng, thành kiểu mẫu cho các em noi theo, phải là kiểu mẫu về mọi mặt, tư tưởng, đạo đức, lề lối làm việc”. Người còn ví: “Trẻ em như cái gương trong sáng, thầy tốt thì ảnh hưởng tốt, thầy xấu thì ảnh hưởng xấu, cho nên phải chú ý giáo dục chính trị tư tưởng trước, chính thầy giáo, cô giáo cũng phải tiến bộ về tư tưởng”. Người không tán thành hiện tượng nói không đi đôi với làm, nói một đường nhưng làm một nẻo, nói nhưng không làm. Người cho rằng, nếu người làm công tác giáo dục mà như thế thì giáo dục lại thành ra phản giáo dục, bởi: “Trẻ em hay bắt chước, cho nên thầy giáo, cán bộ phụ trách, v.v.. phải gương mẫu từ lời nói đến việc làm. Nếu các cô các chú bảo: “Các em phải siêng làm” nhưng các cô, các chú lại đi ngủ, hoặc dạy “các em phải thật thà”, nhưng các cô, các chú lại nói sai, hay bảo “các em phải giữ vệ sinh chung”, nhưng các cô, các chú bẩn, như thế là không được. Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ là một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng. Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô, các chú phải là người tốt”.

    Theo luận điểm của Hồ Chí Minh, có tài mà không có đức là người vô dụng; nó nguy hiểm hơn có đức mà không có tài. Bởi lẽ, tài năng đó không phục vụ cho cái chung, cho nhân dân mà chỉ mưu cầu lợi ích cho mỗi cá nhân thì cũng thành vô giá trị. Người có tài mà đi ngược lại lợi ích chân chính của tập thể, của nhân dân, phản bội Tổ quốc thì chẳng những vô dụng mà còn có tội, tài đó đáng bỏ đi, không đáng trân trọng. Thực tiễn cho thấy, người càng có tài mà kém đức thì tác hại mang đến cho xã hội càng lớn. Một cán bộ, đảng viên với đầu óc sắc sảo, nắm giữ vị trí quan trọng trong xã hội mà suy thoái đạo đức, không có đạo đức thì nguy hiểm khôn lường. Một kẻ trộm cắp không đáng sợ, tác hại không to lớn bằng một kẻ cầm cân nảy mực mà không công chính nghiêm minh. Đã là một giáo viên, nếu không có đạo đức tốt, không yêu trường, mến nghề, tận tụy với học sinh thì khó lòng mà say mê, toàn tâm toàn ý với công việc, phấn đấu vươn lên để nâng cao năng lực chuyên môn. Đạo đức của người giáo viên là một đòi hỏi cao, bao gồm ngoài đạo đức công dân nói chung họ còn phải có đạo đức người thầy giáo. Trong đạo đức người thầy giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, để giáo dục học sinh thì người giáo viên trước hết phải gương mẫu, tận tâm với trẻ, với nghề bởi đây là cơ sở, động lực thôi thúc trách nhiệm và nhiệt huyết để mỗi nhà giáo phấn đấu hoàn thành sự nghiệp vẻ vang của mình. Người căn dặn: “Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên, phải thật thà yêu nghề mình. Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản?”. Yêu trò - là phải tất cả vì học sinh thân yêu, vì sự tiến bộ của học trò, “Phải thương yêu các cháu như con em ruột thịt của mình, không nên phân biệt các cháu vùng này hay các cháu vùng khác. Cháu nào cũng là con em đại gia đình ta, cũng là do Đảng và Chính phủ giao cho các cô, các chú phụ trách nuôi dạy”. Yêu nghề, yêu trò còn thể hiện trong cách quan tâm, chăm lo, tổ chức tốt đời sống vật chất, tinh thần trong trường học. Bác dặn “Các cô, các chú, các cháu phải cùng nhau tổ chức và quản lý đời sống vật chất và tinh thần ở các trường học ngày một tốt hơn, tăng cường bảo đảm sức khỏe và an toàn”. Đây là cơ sở để các thầy, cô yên tâm công tác, say mê, toàn tâm, toàn ý với công việc; biết vươn lên, nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp, chung sức đồng lòng vì tương lai của con em ta, dân tộc ta.

    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà được hình thành, củng cố và phát triển. Để rèn luyện đạo đức, Người luôn nhắc nhở các nhà giáo phải thanh liêm, trung thực, biết đặt lợi ích của đất nước, của nhà trường lên trên lợi ích cá nhân. “Cô giáo, thầy giáo trong chế độ ta cần phải góp phần vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phải có chí khí cao thượng, phải tiên ưu hậu lạc nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Đây là đạo đức cách mạng” và “Thầy và trò phải luôn luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho”.

    Người nhắc nhở mỗi thầy giáo, cô giáo phải thường xuyên rèn luyện đạo đức nhà giáo mẫu mực. Người nhấn mạnh: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân”. Có thể nói, đạo đức là nền tảng quan trọng vậy nên trong giáo dục mặc dù giáo viên vẫn còn thiếu nhưng để bảo đảm chất lượng giáo dục - đào tạo và vì lợi ích lâu dài của sự nghiệp trồng người, Đảng ta kiên quyết yêu cầu: “Không bố trí người kém phẩm chất làm giáo viên, kể cả giáo viên hợp đồng”. Đây là quan điểm rất quan trọng khi tuyển chọn và bố trí cán bộ, trong đó có nhà giáo.

    Ngược lại, có đức mà không có tài “thì làm việc gì cũng khó”. Một giáo viên yếu kém về năng lực sư phạm, hạn chế về tri thức chuyên môn, kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp thì khó lòng mang lại bài học hiệu quả, kích thích tư duy, trí tuệ của người học. Học trò trước hết là sản phẩm của thầy giáo. Học trò “ngồi nhầm lớp” được xem có cội nguồn từ việc thầy “đứng nhầm lớp”, thực trạng đó không chỉ gây nên bức xúc cho ngành giáo dục mà còn làm suy giảm lòng tin của xã hội đối với người thầy giáo, với ngành nghề vốn dĩ được coi là cao quý nhất. Có thầy giỏi mới có trò giỏi. Người giáo viên phải có trí tuệ và tài năng mới có thể đào tạo được những thế hệ công dân, cán bộ có tài cho xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một người thầy giáo giỏi không có nghĩa là phải tinh thông tất cả mọi lĩnh vực, hiểu trọn tri thức nhân loại, vì tri thức nhân loại vô cùng rộng lớn, tuy nhiên, người giáo viên cần không ngừng trau dồi kiến thức, đặc biệt phải thạo lĩnh vực chuyên môn của mình, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Trên tinh thần nắm vững quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin “bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, để xứng đáng là “người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Người huấn luyện phải học tập mãi thì mới làm tốt được công việc của mình. Người huấn luyện nào tự cho mình là biết đủ cả rồi thì người đó là dốt nhất”. Người dẫn lại câu nói của Khổng Tử: “Học không biết chán, dạy không biết mỏi” và lời dạy của V.I.Lênin: “Học, học nữa, học mãi” để nhấn mạnh rằng người huấn luyện nào tự mãn cho mình giỏi rồi mà dừng việc học lại là lùi bước, là lạc hậu, là tự đào thải mình. Phải thường xuyên tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, phương pháp sư phạm để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Muốn có tri thức thì phải học. Về thăm thầy và trò Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc tháng 9-1949 (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Người đã đặt bút ghi trong trang đầu quyển sổ vàng của nhà trường “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Theo Bác, học ở đây không phải là làm quan to, quan nhỏ mà là học để có tri thức, học để có đạo đức cách mạng, “học để làm việc”, để nuôi sống bản thân mình, nuôi sống gia đình và làm giàu cho xã hội. Người thầy cũng vậy, phải học những tri thức tự nhiên, xã hội,… tiếp thu tích lũy những kiến thức trong quá trình học tập, từ đó áp dụng linh hoạt, sáng tạo những tri thức mình đã học vào thực tiễn làm việc thì mới gặt hái được kết quả. Người thầy nêu gương rõ nét nhất khi có trách nhiệm đi tiên phong trong việc tự học, tự nghiên cứu nâng cao năng lực công tác, trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ được phân công. Đây không chỉ là một trong những đặc thù của người trí thức, mà theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đó còn là nhiệm vụ hàng đầu của trí thức, của nhà giáo - “chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”.

    Ngoài việc nhắc nhở các thầy giáo phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, Người cũng lưu ý một vấn đề hết sức quan trọng đó là học tập chính trị, vì “có học tập lý luận Mác - Lênin thì mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết về trình độ chính trị mới làm nòng cốt công tác Đảng giao phó”. Trong giáo dục, Người nhắc nhở các thầy giáo và các nhà quản lý giáo dục cần quan tâm đến phương pháp giáo dục, phải am hiểu sâu sắc lĩnh vực chuyên môn giảng dạy, bởi vì: “muốn huấn luyện thợ rèn, thợ nguội thì người huấn luyện phải thạo nghề rèn, nghề nguội”. Tài của người giáo viên còn thể hiện ở chỗ linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo trong phương pháp giảng dạy không được phép “câu nệ”, “hình thức”, “nhồi sọ” mà phải biết “quý hồ tinh bất quý hồ đa” và “việc cốt yếu là phải làm cho học sinh thấu hiểu vấn đề”. Tài của thầy giáo còn thể hiện ở khả năng biên soạn giáo án, tài liệu, cập nhật tài liệu học tập, hiểu biết sâu sắc người học. Đây là năng lực quan trọng, nhờ có sự gia công về mặt sư phạm mà nội dung tri thức, bài học được chuyển tải phù hợp với đặc điểm tâm lý, trình độ, kinh nghiệm của người học và tri thức được mang tính mới mẻ, hiện đại. Vì vậy, để nâng cao chất lượng của hoạt động dạy và học thì thầy giáo phải rèn luyện mình thêm trong thực tiễn đấu tranh của xã hội, tiếp thu lấy chất lượng sống ở đó mà truyền lại cho thế hệ trẻ: “Thầy giáo và học trò, tùy hoàn cảnh và khả năng cần tham gia vào những công tác xã hội ích nước lợi dân”. Những kiến thức thực tiễn đó mới thật là dòng sữa ngọt lành nuôi dưỡng thế hệ đang lớn lên.

    Lời Bác dạy: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức” cách đây hơn nửa thế kỷ vẫn tươi mới, thiết thực đối với ngành Giáo dục - Đào tạo, là kim chỉ nam cho các thế hệ những người làm công tác “trồng người”. Đảng, Nhà nước và nhân dân đang tạo điều kiện tốt để ngành Giáo dục - Đào tạo thực hiện tốt nhiệm vụ cao cả của mình. Thiết nghĩ, để xứng đáng là “người thầy” theo tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi thầy giáo, cô giáo cần luôn có ý thức rèn đức - luyện tài, tự tu dưỡng, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, yêu nghề - yêu người, nâng cao năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh loại bỏ những hiện tượng tiêu cực, sai trái trong giáo dục. Tự mình phấn đấu trở thành người nhà giáo tốt, thực sự là hình mẫu cho người học, để nghề dạy học xứng đáng là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý mà Bác Hồ đã dành tặng.

ThS. Phan Thị Hoài, Phòng Tuyên truyền, Giáo dục

ThS. Hoàng Trung Thành, Trường Chính trị tỉnh Hà Nam

Theo ditichchutichhochiminh

Hình ảnh có thể có: 8 người, mọi người đang ngồi và trong nhà
1

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA - NGÀY 19/11

 “… Rất mong các đồng chí chiến sĩ và cán bộ ta hết sức cẩn trọng trong mọi cử chỉ, để cho thế giới đều thấy rằng “Quân đội Cụ Hồ có khác!”.

- Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Nhân dân với Quân đội”, đăng trên Báo Nhân dân, số 267, ra ngày 19 tháng 11 năm 1954.
Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta vừa kết thúc (07/5/1954). Miền Bắc được giải phóng, đi lên chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà. Trong cuộc kháng chiến này, Quân đội nhân dân Việt Nam đã chiến đấu hết sức anh dũng trong những hoàn cảnh vô cùng khó khăn, gian khổ, đã lập được những chiến công rực rỡ, ghi vào lịch sử kháng chiến vĩ đại của dân tộc những trang sử oanh liệt nhất, được bạn bè quốc tế, quân đội và nhân dân các nước yêu chuộng hòa bình trên thế giới khâm phục, đánh giá cao. Tuy nhiên, khi Bác nghe phản ánh về một số cán bộ, chiến sĩ ra đường không được chỉnh tề như đội mũ lệch, cúc áo không cài tử tế, cưỡi xe bình bịch lượn chơi phố, đánh “tú lơ khơ” ngoài đường để đồng bào nhầm tưởng là đánh bạc. Bác cho rằng, những chú ý đó của đồng bào là đúng, vì đồng bào muốn quân đội của mình phải gương mẫu về mọi mặt, không những chiến đấu dũng cảm, mà cần phải có thái độ nghiêm trang, để cho thế giới đều thấy rằng “Quân đội Cụ Hồ có khác”. Lời dạy của Bác có ý nghĩa sâu sắc, là sự nhắc nhở, chỉ bảo ân cần và sát sao đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nghiêm túc trong sinh hoạt cũng như tác phong ăn mặc để xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân đã tin tưởng, yêu mến và trao tặng.
Lời dạy của Bác vẫn vẹn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, góp phần định hướng quan trọng trong nhận thức, tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ, quyết tâm thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Hiện nay, Quân đội ta tiếp tục đẩy mạnh xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Thấm nhuần lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần thường xuyên thực hiện việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, phong trào thi đua Quyết thắng, các cuộc vận động của các cấp, các ngành… Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh phải luôn giữ vững phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, giữ vững tư thế, tác phong quân nhân; từ lời nói đến hành động phải thể hiện sự chân thành, khiêm tốn, yêu thương, kính trọng, lễ phép trước nhân dân, thật sự coi nhân dân là “cha mẹ” của quân đội. Tuyệt đối không được sách nhiễu, gây phiền hà cho dân, không làm điều gì tổn hại đến tình cảm mật thiết và mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân, thực hiện quân với dân một ý chí, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu như Bác Hồ thường căn dặn. Kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện vi phạm kỷ luật trong quan hệ quân dân, phê phán các hiện tượng thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm với nhân dân.

VIỆT NAM THỰC THI CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ CHỐNG THAM NHŨNG - KẾT QUẢ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Khi tham nhũng đang trở thành một thách thức mang tính toàn cầu, việc Việt Nam tham gia Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng là chủ trương đúng đắn, khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong công tác phòng, chống tham nhũng. Qua chặng đường hơn 10 năm, việc đánh giá toàn diện về kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại trong thực thi Công ước là rất cần thiết, tạo cơ sở đề xuất những giải pháp phù hợp để việc thực thi Công ước không chỉ dừng lại ở cam kết, mà còn thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng của nước ta trong thời gian tới. Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (gọi tắt là Công ước) là văn kiện quốc tế đầu tiên có hiệu lực đối với các thành viên ở phạm vi toàn cầu trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng. Công ước có hiệu lực kể từ ngày 14-12-2005. Nội dung của Công ước bao gồm 8 chương, 71 điều quy định về các biện pháp mang tính phòng ngừa và xử phạt, hợp tác quốc tế và thu hồi tài sản tham nhũng nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý toàn diện thúc đẩy công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở tất cả các thành viên. Việc đàm phán, ký kết và thông qua Công ước khẳng định quyết tâm và sự đồng thuận cao về sự cần thiết phải có những nỗ lực chung nhằm giải quyết thách thức do tham nhũng gây ra đối với tất cả các quốc gia. Tính đến ngày 6-2-2020, Công ước đã có 187 thành viên, trong đó có 181 quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc (trên tổng số 193 quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc). Công ước đang ngày càng trở thành một trong các điều ước quốc tế phổ cập khi được dẫn chiếu trong nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương, đặc biệt là trong những cam kết về chống tham nhũng trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Nắm bắt được xu thế tất yếu phải thúc đẩy hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng, Đảng và Nhà nước ta sớm có chủ trương giao Thanh tra Chính phủ làm đầu mối chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan có liên quan tham gia vào quá trình xây dựng, đàm phán, ký kết Công ước. Từ ngày 9 đến ngày 11-12-2003, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Tổng Thanh tra Chính phủ đã dẫn đầu đoàn công tác của Việt Nam tham gia Lễ ký Công ước tại Mê-ri-đa, Mê-hi-cô. Tiếp đó, sau thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng, ngày 30-6-2009, Chủ tịch nước ký Quyết định số 950/2009/QĐ-CTN, “Về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng”(1), theo đó, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước kể từ ngày 19-8-2009. Trong quá trình chuẩn bị phê chuẩn Công ước, Việt Nam đã rà soát, phân tích, đánh giá và đưa ra các kế hoạch cụ thể về hoàn thiện thể chế cho phù hợp với các yêu cầu của Công ước; đồng thời, xây dựng kế hoạch thực hiện các cam kết và nâng cao mức độ tuân thủ các quy định của Công ước(2). Bên cạnh đó, Thanh tra Chính phủ cũng chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về Công ước và chuẩn bị năng lực cho đội ngũ chuyên gia, công chức tham gia các hoạt động trong khuôn khổ của Công ước. Lễ ký kết bản ghi nhớ hợp tác về phòng, chống tham nhũng giữa Thanh tra Chính phủ Việt Nam và Cơ quan Chống tham nhũng trực thuộc Tổng thống Liên bang Nga_Ảnh: TTXVN Việc là thành viên chính thức của Công ước đặt ra yêu cầu đối với các thành viên(3), trong đó có Việt Nam, về thực hiện các nghĩa vụ phát sinh, như việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế phù hợp với các yêu cầu của Công ước(4) (nâng cao mức độ tuân thủ, đặc biệt là đối với các yêu cầu mang tính bắt buộc); nâng cao nhận thức, trao đổi, cung cấp thông tin, cũng như tham gia các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ của Công ước, trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia; tham gia cơ chế đánh giá việc thực thi Công ước (bao gồm tự đánh giá và đánh giá đối với thành viên khác). Trong thời gian qua, Việt Nam đã thực hiện tốt các nghĩa vụ của thành viên Công ước; tuy nhiên, quá trình thực hiện cũng đặt ra một số vấn đề cần được phân tích, đánh giá để từ đó đề ra các giải pháp tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hiện. Những kết quả đạt được trong thực hiện Công ước Thứ nhất, đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật. Sau hơn 10 năm tham gia Công ước, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng theo hướng nâng cao mức độ tuân thủ các yêu cầu của Công ước, đặc biệt là các yêu cầu bắt buộc. Có thể thấy, việc hoàn thiện chính sách, pháp luật được chú trọng một cách toàn diện ở cả khía cạnh phòng ngừa và phát hiện, xử lý tham nhũng. Kết quả nổi bật cần phải kể đến là việc Quốc hội thông qua Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), trong đó quy định là tội phạm đối với hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức ở khu vực ngoài nhà nước (bao gồm: tham ô, nhận hối lộ, môi giới hối lộ và đưa hối lộ); quy định là tội phạm đối với hành vi đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của các tổ chức công quốc tế; đồng thời, quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân làm căn cứ xử lý trong các trường hợp pháp nhân phạm tội nói chung(5). Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng và thể hiện cam kết của Việt Nam trong việc nâng cao mức độ tuân thủ Công ước khi có những bước tiến đáng kể trong hoàn thiện thể chế về phòng, chống tham nhũng. Luật đưa ra hàng loạt biện pháp mới dựa trên những kết quả đánh giá việc thực thi Công ước của Việt Nam trong thời gian qua(6), như mở rộng chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn, kèm theo các hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức ở khu vực ngoài nhà nước (hành vi tham ô, nhận hối lộ, đưa hối lộ và môi giới hối lộ), để từ đó quy định các cơ chế, biện pháp phòng, chống tham nhũng cho phù hợp, hiệu quả; tăng cường các biện pháp phòng ngừa theo yêu cầu của Công ước, như thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ; thực hiện trách nhiệm giải trình, kiểm soát xung đột lợi ích kết hợp với cơ chế chủ động kiểm soát chặt chẽ tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; bổ sung các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật. Cùng với các đạo luật quan trọng nói trên, Việt Nam cũng đang từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng nâng cao mức độ tương thích và tuân thủ nhiều yêu cầu của Công ước về phòng ngừa, thực thi pháp luật, thu hồi tài sản và hợp tác quốc tế, như Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Luật Đầu tư công năm 2019, Luật Chứng khoán năm 2019, Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Tố cáo năm 2018, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Đấu thầu năm 2013, Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác. Qua đánh giá chung cho thấy, việc sửa đổi, bổ sung các đạo luật quan trọng nói trên đều giúp tăng cường sự công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ; quản lý, sử dụng có hiệu quả tài chính công, tài sản công; phát huy sự tham gia tích cực của người dân và xã hội trong giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, cũng như nâng cao hiệu quả phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật nói chung và hành vi tham nhũng nói riêng. Thứ hai, nâng cao nhận thức, tăng cường trao đổi, chia sẻ, cung cấp thông tin và tham gia các hoạt động chung trong khuôn khổ của Công ước. Thời gian qua, Việt Nam đã thực hiện nhiều hoạt động nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức, viên chức và doanh nghiệp, người dân về Công ước (bao gồm cả thông tin về kết quả rà soát, đánh giá mức độ tương thích và tuân thủ của pháp luật Việt Nam); đồng thời, trao đổi, chia sẻ, cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật và thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam cho Ban Thư ký Công ước(7) và các thành viên tại các phiên họp chính thức. Ở phạm vi trong nước, Việt Nam đã xuất bản nhiều ấn phẩm và tổ chức nhiều cuộc hội thảo, hội nghị, các sự kiện truyền thông để giới thiệu về nội dung của Công ước và kết quả đánh giá mức độ tương thích, tuân thủ của pháp luật Việt Nam. Trong quá trình đánh giá việc thực thi Công ước, chúng ta còn tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của đại diện các bộ, ngành, cơ quan có liên quan và các tổ chức, đặc biệt là các tổ chức quốc tế về kết quả tự đánh giá nhằm chia sẻ thông tin, phát huy sự tham gia tích cực của các bên có liên quan. Kết quả đánh giá trong chu trình đánh giá đầu tiên cũng được thông tin rộng rãi tới các cơ quan nhà nước và toàn xã hội để tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong phòng, chống tham nhũng. Trong quá trình sửa đổi Bộ luật Hình sự và Luật Phòng, chống tham nhũng, các yêu cầu của Công ước, đặc biệt là yêu cầu về nội luật hóa và thực thi pháp luật đã được nêu ra, thảo luận kỹ lưỡng và được coi là một trong những ưu tiên hoàn thiện pháp luật. Ở phạm vi nước ngoài, Việt Nam đã tham gia hầu hết các hoạt động trong khuôn khổ thực thi Công ước, bao gồm Hội nghị các thành viên (CoSP) và cuộc họp của các nhóm công tác (Nhóm công tác về phòng ngừa; Nhóm công tác về đánh giá; Nhóm công tác về hợp tác quốc tế và Nhóm công tác về thu hồi tài sản). Việt Nam đã thể hiện quan điểm và có đóng góp hiệu quả vào những nỗ lực chung về phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là chia sẻ kinh nghiệm về hoàn thiện chính sách, pháp luật và các biện pháp nâng cao nhận thức của người dân, xã hội trong phòng, chống tham nhũng. Trong giai đoạn 2010 - 2015, Việt Nam cũng chia sẻ kinh nghiệm về tổ chức xây dựng Báo cáo tự đánh giá quốc gia với các nước(8). Tại các kỳ họp CoSP, Việt Nam luôn thể hiện thái độ chủ động khi xem xét đồng bảo trợ đề xuất của các thành viên khác về việc xây dựng và thông qua các nghị quyết chuyên đề của CoSP, như về thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; tăng cường hợp tác, chia sẻ thông tin về phòng, chống tham nhũng trong khuôn khổ Công ước... Thứ ba, tham gia cơ chế đánh giá việc thực thi Công ước. Cơ chế tự đánh giá (thành viên tự đánh giá tình hình thực thi Công ước của mình) và đánh giá (thành viên tham gia đánh giá tình hình thực thi Công ước của thành viên khác) được nhìn nhận là một trong những cơ chế đánh giá tiến bộ nhất trong khuôn khổ hợp tác đa phương. Một mặt, cơ chế này giúp các thành viên tự nhận diện về mức độ tuân thủ Công ước ở cả khía cạnh quy định và thực thi, kết quả đạt được, khó khăn, thách thức và nhu cầu hỗ trợ kỹ thuật. Mặt khác, cơ chế này cũng giúp chia sẻ kinh nghiệm, thúc đẩy trao đổi, đối thoại và học tập lẫn nhau giữa các thành viên về việc thực thi Công ước(9). Hơn 10 năm qua, Việt Nam đã tham gia cơ chế này rất tích cực, có hiệu quả, từng bước khẳng định vị thế và sự đóng góp chủ động của mình trong cơ chế hợp tác quan trọng này. Với tư cách là quốc gia được đánh giá, trong cả hai lần thực hiện, Việt Nam đều được Ban Thư ký Công ước và các chuyên gia nước ngoài ghi nhận về quá trình triển khai nghiêm túc, thẳng thắn, trách nhiệm, đặc biệt là việc chuẩn bị báo cáo tự đánh giá và tổ chức các hoạt động đánh giá thực địa. Hiện tại, các hoạt động đánh giá việc thực thi Công ước đối với Việt Nam trong chu trình đánh giá thứ hai chuẩn bị kết thúc. Riêng trong chu trình đánh giá đầu tiên, Việt Nam là một trong những quốc gia hoàn thành sớm nhất việc chuẩn bị báo cáo tự đánh giá và hoàn tất các hoạt động đánh giá. Bản tóm tắt và bản đầy đủ của Báo cáo đánh giá quốc gia về việc thực thi Công ước của Việt Nam đã được đăng tải toàn văn trên Cổng thông tin điện tử của Văn phòng Liên hợp quốc về chống ma túy và tội phạm (UNODC)(10). Đồng thời, kết quả đánh giá trong chu trình đánh giá đầu tiên (giai đoạn 2010 - 2012) là thông tin quan trọng đối với Thanh tra Chính phủ và các cơ quan có liên quan của Việt Nam trong quá trình sửa đổi toàn diện để ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Với tư cách là quốc gia đi đánh giá, hơn 10 năm qua, Việt Nam là một trong các quốc gia thành viên rất tích cực cử các chuyên gia của Chính phủ tham gia đánh giá đối với quốc gia khác. Trong chu trình đánh giá đầu tiên, Việt Nam đã hai lần tham gia đánh giá đối với Cộng hòa Áo (năm 2011) và Trung Quốc (năm 2015); trong chu trình đánh giá thứ hai, Việt Nam tham gia đánh giá đối với Quốc đảo Xô-lô-môn (năm 2017) và đang chuẩn bị đánh giá đối với Cộng hòa Áo (năm 2020). Các chuyên gia của Chính phủ Việt Nam đã khẳng định được năng lực chuyên môn và kỹ năng làm việc chuyên nghiệp, đặc biệt là trong lần đánh giá Trung Quốc, khi mà các chuyên gia của Chính phủ Việt Nam giữ vai trò chủ trì cùng các chuyên gia của Ban Thư ký Công ước và Ba-ha-mát thực hiện đánh giá. Kết quả làm việc của các chuyên gia của Chính phủ Việt Nam đã được các đối tác và Ban Thư ký Công ước ghi nhận; qua đó, góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trong các diễn đàn hợp tác đa phương. Những vấn đề đặt ra trong thực hiện Công ước Hội nghị khu vực lần thứ 10 của Sáng kiến Chống tham nhũng khu vực châu Á – Thái Bình Dương do Thanh tra Chính phủ Việt Nam phối hợp với Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) với chủ đề “Phòng, chống tham nhũng trong các dự án kết cấu hạ tầng ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương”_Nguồn: thanhtra.gov.vn Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực hiện Công ước của nước ta cũng đặt ra một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, xem xét trong thời gian tới, cụ thể như sau: Một là, cần nhận thức đúng về vị trí, vai trò của Công ước, từ đó chủ động hơn trong quá trình hoàn thiện và thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Tương tự như đối với nhiều điều ước quốc tế khác, Việt Nam khẳng định không áp dụng trực tiếp các quy định của Công ước, mà phải áp dụng các quy định đó phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật quốc gia và trên nguyên tắc có đi có lại. Tuy nhiên, khi một số chuẩn mực về phòng, chống tham nhũng(11) của Công ước được dẫn chiếu trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), thì cần phải có quan điểm chủ động hơn trong việc hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm nâng cao mức độ tuân thủ Công ước. Trong thời gian qua, Việt Nam đã chủ động rà soát, có kế hoạch và thực hiện những bước đi cần thiết trong việc hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật theo yêu cầu của Công ước. Thời gian tới, công việc này cần được chú trọng thực hiện một cách chủ động hơn, đặc biệt là ở khía cạnh bảo đảm thực thi các yêu cầu có liên quan đến thực hiện những cam kết về minh bạch và phòng, chống tham nhũng trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP. Theo đó, cần nghiên cứu để đưa ra các biện pháp bảo đảm thực hiện quy định về tăng cường liêm chính, minh bạch trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước (quy định tại Chương II của Công ước, như kiểm soát xung đột lợi ích và xử lý vi phạm về xung đột lợi ích; xây dựng và thực hiện các chương trình tuân thủ liêm chính trong hoạt động kinh doanh; các biện pháp nhận diện chủ sở hữu hưởng lợi...), vì nội dung này gắn với các cam kết tại Điều 26.6 của CPTPP, khi các bên cam kết bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc ứng xử của APEC (Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương) đối với công chức (tháng 7-2007) và khuyến khích tuân thủ Quy tắc ứng xử chống tham nhũng của APEC cho doanh nghiệp: các nguyên tắc minh bạch hóa và liêm chính trong kinh doanh cho khu vực tư nhân (tháng 9-2007). Tương tự như vậy, cần có biện pháp xử lý trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức, doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước khi có hành vi hối lộ hoặc liên quan đến hành vi hối lộ (Điều 21 của Công ước có quy định về xử lý đối với hành vi đưa hối lộ, nhận hối lộ, môi giới hối lộ trong tổ chức, doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước và quy định này cũng được đề cập tại Điều 26.7 của CPTPP với việc nêu rõ chủ thể là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào)... Bên cạnh đó, Công ước cũng đưa ra nhiều quy định tuy không mang tính bắt buộc đối với các thành viên nhưng việc thực hiện lại giúp thúc đẩy những ưu tiên trong công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay, như các cơ chế thu hồi tài sản tham nhũng thông qua hợp tác quốc tế trong việc tịch thu (Điều 54). Cụ thể, đó là việc xem xét quy định các biện pháp cần thiết cho phép tịch thu tài sản mà chưa có bản án hình sự trong trường hợp không thể truy tố người có hành vi vi phạm vì lý do người này đã chết, lẩn trốn, vắng mặt hoặc trong các trường hợp thích hợp khác; đàm phán với các thành viên khác để tiến tới thống nhất việc đơn giản hóa trình tự, thủ tục trong hợp tác quốc tế nhằm mục đích tịch thu (đặc biệt là khi tài sản tham nhũng đã bị tẩu tán ra nước ngoài - quy định tại Điều 55), hoặc xem xét thúc đẩy hợp tác đặc biệt (Điều 56), ký kết các thỏa thuận, các dàn xếp song phương và đa phương nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng (Điều 59)... Những quy định này cần tiếp tục được nghiên cứu để đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm thực thi trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam trong thời gian tới. Hai là, cần chú trọng thúc đẩy các cơ chế hợp tác thực chất hơn trong khuôn khổ của Công ước và coi đó là phương thức hỗ trợ thực thi có hiệu quả pháp luật trong nước về phòng, chống tham nhũng. Việc thực hiện các nghĩa vụ của thành viên trong khuôn khổ của Công ước gắn liền với nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong nước, vì đây chính là mục tiêu cuối cùng của các quốc gia khi tham gia Công ước. Do vậy, cần tạo ra sự kết nối chặt chẽ giữa việc tham gia các hoạt động trong khuôn khổ của Công ước với các yêu cầu về nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong nước về phòng, chống tham nhũng. Hiện tại, các nhóm công tác đã được thành lập như đề cập ở trên nhằm giúp các thành viên thực thi Công ước, đặc biệt là thúc đẩy trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và thống nhất đưa ra các biện pháp thực thi Công ước có hiệu quả. Việc tham gia các nhóm công tác đó sẽ giúp các thành viên tìm kiếm, thiết lập các cơ chế hợp tác thực chất hơn, bao gồm cả cơ chế hợp tác song phương giữa các thành viên nhằm tháo gỡ khó khăn hoặc rào cản về thực thi pháp luật, như trong thu hồi tài sản tham nhũng bị tẩu tán ra nước ngoài; thiết lập cơ chế trao đổi thông tin hoặc hợp tác điều tra trong các vụ án, vụ việc tham nhũng có yếu tố nước ngoài. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, trong nhiều trường hợp, việc xem xét, điều tra, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng thường gặp khó khăn hoặc có phần bị kéo dài là do những vướng mắc này. Vì vậy, Việt Nam có thể khắc phục được tình trạng này thông qua việc thúc đẩy hợp tác thực chất hơn trong khuôn khổ của Công ước. Bên cạnh đó, việc tiếp cận với những thông tin, dữ liệu cập nhật của các thành viên (bao gồm cả thông tin về chính sách, pháp luật, kết quả thực thi, khó khăn, vướng mắc và thực tiễn tốt) được chia sẻ trong hoạt động của các nhóm công tác là rất cần thiết đối với Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh chúng ta đang tổ chức triển khai các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 với nhiều quy định, chế định mới, như kiểm soát xung đột lợi ích; kiểm soát tài sản, thu nhập; xây dựng cơ sở dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập hoặc phòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước... Ba là, cần chú trọng xây dựng năng lực thực thi Công ước cho đội ngũ công chức, chuyên gia của các cơ quan thực thi pháp luật. Sơ kết thực hiện quy chế phối hợp giữa Kiểm toán Nhà nước và Thanh tra Chính phủ_Ảnh: m.baokiemtoannhanuoc.vn Những kết quả đạt được trong việc thực thi Công ước thời gian qua đã bước đầu khẳng định năng lực chuyên môn và kỹ năng làm việc của đội ngũ công chức, chuyên gia của các cơ quan thực thi pháp luật Việt Nam, đặc biệt là nhóm chuyên gia của Chính phủ tham gia vào cơ chế đánh giá việc thực thi Công ước. Tuy nhiên, những vấn đề đặt ra như đã nêu trên, phần nào lại có nguyên nhân từ chính năng lực thực thi Công ước của đội ngũ công chức, chuyên gia của các cơ quan thực thi pháp luật, khi chưa tạo được sự kết nối thực chất và chủ động giữa việc tham gia các hoạt động trong khuôn khổ của Công ước với việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong nước về phòng, chống tham nhũng. Để khắc phục tình trạng này, đội ngũ công chức, chuyên gia của các cơ quan thực thi pháp luật phải nắm bắt được các yêu cầu, vướng mắc đang đặt ra hoặc khó khăn, thuận lợi trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam để chủ động đề xuất các biện pháp thúc đẩy việc thực thi pháp luật trong nước thông qua các cơ chế hợp tác trong khuôn khổ của Công ước. Chẳng hạn, chia sẻ hoặc nêu những khó khăn trong việc thu hồi tài sản tham nhũng trong các vụ việc, vụ án có yếu tố nước ngoài để cùng thảo luận với đại diện các thành viên trong khuôn khổ các cuộc họp của Nhóm công tác về thu hồi tài sản; qua đó, tìm kiếm các giải pháp chung hoặc các giải pháp cụ thể với các thành viên có liên quan (có thể là nơi tẩu tán tài sản trong một vụ việc, vụ án tham nhũng), và trên cơ sở đó, xúc tiến việc trao đổi hoặc đàm phán nhằm thúc đẩy quá trình hỗ trợ cho công tác giải quyết các vụ việc, vụ án tham nhũng trong nước. Tương tự như vậy, cần xúc tiến việc trao đổi thông tin, hợp tác điều tra, phối hợp xác minh... giữa các cơ quan có thẩm quyền nhằm hỗ trợ hoạt động thực thi pháp luật khác trong nước. Bên cạnh việc xây dựng năng lực thực thi Công ước cho đội ngũ chuyên gia, công chức, cần có sự quan tâm của thủ trưởng các cơ quan thực thi pháp luật trong việc hỗ trợ, tạo điều kiện và có cơ chế phù hợp để sử dụng có hiệu quả các kết quả hợp tác trong khuôn khổ của Công ước vào nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong nước về phòng, chống tham nhũng. Đồng thời, cần có phương án tiếp tục kiện toàn cơ chế phối hợp thực hiện giữa các cơ quan thực thi pháp luật nhằm phân định rạch ròi trách nhiệm của từng cơ quan trong việc chia sẻ, cung cấp thông tin và phối hợp hành động, cũng như huy động đội ngũ chuyên gia, công chức tham gia vào quá trình thực thi Công ước./. ------------------ Theo: tapchicong san.org.vn

 Õ NGỌC ÁNH TÊN “DÂM CHỦ VÔ LIÊM SỈ, BỈ ỔI”

Ngày 19/4/2019, trên trang “Dân làm báo” đăng tải bài viết của Võ Ngọc Ánh với tiêu đề:: “Đạp lên sợ hãi chính trị”. Nội dung bài viết hoàn toàn là những luận điệu xuyên tạc bỉ ổi nhằm phủ nhận những thành tựu to lớn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đặt được trong gần 90 năm qua. Trên cơ sở đó kích động người dân đấu tranh vì dân sinh, dân chủ.
Võ Ngọc Ánh đã kích động nhân dân xuống đường đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ trên cơ sở đưa ra một số dẫn chứng điên rồ mà hắn tự cho là hiệu quả. Y cho rằng: Tháng 6/2018, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV của Nhà nước cộng sản Việt Nam đã phải dừng việc thông qua luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc (đặc khu). Một quyết định khá hiếm hoi của Quốc hội Việt Nam vốn dĩ chỉ là nơi hợp thức hóa, "làm phép" các chỉ thị của đảng Cộng sản. Và hắn còn cho rằng “sự phản đối quyết liệt của tất cả các tầng lớp người dân từ nông dân, trí thức, doanh gia... Đa số đã vượt qua nỗi sợ chính trị trong các phản ứng kịp thời”. Chính vì vậy hắn vẽ ra viễn cảnh “Khi người dân đồng loạt lên tiếng chính quyền phải nhượng bộ”.
Nhưng hắn đâu biết ở một nước dân chủ như Việt Nam: bất kỳ một quyết sách nào liên quan đến sự tồn vong của đất nước, của chế độ hay sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước cũng đều được bàn bạc, thảo luận, xin ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên, quần chúng, các tầng lớp nhân dân trong toàn xã hội Việt nam. Để phát huy trí tuệ tập thể, sức mạnh toàn dân tộc, tinh thần đoàn kết, thống nhất đồng lòng của toàn dân để xây dựng chính sách và thực thi chính sách. Đó cũng là truyền thống quý báu của dân tộc ta, luôn biết lấy “dân làm gốc” sử sách còn ghi: “Hội nghị Diên Hồng”, “Hội nghị Bình Than” hay các kỳ Đại hội Đảng, các cuộc tiếp xúc cử tri, các kỳ họp Quốc hội…là minh chứng sinh động cho truyền thống ấy. Chính vì vậy, Những ý kiến của người dân xung quanh dự thảo luật nêu trên phần nào cho thấy, xây dựng các đặc khu kinh tế là chủ trương đúng chứ không phải là mô hình “lỗi thời, lạc hậu”, thậm chí bôi đen rằng là để “bán nước” như những luận điệu xuyên tạc. Hiện nay Quốc hội đã lùi thời hạn thông qua để có thời gian rà soát, tiếp thu ý kiến của xã hội, tiếp tục hoàn thiện tốt nhất để trình Quốc hội thông qua. Tiếp xúc cử tri gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: Luật Đặc khu (gọi tắt của Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt) tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, có lợi thì thông qua”. Như vậy, vấn đề là việc hoàn thiện dự án luật phải làm sao cho thật chặt chẽ, bảo đảm hiệu quả, không để các lỗ hổng ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và để các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng xuyên tạc, chống phá.
Võ Ngọc Ánh mù mắt không nhìn thấy những quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Việt Nam đang đoàn kết, quyết tâm loại bỏ những tiêu cực, đẩy lùi tiến tới quét sạch tham nhũng… để xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và tiến bộ.
Hắn hùng hồn tuyên bố cần: “Dẹp suy nghĩ với tâm thức nô lệ” hắn còn gán gép cho rằng: “nỗi sợ khuất phục chính trị của người Việt hiện nay chỉ mang đến tâm thức nô lệ, phục tùng”. Trên cơ sở hắn đưa ra một số thông tin thiếu căn cứ, một số hiện tượng tiêu cực trong xã hội từ đó thổi bùng, bóp méo vu khống, đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước ta để dẫn dắt đến hạ sách: “Hành động của Chúng Ta – VÔ LIÊM SỈ”, “ hành động chính trị - BỈ ỔI” với ảo tưởng “uy hiếp” mà chúng ví như: “vượt qua nỗi sợ hãi chính trị”.
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều bình đẳng, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Vì thế, không thể tiếp tay cho các thế lực xấu phá hoại sự thượng tôn pháp luật bằng những thông tin vu vơ, không có cơ sở. Mỗi công dân Việt Nam đang chứng kiến và tự hào về những đổi thay từng ngày, từng giờ của quê hương, đất nước dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng.
Võ Ngọc Ánh nên tỉnh ngộ, ăn năn, hối cải từ bỏ hành động xấu xa, tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, mà hãy làm những việc có ích

 PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG, CUỘC CHIẾN ĐẦY CAM GO QUYẾT LIỆT VÀ HIỆU QUẢ

Từ khi Đảng ta triển khai Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đến nay đã được đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước đồng tình ủng hộ và đánh giá cao. Đây, là một nghị quyết thể hiện bản lĩnh chính trị, tính chiến đấu cao của Đảng ta nhằm không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đẩy mạnh phong trào phòng chống tham nhũng ngày càng quyết liệt và hiệu quả. Nhưng, vẫn còn một số kẻ cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật, tìm mọi cách để hạ thấp uy tín của Đảng ta. Thực tiễn kết quả đạt được là không thể thay đổi, trái lại đó luôn là thước đo đúng đắn nhất để Đảng và nhân dân ta tiếp tục cuộc chiến đầy cam go này, đi tới thành công hơn nữa.
1. Kết quả phòng chống tham nhũng đã thực sự cảnh tỉnh, răn đe và lập lại kỷ cương phép nước. Những luận điệu xuyên tạc đả phá cuộc chiến phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang được các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh, gia tăng và lặp đi, lặp lại như: “Càng chống tham nhũng, thì tham nhũng càng tăng; tham nhũng chuyển từ hình thái đơn lẻ sang tham nhũng có tổ chức, lợi ích nhóm; bộ máy chống tham nhũng có cải tổ nhưng không hiệu quả”. Họ tuyên truyền, đơm đặt, xuyên tạc: Đánh tham nhũng còn e dè, nể nang như đánh rắn khúc giữa, mang tính phô trương hình thức; phòng chống tham nhũng theo kiểu đầu voi đuôi chuột, càng làm cho tham nhũng nhờn thuốc và tính chất ngày càng phức tạp hơn. Từ những hiện tượng đơn lẻ, họ cố tình xuyên tạc, quy kết rằng: Cuộc chiến chống tham nhũng và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đang có xu hướng “thoái trào”, không làm thay đổi tình hình, vì cách làm không có gì mới và đột phá.
Trước hết, chúng ta phải khẳng định rằng: quá trình triển khai Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng ta ngày càng được triển khai quyết liệt, rõ ràng và hiệu quả hơn. Sau hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hàng trăm tổ chức đảng và chục nghìn đảng viên vi phạm. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra làm rõ nhiều sai phạm đặc biệt nghiêm trọng, quyết định kỷ luật và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật đối với nhiều cán bộ cao cấp và tổ chức đảng vi phạm, trong đó có cả đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị; kỷ luật cả cán bộ đương chức và đã nghỉ hưu, cả trong lực lượng vũ trang; làm nghiêm từ trên xuống dưới,… Đây, là bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước, được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước gần 170.000 tỉ đồng, hơn 12.000 ha đất; kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hơn 300 văn bản quản lý nhà nước không còn phù hợp trên các lĩnh vực; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm điểm trách nhiệm nhiều tập thể, cá nhân sai phạm, chuyển gần 200 vụ việc sang cơ quan có thẩm quyền để điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Qua đó, đã có tác dụng cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe và phòng ngừa sai phạm; lập lại kỷ cương, kỷ luật, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi được một số biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, góp phần làm trong sạch nội bộ Đảng.
2. Phòng chống tham nhũng ngày càng quyết liệt và hiệu quả hơn. Trong thời gian gần đây, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã chủ động tổ chức nhiều đoàn kiểm tra, giám sát việc thanh tra các vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng kinh tế tại 63 tỉnh, thành phố. Qua kiểm tra, giám sát đã kiến nghị chỉ đạo xử lý 452 vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế. Cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đã vào cuộc một cách quyết liệt, tạo chuyển biến trong công tác kiểm tra, thanh tra, phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời nhiều cán bộ, đảng viên có sai phạm liên quan đến tham nhũng, kể cả những đồng chí trong ban thường vụ, thường trực cấp ủy; tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” đã dần được khắc phục ở nhiều địa phương.
Công tác phát hiện, xử lý các vụ việc, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng được đẩy mạnh và có những chuyển biến tích cực, rõ nét, được coi là điểm sáng trong công tác phòng, chống tham nhũng thời gian gần đây. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, kể cả những vụ việc tồn tại từ nhiều năm trước đã được phát hiện, xử lý nghiêm minh, công khai, đúng pháp luật, rất nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân văn; có lý, có tình, thể hiện rõ quan điểm “Nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền”, góp phần nâng cao uy tín, sức chiến đấu của Đảng và cũng là biện pháp cảnh tỉnh, răn đe có hiệu quả (vụ án Dương Chí Dũng; vụ án Vũ Quốc Hảo; vụ án Huỳnh Thị Huyền Như; vụ án Phạm Công Danh; vụ án Hà Văn Thắm; vụ án Giang Kim Đạt; vụ án Đinh La Thăng; vụ án Trịnh Xuân Thanh; vụ án Phan Văn Anh Vũ (Vũ Nhôm); vụ án Đinh Ngọc Hệ (Út trọc); vụ án đánh bạc và tổ chức đánh bạc xảy ra tại Phú Thọ và một số địa phương… Đáng chú ý là, việc thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng được chú trọng hơn; việc kê biên, thu giữ tài sản trong một số vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng đạt khá cao (vụ Giang Kim Đạt hơn 300 tỉ đồng; vụ Hứa Thị Phấn hơn 10.000 tỉ đồng; vụ Ngân hàng Đông Á hơn 2.000 tỉ đồng; vụ Phạm Công Danh (giai đoạn I) hơn 6.000 tỉ đồng; vụ Đinh La Thăng hơn 20 tỉ đồng; vụ Trịnh Xuân Thanh hơn 45 tỉ đồng; vụ AVG hơn 8.500 tỉ đồng…
Từ những kết quả trên cho thấy, những chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận, phấn chấn trong nhân dân. Nó còn là minh chứng xác đáng để phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, sai sự thật của các thế thù địch về cuộc chiến phòng chống tham nhũng của Đảng và nhân dân ta tiến hành. Và đây, chính là nguồn động lực to lớn để chúng ta hoàn thành tốt các nhiệm vụ đã đề ra, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới./.