Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2020

Mang tinh thần đại hội tới cán bộ, chiến sĩ

 

Những ngày qua, Báo Quân đội nhân dân nhận được nhiều ý kiến tâm huyết của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, các cựu chiến binh và nhân dân trên mọi miền Tổ quốc bày tỏ niềm vui, phấn khởi trước thành công của Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội (ĐBQĐ) lần thứ XI và tin tưởng vào chủ trương, những quyết sách đúng đắn của đại hội; đồng thời mong muốn tinh thần của đại hội sẽ thấm, ngấm đến mọi cán bộ, chiến sĩ toàn quân, lực lượng dân quân, tự vệ cả nước. Báo Quân đội nhân dân tiếp tục gửi tới bạn đọc một số ý kiến.

 Mang tinh thần đại hội tới cán bộ, chiến sĩ

 Mang tinh thần đại hội tới cán bộ, chiến sĩ

 Mang tinh thần đại hội tới cán bộ, chiến sĩ

 

Thiếu tướng PHẠM NGỌC TUẤN, Phó bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Binh đoàn 16: Bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ trên mặt trận lao động sản xuất

Hơn 75 năm xây dựng và phát triển, cùng với hoàn thành chức năng của “đội quân chiến đấu, đội quân công tác”, quân đội ta luôn chủ động thực hiện tốt chức năng “đội quân lao động sản xuất”, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng kinh tế, phát triển đất nước; khẳng định truyền thống anh hùng của quân đội, phẩm chất, bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ trên mặt trận lao động sản xuất.

Binh đoàn 16 và nhiều đoàn kinh tế-quốc phòng (KT-QP) thời gian qua đã thực hiện rất tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở những địa bàn chiến lược của đất nước. Tích cực vừa làm công tác nắm địa bàn vừa làm công tác vận động đồng bào bài trừ các hủ tục lạc hậu, giúp nhân dân định canh, định cư, hình thành các thôn, bản, xã, điểm dân cư tập trung, tạo việc làm cho nhiều lao động là đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời đưa khoa học kỹ thuật vào phát triển sản xuất, làm cho đời sống của người dân được nâng lên rõ rệt.


Giáo dục truyền thống cho chiến sĩ ở Lữ đoàn 406, Quân khu 2. Ảnh: HỒNG SÁNG

Quán triệt, thực hiện chủ trương của Đại hội ĐBQĐ lần thứ XI về: Hoàn chỉnh quy hoạch, đổi mới cơ chế điều hành, đầu tư nâng cao hiệu quả hoạt động của các đoàn, khu KT-QP ở các địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo, Đảng ủy, Bộ tư lệnh binh đoàn đã xác định chủ trương, giải pháp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường tuyên truyền, giáo dục, làm cho cán bộ, chiến sĩ, người lao động trong binh đoàn nhận thức rõ vị trí, ý nghĩa, yêu cầu, tầm quan trọng của nhiệm vụ quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế. Đặc biệt là chủ trương, đề án của Chính phủ, Bộ Quốc phòng về xây dựng, phát triển khu KT-QP trong thời kỳ mới. Đảng ủy, Bộ tư lệnh binh đoàn lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trung tâm, thường xuyên nắm chắc địa bàn, phối hợp, gắn kết với địa phương và các lực lượng tích cực tham gia phát triển kinh tế-xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh công tác dân vận, mở rộng sản xuất, giúp dân xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống an sinh xã hội bền vững. 

Đại tá ĐÀO VĂN THẬP, Phó bí thư Thường trực Đảng ủy Quân sự, Chính ủy Bộ CHQS TP Hải Phòng: Chỉ tiêu thi đua cụ thể chào mừng thành công đại hội

Qua theo dõi thông tin về Đại hội đại biểu ĐBQĐ lần thứ XI trên các phương tiện thông tin đại chúng, cán bộ, chiến sĩ LLVT TP Hải Phòng rất phấn khởi trước thành công của đại hội và tin tưởng trong nhiệm kỳ 2020-2025, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng sẽ đề ra nhiều giải pháp trong lãnh đạo, chỉ đạo để thực hiện thành công nghị quyết.

Ngày 1-10, Bộ CHQS TP Hải Phòng đã phát động đợt thi đua đột kích với chủ đề "Tháng hành động mẫu mực" chào mừng thành công Đại hội đại biểu ĐBQĐ, thiết thực lập thành tích chào mừng 75 năm Ngày truyền thống LLVT Quân khu 3 (31-10-1945 / 31-10-2020). Thực hiện đợt thi đua này, cơ quan, đơn vị trong LLVT TP Hải Phòng tập trung thực hiện tốt các chỉ tiêu thi đua: Duy trì nghiêm chất lượng huấn luyện, SSCĐ, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Các ban CHQS, các đơn vị tự vệ động viên cán bộ, công nhân, người lao động khắc phục khó khăn, thi đua thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, kết hợp xây dựng lực lượng tự vệ vững mạnh... Để hoạt động thi đua mang lại hiệu quả cao, Đảng ủy, chỉ huy Bộ CHQS TP Hải Phòng chỉ đạo các cơ quan, đơn vị phải quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu ĐBQĐ, bám sát đặc điểm, nhiệm vụ của đơn vị mình, tập trung vào khắc phục khâu yếu, mặt khó. Đối với đội ngũ cán bộ các cấp, cần phát huy hơn nữa vai trò nêu gương trong lời nói và hành động để chiến sĩ học tập, làm theo. Các cơ quan, đơn vị trong LLVT TP Hải Phòng cần kết hợp chặt chẽ đợt thi đua đột kích với Phong trào Thi đua Quyết thắng, thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 87 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”...

Bộ CHQS TP Hải Phòng sẽ chủ động trong giáo dục, tuyên truyền về nhiệm vụ của quân đội, của đơn vị, những nội dung mới về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, về đối tượng, đối tác... bảo đảm cho LLVT TP Hải Phòng luôn hoàn thành tốt và xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Đại tá BÙI XUÂN TIẾN, Bí thư Đảng ủy, Phó giám đốc Công ty 15 (Quân khu 5): Đầu tư phát triển các công trình trọng điểm phục vụ quốc kế dân sinh

Đại hội đại biểu ĐBQĐ lần thứ XI đã xác định cụ thể giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, tích cực tham gia phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng đời sống văn hóa và nông thôn mới, giảm nghèo bền vững... Ngay sau thành công của Đại hội đại biểu ĐBQĐ, Đảng ủy công ty tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đầu tư phát triển các công trình trọng điểm phục vụ quốc kế dân sinh. Tiếp tục thực hiện khâu đột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có chất lượng, nâng cao năng lực quản trị năng suất lao động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; quan tâm, chăm lo đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho người lao động.



Cấp ủy và đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, luôn sâu sát cơ sở, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, năng động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Qua đó, củng cố lòng tin của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công nhân, người lao động đối với cấp ủy, chỉ huy các cấp; tạo động lực để mọi người tâm huyết, say mê lao động sản xuất, xây dựng đơn vị, địa bàn vững mạnh. Công ty coi trọng công tác vận động quần chúng nhân dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, tạo tiền đề xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Mục tiêu “gắn bó với dân” đã trở thành truyền thống của đơn vị, là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt trong công tác lãnh đạo của cấp ủy các cấp, là phương châm hành động của cán bộ, chiến sĩ, người lao động để công ty hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Cùng với chăm lo phát triển kinh tế, đời sống, tổ chức sản xuất, kinh doanh hiệu quả, công ty sẽ chủ động tích cực đóng góp vào việc củng cố thế trận quốc phòng, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Thượng tá TRẦN MINH TRỌNG, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh Đắc Lắc: Tích cực tham mưu, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục

Đại hội đại biểu ĐBQĐ lần thứ XI xác định nhiều giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD), thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Thành công của đại hội là niềm khích lệ, cổ vũ, động viên to lớn đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong toàn LLVT tỉnh Đắc Lắc.

Trước tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng ủy Quân sự, Bộ CHQS tỉnh Đắc Lắc xác định luôn quán triệt, nắm vững quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhiệm vụ của quân đội, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, diễn biến tình hình an ninh chính trị trên địa bàn. Đồng thời, tích cực tham mưu với Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh triển khai thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; lãnh đạo xây dựng nền QPTD, thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Động viên sức người, sức của, đầu tư xây dựng các tiềm lực trong khu vực phòng thủ, chú trọng xây dựng "thế trận lòng dân", tăng cường khả năng phòng thủ, SSCĐ; nâng cao hiệu quả đối ngoại quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, không để bị động bất ngờ; xây dựng bộ đội địa phương “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân, tự vệ vững mạnh, rộng khắp, độ tin cậy ngày càng cao, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ khi có tình huống xảy ra.

Để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ, Đảng ủy Quân sự, Bộ CHQS tỉnh Đắc Lắc tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nêu cao tinh thần yêu nước, tăng cường bản chất cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh; tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức giáo dục chính trị, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; quán triệt thực hiện nghiêm nghị quyết đại hội đảng các cấp; gắn việc thực hiện nhiệm vụ chính trị với đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Đại tá NGÔ CÔNG TRỰC, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Sư đoàn 312, Quân đoàn 1: Lãnh đạo thực hiện hiệu quả 4 đổi mới trong huấn luyện

Quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết Đại hội Quân đội lần thứ XI, Nghị quyết Quân đoàn 1 lần thứ X, Đảng ủy sư đoàn xác định, để tạo bước đột phá mạnh mẽ về chất lượng huấn luyện, rèn luyện bộ đội, Đảng ủy, chỉ huy sư đoàn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả 4 nội dung đổi mới trong huấn luyện: “Đổi mới tư duy nhận thức về nhiệm vụ huấn luyện; đổi mới cơ chế chỉ đạo, quản lý, điều hành huấn luyện; đổi mới về nội dung, tổ chức, phương pháp huấn luyện và đổi mới về công tác bảo đảm huấn luyện”.

Qua đó, quyết tâm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong chỉ đạo công tác chuẩn bị huấn luyện; tập huấn, bồi dưỡng cán bộ; đẩy mạnh việc nghiên cứu sáng kiến, cải tiến mô hình, học cụ và ứng dụng công nghệ thông tin vào huấn luyện, diễn tập. Tổ chức huấn luyện chặt chẽ, đúng phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, sát với phương án và đối tượng tác chiến; lấy huấn luyện cán bộ làm khâu then chốt, huấn luyện kỹ thuật chiến đấu bộ binh làm trọng tâm, huấn luyện chiến thuật tiểu đội, trung đội là chủ yếu; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với rèn luyện thể lực, nâng cao trình độ, năng lực, bản lĩnh, tâm lý cho bộ đội trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ cũng như khi có tình huống chiến đấu xảy ra. Lãnh đạo phát huy tốt vai trò của cơ quan, chỉ huy các đơn vị trong công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện, uốn nắn những yếu kém, khuyết điểm, kiên quyết chống bệnh thành tích trong huấn luyện. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng các mô hình tiểu đoàn, đại đội huấn luyện giỏi với nâng cao chất lượng huấn luyện cơ động, huấn luyện đêm và huấn luyện thể lực, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng SSCĐ của sư đoàn lên một bước mới, đáp ứng tốt với yêu cầu nhiệm vụ được giao trong điều kiện tác chiến mới.

Trung sĩ NGUYỄN MINH ĐỨC, Khẩu đội trưởng Khẩu đội 4, Trung đội 2, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Phòng không 210, Quân khu 1: Như anh em một nhà, cùng nêu cao quyết tâm phấn đấu

Chúng tôi được cấp ủy, chỉ huy đơn vị thông báo nhanh kết quả Đại hội đại biểu ĐBQĐ lần thứ XI, mọi người trong khẩu đội rất tự hào vì đã góp phần nhỏ bé của mình vào thành công của đại hội. Bởi thực hiện đợt thi đua cao điểm “Dân chủ, đoàn kết, trí tuệ, quyết thắng” chào mừng đại hội, khẩu đội tôi đã lập nhiều thành tích cao trong huấn luyện, SSCĐ, trong tăng gia sản xuất, bảo đảm vũ khí, trang bị, xây dựng cảnh quan môi trường.

Khi chỉ huy đơn vị thông tin những nội dung chính của nghị quyết đại hội, anh em trong khẩu đội đều ghi chép cẩn thận về những nội dung chính kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu ĐBQĐ lần thứ X, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng quân đội nhiệm kỳ 2020-2025. Những ngày huấn luyện trên thao trường, tôi và anh em trong khẩu đội đều nhắc nhở nhau, mỗi giờ luyện tập là một giờ chiến đấu, đường ngắm có chuẩn xác, nòng pháo dõi theo mục tiêu nhanh, kết thúc phát bắn đúng thời cơ thì cơ hội chiến thắng mới cao; từ đó xác định quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện ở mức cao nhất. Khẩu đội đã quán triệt tốt tinh thần lãnh đạo, chỉ đạo trong huấn luyện của chi bộ, chỉ huy đại đội, thực hiện đúng phương châm huấn luyện “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”, sát thực tế chiến đấu, sát chiến trường, hiểu rõ đối tượng tác chiến, nội dung các đề mục, làm chủ được khẩu pháo mình đang sử dụng và các khẩu pháo của phân đội bạn.

Những quyết tâm của Khẩu đội 4 thời gian qua sẽ được đẩy lên cao hơn, bởi chúng tôi quán triệt và quyết tâm cả khẩu đội đoàn kết như anh em một nhà, vượt khó khăn, cùng nhau cố gắng đưa chủ trương, giải pháp lãnh đạo của Đại hội đại biểu ĐBQĐ lần thứ XI về “Đổi mới nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu” đến với từng người trong khẩu đội và những khẩu pháo chúng tôi đang huấn luyện, thông qua đăng ký cam kết phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ những tháng cuối năm 2020 và thời gian tiếp theo.

Ông PHẠM HÀ TUYÊN, xã Nấm Dấn, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang: Để bộ đội ăn no, đánh thắng, dân yêu, dân quý

Cuối năm 2019, tôi có đến thăm người cháu thực hiện nghĩa vụ quân sự ở Trung đoàn 98, Sư đoàn 316 (Quân khu 2). Tôi thật bất ngờ, vì chất lượng bữa cơm của bộ đội rất tốt. Điều đặc biệt là, từ thịt, cá, trứng, rau xanh đều là sản phẩm tăng gia của đơn vị.

Nghĩ lại, ngày chúng tôi tham gia kháng chiến, chỉ ao ước có một bữa cơm ngon như của các chiến sĩ trung đoàn. Từ buổi đó, tôi tìm hiểu ở nhiều đơn vị quân đội, thấy rằng, phong trào tăng gia, sản xuất, thực hành tiết kiệm được cấp ủy, chỉ huy triển khai rất hiệu quả, nhiều nơi tự túc hoàn toàn rau xanh và thực phẩm, góp phần để bộ đội có sức khỏe tốt tích cực tham gia huấn luyện và giúp đỡ nhân dân xây dựng nông thôn mới. Từ sự trải nghiệm, tìm hiểu của tôi, qua đọc Báo Quân đội nhân dân tôi biết rằng, Đại hội ĐBQĐ lần thứ XI đã thành công tốt đẹp, trong đó có đề cập và xác định chủ trương, giải pháp lãnh đạo thực hiện tốt công tác hậu cần bảo đảm cho các nhiệm vụ.

Tôi thấy rất tự hào và phấn khởi, mong rằng, các đơn vị quân đội trên mọi miền Tổ quốc quán triệt nghiêm Nghị quyết Đại hội ĐBQĐ lần thứ XI; đã tăng gia, sản xuất tích cực rồi, cần tích cực hơn nữa, có nhiều sản phẩm ngon, sạch, bổ để bộ đội được ăn no, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao. Qua Báo Quân đội nhân dân tôi mong muốn Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân tăng gia, sản xuất cần phải mang tính bền vững, chuyên nghiệp và khoa học; tăng gia, sản xuất phải đi liền với xây dựng cảnh quan đơn vị xanh, sạch, đẹp, môi trường trong lành, hài hòa, thân thiện. Từ thực tiễn trong công tác phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua, các đơn vị quân đội phải tổ chức tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm, chăm sóc sức khỏe bộ đội. Mục đích cuối cùng hướng tới là để bộ đội ăn no, đánh thắng, dân yêu, dân quý.

 

CHĂM LO, XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ NHÀ GIÁO QUÂN ĐỘI

 

Với đặc thù hoạt động quân sự, đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục (GV, CBQLGD) trong các học viện, nhà trường quân đội vừa là người thầy truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm chiến đấu, bồi dưỡng lý tưởng, niềm tin, bản lĩnh chính trị cho người học; vừa là người đồng chí đối với học viên.

Cũng từ đó, đội ngũ những người thầy trong quân đội có vị trí, vai trò rất quan trọng. Họ chính là nhân tố cơ bản quyết định chất lượng, hiệu quả huấn luyện đào tạo; bồi dưỡng cán bộ và trực tiếp đào tạo ra các thế hệ cán bộ chính trị, quân sự góp phần tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta.

Nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của đội ngũ nhà giáo trong việc nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo (GD&ĐT), những năm qua các học viện, nhà trường quân đội đã chú trọng công tác giáo dục, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ GV, CBQLGD; bồi dưỡng mục tiêu, lý tưởng, đạo đức và lối sống, bảo đảm cho đội ngũ nhà giáo luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, có năng lực, trình độ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. 

Thời gian qua, các chế độ, chính sách đối với nhà giáo trong quân đội cũng từng bước được bổ sung, hoàn thiện. Bộ Quốc phòng đã thực hiện chế độ hỗ trợ đối với các nhà giáo có chức danh khoa học (giáo sư, phó giáo sư) và trình độ tiến sĩ. Các học viện, nhà trường quan tâm hỗ trợ vật chất, kinh phí góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục. Tuy nhiên, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong quân đội vẫn còn những hạn chế, bất cập cần khắc phục. Trong đó phải kể đến công tác triển khai quy hoạch xây dựng hệ thống nhà trường; việc xây dựng tổ chức biên chế các trường còn chậm, chưa thật sự tinh, gọn, mạnh và chính sách đãi ngộ chưa thu hút được cán bộ giỏi về làm giảng viên tại một số học viện, nhà trường...

Để đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới thì điểm mấu chốt là việc triển khai đồng bộ các giải pháp để xây dựng đội ngũ GV, CBQLGD có phẩm chất, năng lực toàn diện; có trình độ học vấn tương xứng bậc giảng dạy; có khả năng sư phạm, kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu khoa học và tâm huyết với nghề... Muốn có được điều đó thì cùng với kiện toàn lại tổ chức biên chế của các học viện, nhà trường, kiện toàn đội ngũ GV, CBQLGD đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng… cần chú trọng quy hoạch đội ngũ nhà giáo bảo đảm tính vững chắc, đáp ứng nhiệm vụ cả trước mắt và lâu dài; gắn việc điều động, bổ nhiệm với lựa chọn đi đào tạo và bồi dưỡng nguồn kế cận, kế tiếp. Đồng thời, lựa chọn, bồi dưỡng, quy hoạch, nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, chuẩn hóa đội ngũ giảng viên; cử các đồng chí giảng viên có hướng phấn đấu tốt đi học tập nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Quân ủy Trung ương về đổi mới công tác GD&ĐT, việc đổi mới quy trình, chương trình đào tạo giáo viên theo yêu cầu chuẩn hóa một cách toàn diện mang tính hiện đại sẽ tạo ra bước đột phá về chất lượng GD&ĐT. Để từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ GV, CBQLGD thì việc gắn kết giữa đào tạo chính quy, gửi đi đào tạo và tự đào tạo; tạo điều kiện để các nhà giáo phát huy tính chủ động trong lao động và thực hành sư phạm... của các học viện, nhà trường cũng sẽ là những giải pháp hữu hiệu. Về phần mình, từng GV, CBQLGD cũng cần liên tục nêu cao tinh thần tự học, tự bồi dưỡng, tạo lập cách dạy khoa học, tiến bộ, nâng cao năng lực xử lý thông tin, phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo của người học. Các nhà giáo cũng cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ thuật mô phỏng phục vụ công tác giảng dạy... đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong GD&ĐT tại các nhà trường quân đội...


Người cán bộ gương mẫu, người giảng viên tâm huyết với sự nghiệp “trồng người”

Đại tá, Thạc sĩ Nguyễn Quang Thái - Bí thư chi bộ, Phó Chủ nhiệm Khoa Sư phạm quân sự - sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, với "Tiếng sấm Đường 5” của thời kỳ kháng chiến chống Pháp; những chiến công vang dội trong chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, đọng lại là hình ảnh cô gái du kích Lai Vu “rắn quấn bên chân vẫn bắn thù". Phát huy truyền thống quê hương, tháng 7 năm 1982, anh thi đậu và vào học đào tạo sĩ quan tại Trường Sĩ quan Lục quân 1, sau 3 năm học tập và rèn luyện, đến tháng 7 năm 1985, anh tốt nghiệp, trở thành giáo viên. Trên cương vị công tác mới, anh luôn tích cực học tập, rèn luyện để trở thành giáo viên giỏi của Khoa Chiến thuật; với nhiệt huyết nghề nghiệp, vì sự nghiệp xây dựng Quân đội, anh đã đem hết tâm trí và sức lực của tuổi trẻ cống hiến cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo lớp sĩ quan trẻ của Quân đội.

Tháng 9 năm 1998, anh được tuyển chọn đi học lớp đào tạo cán bộ chỉ huy - tham mưu trung, sư đoàn bộ binh và lớp giảng viên tại Học viện Lục quân. Trải qua gần 3 năm học, với tấm bằng tốt nghiệp loại Giỏi của khóa đào tạo giảng viên chiến thuật (V31), anh được điều động về làm giảng viên Khoa Phương pháp huấn luyện (nay là Khoa Sư phạm quân sự), Học viện Lục quân.

Trong cuộc đời binh nghiệp, thời điểm khó khăn nhất của Đại tá, Thạc sĩ Nguyễn Quang Thái là ở môi trường công tác mới, tuy đã có nhiều kinh nghiệm trong huấn luyện nhưng đối tượng học viên, nội dung giảng dạy khác nhiều so với đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở Trường Sĩ quan lục quân 1; mặt khác gia đình mới chuyển từ quê vào, vợ không có việc làm ổn định, các con còn nhỏ, phải đi thuê nhà ở, đồng lương nhiều khi không đủ trang trải sinh hoạt. Nhưng với quyết tâm và nghị lực, anh đã khắc phục mọi khó khăn, tích cực nghiên cứu học tập nâng cao năng lực sư phạm, tích lũy kinh nghiệm trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Để nhanh chóng nắm bắt nội dung, anh không quản ngày nghỉ, giờ nghỉ thục luyện bài giảng trước khi đứng lớp, luôn phấn đấu và tự khẳng định vị thế của mình trong công tác, từng bước trưởng thành để trở thành giảng viên nòng cốt của khoa; đóng góp nhiều công sức trong việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị trung tâm của khoa cũng như của Học viện Lục quân.



Với tinh thần ham mê học hỏi, tích cực trong hoạt động nghiên cứu khoa học, tháng 7 năm 2008, sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo thạc sĩ quân sự, anh về lại khoa công tác. Bằng kinh nghiệm và kiến thức tiếp thu được sau 2 năm nghiên cứu, năng lực, nghiệp vụ chuyên môn của anh đã thực sự chín muồi về mọi mặt. Anh đã trở thành chỗ dựa đáng tin cậy để các lớp giảng viên trẻ học tập, noi theo về nghiệp vụ sư phạm, nghiên cứu khoa học và đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác giảng dạy. Anh thường được Học viện tin cậy giao đảm nhiệm bồi dưỡng nội dung, phương pháp huấn luyện, biên soạn bài giảng điện tử... cho cán bộ, giảng viên toàn Học viện. Trực tiếp hoặc tham gia biên soạn hàng chục tài liệu, giáo trình và đề tài cấp Bộ, cấp ngành, làm cơ sở cho học viên nghiên cứu, học tập; trong sinh hoạt, anh luôn hòa đồng với đồng nghiệp, với học viên, giải quyết tốt các mối quan hệ trong, ngoài đơn vị; gương mẫu trong thực hiện "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", luôn là một cá nhân tiêu biểu dẫn đầu trong phong trào thi đua quyết thắng của Khoa và Học viện.

Với những thành tích xuất sắc trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học, từ năm học 2010 - 2011 trở lại đây, anh đã được Bộ Quốc phòng tặng 2 bằng khen; là đại biểu điển hình tiên tiến của Học viện Lục quân tham dự Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ IX tại Hà Nội vào tháng 6 năm 2015; là một trong 7 giảng viên của Học viện đạt Danh hiệu Nhà giáo giỏi cấp Bộ Quốc phòng năm 2015; 4 lần đạt Danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở và nhiều bằng khen, giấy khen trong các hoạt động của Học viện. Tháng 7 năm 2019, anh được Nhà nước Dân chủ nhân dân Lào tặng Huân chương Hữu nghị, vì đã có thành tích đóng góp trong sự nghiệp xây dựng quân đội nhân dân Lào.

Trong anh vẫn còn nhiều suy nghĩ tâm tư về tạo nguồn, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên thông qua các khóa đào tạo giảng viên chiến thuật cấp trung, sư đoàn của Học viện, nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên đạt tiêu chuẩn của thời đại 4.0, có chất lượng cao về năng lực sư phạm, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, đáp ứng với yêu cầu xây dựng "Nhà trường thông minh" . Trên cương vị lãnh đạo, chỉ huy đơn vị thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm là giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học, anh thường trăn trở: "Làm cách nào để nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học phương pháp huấn luyện và nghiên cứu khoa học cho các đối tượng học viên, khi mà đội ngũ giảng viên của khoa còn thiếu về số lượng, một số đồng chí còn hạn chế về kinh nghiệm sư phạm". Chính vì vậy,  cho dù công việc nhiều nhưng anh vẫn luôn cố gắng sắp xếp thời gian trực tiếp tham gia giảng dạy, thường xuyên dự giờ để nắm chất lượng và bồi dưỡng, thống nhất phương pháp cho giảng viên, nhất là số giảng viên mới, ít kinh nghiệm. Với nhiều năm kinh nghiệm trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học, anh đã cùng cấp ủy, chỉ huy khoa nghiên cứu đề xuất nhiều giải pháp hoàn thiện nội dung, chương trình huấn luyện phù hợp với các đối tượng; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp giảng bài, tập bài nhằm nâng cao năng lực, phương pháp công tác, tác phong chỉ huy của học viên. Tích cực nghiên cứu, cập nhật thông tin vào trong từng nội dung bài giảng, nghiệp vụ chuyên môn, góp phần xây dựng đội ngũ giảng viên Khoa Sư phạm quân sự thực sự trở thành "thầy của thầy".

Đại tá, Thạc sĩ Nguyễn Quang Thái thật sự là tấm gương sáng, là bông hoa tươi thắm trong vườn hoa của phong trào thi đua quyết thắng giai đoạn 2014-2019 ở Học viện Lục quân; không những vậy, anh còn là người cán bộ gương mẫu, thực sự tâm huyết với sự nghiệp "trồng người", và còn là một đảng viên luôn tự học, tự rèn, phấn đấu thường xuyên, liên tục theo "tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", xứng đánh với niềm mong đợi của cán bộ, giảng viên Khoa Sư phạm quân sự nói riêng, Học viện Lục quân nói chung./.

LXK_BHC

PHẢI GIỮ CHO ĐƯỢC TƯ CÁCH, ĐẠO ĐỨC ,DANH DỰ CỦA NGƯỜI ĐẢNG VIÊN ,NGƯỜI CÁN BỘ CÁCH MẠNG ,



Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị tổng kết công tác tổ chức Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025.

Cảnh giác trước chiêu trò mượn danh của tổ chức khủng bố Việt Tân

Thời gian qua, nhằm tránh những cáo buộc liên quan đến khủng bố, Việt Tân đã sử dụng nhiều chiêu trò, thủ đoạn tinh vi hơn để tiếp cận, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người dân. Nổi lên gần đây nhất chính là việc thành lập tổ chức RISE, hoạt động dưới danh nghĩa là một tổ chức phi lợi nhuận, phi chính phủ (NGO) trong lĩnh vực môi trường.

Chân tướng các quỹ nhân danh “dân chủ”

 Tương thân tương ái, giàu tinh thần thiện nguyện là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay. Vậy nhưng thời gian qua, một số tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài nước đã lợi dụng ý nghĩa nhân văn này tạo dựng một số quỹ mang danh thiện nguyện làm vỏ bọc để tài trợ, cung cấp kinh phí cho hoạt động chống đối chính quyền và hành vi phạm tội nhằm thực hiện mục đích đen tối...

Mánh khóe tinh vi của “Việt Tân”

 Để chống phá Việt Nam, “Việt Tân” đã lợi dụng tình hình dịch COVID-19 để chỉ đạo RISE lên kế hoạch quyên góp khẩu trang và dung dịch sát khuẩn để hỗ trợ cho gia đình số phạm nhân đang chấp hành án phạt tù và số đối tượng có quan hệ với “Việt Tân” ở miền Bắc và miền Trung...

Lợi dụng góp ý dự thảo các văn kiện Đại hội XIII để kích động chống phá Đảng, Nhà nước

 Trong khi đông đảo các tầng lớp nhân dân đang có những ý kiến đóng góp tâm huyết, trách nhiệm vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng thì vẫn còn một số người cố tình lợi dụng việc đóng góp ý kiến để xuyên tạc, tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch. Vì vậy, việc nhận diện một cách đầy đủ âm mưu, ý đồ, thủ đoạn của các đối tượng từ đó chủ động triển khai các công tác, biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn là rất cần thiết khi Đại hội XIII của Đảng đang đến gần.

Các thế lực thù địch tăng cường chống phá Đại hội XIII của Đảng

 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là sự kiện chính trị có ý nghĩa trọng đại của đất nước. Thời điểm đại hội cận kề, các thế lực thù địch càng tăng cường các hoạt động chống phá, tung ra luận điệu xuyên tạc, sai trái nhằm làm suy giảm niềm tin, phá hoại Đại hội XIII của Đảng. 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Đại đoàn kết là chủ trương chiến lược, có ý nghĩa sống còn

 

Theo Tổng bí thư, Chủ tịch nước, tinh thần đoàn kết được xác định là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam.

CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, TIÊU CỰC ĐÃ TRỞ THÀNH PHONG TRÀO, XU THẾ

     Thời gian qua, công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) đã có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định, “công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã trở thành phong trào, xu thế”, được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình, hưởng ứng, đánh giá cao, được các tổ chức quốc tế ghi nhận. Tham nhũng đang từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Đó là đã tập trung chỉ đạo công tác phát hiện và xử lý tham nhũng, kết hợp giữa xử lý hành chính, xử lý kỷ luật của Đảng, của Nhà nước, của đoàn thể với xử lý hình sự; kỷ luật của Đảng được thực hiện trước, mở đường, tạo điều kiện cho kỷ luật của Nhà nước, của đoàn thể và xử lý hình sự, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán của Nhà nước được tăng cường, phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác PCTN. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.370 cán bộ, đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái; Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, cấp ủy có thẩm quyền xử lý kỷ luật hơn 90 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý. Đây là bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước. Các cơ quan thanh tra, kiểm toán tăng cường thanh tra, kiểm toán các lĩnh vực có nhiều biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, các dự án gây thất thoát, thua lỗ lớn, kéo dài, dư luận xã hội quan tâm để phát hiện và xử lý nghiêm các sai phạm. Từ năm 2016 đến nay, qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi, xử lý gần 455 nghìn tỷ đồng và hơn 8.100ha đất; kiến nghị xử lý trách nhiệm gần 8.000 tập thể, cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xử lý 409 vụ việc sai phạm.

Công tác điều tra, truy tố, xét xử được chỉ đạo quyết liệt, đẩy nhanh tiến độ, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, với mức án nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân văn, tạo bước đột phá trong công tác PCTN. Từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng trong cả nước đã khởi tố, điều tra 12.178 vụ/20.668 bị can, truy tố 10.397 vụ/20.354 bị can, xét xử sơ thẩm 9.918 vụ/19.026 bị cáo về các tội tham nhũng, trật tự quản lý kinh tế và tội phạm khác về chức vụ. Ban Chỉ đạo đã đưa 120 vụ án, 95 vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo (trong đó, Ban Chỉ đạo 110 được thành lập theo Quyết định số 110-QĐ/TW, ngày 24/01/2018, của Ban Bí thư theo dõi, chỉ đạo xử lý 10 vụ án/68 bị can liên quan đến Phan Văn Anh Vũ và Đinh Ngọc Hệ); đã xét xử sơ thẩm 76 vụ/775 bị cáo, tuyên phạt 11 bị cáo (10 người) tử hình, 23 bị cáo (22 người) tù chung thân, 12 bị cáo mức án 30 năm tù, 23 bị cáo mức án từ 20 năm đến dưới 30 năm tù, 658 bị cáo từ 12 tháng đến dưới 20 năm tù. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, xử lý nghiêm minh, có lý, có tình một số cán bộ cao cấp cả đương chức và đã nghỉ hưu, có vi phạm liên quan đến các vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp khởi tố, điều tra 7.270 vụ/12.303 bị can, truy tố 5.976 vụ/11.613 bị can, xét xử sơ thẩm 5.641 vụ/10.970 bị cáo về các tội tham nhũng, trật tự quản lý kinh tế và tội phạm khác về chức vụ, qua đó, tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” đang dần được khắc phục; việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án tham nhũng, kinh tế có nhiều chuyển biến tích cực. Một số vụ án, vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, mà lâu nay được cho là “vùng cấm, nhạy cảm”, và nhiều vụ, việc kéo dài từ những năm trước đã được chỉ đạo xử lý dứt điểm, nghiêm minh, có tác dụng cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa tham nhũng có hiệu quả. Đây là điểm sáng trong cuộc đấu tranh PCTN, thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước cũng như hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và các cơ quan chức năng trong cuộc đấu tranh PCTN vừa qua, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao.

Từ sau Hội nghị Trung ương 11 (tháng 10/2019) đến tháng 5/2020, đối với các vụ việc, vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng theo dõi, chỉ đạo, đã kết thúc điều tra 13 vụ/79 bị can, truy tố 15 vụ/105 bị can, xét xử sơ thẩm 19 vụ/106 bị cáo, nhất là: 1- Lần đầu tiên xét xử công khai, nghiêm minh 2 cán bộ nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên bộ trưởng về tội nhận hối lộ và lãnh đạo doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước về tội đưa hối lộ trong vụ án MobiFone mua 95% cổ phần của AVG (Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn cầu); 2- Xét xử 2 cán bộ nguyên chủ tịch, 2 cán bộ nguyên phó chủ tịch ủy ban nhân cấp tỉnh phạm tội liên quan đến các sai phạm trong quản lý sử dụng tài sản nhà nước, quản lý đất đai trong vụ án Phan Văn Anh Vũ; 1 cán bộ nguyên thứ trưởng phạm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng; 1 cán bộ nguyên thứ trưởng do hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong vụ án Đinh Ngọc Hệ;... 3- Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 2 tổ chức đảng, 12 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý; 4- Các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương đã khởi tố 268 vụ án/475 bị can; truy tố 105 vụ/163 bị can; xét xử 127 vụ/268 bị cáo về các tội tham nhũng.

Có được kết quả trên là do sự vào cuộc của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, như lời đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng yêu cầu: “Phải tập trung vào làm, hành động, thực hiện, không chỉ là lời nói, trên giấy tờ, hô hào chung chung, mà phải bằng những việc làm hết sức cụ thể, thiết thực, hiệu quả, nhìn thấy được trong thực tế”./.

CẦN CÓ THÁI ĐỘ TÍCH CỰC, ĐÚNG ĐẮN KHI TIẾP CẬN THÔNG TIN TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Sự phát triển của mạng xã hội trên internet đã và đang góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của một xã hội thông tin. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh sự tác động của mạng xã hội đến đời sống của con người có tính hai mặt. Bên cạnh những tác động tích cực, mạng xã hội cũng gây ra không ít những tác động tiêu cực, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, đặc biệt trong bối cảnh các thế lực thù địch, phản động đang lợi dụng sự phát triển của mạng xã hội để tiến hành chống phá cách mạng Việt Nam.

Hiện nay các mạng xã hội đã thu hút được rất nhiều người tham gia, trong đó tỷ lệ đảng viên sử dụng facebook khá cao. Chúng ta thấy bên cạnh một số đảng viên tự tin đăng tải, chia sẻ thông tin, hình ảnh từ các trang chính thống và thể hiện quan điểm, chính kiến của mình về một vấn đề nào đó ... thì vẫn còn không ít người thờ ơ, phớt lờ cả những vấn đề nóng mà xã hội đang quan tâm, "thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không lên án" . Vai trò của nhiều đảng viên trên không gian mạng dường như khá mờ nhạt, họ lặng lẽ vào mạng, dò, tìm, đọc ... rồi lặng lẽ rút lui như chưa hề hay biết. Với những bài hay, tích cực, nguồn chính thống, đàng hoàng cũng không thấy họ share, comment hay bấm like. Với các thông tin tiêu cực, bức xúc, tệ nạn xã hội đang nóng hổi cũng chẳng thấy họ có ý kiến gì hoặc bấm unlike! Xem, đọc rồi lặng lẽ cho qua khác nào đồng tình, ủng hộ thông tin xấu độc bởi mặc nhiên được hiểu: “làm thinh là nhất trí ” mà. Đúng là một thái độ dửng dưng, vô cảm đến lạnh lùng. Ngược lại, đối diện với những thông tin giả mạo, hiện tượng xuyên tạc bản chất, không dễ phân biệt phải / trái, đúng / sai, hay / dở, … không ít người chưa suy xét kỹ đã vội comment hoặc bấm like, share, … vô tình góp phần làm gia tăng ô nhiễm không gian mạng và cách hành xử như thế còn tệ hại hơn thái độ dửng dưng, vô cảm, “mũ ni che tai” của những người kia.

Dự báo trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ còn tiếp tục đẩy mạnh việc chống phá Đảng, phá hoại công cuộc đổi mới đất nước trên mạng xã hội, gây tâm lý hoang mang, dao động, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Do vậy để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng chúng ta cần phải xác định rõ nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm; nghĩa vụ của mỗi cán bộ, đảng viên do vậy mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, nâng cao nhận thức và kỹ năng của mình trong việc sử dụng internet và mạng xã hội. Chủ động, tự giác chia sẻ, bình luận các bài viết phản ánh những thông tin tích cực, giới thiệu những điển hình tập thể, cá nhân tiêu biểu trong các phong trào thi đua yêu nước của địa phương, đơn vị. Phát hiện và phản bác kịp thời những quan điểm sai trái, thông tin xấu độc, có những bài viết định hướng cho đảng viên và nhân dân trước những vấn đề được dư luận quan tâm, tạo sức lan tỏa rộng rãi “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”. Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, tiên phong, gương mẫu, thể hiện tinh thần kiên quyết trong đấu tranh với các thế lực thù địch, nhất là trên mạng xã hội, góp phần tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.  Cán bộ, đảng viên phải là những nhân tố, những "tương tác viên" tích cực trong xây dựng khối đoàn kết toàn dân, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam ngay trên không gian mạng./.

SỰ THẬT CỦA NHỮNG NGƯỜI NGHÈO

 Tết Nguyên Đán 1962 một  tháng trước tết, Bác Hồ gọi cục phó Cục Cảnh vệ Phan Văn Xoàn lên giao một nhiệm vụ đặc biệt mà chỉ có hai bác cháu biết: “Chú tìm cho bác một gia đình nghèo nhất ở Hà Nội, bác sẽ đi thăm họ lúc giao thừa!”.

Tôi có một tháng để đi khắp Hà Nội tìm cho ra một người nghèo nhất. Hà Nội ngày ấy không giàu, nhưng để tìm ra người “nghèo nhất” vẫn là một thách đố đặc biệt. Tôi liên hệ nhiều nơi, gặp nhiều người vẫn chưa xác định được ai “nghèo nhất”. Cho đến một ngày, một anh công an địa bàn gọi bảo tôi thử tới thăm một người phụ nữ gánh nước thuê ở khu vực anh. Chúng tôi ghé vào một ngõ sâu trên phố Hàng Chĩnh, đó là một ngôi nhà tăm tối, phên liếp tạm bợ, bên trong chỉ có một chiếc giường tre và vài ghế gỗ lăn lóc. Bàn thờ lạnh tanh hương khói, mạng nhện bao phủ - dù đang là những ngày giáp tết. Có bốn đứa trẻ đang nằm ngồi vật vạ chờ mẹ mang gạo về. Chúng đói. Chủ ngôi nhà ấy là một người phụ nữ ngoài 40 tuổi, tên Nguyễn Thị Tín, góa chồng. Chị vốn là công nhân thất nghiệp và từ lâu nay sống bằng nghề gánh nước thuê. Với chị, tương lai và sự nghiệp của gia đình chỉ là con số 0. Tôi báo cáo rằng nhiệm vụ Bác giao tôi đã làm xong. Bác gật đầu.

Tối giao thừa ấy, như thường lệ, Bác Hồ đi với đại diện Thành ủy Hà Nội thăm vài gia đình trong kế hoạch. Khoảng 11 giờ tối, Bác nháy mắt với tôi ngụ ý: giờ đến chương trình của hai bác cháu mình. Chúng tôi tách đoàn, gồm năm người: Bác, người thư ký, một cán bộ địa phương, tôi và một vệ sĩ khác - cùng hướng về phố Hàng Chĩnh. Bác mặc áo bông, quần vải gụ, đi dép cao su, đội mũ len đen và quấn khăn choàng cổ. Không hóa trang nhưng phải nhìn kỹ một tí mới nhận ra Bác được. Xe dừng ngoài ngõ cách 200 mét, cả đoàn phải đi bộ vào. Tôi đi trước, gần giờ giao thừa, hương đèn thắp sáng trên mọi bàn thờ. Con hẻm thật vắng và từ đằng xa, tôi thấy bóng chị Tín đang quảy đôi quang gánh đi ngược ra ngoài phố. Ngang mặt, tôi đứng lại và hỏi nhỏ: “Chị Tín phải không?”. “Vâng ạ!”. “Sắp giao thừa chị còn đi đâu?”. “Tôi tranh thủ gánh thêm vài gánh lấy ít tiền mua quà bánh tết cho các cháu, anh ạ!”. “Chị về đi, có khách ghé thăm!”.

Người phụ nữ nghèo khổ xoay người lại nhìn những vị khách, rồi chị bàng hoàng buông rơi đôi quang gánh, chạy bổ tới, quì xuống, ôm choàng lấy chân vị lãnh tụ rồi khóc nấc lên: “Trời, sao Bác lại đến thăm nhà cháu?”. Bác Hồ rưng nước mắt: “Nhà cháu mà không đến thì đến nhà ai!”. Mọi người im lặng. Tôi, thêm một lần nữa, ngước nhìn vị lãnh tụ đất nước mình, thấy Người cao hơn tất cả. Vào nhà, chúng tôi chia nhau thắp nhang đèn, bày quà bánh Bác dặn mang theo, chia một ít cho bốn đứa trẻ đang ngồi chờ mẹ trên chõng tre giữa nhà. Căn nhà bừng sáng, Bác quay sang hỏi về những đứa trẻ: Các cháu có đi học không? Chị Tín ngập ngừng: “Thưa, có ạ, nhưng thất thường lắm, ngày có ngày không. Chồng mất, cháu thất nghiệp, gánh nước thuê…”. Hỏi: Gánh nước thuê có đủ sống không? Ðến đây thì chị òa khóc: “Lo cái ăn từng ngày thôi, thưa Bác!”. “Giờ cháu có muốn làm việc không?”. “Thưa Bác, hoàn cảnh cháu thì không biết nói sao nữa, cháu muốn có chỗ làm để nuôi con, nhưng tứ cố vô thân, ai nhận cháu?”. Bác gật đầu không nói gì. Gần 12 giờ, mọi người chúc tết chị Tín và ra về. Lúc này ngoài đầu ngõ, tin Bác Hồ đến thăm nhà mẹ góa con côi của chị Tín đã bất ngờ lan truyền. Hàng xóm rủ nhau khoảng mấy chục người dân đứng chật trong ngõ chờ Bác ra. Tôi hơi bối rối. Bất thình lình Bác bước lại phía mọi người, tiếng vỗ tay vang lên. Chờ mọi người im lặng, Bác nói: “Bữa nay Bác vui vì tình cờ gặp các cụ, các cô chú, nhưng Bác cũng rất buồn vì mới từ nhà cô Tín ra. Giờ này sắp giao thừa, các cô chú có biết cô Tín còn đi gánh nước thuê không? Tại sao cả một khu phố vầy mà không thấy ai quan tâm đến một gia đình như cô Tín?”. Im lặng, một đại diện khu phố nhận lỗi, hứa sẽ quan tâm nhà chị Tín. Bác tiếp tục: “Bác muốn nói về tinh thần “lá lành đùm lá rách” trong khu phố, nhưng cái lớn nhất vẫn là trách nhiệm của Chính phủ...”.

Bước lên xe, đó là năm đầu tiên tôi thấy đi chúc tết người dân về mà Bác thật buồn. Người quay sang nói: “Các chú thấy chưa? Hôm nay mình đã đi đúng người thật việc thật rồi, nếu mà mình báo trước với thành phố, hỏi nhà nào nghèo nhất thì chắc chắn không phải là nhà cô Tín rồi…”. Về nơi Bác ở, Bộ Chính trị đã tập họp để chúc tết Bác và cùng đón giao thừa. Bác ngồi vào ghế, mọi người ngồi xung quanh. Bác im lặng tí rồi nói từ từ: “Bữa nay tôi có một chuyến thăm một nhà nghèo nhất thủ đô Hà Nội. Cô Tín, chủ nhà, giờ này còn phải đi gánh nước thuê để có tiền mai mua gạo cho con. Chúng ta đã quá quan liêu để không biết những câu chuyện như vậy ở ngay tại thủ đô đất nước mình. Tôi biết không chỉ có một nhà như chị Tín đâu, người nghèo còn nhiều. Một đảng cầm quyền mà để người dân mình nghèo hết còn chỗ để nghèo thì đó là lỗi của Ðảng với nhân dân...”.

Trong đời, tôi có một thập niên làm cận vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Câu chuyện chị Tín chỉ là một trong những câu chuyện tôi không thể nào quên. Không quên, vì tôi còn theo dõi cho đến khi chị Tín được bố trí một việc làm phù hợp. Không quên, vì câu chuyện ấy cũng chỉ là một trong nhiều chuyến “vi hành” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã âm thầm đến với những người dân nghèo trong những ngõ ngách của thủ đô Hà Nội và các tỉnh thành của miền Bắc thời bấy giờ. Không quên, vì tôi nghiệm ra ý nghĩa lớn lao nhất của lãnh tụ gửi gắm với mình: “Khi tôi báo cáo Bác đã tìm ra được gia đình nghèo nhất Hà Nội cho Bác, Bác hỏi tôi có biết tại sao phải tìm nhà nghèo nhất? Rồi Người tự trả lời: “Tại Bác muốn nhìn thấy sự thật. Nếu để thành ủy sắp xếp năm nào cũng thấy toàn cái tốt. Những nhà Bác ghé đều là những ngôi nhà khá giả, sạch sẽ, quà bánh sẵn sàng. Vui nhưng không thể hài lòng vì biết mọi người đã được sắp xếp!”. Té ra, điều mà Người cần tìm trong dịp tết ấy chính là một sự thật đúng với ý nghĩa của nó: sự thật của những người nghèo!

Theo: Lời kể của Thiếu tướng Phan Văn Xoàn

- nguyên là cận vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2020

Bác sống như trời đất của ta

Tháng năm tím màu hoa bằng lăng, đỏ trời hoa phượng. Ta lại nhớ ngày sinh nhật Bác, lại nhớ câu thơ “Bác sống như trời đất của ta” khi Tố Hữu viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Trời đất của ta” là quê hương đất nước, là xứ sở thân yêu vô cùng tươi đẹp, rộng lớn và vĩnh hằng. Cuộc đời 79 mùa xuân và đời sống của Bác được so với trời đất của ta cho thấy tầm vóc lớn lao và cao cả của Người. Đó là sự nghiệp cách mạng cứu nước, cứu dân, là lí tưởng và đạo đức cách mạng, là tâm hồn trong sáng, thanh cao, thoát khỏi mọi ràng buộc của danh lợi vươn tới cao cả, vô cùng. Là chiến sĩ “Mong manh áo vải, hồn muôn trượng”. Là một lãnh tụ “Một đời thanh bạch, chẳng vàng son”. Là người con Việt Nam có tên Ái Quốc “ôm cả non sông, mọi kiếp người”. Khó có chân dung nhân cách và phong cách sống nào của Bác lại được vẽ bằng ngôn từ chuẩn xác do người học trò xuất sắc và thân cận, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, chói sáng mà không làm ai choáng ngợp, mới gặp lần đầu đã cảm thấy thân thiết từ lâu. Không phải chỉ chúng ta cảm nhận như vậy mà biết bao tấm lòng bạn bè quốc tế đến Việt Nam, có may mắn tiếp xúc với Bác cũng đều có tâm trạng xúc động về điều đó. Một đời thanh bạch chẳng vàng son Ai đã từng đến ngôi nhà sàn của Bác ở Hà Nội đều có thể hình dung và chiêm ngưỡng cuộc sống bình dị, tao nhã, bên nếp nhà sàn, vườn rau, ao cá. Sẽ chẳng ai quên được dáng Bác ung dung, thư thái, với chòm râu bạc, đôi mắt sáng, chiếc áo cánh rộng màu nâu non, khuy ngực không cài, nhẹ nhàng nâng niu từng bông nhài, cành ngâu trước mái nhà tràn nắng vàng, gió xôn xao. Không một ai đến thăm nơi ở khiêm nhường này mà không trào dâng nguồn cảm xúc trước sự vĩ đại của một con người đã trở thành huyền thoại ngay cả cuộc sống đời thường của mình. Căn nhà sàn mộc mạc, màu gỗ nâu bóng, ẩn sau những lùm cây xanh, hoa nắng đung đưa chan hoà trên con đường sỏi dẫn đến bên cầu thang tao nhã. Rất đỗi đơn sơ, quanh năm phảng phất hương thơm của hoa vườn và lộng gió. Ngôi nhà bên bờ ao, cá nhỏ lao xao quẫy sóng sớm chiều, hàng bụt mọc thẳng tắp nghiêm trang canh cho giấc ngủ của Người. Ngày nay, ngôi nhà của Bác là địa danh hành hương của hàng triệu đồng bào dân tộc Việt Nam, khắp các miền đất nước, là một điểm đến thăm viếng và tham quan của các đoàn khách quốc tế, các bạn bè năm châu đến Hà Nội. Và dẫu có hạn hẹp thời gian, các vị nguyên thủ các quốc gia đến Hà Nội không thể không dừng chân nơi căn nhà Bác để chiêm ngưỡng nơi có thể thấy một vùng đất, trời Việt Nam, nơi ghi lại tầm vóc vĩ đại của một dân tộc anh hùng, một danh nhân văn hoá của thời đại. Nhà báo Uyn-phờ-rết Bớc-sét, người Ô-xtrây-li-a từng lăn lộn khắp Việt Nam, khi thăm nhà Bác đã không kìm được thắc mắc mà hỏi Người rằng: “Văn phòng của Chủ tịch ở đâu?”. Câu trả lời của Bác làm ông càng kinh ngạc: “Trời tối thì ngồi ở ngoài hiên, khi nào mưa thì ở trong buồng ngủ”. Xúc động trước sự đơn giản, tiết kiệm của Bác, nhà thơ Cu-ba Phê-lix Ro-đờ-ri-gết đã tả lại: “Người chỉ sử dụng cho mình những gì tối cần thiết, chứ không phải là bất cứ cái gì cần thiết. Chiếc giường, chiếc tủ, chiếc bàn, chiếc ghế, cái giá sách. Những thứ cần cho công việc và nghỉ ngơi để lấy lại sức làm việc, chỉ có thế thôi, không gì hơn”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: Con người của Bác, đời sống của Bác giản dị như thế nào, mọi người đều biết: bữa cơm, đồ dùng, cái nhà, lối sống… Cái nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng và trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại, thì cái nhà nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn, một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao Trong suốt cả chặng đường kháng chiến gian khổ, sống kham khổ thiếu thốn, nhưng ngay cả khi về Thủ đô, Bác vẫn sống đơn giản, tiết kiệm. Quần áo của Bác chỉ có vài bộ, may cùng kiểu, sau khi may xong đều nhuộm cùng màu gụ. Khi cổ áo bị sờn, anh em đề nghị thay, Bác bảo: “Cả cái áo chỉ sờn chỗ cổ mà vứt đi thì không được, các chú chịu khó tháo cổ rồi lộn phía trong ra ngoài, may lại vẫn lành như mới ”. Khi về Hà Nội Bác vẫn dùng dép cao su, nhưng đôi dép của Bác dùng đã lâu, sửa lại nhiều lần phải đóng đinh giữ cho quai khỏi tuột. Các đồng chí phục vụ mua cho Bác đôi dép lốp mới nhưng Bác nói: “Khi nào không sửa được hẵng hay, giờ mua đôi khác không cần thiết vì vẫn dùng được. Dân ta còn nghèo, mỗi người kể cả Chủ tịch nước cũng phải tiết kiệm”. Nâng niu tất cả chỉ quên mình Sinh thời, Bác Hồ đã nhiều lần tặng lụa cho các cụ phụ lão, tặng chăn, áo cho chiến sỹ, tặng đường sữa cho em thơ, tặng quà cho thương binh... không ai có thể thống kê hết. Trên giường bệnh, Người còn nhắc: “Nhân dịp Quốc khánh nhớ tặng lụa cho các cụ phụ lão, tặng đường sữa cho những bà mẹ sinh hai, sinh ba...”. Người thương yêu, lo lắng, giáo dục, gần gũi với nhân dân với tấm lòng bao la như biển rộng. Cho dù bận trăm công nghìn việc, Bác vẫn dành tình thương yêu và tấm lòng nhân hậu cho những người có hoàn cảnh khó khăn. Vào đêm giao thừa của Tết đầu tiên sau ngày nước nhà giành được độc lập (1946), Bác và đồng chí thư ký đi thăm một gia đình trong một ngõ nhỏ trên phố Sinh Từ, Hà Nội. Đó là nơi ở của một người kéo xe thuê ở tỉnh khác về làm ăn. Do không đủ tiền về quê ăn Tết, lại bị ốm, đang lên cơn sốt, người kéo xe thuê đón giao thừa mà trong phòng ở không có gì. Bác đứng lặng nhìn người kéo xe với tất cả lòng thương cảm. Sau khi thăm hỏi, Bác dặn đồng chí thư ký hôm sau mang thuốc và quà Tết đến chia sẻ, động viên. Giao thừa Tết Nhân Dần (1962) Bác thăm gia đình chị Nguyễn Thị Tín, người gánh nước thuê ở ngõ 16, Lý Thái Tổ, Hà Nội. Hoàn cảnh của chị rất vất vả, chồng mất sớm, một mình chị tần tảo nuôi bốn con nhỏ, nên đêm 30 Tết rét buốt mà chị vẫn phải đi gánh nước thuê. Năm 1967, Không quân của Mỹ đánh phá Hà Nội rất ác liệt. Lúc này Bác vẫn làm việc tại Thủ đô. Mùa hè trời nắng như đổ lửa. Bác thường hỏi bộ đội Phòng không, đêm có được ngủ không? Bộ đội có được tắm không? Có đủ nước uống không? Thương bộ đội phải chịu cái nắng chói chang, Bác đã rút toàn bộ tiền tiết kiệm từ lương và nhuận bút được 25 nghìn đồng tặng bộ đội Phòng không để mua nước uống giải khát. Còn nhớ, Ngày Thương binh - Liệt sỹ đầu tiên (27-7-1947) Bác gửi tặng một chiếc áo lót lụa của chị em hội phụ nữ biếu Bác, một tháng lương và tiền một bữa ăn của Bác cùng toàn thể nhân viên làm việc trong Phủ Chủ tịch, tổng cộng là 1.927 đồng (một nghìn chín trăm hai mươi bảy đồng). Lòng nhân ái bao la, Bác nâng niu tất cả chỉ quên mình biểu hiện qua những việc làm cụ thể, mang lợi ích thiết thực cho nhân dân như ăn, ở, mặc, học hành, đi lại, kế sinh nhai. Người chăm lo, tiết kiệm từng hạt cơm, miếng vải vá áo, miếng xà phòng nhỏ cũng là vì lo nghĩ đến đồng bào, đồng chí. Khi tiếp bạn Lào, gió mùa đông bắc tràn về, Người lấy khăn tặng hai đồng chí quàng khỏi lạnh. Mùa xuân năm 1969, Hội Hữu nghị Việt - Đức vào thăm, ngồi quây quần bên Bác, Bác thăm hỏi từng người. Thấy đồng chí Đo-phơ-ring, Chủ tịch Hội húng hắng ho, Bác cởi chiếc khăn của mình và quàng cho đồng chí, một biểu hiện tình cảm của người cha đối với những đứa con từ phương xa về. Thiếu một đức không thành người Sinh thời, Bác chỉ rõ: Trời có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Đất có bốn phương: đông, tây, nam, bắc. Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính. Thiếu một mùa không thành trời, thiếu một phương không thành đất, thiếu một đức không thành người. Vì vậy dạy người, trước hết là dạy cán bộ điều đầu tiên là phải dạy về đức. Năm 1927 Bác viết tác phẩm “Đường cách mệnh” để huấn luyện những người là hạt nhân cách mạng truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Mở đầu tác phẩm Bác nêu rõ tư cách người cách mệnh nổi bật với hai nội dung: giữ chủ nghĩa cho vững và ít lòng ham muốn về vật chất. Điều đầu tiên Bác giảng về đạo đức cách mạng. Bác nhấn mạnh đức là gốc, tài là quan trọng. Theo Bác đức là đạo đức hành động để hoàn thiện nhân cách của mình đồng thời để phục vụ xã hội, vì dân, vì nước, vì những giá trị cao quý của cuộc sống. Năm 1947 Bác viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. Bác viết dung dị dễ hiểu: Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Để làm tròn nhiệm vụ ấy, Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải sửa đổi lối làm việc, sửa đổi từ tư tưởng, đạo đức đến tác phong; phải tự phê bình và sửa chữa, sửa đổi công tác cán bộ và cách lãnh đạo… Bác nói vậy và làm đúng như thế từ những việc rất nhỏ, rất cụ thể. Ngày 15-11-1948 Bác viết bài bệnh tự kiêu, tự ái có đoạn: Mỗi một người và tất cả mọi người chúng ta phải tẩy sạch bệnh tự kiêu, tự ái. Đó là hai thứ bệnh rất nguy hiểm cho đạo đức và công việc. Thang thuốc để chữa bệnh này gồm có 4 vị là: a, thật thà tự phê bình và hoan nghênh người khác phê bình mình; b, cố gắng sửa chữa khuyết điểm và phát triển ưu điểm; c, luôn luôn cố gắng học hỏi để luôn luôn tiến bộ; d, thực hành đoàn kết. Bác nói và viết bao giờ cũng đơn giản, dễ hiểu. Khi nói về bệnh quan liêu Bác viết: Có nơi bệnh quan liêu trầm trọng đến nỗi cán bộ vừa phỉnh dân, vừa dọa nạt dân. Bệnh quan liêu, mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là: Hỏng việc. Vì vậy chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy. Bác còn chỉ rõ cách chữa của bệnh ấy. Đây là một cách rất tế nhị: Trong phiên họp Hội đồng Chính phủ tháng 9-1963, nhân dịp Quốc khánh, Bác đem đến một hộp bút và nói: “Hôm nay tôi xin tặng các vị, các chú mỗi người một cây bút để làm việc”. Bác đưa tận tay từng bộ trưởng, từng ủy viên. Mọi người nhìn lên nắp bút thấy dòng chữ Bác đã khắc “Bút chống quan liêu. 2-9-1963”. Sự tôn trọng, thương yêu và phát huy quyền làm chủ của người dân đã trở thành nhân cách đạo đức Hồ Chí Minh, nên dù một công việc khó đến đâu Bác cũng nói và làm cho dân hiểu, dân tin để từ đó dân tự làm và trở thành phong trào cách mạng của quần chúng. Đến làm việc với công nhân, nông dân, bộ đội, tri thức…bao giờ Bác cũng xem xét từ chỗ ăn, chỗ ngủ, chỗ vệ sinh. Bác thường để tâm đến những khía cạnh bình thường nhất bởi đó là những nhu cầu thiết yếu của đời sống. Vì theo Bác: “Với con người không có gì là nhỏ nhặt và tầm thường”. Chính ý thức tôn kính và phát huy mọi khả năng giá trị của con người mà Bác đã vận động được tất cả mọi người vào công việc vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Học tập và làm theo Bác là rèn luyện phẩm hạnh của con người với tứ đức mà Hồ Chí Minh đã khái quát: cần, kiệm, liêm, chính, thiếu một đức không thành người. Đạo đức và thực hành đạo đức trở thành tấm gương đạo đức, văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh làm nên sự thanh cao trong phong cách sống của Bác, “như trời đất của ta”. Nguồn: Xây dựng Đảng.

Công tác nhân sự được Đảng ta thực hiện từng bước theo một quy trình chặt chẽ, thận trọng, bài bản chứ không phải là một sự “xếp cờ”, “điền vào chỗ trống”.

 

Xác định công tác nhân sự là nhiệm vụ "then chốt" của "then chốt", có liên quan đến sự sống còn của Đảng, sự phát triển của đất nước nên ngay từ đầu nhiệm kỳ, công tác này được Đảng ta đặc biệt coi trọng. Thể hiện rõ nhất là việc Đảng đã rất chú trọng hoàn thiện các quy định, quy trình, thắt chặt các kẽ hở, đồng thời phát huy cao nhất tính dân chủ để bảo đảm công tác nhân sự luôn được thực hiện với sự nghiêm túc, khách quan nhất.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong bài viết “Một số vấn đề cần được quan tâm đặc biệt trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng" đăng trên các báo ngày 26-4-2020 đã nhấn mạnh: “Việc giới thiệu nhân sự, nói chung phải trên cơ sở quy hoạch; giữ vững nguyên tắc, quy chế, quy định, phát huy trách nhiệm, dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan trong đánh giá, giới thiệu, lựa chọn nhân sự tham gia BCHTƯ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ tới. Lấy phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ các mặt, uy tín và hiệu quả công tác làm căn cứ và tiêu chí cơ bản để đánh giá, lựa chọn, bố trí cán bộ phù hợp với công việc...”.

Để chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIII, Đảng ta đã làm từ rất sớm và bài bản. Hội nghị Trung ương 8 (tháng 10-2018) đã quyết định thành lập 5 tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng, trong đó có Tiểu ban Nhân sự. Điểm nhấn rất quan trọng là ngày 30-5-2019, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 35 về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Chỉ thị xác định rõ, việc chuẩn bị nhân sự đại hội có vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là nhân tố bảo đảm cho thành công của đại hội và triển khai thực hiện thắng lợi các nghị quyết của đại hội. Trước đó, Bộ Chính trị đã ban hành Kế hoạch số 11-KH/TW ngày 6-11-2018 về xây dựng quy hoạch BCHTƯ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2021-2026 (gọi tắt là quy hoạch cán bộ cấp chiến lược) trong đó có một số nội dung đổi mới hết sức căn bản. Bộ Chính trị xác định cần tập trung lãnh đạo xây dựng quy hoạch cấp chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026 theo phương châm “làm từng bước, làm đến đâu chắc đến đó” với lộ trình cụ thể. Quy trình rà soát, thẩm tra, phê duyệt quy hoạch ở Trung ương thực hiện theo 5 bước. Tiếp sau Quy định số 90-QĐ/TW, đến ngày 2-1-2020, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 214-QĐ/TW về “Khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện BCHTƯ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”.

Trên thực tế, một số người không hiểu về quy trình thực hiện công tác nhân sự nên thường đưa ra những thông tin xuyên tạc, bịa đặt. Cần phải nói thêm rằng, tiêu chuẩn nhân sự tham gia cấp ủy nhiệm kỳ mới này được Đảng ta quy định rất cụ thể, chặt chẽ. Thực hiện các quy định này, cấp ủy các địa phương, bộ, ngành đã tiến hành phát hiện, giới thiệu nguồn cán bộ để làm quy trình đưa vào quy hoạch Trung ương khóa XIII. Tại hội nghị cán bộ toàn quốc, tháng 4-2020, các ủy viên BCHTƯ đã triển khai bước đầu tiên là giới thiệu người vào quy hoạch Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII. Tại hội nghị này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề cập 4 nội dung công tác nhân sự, trong đó nhấn mạnh nêu cao vai trò của tổ chức Đảng. Trong từng khâu, từng công đoạn phải làm thật chắc chắn, khoa học, đồng bộ, làm đến đâu chắc chắn đến đó...

Tới Hội nghị Trung ương 12 (tháng 5-2020), Trung ương đã xem xét, quyết định phương hướng công tác nhân sự BCHTƯ khóa XIII. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 13 (tháng 10-2020), Trung ương đã thảo luận dân chủ, xem xét khách quan, công tâm, toàn diện về dự kiến danh sách nhân sự tái cử và nhân sự lần đầu được giới thiệu tham gia BCHTƯ và Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII và các phương án lựa chọn; đồng thời phân tích, đánh giá, góp nhiều ý kiến có chất lượng bổ sung vào các báo cáo và phương án nhân sự. Nhân sự giới thiệu vào các chức danh lãnh đạo chủ chốt, Bộ Chính trị, Ban Bí thư... sẽ tiếp tục được xem xét, thảo luận tại các Hội nghị Trung ương và các phiên họp quan trọng sẽ được tổ chức trong thời gian tới.

Như vậy, để đến được các bước cuối cùng chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIII, Đảng ta đã tiến hành từng bước theo một quy trình chặt chẽ, thận trọng, bài bản chứ không phải là một sự “xếp cờ”, “điền vào chỗ trống” hay “tùy tiện” như sự võ đoán, xuyên tạc của một số người./.

NGHIÊM TRỊ NHỮNG KẺ CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

 

Thời gian qua các đối tượng thường xuyên dùng mạng xã hội để xuyên tạc, nói xấu chế độ, chống Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nói xấu, nói không đúng sự thật, xúc phạm lãnh tụ Hồ Chí Minh, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước …

Như đối tượng Nguyễn Quốc Đức Vượng, sinh năm 1991, là lao động tự do trú tại thôn Hải Dương, xã Lạc Lâm, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử bị kết án 8 năm tù vì tội chống phá nhà nước về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117 Bộ luật hình sự.

Trong dịp tháng 3 vừa qua, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã ra phán quyết với 14 bị cáo đã có hành vi tuyên truyền, chống phá Nhà nước. Tòa tuyên Sùng A Sính và Lầu A Lềnh cùng mức án chung thân về tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Lềnh còn bị tuyên 7 năm tù về tội “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, tổng hình phạt chung cho cả hai tội là chung thân. 12 bị cáo còn lại bị tuyên từ 24 tháng tù đến 20 năm tù về tội “che giấu tội phạm” và “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Theo nhận định của hội đồng xét xử, hành vi trên của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ chính trị của Nhà nước CHXHCN Việt Nam được Hiến pháp quy định. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, tương xứng với từng hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra nhằm răn đe, giáo dục tội phạm và phòng ngừa chung trong xã hội…

Các đối tượng lần lượt bị bắt là Phạm Chí Dũng đã bị Cơ quan an ninh điều tra Công an TP.HCM khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam, khám xét Phạm Chí Dũng (54 tuổi, quê Đồng Tháp, ngụ quận Tân Bình, TP.HCM) để điều tra về tội "làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Theo Công an TP.HCM, Phạm Chí Dũng có nhiều hoạt động công khai vi phạm pháp luật nghiêm trọng và rất nguy hiểm; tác động xấu đến sự ổn định xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh trật tự thành phố.

Ngày 24-5, Công an TP.HCM cho biết Cơ quan an ninh điều tra Công an TP.HCM đã khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam Nguyễn Tường Thụy (70 tuổi, quê Nam Định, ngụ Hà Nội). Ngày 13-6, Công an TP.HCM cho biết Cơ quan an ninh điều tra Công an TP.HCM đã khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Lê Hữu Minh Tuấn (31 tuổi, ngụ tỉnh Quảng Nam) để điều tra tội “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại điều 117 Bộ luật hình sự./.

Bộ Ngoại giao khẳng định, Việt Nam luôn coi trọng, dành ưu tiên cao cho quan hệ láng giềng tốt đẹp truyền thống lâu dài với Camphuchia


Tại cuộc họp báo chiều 19/11, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng được đề nghị bình luận về ý kiến của báo chí phương Tây cho rằng “quan hệ Việt Nam - Campuchia bị ảnh hưởng vì Campuchia xích lại gần Trung Quốc”.

Tăng cường "sức đề kháng" của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội trước các thông tin xuyên tạc

 

 

Bóp méo, xuyên tạc mục tiêu, lý tưởng

Mục tiêu, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động không mới, chỉ có điều, trong từng thời điểm và tùy vào tình hình cụ thể, chúng điều chỉnh về hình thức, mức độ và tần suất. Một trong những chiêu trò, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động là triệt để lợi dụng chủ trương lấy ý kiến xây dựng dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng để chống phá. Thông qua mạng xã hội, các trang web và một số báo mạng thiếu thiện chí với Việt Nam, các nhóm phản động ở hải ngoại kết hợp với những phần tử cơ hội chính trị trong nước ra sức tuyên truyền xuyên tạc, tác động nhằm "nắn dòng dư luận", làm chệch hướng mục tiêu cách mạng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ta hướng theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Tỉnh táo nhận diện, chủ động đấu tranh lại các chiêu trò, luận điệu của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước ta

 


 

Nội dung quan trọng được Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhấn mạnh và yêu cầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội XIII của Đảng là phải chuẩn bị thật tốt và kỹ càng cả về nội dung dự thảo các văn kiện và công tác nhân sự. Đặc biệt, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần yêu cầu cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể phải nêu cao tinh thần cảnh giác, nâng cao ý thức tự “đề kháng”, năng lực phản bác của nhân dân trong cuộc đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch nhằm phá hoại đại hội Đảng.

 NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11

Trồng người là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, được cả xã hội tôn vinh, trân trọng, song cũng là nghề phải chịu áp lực của xã hội nhiều nhất. Mặc dù đãi ngộ và điều kiện làm việc còn chưa tương xứng, cùng với đó là những bất cập, yếu kém chậm khắc phục của ngành Giáo dục đang đè nặng lên vai Nhà giáo, nhưng tuyệt đại đa số Thầy Cô vẫn tâm huyết với nghề, mang nặng nghĩa tình, cháy hết mình để thắp sáng trí tuệ, khai mở tâm hồn, soi đường chỉ lối cho mỗi chúng ta kiến tạo cuộc sống, thay đổi vận mệnh cuộc đời và tham gia có trách nhiệm vào xây dựng xã hội. Chỉ có Thầy Cô mới đưa lớp lớp các thế hệ học trò đi đúng trên hành trình tới Chân - Thiện - Mĩ, thành công và hạnh phúc.
Nhân dịp ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 của năm nay, xin được bày tỏ lòng tri ân tới các Nhà giáo. Kính chúc các Thầy Cô mạnh khoẻ, tâm sáng, trí minh, giàu nhiệt huyết với nghiệp trồng người, thành công và hạnh phúc với nghề, chung tay đưa nền giáo dục Việt Nam phát triển lên tầm cao mới. Tin rằng Thầy Cô gieo hạt cho đời, đời cho trái ngọt.
"Ngày đêm dầu dãi nắng mưa
Con đò tri thức chở đưa bao người
Qua sông trò gửi nụ cười
Ấm lòng người lái - Cô Thầy kính yêu".

KIỂM ĐỊNH BỘ QUỐC SỬ BÀN VỀ BẢN CHẤT NGỤY QUÂN NGỤY QUYỀN.!!!

BẢN CHẤT CÁC NGỤY QUÂN – NGỤY QUYỀN.!


Về bản chất của quân đội ngụy và ngụy quyền tay sai thì Bác Hồ đã nhiều lần đề cập trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ bằng những câu như: “Chúng dựng lên ngụy quân, ngụy quyền dùng làm công cụ phản quốc hại dân.”, “Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân phản nước.” v.v.

Lưu ý rằng Bác Hồ không nói những người trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền là những kẻ phản nước, hại dân, mà Bác nhận định họ đã bị Pháp, Mỹ sử dụng làm công cụ phản nước hại dân. Như vậy, những người tốt nhưng yếu, kém, không có thực lực, bị thời thế đẩy đưa thì vẫn có thể bị giặc lợi dụng làm công cụ hại dân, phản nước. Như vậy việc những cá nhân lính ngụy, sĩ quan ngụy tốt hay xấu, bản thân có yêu nước hay không, là việc không liên quan.

Bác Hồ nổi tiếng về khả năng có thể nói rất lâu mà không nói vấp hay nói hớ 1 chữ, nhận thức sự việc tuyệt đối chính xác, và câu “làm công cụ hại dân phản nước” của Bác cho thấy cách dùng từ của Người rất tỉ mỉ và cực kỳ chính xác.

Bác Hồ nhận định về ngụy quyền – ngụy quân như thế cũng không phải là Bác ghét bỏ, thù hận gì họ, trái lại Bác Hồ vẫn xem họ là đồng bào bình thường, chỉ vì tình thế bắt buộc, bị bắt lính, gia cảnh cơ hàn, cuộc sống khó khăn, hoặc bị giặc tẩy não, nhồi sọ v.v. thì mới đi lính cho giặc.

Trong quá khứ, Bác đã viết rất nhiều lá thơ, chuyển vào Nam và giao cho các tổ chức binh vận, ngụy vận, tìm cách đưa những lá thơ này đến tay đồng bào lính ngụy trong vùng tạm chiếm: “Thư gửi các ngụy binh” (thập niên 50), “Vận động ngụy binh” (thập niên 50), “Lời kêu gọi ngụy binh quay về với Tổ quốc” (thập niên 50), “Ngụy binh giác ngộ” (thập niên 60) v.v. Đảng cũng nhiều lần ra Nghị quyết và có nhiều văn kiện yêu cầu đẩy mạnh công tác “ngụy vận”. Xem công tác ngụy vận là một phần của công tác dân vận, chứ không xem là địch, công tác ngụy vận là một phần của công tác binh vận, nhưng lại có khác biệt với công tác địch vận (nhắm vào người Pháp và người Mỹ).

Trong lịch sử thật ra chẳng có ai thật sự muốn bán nước, không có ai nghĩ rằng mình bán nước. Xưa nay chưa hề có một hợp đồng nào kiểu tôi giao cả quốc gia cho anh, anh trả cho tôi bao nhiêu tiền. “Bán nước” chỉ là một cách lên án của dân gian và sự phán xét nghiêm khắc của lịch sử và hậu thế, nhằm giáo dục con em không để lâm vào tình cảnh tương tự. Đó là thuộc văn hóa suy nghĩ, tư duy, tâm tư tình cảm của dân tộc, và đó cũng là nhân sinh quan của dân tộc Việt Nam. Chứ hoàn toàn không có hận thù gì ở đây, người Việt Nam đa số có lòng khoan dung và vị tha.

Người ta kết tội những nhân vật đứng đầu như Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Trần Kiện, Lê Chiêu Thống, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu vào tội danh bán nước là để ghi nhận một tấm gương xấu cho hậu thế rút kinh nghiệm, mang tính chất răn đe cho con cháu đời sau. Chứ người ta không kết tội những quân nhân, tướng lĩnh, sĩ quan cấp dưới. Lịch sử kết tội Lê Chiêu Thống chứ không kết tội Lê Quýnh, Hoàng Phùng Tứ, Trần Quang Châu… Lịch sử kết tội Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu chứ không kết tội Ngô Quang Trưởng, Hoàng Xuân Lãm, Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn…

Như vậy cách nhìn đúng đắn là: Ngụy quyền và ngụy quân đúng là do giặc dựng lên để mị dân, hợp thức hóa cuộc xâm lược, và phục vụ cho cuộc xâm lược. Còn riêng những cá nhân trong bộ máy đó, nếu không còn liên quan gì nữa, không còn gây ra gì nữa, và chiến tranh đã qua lâu, xã hội ổn định, không khí thanh bình, thì nên xem họ là những người bình thường.

Lịch sử đã sang trang mới, và thực tế cũng cho thấy những người lính ngụy, sĩ quan ngụy, tướng tá ngụy như các ông Trần Chung Ngọc, Nguyễn Hữu Hạnh, Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu, Nguyễn Phương Hùng và nhiều người khác trong lúc này vẫn đang tôn trọng hơn những người từng là “Bộ đội cụ Hồ” mà đã thoái hóa, biến chất, đón gió trở cờ, trở thành kẻ phản bội, phản quốc như Hoàng Văn Hoan, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Trần Anh Kim theo ngoại bang chống phá đất nước hay những kẻ tha hóa biến chất, trở thành sâu bọ tham nhũng, lũng đoạn, cắn nát đất nước và chế độ.

Tóm lại: Lịch sử thì phải nhận thức đúng. Những cá nhân trong quá khứ thì thông cảm, bỏ qua và tôn trọng như một người bình thường! Đây là cách tiếp cận hợp tình hợp lý. Chúng ta tôn trọng cá nhân các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, nhưng trong lịch sử chúng ta vẫn phải ghi nhận là hai ông từng làm tướng cho Pháp, Mỹ, trong thời Pháp thuộc hai ông có Pháp tịch, là công dân Pháp và đi lính cho Pháp, đeo huân chương Pháp, được Pháp phong chức, được Pháp rồi Mỹ trả lương. Bỏ qua, gác lại quá khứ, tha thứ … không có nghĩa là quên lãng, từ bỏ. Khép lại quá khứ không có nghĩa là đóng lại, khóa lại quá khứ. Lịch sử và các tiểu sử, trong đó có những giai đoạn lầm lạc của một số nhân vật nên được ghi nhận chính xác. Xem như đó là một bài học lịch sử để răn dạy con cháu đời sau.

Lịch sử luôn được người Việt hàng nghìn năm nay sử dụng như một phương tiện để đề cao, ca ngợi những tấm gương tiết liệt, làm tấm gương sáng cho hậu thế, và răn đe những gương xấu phản dân hại nước, rước giặc vào nhà.

Đó là một cách thức truyền lửa của dân ta nghìn năm nay từ thời mở nước và trong suốt những thời kỳ giữ nước, đời này noi theo gương tốt của đời nọ, thế hệ trước truyền lại ngọn đuốc cho thế hệ sau. Đánh giặc là đúng, chống ngoại xâm là đúng, theo giặc là sai, bán nước là sai. Với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Bất cứ ai “rước voi về giày mả tổ”, “cõng rắn cắn gà nhà” đều bị lịch sử chê trách, lên án.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, những cuộc đụng độ xảy ra giữa quân Việt Nam và quân ngụy là vì lính ngụy bị giặc Mỹ đẩy ra đánh thay họ, chết thay họ, tránh thương vong cho quân đội của họ. Việt Nam chỉ đánh giặc xâm lược Mỹ, không coi ngụy là một nước, không công nhận cái gọi là “nước Việt Nam Cộng hòa” và chưa bao giờ tuyên bố chiến tranh với ngụy. Việt Nam chỉ tiến hành chiến tranh với Mỹ. Đây là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước chứ không phải là “chống ngụy cứu nước”.

Việt Nam muốn kết thúc chiến tranh thì phải đánh thắng Mỹ, muốn giải quyết chiến tranh thì phải nói chuyện với Mỹ, với người chủ. Trong suốt cuộc chiến này, VN không chú trọng đánh ngụy và chỉ chú trọng đánh Mỹ với cả 3 mũi giáp công: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Vì ta biết rõ dù có diệt được ngụy mà Mỹ vẫn còn đó thì họ chỉ việc dựng lên một ngụy quyền khác và bắt thanh niên miền Nam đi lính bằng các đợt cưỡng bách quân dịch quy mô. Không đánh bại được Mỹ thì không diệt được ngụy, chém đầu này sẽ mọc đầu khác. Không thắng được ông chủ thì ông chủ chỉ việc tuyển dụng và đưa lên những tay sai mới. Cho nên muốn chấm dứt chiến tranh thì phải đánh thẳng vào cái gốc, cái rễ, cái nguồn gốc chiến tranh, cái nguồn gây ra chiến tranh, cái nguồn đang tiến hành xâm lược, cái cỗ máy chiến tranh đang điều hành cuộc chiến. Đánh cho “Mỹ cút” rồi mới đến “ngụy nhào” như câu thơ chúc Tết mà Bác Hồ tặng miền Nam đã nói. Bác đã tài tình lồng vào 2 giai đoạn chiến lược “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” vào câu thơ của mình ngay trong lúc Mỹ đang mạnh, chưa cút, và ngụy chưa nhào.

Việt Nam cũng chưa bao giờ đàm phán, nói chuyện với ngụy, vì biết có nói chuyện với ngụy thì cũng vô ích, không giải quyết được gì. VN muốn gì thì tìm Mỹ mà nói, mà đối thoại, mặc cả, giao dịch, trao đổi v.v. Mục tiêu của cuộc kháng chiến là: Quét sách tên giặc xâm lược cuối cùng và tất cả các ngụy quyền của giặc xâm lược ra khỏi miền Nam của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà quân đội Mỹ đang chiếm đóng bất hợp pháp (Miền Nam của Việt Nam DCCH quy định rõ ràng trong hiến pháp 1946, 12 khu hành chính và quân sự tháng 11 năm 1946, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Hiệp định Genève về Đông Dương, Hiến pháp 1959).

Nhìn chung thì cả trong nước và nước ngoài đều không để ý nhiều đến vai trò của ngụy quyền trong cuộc chiến Việt – Mỹ. Người ta đề cập nhiều đến vai trò của Hà Nội và Washington nhiều hơn. Lý do rất đơn giản là vì đây là cuộc đụng độ lịch sử giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, một bên có sức mạnh con người, một bên có sức mạnh khoa học công nghệ. Họ mới là hai nhân vật chính cần đề cập tới. Ngụy Sài Gòn có vai trò mờ nhạt và lãng nhách, không đáng phải đề cập và vì thế người ta thấy không cần nhắc nhiều đến.

Nhìn lại thì thấy quả thật là vai trò của chế độ Sài Gòn, quân đội Sài Gòn rất mờ nhạt trên các phương tiện truyền thông quốc tế. Các tài liệu đa chiều trên thế giới rất ít nói về ngụy Sài Gòn. Họ chú trọng đến vai trò của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (họ gọi là “Việt Cộng”), và phía bên kia là Hoa Kỳ. Không có nhà nghiên cứu, nhà sử học, nhà báo nào tốn nhiều giấy mực, thời gian, công sức để viết về những chư hầu của Mỹ.

Trong lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Giặc ngoại xâm nào vào bờ cõi nước Việt thì cũng tạo ra một đội quân người bản xứ để cho quân ngoại xâm đỡ tốn xương máu, đỡ hao binh tổn tướng. Trong chiến tranh chống Việt Nam cũng vậy, lính Pháp, lính Mỹ đáng lẽ còn hao tổn hơn nhiều nếu không nhờ lực lượng ngụy quân đỡ đạn cho lính Pháp, lính Mỹ, giúp quân đội Pháp – Mỹ giảm thương vong.

Vì sao cuộc chiến chống Mỹ dễ xuyên tạc hơn các cuộc chiến chống xâm lược khác trong Việt sử?

Về kháng chiến chống Pháp, ngoài ông Nguyễn Gia Kiểng (chủ tịch của tổ chức “Tập hợp Dân chủ Đa nguyên”, tai tiếng với cuốn sách “Tổ quốc Ăn năn” chê bai Bác Hồ, vua Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi và nhiều anh hùng dân tộc khác của VN) gọi kháng chiến chống Pháp là cuộc “nội chiến” (giữa Việt Minh và “Quốc gia”) ra thì hầu hết đều thống nhất rằng đây là cuộc chiến chống ngoại xâm của dân tộc. Ngay cả những kẻ chống Cộng cực đoan cũng không thể phủ nhận nổi điều này, ngay cả sách giáo khoa ở miền Nam dưới thời Mỹ cũng phải ghi đây là cuộc chiến giữa “nhân dân Việt Nam” và thực dân Pháp (lờ đi vai trò lãnh đạo của Đảng và Hồ chủ tịch). Sở dĩ kháng chiến chống Pháp khó xuyên tạc là vì thực dân Pháp đã đô hộ, bóc lột, nô dịch dân ta trong suốt gần 1 thế kỷ Pháp thuộc, và khái niệm “trăm năm nô lệ giặc Tây” đã in ấn sâu đậm, khắc cốt ghi tâm trong lòng dân chúng.

Còn kháng chiến chống Mỹ dễ xuyên tạc hơn, do nó là cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới, trong thời đại mới, thông qua ngụy quyền mà nó dựng lên để kiểm soát miền Nam Việt Nam, khống chế khu vực và chiếm đoạt tài nguyên, trên danh nghĩa “tham chiến giúp đỡ đồng minh”. Chứ trên danh nghĩa họ không trực tiếp trắng trợn gọi miền Nam VN là thuộc địa như thực dân Pháp trong thời Pháp thuộc, và cũng không chính thức sát nhập miền Nam VN vào lãnh thổ chính quốc như phong kiến Trung Hoa trong thời Bắc thuộc.

Đây là một hình thức xâm lược “văn minh” và ma giáo. Dân ta lại chưa kinh qua cuộc xâm lược kiểu này trong lịch sử, và trước đó Mỹ cũng chưa xâm lược, chiếm đóng, đô hộ nước ta với hình thức như thực dân Pháp đã làm trong thời Pháp thuộc. Cái gì mà mới mẻ, chưa có kinh nghiệm cho nó thì thường dễ gây nhiễu nhân tâm hơn.

Đó cũng là lý do vì sao mà trong thời Pháp thuộc suốt gần 100 năm, Việt Nam lại có nhiều Việt gian cam tâm làm tay sai đắc lực cho Pháp đến như vậy, nhiều hơn gấp trăm lần so với các cuộc chiến chống xâm lược phương Bắc. Đó là vì hình thức xâm lược của thực dân Pháp khác với hình thức xâm lược, đô hộ kiểu cũ của phong kiến Trung Hoa. Pháp không chính thức sát nhập Đại Nam vào lãnh thổ Pháp, mà sử dụng Đại Nam làm một thuộc địa (colony), làm một nơi để khai thác, vơ vét, bóc lột, trên danh nghĩa “bảo hộ” triều đình An Nam, An Nam vẫn có vua, nhà Nguyễn vẫn còn đó. Trước thời Pháp thuộc thì dân ta lại chưa kinh qua cách thức xâm lược và đô hộ như thế này, nên cũng có nhiều người mơ hồ về việc Pháp xâm lược Đại Nam, họ coi mình là đang phục vụ triều đình, chỉ huy lính Nam triều, chứ không nghĩ mình đang phục vụ cho Pháp, họ cho rằng Pháp đã đem ánh sáng văn minh phương Tây vào Đại Nam, giúp khai hóa dân tộc Việt, giúp Đại Nam có tự do tôn giáo, tự do truyền đạo, bảo hộ và giúp đỡ triều đình và đất nước ta, giúp người Việt chống Trung Hoa (quân Thanh, quân Cờ Đen, quân Cờ Vàng, quân Cờ Trắng v.v.), họ tự lừa dối bản thân, họ cố nghĩ như vậy, nhiều khi cũng chỉ để cho lương tâm không bị cắn rứt, tự an ủi bản thân, tương tự như nhiều người trong thời Mỹ sau này.

Trong lịch sử các nước, phía xâm lược luôn có những chiêu bài chính trị để hợp thức hóa hành động xâm lược, xâm phạm chủ quyền. Chiêu thức dựng lên một “đối tượng để giúp đỡ” là chiêu đã được dùng đi dùng lại từ ngàn xưa. Như nhà Minh “phù Trần diệt Hồ”. Như Mông Cổ “giúp” Trần Ích Tắc làm vua. Quân đội Mãn Thanh “giúp” Lê Chiêu Thống khôi phục cơ nghiệp tổ tông và chống “giặc Tây Sơn” v.v. Nó luôn lặp lại với những hình thức khác nhau, nhưng bản chất thì vẫn vậy, “bình mới rượu cũ”.

Trong lịch sử Việt Nam, mỗi thời kỳ giặc xâm lược đều có những hình thức xâm lược khác nhau, và ngày càng tinh vi hơn. Mục tiêu xâm lược cũng có những khác biệt nhất định. Phong kiến Trung Hoa xâm lược Đại Việt, chiếm đất đai, sát nhập lãnh thổ Đại Việt vào Trung Hoa, biến đất Việt thành đất Trung Hoa, biến Đại Việt thành một quận huyện của họ. Và trong thời gian đô hộ thì không tồn tại triều đình người Việt.

Pháp bắt đầu xâm lược Đại Nam năm 1858, ép nhà Nguyễn ký hiệp ước dâng lên Nam Kỳ Lục tỉnh rồi lần lượt “bảo hộ” Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Họ chiếm hữu và trục lợi ở Việt Nam và Đông Dương như một thuộc địa, nhưng trên danh nghĩa thì vẫn có vương quốc An Nam “độc lập”. Vẫn có triều đình Huế với các “hoàng đế” có ngai nhưng không quyền. Họ trực tiếp quản lý VN bằng Toàn quyền Đông Dương, và dưới trướng có rất nhiều cộng sự người Việt mà dân gian gọi là “chó săn” của Pháp. Họ thiết lập một hệ thống ngụy quyền quy mô, rộng lớn, bao gồm những lực lượng ngụy quân (lính Nam triều, lính khố xanh, khố đỏ, khố vàng) được huấn luyện chu đáo và chuyên nghiệp.

Cho thấy rằng Pháp cũng xâm lược, nhưng hình thức xâm lược, hình thức chiếm đóng, hình thức trục lợi là khác với phong kiến Trung Hoa. Pháp không chủ trương sát nhập Đông Dương vào “nước mẹ Đại Pháp”, mà chỉ muốn xơ múi, khai thác, bóc lột, vơ vét những lợi ích tài nguyên màu mỡ, những nguồn nhân lực, nô lệ, lao công phong phú ở đây. Tóm lại là hút cạn kiệt thuộc địa để làm giàu cho mẫu quốc.

Pháp không cần Việt Nam thành một phần của nước Pháp. Không coi Đông Dương là nước Pháp, mà họ coi Đông Dương và Việt Nam là một vùng thuộc địa (colony) để họ khai thác, họ coi họ là “nước mẹ” của thuộc địa này. Ngụy triều của người Việt được phép tồn tại và làm vật trang trí. Ngụy quân người Việt được xây dựng, trang bị, huấn luyện, và trả lương. Đây gọi là chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, khi mà tên giặc không cần sát nhập lãnh thổ, cướp đất đai trên danh nghĩa, thay vào đó, họ mị dân bằng những tuyên bố “bảo hộ” sự “độc lập” của vương quốc An Nam trên danh nghĩa. Họ cho người Pháp vào trực tiếp quản lý, trực tiếp nắm lấy. Và các cộng sự người Việt chỉ là loại thừa hành cấp thấp. Người Pháp chỉ việc tha hồ bóc lột và nô dịch nhân dân bản xứ.

Hoa Kỳ viện trợ và giúp đỡ Pháp tái chiếm Việt Nam thất bại, sau đó trực tiếp nhảy vào rồi từng bước hất cẳng Pháp, thu nhận và nuôi dưỡng ngụy quyền và ngụy quân mà Pháp đã sử dụng và để lại. Thay tên đổi họ lại cho ngụy quân, ngụy quyền, tổ chức lại, xây dựng lại, vá lại, thay đổi tay sai, chỉ giữ “quốc kỳ” và “quốc ca”.

Cách thức xâm lược của giặc ngoại xâm theo tiến trình lịch sử, theo sự tiến hóa của văn minh nhân loại, cũng thay đổi và “nâng cấp” theo thời gian, càng lúc càng mị dân và được ngụy trang tinh vi hơn.

Mỹ xâm lược Việt Nam là xâm lược kiểu thực dân mới. Theo đó, ông chủ đứng ngoài thu lợi, quan sát, kiểm soát. Còn phần quản lý thuộc trách nhiệm của ngụy quyền bản địa, chứ giặc xâm lược không trực tiếp bắt tay vào làm như thực dân cũ. Tương tự như người đạo diễn đứng ngoài điều khiển, chỉ đạo, các diễn viên cứ thế mà diễn tuồng, đóng kịch. Đến khi diễn viên bất tài vô dụng quá mức, không đảm đương nổi vai diễn, vai trò, thì có khi đạo diễn phải nhảy ra sân khấu làm kép chính luôn, và 58 vạn quân Mỹ, trong giai đoạn 1964-1973, đã tiến vào tham chiến trực tiếp như bọn thực dân cũ, như xâm lăng thời phong kiến.

Do đó nếu chỉ nhìn các cuộc chiến tranh trong lịch sử hiện đại và ngày nay bằng cặp mắt phong kiến lạc hậu, chỉ biết đến các hình thức xâm lược của phong kiến từ xa xưa mấy ngàn năm trước, cứ phải có cùng một hình thức thủ đoạn chính trị, quân sự đó thì mới là xâm lược, thì thật là thiếu sót, lạc hậu, kém cập nhật.

“Thắng làm vua, thua làm giặc”?

Một luận điệu lệch lạc, phi thực tế thường xuất hiện sau ngày Việt Nam chiến thắng: “Được làm vua, thua làm giặc”, “lý lẽ và chân lý thuộc về kẻ chiến thắng”. Hai câu này đã có từ lâu và cũng đúng phần nào, tuy nhiên, những kẻ phản động đã lấy 2 câu này của người xưa rồi gán ghép bừa bãi và dùng những câu này để bóp méo bản chất của kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của Việt Nam.

Thực tế mà nói, hai câu trên không tuyệt đối đúng: Triệu Đà chiến thắng và có tuyên truyền thế nào thì An Dương Vương cũng không phải là giặc. Phong kiến Trung Hoa chiến thắng và có tuyên truyền đến thế nào thì Trưng Vương, Bà Triệu, Phùng Hưng, Mai Hắc Đế, Lý Nam Đế cũng không là giặc. Lý Phật Tử đã chiến thắng nhưng Triệu Việt Vương cũng vẫn không phải là giặc.

Nhà Minh chiến thắng và có tuyên truyền đến mức nào thì Hồ Quý Ly, Trần Giản Định, Trần Trùng Quang cũng không phải là giặc. Nhà Nguyễn chiến thắng và có tuyên truyền đến mức nào suốt hơn 100 năm thì người dân vẫn xem nhà Tây Sơn là anh hùng, không phải là giặc. Thực dân Pháp và bọn phản động trong thời Pháp thuộc dù có tuyên truyền đến thế nào thì các nghĩa quân cũng không phải là “giặc phiến loạn”.

Giặc Pháp, giặc Mỹ và tay sai trong suốt hơn 30 năm chiến tranh, thắng bao nhiêu lần, nhưng dù có tuyên truyền đến mức độ nào thì cũng không biến được cuộc kháng chiến chống Mỹ thành cuộc “nội chiến”, “ý thức hệ”, “cuộc chiến quốc tế”, “cuộc chiến ủy nhiệm”. Thực tế lịch sử đã cho thấy: Chân lý không phải lúc nào cũng thuộc về kẻ chiến thắng, mà thuộc về nhân dân, thuộc về chính nghĩa dân tộc.

Chân lý chỉ thuộc về kẻ chiến thắng với điều kiện kẻ chiến thắng đó chính là nhân dân, là dân tộc, và lực lượng quân sự, chính trị mà dân tộc đó, nhân dân đó ủng hộ. Thực tế lịch sử khách quan thì không thể phủ nhận được.

Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Triệu Quang Phục, 11 sứ quân, nhà Hồ, nhà Hậu Trần, nhà Mạc, chúa Nguyễn, chúa Trịnh v.v. đều đã thua nhưng dân tộc Việt Nam không coi họ là giặc, là ngụy.

Còn các triều đình Huế thời Pháp thuộc, ngụy quyền Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu v.v. thì dân ta đã gọi họ là ngụy, là giặc ngay trong lúc chưa chiến thắng, ngay trong lúc giặc chưa thua. Trước 1975, khi Mỹ – Việt chưa biết ai thắng ai thua thì dân miền Nam đã gọi ngụy quyền là “ngụy” rồi.

Quan niệm “thắng làm vua, thua làm giặc” cũng không phải lúc nào, thời nào cũng đúng với thực tế, đúng với lịch sử. Quan điểm này chỉ đúng trong những cuộc chiến nội bộ trong thời phong kiến. Trong lịch sử nước ta, giặc Đông Hán, giặc Minh, giặc Pháp từng chiến thắng nhưng họ vẫn mãi là giặc. Họ vẫn là giặc khi bắt đầu cuộc chiến, trong cuộc chiến và sau cuộc chiến, dù thời điểm nào thì vẫn đều là giặc.

Giặc là giặc, ngụy là ngụy, chính là chính, tà là tà, chính nghĩa là chính nghĩa, phi nghĩa là phi nghĩa, tự vệ là tự vệ, xâm lược là xâm lược, nội chiến là nội chiến, chống ngoại xâm là chống ngoại xâm. Những điều này không phụ thuộc vào sự duy ý chí của con người, cảm tính, cảm nghĩ của cá nhân, niềm tin cá nhân của con người, mà nó phụ thuộc vào thực tế lịch sử khách quan và bản chất của các đối tượng tranh đấu trong cuộc chiến đó. Bạn có nghĩ, tin, tuyên truyền cá đi trên bờ thì con cá vẫn lội dưới nước.

Dĩ nhiên trong trường hợp khoa học lịch sử, thì gọi thế nào ít nhiều có phụ thuộc phần nào đó vào góc độ lợi ích của quốc gia dân tộc liên quan, trong trường hợp của Đại Việt – Việt Nam nghìn năm nay thì đều có những tiêu chí rất rõ ràng, khó nhầm lẫn, để đánh giá, nhận định ai là giặc, ai là ngụy. Không thể chỉ vin vào kết quả thắng – thua hay thực lực yếu – mạnh rồi đánh đồng tất cả, đánh tráo khái niệm, cào bằng giá trị, vàng thau lẫn lộn, thiện ác bất phân.

Như tại miền Nam Việt Nam trong khi cuộc chiến vẫn đang diễn ra thì những cụ già từ thôn quê đến thành phố đã gọi Mỹ-ngụy là giặc, họ gọi thế ngay dưới mạng lưới truyền thông, sách báo, hệ thống tuyên truyền, và bộ máy trấn áp khổng lồ và tinh vi của giặc Mỹ và tay sai. Họ thấy khắp miền Nam đều dày đặc người Mỹ, lính Mỹ, “Tây ba lô” da trắng, mắt xanh mũi lõ. Những kẻ mà họ gọi là “chó săn” kia thì khúm núm trước quan thầy Hoa Kỳ, ai được chụp hình chung với người Mỹ là mặt mày tươi rói, kênh kiệu, vênh váo, sáng rỡ hẳn lên, rồi dựa thế của Mỹ lên mặt với đồng bào, cướp bóc, vơ vét, xách nhiễu, quấy rối, gây khó dễ. Thì họ coi Mỹ-ngụy là giặc là chuyện tất nhiên.

Bà con mình thấy bọn Việt gian chỉ đường và thông ngôn, thông dịch cho quân Mỹ đi càn quét khắp miền quê Nam Bộ, đi càn hết làng này sang thôn khác thì không gọi là giặc thì gọi là gì? Liên quan gì đến kết quả ai thắng, ai bại?

Thực dân Pháp đã từng chiến thắng hàng trăm cuộc chiến trong thời Pháp thuộc, từng tiêu diệt hàng trăm lực lượng nghĩa quân, lê máy chém trên khắp đất Việt chặt đầu hàng chục ngàn thủ lĩnh, lãnh tụ, tướng lĩnh của nghĩa quân. Nhưng thực dân Pháp mãi mãi là giặc, các ngụy triều ở Huế thời Pháp thuộc mãi mãi là ngụy, lính khố xanh, khố đỏ là ngụy, bọn tay sai đắc lực của Pháp như Trần Tiễn Thành, Hoàng Cao Khải, Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân v.v. luôn luôn là ngụy, chắc chắn là ngụy. Dù bên nào thắng, bên nào thua thì lịch sử vẫn không thay đổi.

Yêu nước ST.

Bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng

 

 

Thưa các đồng chí,

Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, hôm nay chúng ta tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết công tác tổ chức đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025. Đây là lần đầu tiên chúng ta làm việc này, nhằm mục đích kịp thời đánh giá, khẳng định những việc làm tốt, thấy rõ những hạn chế, trao đổi kinh nghiệm giữa các cấp uỷ, tổ chức đảng trong cả nước, giúp thêm cho Trung ương chuẩn bị và tổ chức Đại hội XIII của Đảng thành công.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và câu chuyện về tình thầy trò

 

Là người giữ chức vụ cao nhất của Đảng, Nhà nước nhưng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vô cùng giản dị và khiêm nhường. Ông luôn dành những từ ngữ trân trọng, trìu mến và ấm áp khi kể về thầy cô và bạn bè.