Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2020

CHỦ NGHĨA DÂN TÚY VÀ ĐẤU TRANH NGĂN NGỪA NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA DÂN TÚY Ở VIỆT NAM

 

Chủ nghĩa dân túy là hiện tượng phức tạp, được chú ý nhiều trong đời sống chính trị trên thế giới hiện nay. Bài viết phân tích nguồn gốc, đặc trưng của chủ nghĩa dân túy và những biểu hiện chính của nó trong thế giới đương đại; đồng thời phân tích những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay, mặc dù nó chưa trở thành trào lưu điển hình và chưa chi phối đời sống chính trị - xã hội nhưng đã xuất hiện và có nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh, ngăn ngừa kịp thời.

* Những nhóm biểu hiện chủ yếu và bước đầu của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay như sau:

Thứ nhất, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tôn thờ và chạy theo những lợi ích trước mắt, thực dụng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân - những biểu hiện manh nha của chủ nghĩa dân túy. Một số phần tử phản động và cơ hội chính trị ra sức tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ, vu cáo, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; “tầm thường hóa” lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cổ xúy mọi người chỉ theo đuôi thực tiễn, xem thường lý luận, làm cho mọi người không quan tâm và mất niềm tin, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; phủ nhận chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và khả năng đổi mới, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự sáng tạo của nhân dân trong công cuộc đổi mới đất nước.

Thứ hai, những phát ngôn và hành động của những phần tử cơ hội chính trị, nhất là những phát ngôn, những bài viết mang tính mị dân trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các diễn đàn, các trang mạng xã hội,... thể hiện dưới dạng những thủ đoạn và nội dung như sau:

- Có những phát ngôn và hành động trái với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước (đòi tự do, dân chủ không giới hạn, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa,...);

- Lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước, âm mưu đẩy đất nước vào bất ổn, phá vỡ môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước;

- Lạm dụng các quyền tự do, dân chủ để đưa ra những đòi hỏi phi lý, những chương trình hành động có tính mị dân, không đúng chính sách, pháp luật, thiếu tính khả thi, xa rời thực tế; tranh thủ dư luận xã hội với dụng ý xấu, động cơ không lành mạnh, từ đó gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ;

- Lợi dụng tình hình đời sống và sản xuất còn có khó khăn, yếu kém để kích động, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân không vững vàng đi theo, gây rối, chống phá, gây mất ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội;

- Sử dụng công nghệ thông tin hiện đại để bịa đặt, tung tin thất thiệt, gây hoang mang trong dư luận xã hội; lợi dụng, thổi phồng những khó khăn, hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trong lãnh đạo và quản lý, làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước; xuyên tạc lịch sử. Lập các trang điện tử để đăng tin, bài với dụng ý xuyên tạc, bịa đặt, phản ánh sai lệch tình hình đất nước; công kích, làm mất uy tín của cán bộ lãnh đạo, kích động tâm lý bất mãn, phản đối;

- Có những lời nói, việc làm “tạo tiếng vang”, sáo rỗng, không thực tế, thiếu trách nhiệm, lấy lòng đám đông, tạo cảm xúc, lợi dụng, kích động phản ứng của người dân trước những vấn đề bức xúc nhất định của xã hội với những dụng ý, động cơ thiếu trong sáng và vì lợi ích riêng; tạo tâm lý hoài nghi, bất mãn, dao động trên một số diễn đàn và nhất là trên các trang mạng xã hội; kêu gọi biểu tình, cổ vũ tụ tập đông người với những “khẩu hiệu” “bất tuân dân sự” gây sốc, làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ ba, xuất hiện những người cơ hội dưới dạng “theo đuôi quần chúng”, “chiều theo” ý kiến, nguyện vọng của một nhóm nhất định nhân danh “quần chúng” mà bỏ qua các nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; “lấy lòng quần chúng” để giành chức quyền, mưu lợi ích riêng; bám giữ “tư duy tiểu nông”, “tiểu tư sản” trong một số trí thức và người dân, gây bất mãn với Đảng, Nhà nước và chế độ; hô hào những người còn ngộ nhận, tự phát, bất mãn, vi phạm pháp luật, làm công cụ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, xuất hiện một số cán bộ, đảng viên có quan điểm, lời nói, hành động không đúng với chủ trương, đường lối, nguyên tắc của Đảng, không đúng quy định pháp lý, thiếu tính khả thi, vượt quá giới hạn thẩm quyền; hứa suông, nói không đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, nói một đường, làm một nẻo; cơ hội, lợi dụng, tranh thủ phiếu bầu của những cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, thoái hóa, biến chất; “tư duy nhiệm kỳ”, đề cao lợi ích trước mắt, cục bộ, địa phương; đưa ra những tuyên bố “gây sốc” trong cộng đồng nhằm mị dân, lấy lòng đám đông trong việc giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hội, đề cao những lợi ích trước mắt của một bộ phận nhân dân; nhân danh “mối quan hệ trực tiếp với nhân dân”, “ý muốn của số đông”, “đại diện cho nhân dân”, hướng hành động của người dân vào việc làm phức tạp thêm những hạn chế, bất cập của chính quyền, kích động họ có những hành động tự phát, tức thời chống đối chính quyền, gây mất ổn định chính trị, xã hội và thiệt hại cho đất nước; tác động vào tâm lý đám đông để kêu gọi, tổ chức phong trào, lôi kéo, tranh thủ dư luận và đông đảo người dân; lợi dụng niềm tin của người dân để phục vụ mục đích cá nhân.

*Nguyên nhân làm xuất hiện những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay là do:

Một là, ảnh hưởng của những nhân tố quốc tế, như mặt trái của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, thông tin mạng toàn cầu; quá trình cá nhân hóa thông tin tăng nhanh, thông tin giả tràn lan, làm cho người dân hiểu không đủ, không rõ, không kịp nhiều vấn đề, dễ hoang mang, bị thông tin giả chi phối, dẫn dắt; sự lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc và chống phá, can thiệp của các thế lực thù địch từ bên ngoài.

Hai là, ảnh hưởng của những nhân tố trong nước, như những hạn chế, khó khăn trong phát triển đất nước; sự gia tăng tình trạng phân hóa giàu - nghèo, bất bình đẳng xã hội; sự suy thoái, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tình trạng “lợi ích nhóm”, vi phạm dân chủ, thái độ thờ ơ, vô cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên trước những khó khăn của người dân; sự thiếu công khai, minh bạch trong quản lý của một số tổ chức chính quyền...

Ba là, công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin chưa thật sự đầy đủ, chính xác và kịp thời, trong khi trình độ văn hóa, pháp luật và trình độ dân trí nói chung trong xã hội chưa cao, nhận thức của người dân vẫn còn những hạn chế, nhất là chưa phân biệt rõ giữa dân chủ và dân túy.

Nếu không đấu tranh, ngăn ngừa kịp thời những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay thì hậu quả của nó sẽ vô cùng nguy hiểm: Làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân; gây mất ổn định chính trị - xã hội, ảnh hưởng đến việc xây dựng môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước; làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ của Việt Nam với các đối tác.

* Để phòng ngừa và ngăn chặn những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay, cần tạo sự chuyển biến trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những tác hại của chủ nghĩa dân túy, đồng thời chỉ ra những biểu hiện cụ thể của nó. Theo đó, cần:

Thứ nhất, đẩy mạnh việc nghiên cứu làm rõ khái niệm, nội dung, hình thức biểu hiện, tác hại và nguyên nhân phát sinh, phát triển của chủ nghĩa dân túy; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận biết được những nguy cơ, biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa dân túy; kịp thời nhận diện và cảnh giác với những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam; định hướng thông tin đúng đắn trên báo chí, tạo hiệu ứng truyền thông tích cực, liên tục nhằm tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái và những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy.

Thứ hai, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, phòng, chống có hiệu quả tình trạng tham nhũng, tiêu cực; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, toàn tâm, toàn lực phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước, thực hiện đúng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm”, “việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”, để củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ.

Thứ ba, kiên định phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, giữ vững độc lập, chủ quyền trong quá trình hội nhập quốc tế; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí, truyền thông, nâng cao khả năng định hướng dư luận xã hội của báo chí, truyền thông.

Thứ tư, phát hiện, xử lý và khắc phục kịp thời những biểu hiện và hậu quả của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam./.

Nguồn: tổng hợp từ tuyengiao.vn

Ngày 10.12, Việt Nam bắt đầu chương trình thử nghiệm vắc xin COVID-19

 Ngày 5.12, GS. TS Nguyễn Thanh Long- Bộ trưởng Bộ Y tế đã chủ trì cuộc họp báo cáo tình hình nghiên cứu sản xuất vắc xin COVID-19 trong nước.

Tổ chức "Ân xá Quốc tế" cố tình phản ánh sai sự thật về việc ngăn chặn tin giả, tin sai lệch ở Việt Nam




Tự do ngôn luận không có nghĩa là ngôn luận tự do

Tổ chức “Ân xá Quốc tế/Amnesty International” đầu tháng 12/2020 công bố tài liệu kêu ca Facebook và Google đã hỗ trợ chính phủ Việt Nam “kiểm duyệt những lời chỉ trích và trấn áp tiếng nói của giới bất đồng chính kiến”. Tài liệu này gồm cả nội dung thu thập hàng chục phát biểu trả lời phỏng vấn của các “nhà hoạt động nhân quyền” cho rằng nội dung của họ được đăng trên Facebook và YouTube ngày càng bị chặn ở Việt Nam. Chính quyền Việt Nam khẳng định và cho thấy quyền tự do ngôn luận của công dân nước này được Hiến pháp và các bộ luật khác bảo đảm. Nhưng cũng cần hiểu rằng, chính quyền do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hay bất kỳ chính quyền quốc gia nào do đảng nào lãnh đạo đều không thể chấp nhận quan điểm “tự do ngôn luận đồng nghĩa với ngôn luận tự do”, tự do ngôn luận không có nghĩa là “bạ đâu nói đấy”.

Chú trọng văn hóa nêu gương, triệt để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ

 

“Quá tả” hay “quá hữu”, dù biểu hiện ở cấp độ nào, phạm vi nào, cũng giống như một loại virus gây bệnh. Sau đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, tiến tới Đại hội XIII của Đảng, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cán bộ chủ chốt và cấp ủy các cấp là nhanh chóng đưa nghị quyết đại hội vào cuộc sống, triển khai ngay các chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết, trong đó ưu tiên các nhiệm vụ trọng tâm, các chương trình đột phá.

Mối nguy từ thỏa mãn dừng lại, “mũ ni che tai”

 

Để không rơi vào biểu hiện chủ quan, nóng vội, muốn có thành tích bằng mọi giá, đòi hỏi quá trình lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nghị quyết, cán bộ phải có tư duy, hành động chắc chắn, khoa học.

Phép xử hay của TTNga

Nguyên soái Liên Xô Dimitry Yazov, 94 tuổi, Nguyên soái duy nhất không được phong danh hiệu anh hùng, người vừa bị Litva xử vắng mặt 10 năm tù hồi tháng 3/2019 vừa qua.


Trước đây, ông còn từng bị chính quyền Yeltsin xử tù vì tội “phản quốc” sau thất bại của vụ chính biến nhằm bảo vệ chế độ Xô Viết.  


Tuy nhiên, ông luôn được Putin kính trọng, vừa qua Putin đã trao Huân chương “Tấm gương Ái quốc” cho Yazov nhân dịp sinh nhật - Câu trả lời đích đáng cho những kẻ phản bội Liên Xô!


Buổi lễ mừng vị Nguyên soái cuối cùng của LX dịp 90 tuổi diễn ra tại Trung tâm văn hóa các lực lượng vũ trang LB Nga tại Moskva theo 1 nghi lễ trang trọng.


Vladimir Putin đích thân chúc mừng Nguyên soái Liên Xô Dmitry Yazov, ông đã trao tặng vị anh hùng Liên Xô Huân chương Alexander Nevsky vì đã có công lao tăng cường khả năng phòng thủ của đất nước và trách nhiệm tuyệt vời với sự nghiệp giáo dục lòng yêu nước của thanh niên.


Ông Putin bày tỏ hy vọng rằng D. Yazov sẽ tiếp tục hỗ trợ quân đội Nga và quân nhân trẻ. Cá nhân ông Putin còn tặng cho vị cựu chỉ huy quân sự kiệt xuất một chiếc đồng hồ làm kỷ niệm.


Bộ trưởng Quốc phòng Sergei Shoigu cũng có mặt chúc mừng Nguyên soái. Ông Shoigu tặng Nguyên soái một thanh kiếm, một bức chân dung Nguyên soái của các nghệ sĩ của xưởng họa Grekov và một bản sao hồ sơ cá nhân của ông.


Cầm thanh kiếm trong tay, Nguyên soái D. Yazov nhấn mạnh rằng bàn tay của ông vẫn còn vững vàng. Và kẻ thù biết rằng ông vẫn còn đang trên lưng ngựa.

Trung Kiên ST. 

 BỨC ẢNH FAKE VÀ TRÒ BẨN CỦA MẤY ANH DÂN CHỦ!

Tối qua, trên fb cá nhân của mình, anh dân chủ Nguyễn Lân Thắng chia sẻ bài viết của trang Dân biểu với hình ảnh “Phiếu quản lý người bệnh tâm thần”, trong đó, ghi người bệnh ở Chu Ngọc Anh, ở địa chỉ Thái Hòa, Ba Đình với chuẩn đoán Tâm thần phân liệt”. Đính kèm bức ảnh là dòng trạng thái ghi “Chủ tịt Thủ đô tôi bị tâm thần là có thật ạ. Dấu mộc đỏ nhé, đứa nào nói fake tau vả vỡ mồm…”. Hình ảnh này sau đó được nhiều đối tượng chia sẻ, với những lời lẽ miệt thị ác ý.


Qua kiểm tra trên google hình ảnh, hóa ra, đây là bức ảnh fake thật, đã được chỉnh sửa với ý đồ bôi nhọ tân chủ tịch Hà Nội. Bức ảnh gốc “Phiếu quản lý người bệnh tâm thần” trên là của bệnh nhân Lưu Văn Minh, do báo Pháp luật đăng tải ngày 27/6/2014 trên bài viết “Kẻ chém nữ y tá đang ngủ: Bị tâm thần vẫn nói tiếng Anh vanh vách”. Nếu so sánh tên người ký, số chứng thực, ngày tháng chứng thực đều hoàn toàn giống nhau, chỉ khác phần họ tên và địa chỉ của người bệnh. Rõ ràng, bức ảnh bị phát tán trên mạng đã được chỉnh sửa qua phần mềm, với mục đích nhằm bôi nhọ ông Chu Ngọc Anh, chủ tịch TP Hà Nội hiện nay.


Tôi biết rằng, ngay trước Đại hội, mấy anh chống phá luôn nghĩ ra mấy trò bẩn nhằm xuyên tạc, bôi nhọ cán bộ lãnh đạo cấp cao, nhưng trò dùng phần mềm chỉnh sửa để tạo ra ảnh fake thế này thì đúng là quá bẩn rồi. Vậy mà mở mồm mấy anh lại giở giọng đạo đức, bàn chuyện chống tham nhũng, tiêu cực, đưa đất nước phát triển,… thì đúng là giả nhân giả nghĩa lắm.

Trung Kiên ST

CHỐNG THAM NHŨNG KHÔNG CÓ VÙNG CẤM, KHÔNG CHỦ QUAN, KHÔNG DỪNG LẠI

Vừa qua, tại cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: “Dân đồng tình, vụ nào đưa ra hình như dân cũng đồng tình, trừ những đối tượng phản động, kẻ xấu kích động bịa đặt rằng sắp Đại hội đến nơi lại tìm cách loại nhau, đánh nhau nội bộ. Cái đó bây giờ dân người ta chả tin, người ta nói không phải. Đúng không? Tôi bảo càng sắp tới Đại hội thì cần phải làm”.

Một cái nhìn rất thẳng, thể hiện cái tâm và tầm của Tổng bí thư. Trước giờ, mỗi khi có thông tin Bộ Chính trị, Ban Bí thư kỷ luật cán bộ này, cán bộ kia, nhất là trước Đại hội Đảng hay bầu cử Quốc hội, thì lại xuất hiện không ít xì xào về việc đấu đá nội bộ, phe này phe kia; rồi mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ, tranh giành quyền lực. Và tất nhiên, những tin đồn đó lại xuất phát nhiều từ các trang mạng thù địch như VOA, RFA, Việt Tân và các đối tượng chống phá như Bùi Thanh Hiếu, Hoàng Dũng,… Họ thường xuyên tạo ra những tin đồn về phe nhóm trong nội bộ chính trị Việt Nam, rồi vẽ lên câu chuyện đấu đá các phe ra sao, ai là người nắm quyền sắp tới,… Nực cười ở chỗ, trong khi họ thường lớn tiếng vu cáo chế độ ta là chế độ tham nhũng, tham ô, nhưng mỗi khi Đảng đẩy mạnh việc chống tham nhũng, chúng lại lập tức khoác lên đó chiếc áo đấu đá nội bộ, phe nhóm, tranh giành quyền lực. Điều đáng buồn là không ít người, trong đó, có cả cán bộ, đảng viên đã tin vào các luận điệu đó, rồi vô tình trở thành đồng phạm, tiếp tay cho các tin đồn nhảm đó lan rộng ra trong dư luận.

Với quan điểm cá nhân tôi, càng gần tới các sự kiện lớn, Đảng, Nhà nước càng phải đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, phòng chống sự suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Nhất là đảng viên có chức quyền, có nhiều khả năng được bầu vào các vị trí quan trọng. Nếu không ngăn chặn kịp thời, để những kẻ không đủ tiêu chuẩn ngồi vào vị trí quan trọng, thì hậu quả sẽ khôn lường. Sự sụp đổ của Liên Xô, với bài học về Gorbachev, Yakovlev cho thấy hậu quả to lớn nếu chúng ta để những kẻ tự diễn biến, tự chuyển hóa, cơ hội chính trị đứng đầu các cơ quan Nhà nước là như thế nào.

Với tư cách một công dân, một Đảng viên, tôi rất đồng tình với việc Trung ương kỷ luật, xử lý nghiêm các cán bộ sai phạm. Bác Hồ đã từng nói “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”. Vậy thì không có lý do gì mà không đưa các vụ đại án ra ánh sáng ngay trước kỳ Đại hội. Càng gần đại hội là càng phải làm, làm thật mạnh là hoàn toàn đúng đắn.

Chống tham nhũng là phải làm liên tục, làm kiên quyết, kiên trì, không được chủ quan, thoả mãn dừng lại.. 

Quản trị xã hội thông minh



 Tắc nghẽn giao thông từ lâu đã trở thành vấn nạn ở nhiều đô thị. Thiệt hại về kinh tế, văn hóa, xã hội, cả vật chất lẫn tinh thần do nó gây ra, tuy khó lượng hóa nhưng chắc chắn là rất lớn và ngày càng nghiêm trọng hơn.

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2020

Âm mưu, thủ đoạn mới trong “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

 

Thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, các thế lực thù địch luôn coi việc phá hoại tư tưởng là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng với chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh các thủ đoạn chống phá mới, đó là: Chúng tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. So sánh các chế độ, chính sách liên quan đến đời sống nhân dân ta với các nước phương Tây; vấn đề tự do, dân chủ, hòng làm cho người dân thấy như “xã hội Việt Nam đang có vấn đề” dẫn đến hoài nghi, mơ tưởng về một “xã hội khác tốt đẹp hơn”. Chúng điều chỉnh thủ đoạn chống phá từ công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng đối lập, đòi bỏ điều 4. Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do không đem lại kết quả. Chúng sử dụng các cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể. Đối với cán bộ, đảng viên, chúng thổi phồng khuyết điểm yếu kém của một số địa phương và một số cá nhân đảng viên, đánh đồng giữa  tập thể, cá nhân tốt với tập thể và cá nhân có khuyết điểm, sai phạm hòng làm cho nhân dân mất niềm tin vào Cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trước những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch chống phá đất nước ta, đặc biệt là trên lĩnh vực tư tưởng, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, giữ vững lập trường, tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, chủ động phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa./. (06/12)

Những âm mưu chống phá trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIII

 Cứ trước thềm các kỳ đại hội Đảng là các thế lực thù địch lại tập trung công kích, chống phá bằng nhiều thủ đoạn nham hiểm và quyết liệt. Bản chất, mục đích của chúng không thay đổi, nhưng thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt.

Chúng phê phán chế độ xã hội chủ nghĩa, cổ súy cho “xã hội dân sự”. Dưới chiêu bài xưa cũ là ca ngợi nền dân chủ phương Tây và dẫn chứng những mặt trái của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta, họ kích động, thúc đẩy sự xuất hiện các tổ chức chính trị đối lập nhằm hướng tới mục tiêu đa nguyên, đa đảng. Về vấn đề này, trước đây các thế lực thù địch không ngừng rêu rao sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu; đồng thời, kêu gọi các phần tử cực đoan tập hợp lực lượng, sẵn sàng cho ra đời một bộ lý thuyết mới, dẫn dụ thành công một số cuộc cách mạng màu làm minh chứng cho một sự thay đổi. Nhưng họ không ngờ rằng, bản chất của các hoạt động đó đã đi ngược lại truyền thống, trái với nguyện vọng và tình cảm của tuyệt đại đa số nhân dân. Sau thời gian dài chống phá không hiệu quả, đất nước ta vẫn ngày càng phát triển mạnh mẽ, Đảng ta ngày càng giữ vững bản chất, truyền thống cách mạng và vị thế của mình, các thế lực thù địch đã thay đổi nội dung và hình thức chống phá mới. Họ ra sức cổ súy cho một xã hội mới với mô hình “độc lập về chính trị”. Về thủ đoạn, họ đánh vào tâm lý của một số trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng dao động hoặc có sự bất mãn về thời cuộc; lợi dụng và cổ súy cho các tổ chức nhập nhèm, như: “Văn đoàn độc lập”, “Tổ chức phóng viên không biên giới”, “Trung tâm Văn bút Việt Nam”,… được đám “dân chủ” trong và ngoài nước tung hô như một thứ vũ khí lợi hại trong thời kỳ mới. Điều dễ nhận thấy là, những nội dung này vẫn là cách họ chủ quan áp đặt và chẳng có một cơ sở khoa học nào khả dĩ. Đặc biệt là, họ gắn mác cho một số phần tử là “Nhà hoạt động chính trị”, hoặc “Nhà báo độc lập” để tung tin rằng, ở Việt Nam người dân không được tự do tiếp cận thông tin, hoặc tình hình tự do báo chí ở Việt Nam đang xuống dốc tệ hại.

Hiện nay, chẳng ai còn ngây thơ tới mức tin vào những luận điệu nêu trên. Bởi, hằng ngày, hằng giờ mọi người dân đều có thể đọc, truy cập hàng trăm ấn phẩm báo chí in hoặc điện tử từ Trung ương đến địa phương, cũng như các cấp, các ngành. Do đó, chúng ta phải hết sức cảnh giác, chủ động đấu tranh nhận rõ bản chất của tư tưởng phản động này, nhằm vô hiệu hóa quá trình can thiệp thô bạo từ bên ngoài với những luận điệu sai trái, nguy hiểm, khó dự báo./.

Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình hiện nay

 

Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, biển, đảo có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Khẳng định của Người không chỉ thôi thúc cả dân tộc quyết tâm đánh bại đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc mà còn đặt trách nhiệm cho các thế hệ người Việt Nam phải biết chăm lo phát huy lợi thế và bảo vệ vững chắc vùng trời, biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và xây dựng phát triển đất nước, Đảng ta luôn quan tâm đến việc phát huy lợi thế về biển, kết hợp với phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.

Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có. Với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01. Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển.

Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, được nhiều quốc gia ký kết và tham gia, Công ước Luật biển 1982 thể hiện sự thoả hiệp mang tính toàn cầu, có tính đến lợi ích của tất cả các nước trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát triển hay là nước đang phát triển…


Để giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc trong tình hình hiện nay, mỗi người dân Việt Nam phải phát huy tinh thần đoàn kết, gắn bó một lòng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn vùng biển nói riêng và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc nói chung. Góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nước ta thực sự trở thành một quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, mở ra triển vọng thúc đẩy sự hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và các nước trên thế giới, các nước trong khu vực, xây dựng một cộng đồng nhiều quốc gia hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng đồng thời, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI của Đảng về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”./.

 

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2020

NHỮNG MÁNH KHÓE XUYÊN TẠC TRƯỚC ĐẠI HỘI ĐẢNG

 

Những ngày qua, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lại đẩy mạnh các hoạt động chống phá, tuyên truyền xuyên tạc, tung tin sai sự thật, bịa đặt về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Thủ đoạn nguy hiểm thường xuyên sử dụng là tung tin giả mạo, thất thiệt về công tác chuẩn bị nhân sự của Đảng. Ngày 12/8, ngay sau khi ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND TP Hà Nội, bị đình chỉ công tác “để điều tra trách nhiệm có liên quan trong một số vụ án theo quy định của pháp luật” và ngày 01-02/12, Ủy ban Kiểm tra T.Ư họp đề nghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành T.Ư khóa XII xem xét khai trừ Đảng đối với ông Nguyễn Đức Chung, nguyên Chủ tịch UBND TP.Hà Nội. Ngay lập tức các trang mạng đã xuyên tạc rằng đây là chuyện đấu đá phe phái trong bối cảnh sắp diễn ra Đại hội Đảng. Đây không phải là thủ đoạn mới, nhưng phương thức hoạt động, thông tin ngày càng tinh vi hơn.

Theo thiếu tướng Nguyễn Minh Chính, Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao cho biết: “Tiến tới Đại hội Đảng lần thứ XIII thì những hoạt động này diễn biến hết sức phức tạp. Có đến hàng ngàn trang ở trên mạng xã hội và các kênh YouTube. Đặc biệt, như Việt Tân có đến hơn 1.000 clip liên quan đến hoạt động tiến hành Đại hội Đảng các cấp để xuyên tạc, tuyên truyền thông tin sai sự thật. Hiện nay, các đối tượng dễ làm giả như thật những trang mạng, những thông tin làm cho người đọc nếu không tỉnh táo thì dễ bị nhầm lẫn. Ví dụ có những trang báo làm giả danh giống hệt như những trang báo chính thống, đưa thông tin mà trong đó, có những nội dung xuyên tạc”. Trên mạng xã hội với mánh lới là “giật tít - câu khách”, đánh trúng vào tâm lý tò mò của nhiều người kiểu như: đấu đá khốc liệt, thanh trừng phe nhóm, nhộn nhịp chia phần, lộ đường dây chạy ghế… về nhân sự Đại hội XIII của Đảng, nhưng những nội dung mà trang mạng này thông tin đều giả mạo, bóp méo, “đổi trắng thay đen” để reo rắc sự hoài nghi cho người đọc. Khi Đại hội còn chưa diễn ra vậy mà những kẻ ở tận trời Tây lại ngồi sắp xếp bộ máy lãnh đạo của Đảng từ cao xuống thấp rồi khẳng định như thật rằng người này triệt hạ người kia để giữ được vị trí này vị trí khác. Tất cả chủ ý của chúng là bôi nhọ danh dự, đời tư và hạ thấp công trạng, đóng góp của các đồng chí lãnh đạo đương chức của Đảng, Nhà nước bằng thủ đoạn phán tán thông tin, hình ảnh, clip giả tạo, sai lệch, biến không thành có, thật giả lẫn lộn, gây ra những hoài nghi, hoang mang trong dư luận.

Từ nay đến đại hội, những thông tin bịa đặt vẫn còn nhiều và thủ đoạn điên cuồng hơn. Mỗi chúng ta khi đọc và tiếp nhận thông tin phải tìm hiểu đúng bản chất, không để mắc mưu kẻ xấu./.

Chuyện trời, chuyện đất, chuyện nhân tâm




Khi nói tới trời đất là nói tới lẽ tự nhiên của tạo hóa, con người ở giữa trời đất, ai kết nối, hội tụ được 3 thành tố trên thì người đó đáng ở ngôi Vương. Mỗi khi gặp khó khăn, thách thức thì người ta hay kêu “ôi trời đất ơi, khó quá”, mỗi  khi thành đạt người ta cũng thầm cảm ơn “nhờ trời”. Tuy nhiên, có một điều mà phải ai từng trải nghiệm trên đời thì mới thấu hiểu rằng “khó đo lòng người”. Nói về chuyện trời tức là nói tới đấng siêu nhiên, không ai cản được mà chỉ biết tuân theo “thuận thiên”. 

Chung tay xây dựng, vun đắp cho tinh thần đại đoàn kết các dân tộc trường tồn mãi mãi.

 

Đó là phát biểu của Thủ tướng Chính phủ NGUYỄN XUÂN PHÚC tại Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ II năm 2020. Xin trích dẫn toàn văn bài phat biểu của Thủ tướng:

"Hôm nay, tôi rất vui mừng phấn khởi cùng với các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về dự Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số toàn quốc lần thứ II. Đây là một sự kiện có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc, một biểu tượng đặc biệt về khối đại đoàn kết các dân tộc, như "54 cánh sen tạo nên một Bông Sen Việt Nam” rực rỡ, ngát hương.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi xin gửi tới các bậc lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân, doanh nhân, người có uy tín, 1.593 đại biểu ưu tú dự đại hội và đồng bào các dân tộc thiểu số trên mọi miền đất nước lời thăm hỏi ân cần, tình cảm thân thiết, lời chúc mừng sức khỏe, hạnh phúc. Chúc đại hội của chúng ta thành công tốt đẹp.

Nhìn lại chặng đường 10 năm qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức rất lớn, nhưng nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng lên miền núi, từ thành thị về nông thôn, từ đất liền ra đến hải đảo.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại buổi lễ

Việt Nam được cộng đồng quốc tế vinh danh là một nền kinh tế năng động, tăng trưởng nhanh tại châu Á với GDP tăng trung bình 6,3% trong 10 năm qua. Ngay cả khi thế giới phải đối mặt với đại dịch thế kỷ Covid-19, Việt Nam là một trong số ít nước trên thế giới đạt được mức tăng trưởng kinh tế dương trong năm 2020, thậm chí có thể là quốc gia duy nhất có tăng trưởng kinh tế dương ở khu vực Đông Nam Á, theo dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF).

Sự phát triển của quốc gia đến từ thành công của các địa phương. Bên cạnh các địa phương phát triển luôn duy trì sức tăng trưởng cao, các tỉnh khó khăn-nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc, nhiều tỉnh miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống vẫn luôn nỗ lực để đạt tăng trưởng khá, với ý chí không để tỉnh nhà bị bỏ lại phía sau, quyết tâm phải làm cho các dân tộc tỉnh nhà ngày càng vươn lên cuộc sống ấm no, tốt đẹp hơn. Sự "thay da đổi thịt" ở nhiều nơi có thể cảm nhận hằng ngày, như: Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hòa Bình, Cao Bằng, Gia lai, Kon Tum, Đắc Nông, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Bình Phước, Sóc Trăng, Trà Vinh... 

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ưu tiên bố trí nguồn lực để thực hiện hỗ trợ về giáo dục, y tế, phát triển hạ tầng, kinh tế xã hội cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, chiếm 71,4% tổng chi cho các nhiệm vụ này của cả nước, chiếm 80% tổng chi giảm nghèo của vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nguồn lực Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững được ưu tiên bố trí thực hiện cho địa bàn dân tộc, miền núi, chiếm 70% tổng vốn chương trình qua các giai đoạn. Nguồn vốn cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội chiếm 52,5% tổng dư nợ cả nước trên địa bàn miền núi, dân tộc. Với những quyết tâm và nguồn lực tập trung đầu tư mạnh mẽ như vậy, chúng ta vui mừng nhận thấy: Đến nay, 100% các xã đã có đường ô tô đến trung tâm; 99% trung tâm xã và 80% thôn có điện; 65% xã có hệ thống thủy lợi nhỏ đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống; 80% thôn có đường cho xe cơ giới; trên 50% xã có trạm y tế đạt chuẩn, 100% đồng bào dân tộc thiểu số có BHYT miễn phí. 

Bên cạnh đó, các giá trị truyền thống, văn hóa tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm bảo tồn và phát huy, không chỉ trở thành một tài sản tinh thần cho con cháu mà còn là một tài nguyên mới cho sự phát triển, nhất là du lịch. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng đạt được nhiều kết quả tích cực. Hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng ở các vùng đồng bào dân tộc thêm đoàn kết, thống nhất, vững mạnh hơn. Niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước được củng cố và tăng cường hơn. Nhìn một cách tổng quát, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số chưa bao giờ được khởi sắc như ngày nay.

Chúng ta không chỉ một chiều nhìn thấy các chính sách mà Đảng và Nhà nước đã chăm lo cho đồng bào các dân tộc, mà chúng ta cũng nhận thấy đồng bào các dân tộc đã góp phần rất to lớn vào những thành quả phát triển vĩ đại của đất nước xuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc ta, và gần đây nhất là thành quả của gần 35 năm đổi mới đất nước.

Chỉ chiếm chưa đến 15% dân số, nhưng đồng bào các dân tộc đã và đang góp phần to lớn vào tiến trình phát triển của đất nước. Trong kháng chiến, nhiều chiến công oanh liệt, nhiều tên tuổi của những anh hùng vẫn sống mãi với chúng ta như Hoàng Văn Thụ, La Văn Cầu, Bế Văn Đàn, Đinh Núp, Lò Văn Giá, Sơn Ton, Hồ Vai, Pi Năng Tắc, Kpuih Thu... và hàng ngàn anh hùng liệt sĩ là người dân tộc thiểu số đã hy sinh anh dũng vì độc lập và tự do của dân tộc. Rất nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là người dân tộc thiểu số.

Trong hòa bình, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều hình thức vinh danh những người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đó là những đại diện tiêu biểu nhưng vẫn chưa đủ để đánh giá hết những đóng góp xuất sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số cho sự phát triển của bản làng, quê hương, đất nước. Đây không phải là thành quả riêng lẻ của từng dân tộc, nó là sự kết tụ và giao hòa, thể hiện tinh thần đoàn kết gắn bó keo sơn máu thịt giữa các dân tộc anh em đồng bào - đồng chí - đồng nghĩa - đồng cảm(1), "tình đồng chí, nghĩa đồng bào". Có thể khẳng định, đoàn kết chính là cội nguồn sức mạnh của đại dân tộc Việt Nam ta. “Khi riêng rẽ, mỗi chúng ta chỉ là một giọt nước. Cùng nhau, chúng ta là đại dương”: Chỉ khi cùng nắm chặt tay nhau tiến lên - 54 dân tộc anh em Con Lạc-Cháu Rồng, chúng ta sẽ xây dựng được một quốc gia hùng mạnh. 

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi vô cùng xúc động và trân trọng ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao đồng bào các dân tộc thiểu số cả nước đã đóng góp xứng đáng công sức của mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giai đoạn vừa qua.

Vui mừng trước những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử đã đạt được, chúng ta cũng thừa nhận còn nhiều hạn chế khuyết điểm chưa thể làm được hay làm tốt hơn được.

Kinh tế đất nước mặc dù tăng trưởng cao trong nhiều năm trở lại đây, quy mô kinh tế giờ đây đã ở trong nhóm 4 nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, song chúng ta vẫn còn ở nước có thu nhập trung bình, chúng ta vẫn phải nỗ lực rất nhiều để sớm hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường vào năm 2045 – sánh vai với các nước phát triển như Bác Hồ mong ước.

Nhà nước đã đầu tư đáng kể vào kết cấu hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu, trong khi ở nhiều nơi, các dự án đầu tư vẫn chưa mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội mong muốn. Kết quả thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu, cấp bách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung chuyển biến chậm.

So với sự phát triển của cả nước và ở từng địa phương, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, nhất là ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo, nguy cơ tái nghèo còn cao, khoảng cách thu nhập so với cả nước ngày càng giãn cách. Kỹ năng lao động của người dân tộc thiểu số còn thấp, khiến cho cơ hội việc làm hạn chế và thu nhập chậm được cải thiện.

Hiện tượng di cư tự do, vấn nạn tàng trữ, buôn bán, sử dụng chất ma túy ở một số thôn bản còn diễn ra phức tạp; tình hình an ninh trật tự ở các tuyến biên giới, cửa khẩu có nhiều thách thức; bản sắc văn hóa của nhiều dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một, trong khi nhiều hủ tục lạc hậu chậm được khắc phục, nhất là vấn nạn tảo hôn và tình trạng hôn nhân cận huyết làm suy kiệt nòi giống.

Cộng đồng các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách rời và là “máu-thịt” của dân tộc Việt Nam, “no đói có nhau, sướng khổ cùng nhau”. Đầu tư phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là đầu tư phát triển bền vững đất nước, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội; là yếu tố có tính nền tảng để đảm bảo đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong không khí long trọng, trang nghiêm của đại hội, chúng ta thành kính tưởng nhớ công lao trời biển của Bác Hồ muôn vàn kính yêu, cùng nhau nhắc nhớ lời căn dặn thiêng liêng của Người: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”.

Trong hệ thống quan điểm hướng đến đồng bào các dân tộc anh em mà Bác đã dặn, có hai điều quan trọng nhất mà chúng ta không được phép quên, đó là: "Đoàn kết các dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào".

Trên tinh thần đó, tôi đề nghị thời gian tới, các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị từ Trung ương đến cơ sở cần tập trung thực hiện thật tốt các nội dung sau:

Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền từ Trung ương đến các địa phương, cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có trách nhiệm tiếp tục phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện hiệu quả Kết luận số 65-KL/TW ngày 30-10-2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới. Trên cơ sở đó xây dựng chương trình hành động, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện. Nỗ lực cao nhất để giải quyết căn bản những vấn đề bức thiết đặt ra trong thực tiễn, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và đời sống của người dân, thực hiện phương châm hành động “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Hai là, tiếp tục đổi mới tư duy, hành động quyết liệt, với quyết tâm chính trị cao nhất, thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 88/2019/QH14 và Nghị quyết số 120/2020/QH14 của Quốc hội khóa XIV và Quyết định số 1409/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết số 120 của Quốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.

Chính quyền các địa phương cần phát huy tính năng động, sáng tạo, trên cơ sở các tiềm năng, lợi thế của địa phương, tập trung nỗ lực và nguồn lực để sớm cụ thể hóa tinh thần Kết luận 65 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 120 của Quốc hội và Quyết định số 1409 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tinh thần lớn nhất là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo nhanh, bền vững và tránh tái nghèo; các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cần tập trung khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số; thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập so với mặt bằng chung cả nước; quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đồng bộ, liên vùng, kết nối với các vùng phát triển xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, gần dân hơn, hiểu dân hơn, trọng dân hơn và hết mực phụng sự dân; tăng cường giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm an ninh biên giới quốc gia.

Ba là, tôi mong muốn đồng bào dân tộc thiểu số của chúng ta dù khó khăn vất vả đến đâu cũng phải ưu tiên thời gian và tiền của, tạo mọi điều kiện để cho con em chúng ta được đến trường, được vui chơi, được học hành đến nơi đến chốn. Chỉ có giáo dục mới là con đường duy nhất đưa bản làng, quê hương, đất nước chúng ta phát triển giàu mạnh được. Trong tương lai, ngày mai tươi sáng phụ thuộc vào những gì chúng ta chuẩn bị trong ngày hôm nay. Chúng ta hãy cùng vun đắp khát vọng vượt khó vươn lên, phấn đấu làm giàu chính đáng, ngay trên mảnh đất quê hương mình.

Hãy cùng nhau giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc (về tiếng nói, chữ viết, dân ca, dân vũ, dân nhạc...), đồng thời cần kiên quyết bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan, nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết. Hãy tìm cách chuyển hóa các di sản và bản sắc dân tộc đó trở thành một nguồn lực, một thứ tài nguyên cho sự phát triển bền vững. Hãy truyền dạy cho con cháu muôn đời về lòng yêu nước của cha ông ta, về tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc; về đức tính cần cù, chịu khó, thật thà, tốt bụng; về ý chí dấn thân vì cộng đồng, đất nước; hãy khơi gợi tinh thần và khát vọng về một Việt Nam hùng cường năm 2045 trong đồng bào dân tộc thiểu số.

Bốn là, rừng là lá phổi của chúng ta. Với đồng bào dân tộc thiểu số, rừng trước tiên còn là tấm áo giáp góp phần bảo vệ an toàn khỏi thiên tai, lũ lụt, sạt lở. Rừng cũng là sinh kế của đồng bào. Vì thế, đã đến lúc đồng bào dân tộc thiểu số phải giữ rừng như chính sinh mạng của mình. Cùng nhau lên án và chặn đứng tệ nạn khai thác, chặt phá rừng trái phép. Đảng và Nhà nước sẽ tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu để ban hành cơ chế, chính sách phù hợp hơn với thực tế; từng bước để đồng bào tăng thu nhập, bảo đảm lợi ích nhiều mặt từ bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ lá phổi xanh cho đất nước, góp phần quan trọng phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu.

Năm là, chúng ta phải cùng nhau tiếp tục xây dựng, vun đắp cho tinh thần đại đoàn kết các dân tộc trường tồn mãi mãi. Như Bác Hồ kính yêu từng dạy: "Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa”. Đại đoàn kết là cội nguồn sức mạnh, là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được bao thế hệ cha anh bền bỉ xây dựng, vun đắp, bằng mồ hôi, công sức; bằng sự nhọc nhằn, hy sinh; bằng ý chí, sức mạnh và niềm tin của lòng dân. Bởi vậy, tôi rất kỳ vọng gần 1.600 đại biểu ưu tú của 54 dân tộc anh em, từ mọi miền của đất nước hội tụ về đại hội hôm nay sẽ lan tỏa tinh thần đại đoàn kết các dân tộc lên tầm cao mới; truyền cảm hứng, kết nối đồng bào các dân tộc thiểu số cùng với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, đồng lòng chung sức, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước ta phát triển cường thịnh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Từ diễn đàn đại hội hôm nay, chúng ta tin tưởng sâu sắc rằng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng sắp tới, sẽ đánh giá đúng đắn thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử đã đạt được, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm rút ra của khóa XII. Đồng thời đề ra được chủ trương, quyết sách lớn, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh truyền thống với bản sắc văn hóa của các dân tộc với sức mạnh của thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.

Xin chúc các vị đại biểu, đồng bào, đồng chí mạnh khỏe; Chúc đại hội của chúng ta thành công tốt đẹp. Chúc khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam ta ngày càng vững mạnh. Cơ đồ đất nước, vinh quang Tổ quốc đời đời thuộc về cộng đồng các dân tộc Việt Nam ta"./.

 

Liên minh quốc tế Stefanus can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Nhà nước Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng Hiến chương của Liên hợp quốc.

 

Nhiều năm nay, việc một số đối tượng luôn có hành vi, hoạt động vi phạm pháp luật chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam song lại được một vài tổ chức quốc tế nhân danh nhân quyền tôn vinh, trao tặng giải thưởng, khiến dư luận đã phải đặt câu hỏi về mục đích của các tổ chức này. Bởi, bất chấp thành tựu của Việt Nam về thực thi và bảo vệ quyền con người đã được quốc tế ghi nhận, các tổ chức này đang lợi dụng nhân quyền làm chiêu bài phục vụ cho các mưu đồ hiểm độc.. Mới đây nhất là Liên minh quốc tế Stefanus (Stefanus Alliance International) đã công khai thông tin về việc trao “giải thưởng Stefanus 2020” cho Nguyễn Bắc Truyển với đài RFA vì “có thành tích trong hoạt động thúc đẩy quyền tự do tín ngưỡng và bảo vệ những sắc tộc thiểu số tôn giáo”. Nguyễn Bắc Truyển trước đây bị bắt và đang phải chấp hành bản án 11 năm tù, 3 năm quản chế về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và một số đối tượng khác.

Những thủ đoạn đó càng cho thấy, họ cố tạo ra những trò hề, là động thái chống phá Nhà nước Việt Nam của các tổ chức này.

Từ thực trạng của cái gọi là “giải thưởng nhân quyền”, có thể thấy bản chất các giải thưởng này chỉ là thủ đoạn giúp các tổ chức chống cộng quốc tế hợp thức hóa việc cung cấp tiền bạc cho những kẻ được họ o bế, tiếp tay hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam.

Đây có thể nói là hành động can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Nhà nước Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng Hiến chương của Liên hợp quốc.

Vì thế, cần nhận diện và vạch trần bản chất xấu xa của các loại giải thưởng nhân danh nhân quyền nêu trên, đồng thời khẳng định rõ đó không phải là việc tôn vinh cá nhân, mà chính xác là hành vi tiếp tay cho cái xấu. Tiếp cận và nhìn nhận đúng đắn vấn đề sẽ giúp chúng ta hiểu rõ bản chất cùng các trò ma quỷ của những kẻ đã và đang mưu đồ cản trở, phá hoại sự ổn định, phát triển của Việt Nam; đồng thời giúp những người còn mơ hồ, thiếu hiểu biết không bị mê hoặc, không bị sa vào “cái bẫy” của kẻ xấu./.

AI ĐÃ VÔ ƠN???

Năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh mất, Cuba và nhiều nước trên thế giới (có những nước không thuộc chế độ Cộng Sản) đã tổ chức Quốc tang 7 ngày.

Năm 1973, khi chiến tranh Việt Nam đang trong giai đoạn cực kỳ căng thẳng. Fidel Castro trực tiếp đến Việt Nam, tham gia vào phòng tuyến Quảng Trị. Trong chuyến thăm này, Cuba tặng Việt Nam nhiều công trình kinh tế - xã hội trị giá khoảng 80 triệu đô la gồm:


- Khách sạn Thắng Lợi ở Hà Nội, trên đường Yên Phụ, Hồ Tây. Hiện nay vẫn còn sử dụng tốt


- Nông trường bò sữa Mộc Châu với 1.200 con bò thụ thai ở Cuba và đẻ ở Việt Nam (trẻ em Cuba được uống sữa miễn phí hằng ngày, còn trẻ em Việt Nam không có sữa mà uống vì các công trình y tế, trang trại bị Mỹ ném bom phá hủy)


- Nông trường gà ở Lương Mỹ (Hòa Bình) sau thành nơi cung cấp gà giống cho cả miền Bắc (sữa không có mà uống, thịt không có mà ăn) ==>(?!!!)


- Bệnh viện Cuba 500 giường ở Đồng Hới (Quảng Bình). Ai là dân Quảng Bình chắc chắn phải biết nhờ cái bệnh viện này hàng trăm nghìn người đã được chăm sóc y tế, đã được cứu sống.


- Chính phủ Cuba ngoài viện trợ lương thực, y tế còn quyết định chi hơn 6 triệu USD để mua các trang thiết bị hiện đại từ Nhật Bản và cử một số sĩ quan, chuyên viên sang Việt Nam để tu sửa, xây dựng cầu đường.


Năm 1977, Cuba vận động tất cả các nước Mỹ Latinh bỏ phiếu ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc.


Năm 1979, khi Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam. Fidel Castro lại một lần nữa nhấn mạnh "Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình". Ông ra lệnh cho quân đội sẵn sàng đến trợ giúp Việt Nam. Tuy nhiên ngay sau đó, Liên Xô đưa quân đội cùng rất nhiều tên lửa đến sát biên giới Trung Quốc và tuyên bố sẽ san phẳng Bắc Kinh nếu như Trung Quốc không rút quân về nước. Trung Quốc vội vàng thu quân.


Những năm 80, Mỹ cấm vận, trừng phạt kinh tế, dùng nhiều thủ đoạn để cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao của Việt Nam với thế giới, Cuba vẫn luôn luôn viện trợ Việt Nam về mọi mặt.


Năm 1973 Cuba giúp ta bắc cầu treo Bến Tắt qua thượng nguồn sông Bến Hải vào nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn trên đường Hồ Chí Minh nhánh đông và rải nhựa đoạn này trước khi giải phóng miền Nam. Năm 2005 lũ lớn cuốn trôi cầu ta phải phục chế lại để giữ kỷ niệm của nước bạn... Đến nay nhiều bạn trẻ không biết nghĩa tình chung thủy VN- CB son sắt đến mức nào


Năm 1986 xảy ra thảm họa nguyên tử Chernobyl ở Ukraine. Hàng ngàn trẻ em Ukraine đã được sang Cuba điều trị miễn phí. Tuy không được phía Cuba tiết lộ, các quan chức chính phủ Ukraine ước tính chi phí điều trị cho đến nay không dưới 300 triệu USD.

Mặc dù hiện nay Ukraine bài trừ cộng sản nhưng Tổng Thống Ukraine Petro Poroshenko, sau khi biết tin ông Fidel Castro mất, đã gửi lời tri ân đến ông và nhân dân Cuba về điều này.


Những năm 1980, 1990 Việt Nam ở trong tình trạng khan hiếm vaccine. Giá vaccine thời ấy cực kỳ đắt đỏ. Trẻ sơ sinh có tỷ lệ tử vong tăng cao. Cuba đã viện trợ rất nhiều vaccine cho Việt Nam, đồng thời đào tạo nhiều y bác sỹ cho Việt Nam.

Thế hệ 8x và 9x của Việt Nam cao lớn và khỏe mạnh như hiện nay đều nhận những mũi vaccine từ Cuba, vì sao họ vội quay lưng hùa theo mạng xã hội ném đá...

và còn nhiều, nhiều, nhiều nữa...Fidel Castro và người dân Cuba đã vì Việt Nam như thế...Vậy, tại sao nhiều người đã vô ơn không nhớ điều đó?! Chúng ta có thể thích người này ghét người kia, hay có tư tưởng chính trị khác nhau hoặc có người muốn mượn chuyện Cuba để nói chuyện nước ta nước Lào; nhưng cho dù vì mục đích gì mà tỏ thái độ báng bổ và vô ơn với người đã từng giúp đỡ mình thì đó không phải là truyền thống đạo đức của người Việt Nam, ngày 04/12 nước ta tổ chức Quốc tang dành cho Fidel Castro bạn sẽ làm gì để tưởng nhớ ông ấy???!!!

TỈNH TÁO NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, PHẢN ĐỘNG

 

Những ngày qua, trên các trang mạng nước ngoài và một số tài khoản blog, facebook cá nhân... đã chủ ý đăng tải nhiều thông tin xuyên tạc, thất thiệt và cố tình suy diễn về công tác chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII. Chúng tung ra các luận điệu xuyên tạc, quy chụp công tác chuẩn bị nhân sự Trung ương bị chi phối bởi “nhóm lợi ích” từ một bộ phận quan chức cầm quyền ở Trung ương sắp đặt sẵn, bắt buộc các cấp phải thi hành thông qua hình thức dân chủ “mị dân”… Những thông tin nêu trên là nhằm gây nhiễu loạn tình hình nhân sự trong Đảng, hạ thấp uy tín của cán bộ lãnh đạo đương chức, gây nghi kỵ, mâu thuẫn nội bộ, dẫn đến thiếu thống nhất, mất đoàn kết. Đây thực chất là một thủ đoạn hết sức nham hiểm, thâm độc của kẻ thù, bởi công tác cán bộ và sự đoàn kết trong Đảng, đồng thuận trong xã hội là một trong những vấn đề hết sức hệ trọng đối với cách mạng Việt Nam. Đảng ta coi công tác nhân sự luôn là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhất là thời điểm hiện nay đang diễn ra cuộc chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước XHCN, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau. Do đó, bài học xương máu về sự sụp đổ của hệ thống XHCN tại Liên Xô trước đây có nguyên nhân từ sai lầm về công tác cán bộ dẫn đến việc quyền lực của Đảng Cộng sản bị giao vào tay những người phản bội lại chế độ XHCN đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Còn vấn đề đoàn kết trong Đảng, đồng thuận trong xã hội được xem là sức mạnh nội sinh, là bức tường thành vững chắc để Đảng ta lãnh đạo nhân dân đánh thắng mọi kẻ thù, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chính vì vậy, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá ta về công tác cán bộ nói chung, công tác nhân sự Đại hội Đảng nói riêng và khối đoàn kết trong Đảng, đại đoàn kết toàn dân tộc./.

Kiên quyết đấu tranh chống các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch

 


Trong những năm qua, hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi và quyết liệt. Trước hết, chúng đẩy mạnh tuyên truyền, kích động, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm nhân quyền và lôi kéo một số đối tượng người dân tộc lập các tổ chức ly khai chống chế độ, chủ yếu là thông qua các đài phát thanh ở hải ngoại và các tổ chức phản động ở nước ngoài; trực tiếp hơn là lôi kéo bộ phận người dân tộc từ Việt Nam di cư sang các quốc gia láng giềng tham gia các tổ chức phản động, thực tập vũ trang cướp chính quyền như hoạt động của “Vương quốc Hmông” ở Tây Bắc, “Nhà nước Đề ga” ở Tây Nguyên.

Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những điều kiện mói của thế giới, vấn đề dân tộc và các động thái tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam để liên kết các cộng đồng tôn giáo thành một lực lượng chính trị kích động tâm lý dân tộc cực đoan, đòi tự trị, ly khai.. Đây là một trong những vấn đề bức xúc, đang nổi lên ở một số địa bàn trọng yếu, nhạy cảm, có sự đa dạng về thành phần tộc người và tôn giáo ở Việt Nam, từ miền núi phía Bắc, miền Tây Thanh Hóa - Nghệ An, Tây Nguyên đến Tây Nam bộ.

Ngoài các thủ đoạn trên, tại một số địa bàn trọng yếu, nhạy cảm, khu vực biên giới, bằng nhiều phương thức và những thủ đoạn khác nhau, núp dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền, quyền của người bản địa”, các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền và những hạn chế trong thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước để tập hợp lực lượng, tuyên truyền, xuyên tạc, kích động tư tưởng tự trị, ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi nhằm thực hiện ý đồ phá hoại tính cố kết nội bộ tộc người và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc ở Việt Nam.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cần phát huy cao độ trong phòng, chống COVID-19 hiện nay

 


Thời gian vừa qua trong chống dịch COVID-19 Việt Nam đã được cộng đồng thế giới đánh giá rất cao. Tuy là một quốc gia phát triển ở mức trung bình trên thế giới, nhưng qua hai lần chống dịch COVID-19, Việt Nam đã chứng tỏ cho thế giới rằng: Là một quốc gia có năng lực chống dịch rất tốt. Vấn đề là thành công trong chống dịch COVID-19 được xuất phát từ nguyên nhân nào. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến Việt Nam chống dịch thành công qua hai lầ chống dịch. Đó là sự vào cuộc nhanh, triệt để của toàn xã hội. Mục đích chống dịch là vì tính mạng người dân. Quốc gia có truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, yêu nước, đồng cam, cộng khổ…Những vấn đề trên là nguyên nhân cơ bản mang đến thành công trong chống dịch COVID-19 thời gian qua. Những vấn đề trên cần phát huy hơn nữa và cần được thắp sáng lên hơn nữa tyrong điều kiện mấy ngày vừa qua dịch đã bùng phát trở lại ở Thành phố Hồ Chí Minh.

 Chúng ta hãy phát huy cao độ tinh thần yêu nước cách  mạng, bởi vì chỉ có tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm của mọi người dân Việt nam, chúng ta mới vượt lên trong giai đoạn này, chúng ta mới thực hiện tốt mục tiêu kép, mới thực hiện được trạng thái bình thường mới trong xã hội hiện nay.

Tác động của toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế đến giải quyết mối quan hệ tộc người ở Việt Nam

 


Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một trong những nhân tố có ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ tộc người ở nước ta trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá. Kinh tế thị trường đã thâm nhập các làng bản, vùng cao, vùng sâu, vùng xa để người dân có thể thụ hưởng nhiều sản phẩm tiêu dùng từ các nước khác trong khu vực hay trên thế giới. Tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc được mở rộng, làm cho diện mạo các tộc người có sự thay đổi theo hướng tích cực.

Ảnh hưởng của toàn cầu hoá đến với các tộc người có thể thông qua con đường trực tiếp hay gián tiếp. Với một số người tộc người sống vùng biên giới, qua con đường làm ăn, trao đổi và tiếp xúc với người nước ngoài, họ đã chịu ảnh hưởng trực tiếp của toàn cầu hoá. Song có một bộ phận lớn dân cư các tộc người ở nước ta chịu tác động gián tiếp, đó là qua sự điều tiết của kinh tế thị trường, đô thị hoá, hay tác động của tộc người đa số. Qua đó, toàn cầu hoá đã gia tăng mối quan hệ, liên hệ giữa các tộc người, trên cả phương diện kinh tế, văn hóa và các phương diện khác.

Như vậy, các ảnh hưởng tích cực, ngoài việc thụ hưởng và nâng cao đòi sống vật chất, rõ ràng toàn cầu hoá cũng làm phong phú thêm đời sống xã hội và văn hoá các tộc người, về phương diện văn hoá, ở đây không phải hoàn toàn chỉ là sự “lai căng”, mà có cả tiếp thu, học hỏi văn hoá. Mặt khác, cũng phải thừa nhận, do tác động của toàn cầu hoá, một số khía cạnh văn hoá truyền thống được khôi phục và phát huy tốt hơn, như dưới ảnh hưởng của du lịch, nhiều nghề thủ công truyền thống và tri thức địa phương được phát triển để phục vụ du khách.

Phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết trong chống dịch COVID-19

 


Thời gian vừa qua trong chống dịch COVID-19 Việt Nam đã được cộng đồng thế giới đánh giá rất cao. Tuy nhiên mấy ngày vừa qua dịch đã bùng phát trở lại ở Thành phố Hồ Chí Minh. Việc dịch bùng phát trở lại đã được giới chuyên gia cảnh báo từ trước, bởi vì từ những vấn đề chủ quan lơ là mất cảnh giác, đến những vấn đề về ý thức trách nhiệm, về vấn đề quản lý của các cấp còn lỏng lẻo, đến những vấn đề nảy sinh tiềm ẩn khác…Hiện tượng ở thành phố Hồ Chí Minh là biểu hiện của ý thức trách nhiệm trong chấp hành cách ly. Đây là bài học rất lớn để chúng ta có những giải pháp căn cơ trong chống dịch COVID- 19 trong thời gian tới. Như chúng ta đã biết, hiện nay bệnh dịch COVID-19 đang hoành hành rất nghiêm trọng ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, ngay cả những nước rất phát triển về quản lý xã hội và tiềm năng y tế tiên tiến bậc nhất thế giới, đã gây hậu quả nghiêm trọng về người và tài sản cho loài người. Việc phòng chống dịch thành công như Việt Nam trong thời gian vừa qua có thể nói là một kỳ tích, được ghi nhận từ phía các nước trên thế giới. Tuy nhiên chống dịch đã khó, việc phòng dịch lại càng khó hơn. Bởi vì để dịch không trở lại, trong xã hội phải thực hiện rất tốt các biện pháp phòng, chống dịch. Các biện pháp phòng, chống dịch này nó ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, thái độ, ý chí và tính văn minh của con người. Chính vì vậy trong những ngày tới, chúng ta phải quyết liệt hơn nữa, đồng bộ hơn nữa, nghiêm túc hơn nữa để cả xã hội chung tay, đoàn kết trong chống dịch COVID-19.

Yếu tố lịch sử tộc ngưòi chi phối lớn đến quan hệ dân tộc ở Việt nam

 


Lịch sử tộc người và quan hệ tộc người gắn liền với các yếu tố nguồn gốc và lãnh thổ tộc người, chính trị, văn hóa, tôn giáo trên hai phạm vi: quan hệ nội bộ tộc người giữa các nhóm tộc người (nhóm địa phương) trong phạm vi quốc gia và quan hệ đồng tộc ỉiên/xuyên quốc gia. Quá trình lịch sử tộc người ở Việt Nam thời gian qua diễn ra vừa có quá trình cố kết tộc người, vừa có cả quá trình đồng hóa tự nhiên. Nhưng chi phối hơn cả, bao trùm hơn cả là quá trình hòa hợp, cố kết tộc người. Ở một quốc gia đa tộc người như Việt Nam, các tộc đa số hay thiểu số, dù có mặt lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam hay mới gia nhập vào cộng đồng các tộc người Việt Nam thống nhất, có trình độ phát triển cao hay thấp đều tham gia vào quá trình dựng nước và giữ nước.

Vnguồn gốc, các tộc người ở Việt Nam có nhiều truyền thuyết giải thích họ cùng chung nguồn gốc. Yếu tố lịch sử về nguồn gốc là điều kiện thuận lợi để cộng đồng các tộc người gần gũi gắn bó, đoàn kết, kề vai sát cánh bên nhau, đùm bọc lẫn nhau trong quá trình dựng và giữ nước. Bên cạnh đó, các tộc người ở Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh quá trình hòa hợp tộc người, về phương diện nhân chủng học thì đại bộ phận các tộc người ở Việt Nam đều thuộc loại hình Mongoloid phương Nam. về phương diện ngôn ngữ, ngoại trừ một số ít cư dân ngữ hệ Hán - Tạng, còn đại bộ phận các tộc người sinh sống ở Việt Nam đều thuộc ngữ hệ phương Nam, bao gồm hai ngữ hệ là Nam Á và Nam Đảo về mặt cư trú, do quá trình di cư xảy ra liên tục với nhừng nhóm lớn nhỏ khác nhau nên từ lâu đã tạo nên việc cư trú xen kẽ.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với một chính sách dân tộc đúng đắn, việc cư trú xen kẽ lại là những điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa, hôn nhân, làm tiền đề cho quá trình hòa hợp dân tộc, dựng nước và giữ nước, bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, sự tồn tại của cả cộng đồng các tộc người.

Quá trình hình thành dân tộc Việt Nam thống nhất chính là quá trình dẫn đến sự thay đổi về chất trong những tộc người ở Việt Nam. Trong suốt tiến trình lịch sử, đặc biệt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tộc người không phân biệt số lượng đông hay ít, có mặt lâu đời hay mới có mặt trên lãnh thổ Việt Nam, ở trình độ phát triển cao hay thấp đều tham gia vào quá trình dựng nước và giữ nước, đều coi Việt Nam là Tổ quốc chung. Nhờ vậy, ý thức quốc gia dân tộc, lòng tự hào, tự tôn dân tộc sớm hình thành và ngày càng phát triển.

Nhanh chóng hơn nữa trong chống dịch COVID-19

 


Trong những ngày vừa qua Việt Nam chúng ta lại có ca mắc mới dịch COVID-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây có thể nói là vấn đề rất nghiêm trọng trong tình hình hiện nay. Khi dịch bùng phát Đảng ,Nhà nước, cả hệ thống chính trị nhanh chóng vào cuộc để chống dịch. Với phương châm: Chống dịch như chống giặc; Quyết liệt hơn, thần tốc hơn nữa trong phòng, chống dịch COVID-19 hiện nay. Đây là sự quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn dân Việt Nam trong chống dịch COVID- 19. Tuy nhiên chúng ta phải nhiều biện pháp đồng bộ hơn nữa ở các địa phương khác. Ví dụ như việc đeo khẩu trang, qua mấy ngày chống dịch ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng tâm lý chủ quan vẫn còn ở một số người, vẫn còn hiện tượng tụ tập đông người; vẫn còn nhiều người không đeo khẩu trang ở nơi công cộng… Những việc làm trên đã thể hiện tính chủ quan của người dân trong chống COVID-19 lần này.

Điều kiện tư nhiên và môi trường sinh thái ảnh hưởng lớn đến quan hệ dân tộc ở Việt Nam

 


Việt Nam bao gồm nhiều vùng lãnh thổ đặc trưng (Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ). Sự biến đổi về điều kiện tự nhiên thường dẫn tới sự biến đổi quan hệ dân tộc như một tất yếu khách quan trong phát triển xã hội. Những thành tựu đạt được trong 30 năm đổi mới cũng đồng thi làm cho quan hệ tộc người truyền thống biến đổi theo nhằm phù hợp với môi trường sinh thái mới. Các tộc người ở Việt Nam vốn gắn với nền nông nghiệp độc canh đang tịnh tiến đến nền nông nghiệp nhiệt đới thâm canh, đa canh theo hướng sản xuất hàng hóa. Sự hình thành và phát triển các vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa có năng suất cao cũng đã xuất hiện ở nhiều vùng Tây Bắc, Tây Nguyên... Do đó, quan hệ dân tộc cũng được mở rộng không ngừng, không chỉ bó hẹp trong cộng đồng nội tộc người mà với các tộc người khác, đặc biệt quan hệ giữa tộc người thiểu số với tộc người đa số (người Kinh). Sự biến đổi môi trường tự nhiên, làm cho nhiều tộc người vổn sống nghề thủ công nghiệp truyền thống hướng đến bán công nghiệp. Cơ cấu sản phẩm công nghiệp không ngừng biến đổi để phù hợp với tài nguyên lao động và nền kinh tế thị trường. Trên cơ sở đó, quan hệ dân tộc mở rộng không ngừng, các tộc người không chỉ còn sống với nghề thủ công truyền thống với các thành viên trong cộng đồng nội tộc mà họ đã hướng đến làm việc cùng với các tộc người khác, với tộc người đa sổ (người Kinh) và cả với các tộc người từ Cămpuchia, Lào sang hay Trung Quốc đến.

Trong những năm qua, quá trình khai thác kinh tế của người Kinh ở vùng dân tộc thiểu số đã xuất hiện nhiều nông, lâm trường, cùng nhiều điểm dân cư mới. Tuy nhiên, xã hội chưa quan tâm đúng mức đến hệ quả của việc khai thác tài nguyên thiên nhiên. Nạn suy thoái rừng do cháy rừng, khai thác rừng cạn kiệt đang là những báo động lớn. Bên cạnh đó, vấn đề di cự tự do kèm theo việc khai thác tài nguyên rừng bừa bãi chưa kịp thời ngăn chặn đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm ưọng. Việc xây dựng các công trình thủy điện lớn cũng đã làm thay đổi hệ sinh thái, tác động không nhỏ làm suy thoái môi trường và tài nguyên. Tỷ lệ che phủ rừng hiện còn thấp, độ dốc lớn, khí hậu biến đổi dẫn tới thiên tai, lũ lụt. Nhiều vùng có độ dốc lớn, đất đai bị xói mòn, bạc màu, cằn cỗi (nhất là khu vực Tây Bắc), gây khó khăn, hạn chế lớn cho việc mở rộng giao lưu, nhất là những vùng cao, vùng sâu, vùng biên giới.

Những khó khăn, thách thức nêu trên liên quan trực tiếp đến quan hệ dân tộc. Những cuộc tranh cãi, xung đột vì xâm phạm lãnh thổ sinh tồn liên quan đến nguồn tài nguyên, đất đai giữa các tộc người tại chỗ với các tộc người mới di cư chưa được khắc phục. Tình trạng phân hóa giàu nghèo, dẫn đến nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp trong quan hệ dân tộc.

Sự phát triển kinh tế đồng thời cũng làm biến đổi môi trường định cư, không gian xã hội tộc người, điều đó cũng đồng nghĩa với sự biến đổi quan hệ tộc người trên phương diện văn hóa. Văn hóa truyền thống của tộc người bắt đầu biến dạng do sự xâm nhập của các luồng văn hóa hiện đại từ người Kinh, từ nền kinh tế thị trường... vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của mỗi tộc người đang được đặt ra, nhưng việc thực hiện còn nhiều bất cập, hiệu quả không cao, tác động xấu đến quan hệ tộc người, đến sự ổn định và phát triển xã hội.

Tình hình nói trên, một số phần tử thù địch trong và ngoài nước đã lợi dụng, kích động, làm cho các mối quan hệ tộc người ở Việt Nam, nhất là vùng biên giới trở nên căng thẳng, phức tạp, dẫn đến xung đột tộc người ở một số khu vực “nhạy cảm” thuộc nhiều địa phương trong thời gian vừa qua.