Thứ Ba, 15 tháng 12, 2020

"CÁI TÔI" "TO" HAY "BÉ"

 Đã sinh ra, tồn tại trong cuộc đời, ai cũng có “cái tôi” của riêng mình. Cái tôi chính là bản ngã, bản chất, cá tính vốn có của mỗi con người. “Cái tôi” vừa để phân biệt, vừa để khẳng định “ta là ai” trong thế giới bao la này.

Nói về “cái tôi” của cán bộ thời nay, cũng có dăm bảy hạng “cái tôi”.
Có những cán bộ luôn thể hiện “cái tôi” của mình một cách sáng suốt, tiên phong trong việc khai phá những hướng đi mới, cách làm mới, tất cả vì lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng, lợi ích xã hội; đồng thời kiên quyết rũ bỏ tác phong quan liêu, lề lối làm việc “ghế sa lông, bàn giấy, phòng lạnh” để thúc đẩy mọi công việc diễn ra suôn sẻ, hanh thông. “Cái tôi” đó là “cái tôi” quyết đoán, mạnh mẽ, “cái tôi” vượt trước rất đáng khích lệ.
Có những cán bộ bộc lộ “cái tôi” của mình một cách bình thản, nhã nhặn, không ồn ào, không hô hào hiệu triệu chung chung, không thích “trống giong, cờ mở”, mà luôn kiên trì, bền bỉ làm thay đổi tình hình bằng cách nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều, làm đến đâu chắc chắn, hiệu quả đến đó. “Cái tôi” đó là “cái tôi” sâu sắc, “cái tôi” đáng nể.
Có những cán bộ biểu hiện “cái tôi” tế nhị, khéo léo, ứng xử có trước có sau, kính trên nhường dưới, tôn trọng đồng cấp, đồng nghiệp, không tham quyền cố vị, không vun vén trục lợi cho cá nhân và gia đình, biết điều hòa các mối quan hệ lợi ích để trong cơ quan, đơn vị không ai bị thiệt thòi hay bị đứng ra “ngoài lề”. “Cái tôi” đó là “cái tôi” nhân văn, “cái tôi” đáng trọng.
Tuy thế, nơi này, nơi khác, chỗ nọ, chỗ kia vẫn có những “cái tôi” của cán bộ lãnh đạo khiến cấp trên nghi ngại, cấp dưới phàn nàn, dư luận than phiền. Ví như, có vị bí thư cấp huyện từng nói rằng: “Ban chấp hành đảng bộ tỉnh cũng là tôi, hội đồng nhân dân huyện cũng là tôi, lãnh đạo huyện cũng là tôi, vậy tôi không có quyền quyết định vấn đề đó hay sao?”. Lại nữa, có cán bộ chủ chốt (vừa là người đứng đầu cơ quan hành chính, vừa đảm nhiệm vai trò bí thư cấp ủy) đề cao vị thế quyền lực của mình: “Dân chủ là cứ cho mọi người thoải mái nói ra, bàn cho hết nước hết cái đi, tranh luận xới xáo mọi vấn đề cho ra nhẽ đi, nhưng người quyết định cuối cùng và cao nhất phải là tôi!”. Chưa hết, có cán bộ ở cơ sở từng nói như cảnh báo: “Cứ cho mọi người thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đi, nhưng tôi mới là chủ tài khoản số 1 ở đây!”... Những lời nói, phát ngôn trên xuất phát từ “cái tôi” chuyên quyền, độc đoán, tham quyền, vụ lợi, háo danh, nên đó là “cái tôi” nhỏ bé, tầm thường, không xứng với tâm thế, vị trí của người “cầm cân nảy mực”.
Thời gian gần đây, cũng đã xuất hiện “cái tôi” của một số cán bộ mà người ta thường gọi là “cái tôi nổ”, “cái tôi hào nhoáng”, “cái tôi nửa vời”, “cái tôi tinh vi”... “Cái tôi nổ” là chỉ biết nói hay, nói giỏi, diễn thuyết tốt trước đám đông nhưng làm lại dở, hiệu quả thấp. “Cái tôi hào nhoáng” là cố tình tận dụng truyền thông, tranh thủ cơ hội trước tập thể để “đánh bóng cá nhân”, mà thực chất là vuốt ve, lấy lòng cả cấp trên, cấp dưới và đồng nghiệp, mà không chú ý vào công việc thực tế của mình. “Cái tôi nửa vời” nghĩa là khi chỉ đạo thì tỏ ra vẻ ráo riết, “đao to búa lớn”, nhưng lại thiếu sâu sát kiểm tra, giám sát cụ thể nên kết quả không như mong muốn chủ quan của cá nhân. “Cái tôi tinh vi” là chỉ biết nhăm nhăm kín đáo “mua chuộc” các mối quan hệ cốt để mang lại lợi ích cho riêng mình.
Vì sao người ta lại dễ nhìn nhận ra “cái tôi” của cán bộ nhất?
Bởi vì, đã là cán bộ dù ở cấp nào thì cũng là “hình ảnh đại diện” của một tập thể, một cộng đồng nhất định. Khi là “hình ảnh đại diện” nên “cái tôi” của cán bộ đương nhiên trở thành “tiêu điểm” để người dân, nhân viên, cấp dưới thuộc quyền của họ nhìn vào. “Cái tôi” của cán bộ tuy thuộc phạm trù cái riêng của cá nhân, nhưng cái riêng đó lại có quan hệ mật thiết với “cái ta”, “cái chung” nên có sự tác động, ảnh hưởng không nhỏ tới mọi người xung quanh.
Muốn để “cái tôi” của cán bộ không trở nên nhỏ mọn, cỏn con, nông cạn, hời hợt đến mức bị xem thường, thì người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải đề cao lòng tự trọng, liêm sỉ, nêu gương, tiếp thu điều hay lẽ phải, trân trọng những chuẩn mực chung của tập thể, tự giác khép mình vào khuôn khổ tổ chức, tự biết làm giàu và nhân lên những giá trị nhân văn, tích cực trong phẩm chất cá nhân để qua đó, dần dần đẩy lùi, hạn chế những yếu tố tiêu cực còn ẩn chứa, lẩn khuất trong “cái tôi” tầm thường của mình./.

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN KhÔNG THỂ LỖI THỜI

Hầu hết những người phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn thường lập luận, thế giới ngày nay đã phát triển vượt bậc, mọi thứ đều đã khác, hệ thống tư bản chủ nghĩa đã thay đổi nhiều đến mức không còn nhận biết được so với hệ thống tư bản chủ nghĩa thời C.Mác nghiên cứu, do đó chủ nghĩa Mác - Lênin đã lạc hậu, tư tưởng của C.Mác không còn phù hợp! Nhưng những lời chống đối ấy đã cố tình lờ đi sự thật là: Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự phê phán sâu sắc nhất, khoa học nhất đối với những bất công, bất bình đẳng. Đó là hệ tư tưởng phản biện duy nhất đã và đang làm thay đổi thế giới theo hướng ngày càng công bằng và tốt đẹp hơn. Cũng có nghĩa, chừng nào xã hội hiện đại còn có những bế tắc, khủng hoảng thì chừng đó chủ Nghĩa Mác - Lênin vẫn tồn tại và phát triển cấp tiến hơn. Một điều chắc chắn là các thế hệ tiếp nối tư tưởng đương nhiên sẽ làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi thời.

Chúng ta thấy rằng, những điều tưởng như hiển nhiên trong cuộc sống của loài người hôm nay như: trẻ em được đến trường chứ không phải đi làm; phụ nữ được giải phóng và bình đẳng với nam giới; người lao động làm việc 8h một ngày, thời gian rảnh không bị ai quản thúc; y tế được chăm sóc toàn dân; giáo dục được phổ cập; người nghèo được quan tâm, người có hoàn cảnh đặc biệt được chia sẻ...tất cả những điều tưởng chừng như hiển nhiên hôm nay không phải ngẫu nhiên có được mà chính sự thật là nhờ sự thức tỉnh được chỉ ra từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chúng ta phải biết ơn Mác và những nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác - Lênin, bởi chính họ mang đến, gieo mầm để những sự thật tốt đẹp đó từng ngày hiển hiện khắp hành tinh.
Khác với tất cả các học thuyết trước đó hoàn toàn chỉ là nhận thức thế giới, với chủ nghĩa Mác – Lênin, vấn đề không chỉ có nhận thức, mà điều quan trọng phải là cải tạo thế giới, nghĩa là làm cho thế giới thay đổi, làm cho thế giới tốt đẹp hơn. C.Mác luôn ý thức được bản chất không ngừng vận động của cái hệ thống tư bản chủ nghĩa mà ông phản bác. Chính nhờ C.Mác mà loài người có được những khái niệm về các hình thái lịch sử khác nhau đã song hành hoặc kế tục nhau tồn tại của tư bản: tư bản thương mại, tư bản nông nghiệp, tư bản công nghiệp, tư bản độc quyền, tư bản tài chính, đế quốc… C. Mác còn nhìn thấy trước được cái mà giờ đây chúng ta gọi là “toàn cầu hóa”.
Sự thật là, tại thời điểm C.Mác và Ph.Ăngghen viết Tuyên ngôn đảng Cộng sản, ở khắp Châu Âu và Hoa Kỳ, trẻ em từ 5 đến 14 tuổi phải làm việc phổ biến trong các ngành nông nghiệp, nhà máy, hầm mỏ hay bán báo, thậm chí phải làm đến 12h/ngày. Tuyên ngôn Cộng sản của C.Mác và Ph.Ăngghen đã không khoan nhượng tình trạng ấy, các ông yêu cầu giáo dục miễn phí cho trẻ em trong các trường học công và xóa bỏ bóc lột trẻ em trong các nhà máy. Các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác đã khởi xướng và bắt nhịp cho dàn đồng ca khắp thế giới để ngăn chặn chấp dứt lao động trẻ em và đưa trẻ đến trường. Cũng chính ở thời điểm đó, người phụ nữ ở Mỹ và các nước Châu Âu vốn có địa vị thấp kém hơn so với đàn ông, họ bị coi như nô lệ trong gia đình, thậm chí bị coi như là một món món hàng để giới tư sản mua bán, trao đổi, quyền công dân của họ bị tước bỏ, không được bỏ phiếu bầu cử và cũng chẳng được tham gia bất cứ hoạt động chính trị nào. C.Mác và Ph.Ăngghen đã tố cáo gay gắt sự bất công ấy, nhưng quan trong hơn, các ông không chỉ vách trần nguồn gốc sự bóc lột tư bản đối với nữ giới mà còn chỉ ra con đường giải phong phụ nữ thành công. Đó là một tầm cao mà tại thời điểm đó tư tưởng nhân loại chưa thể vươn tới.
Đối với nhân loại cần lao, quyền bình đẳng là cái mà họ phải phấn đấu đấu tranh cả đời, nên ai ai cũng rất hiểu và thấm thía. Khi ấy giới tư bản chỉ tập trung làm giầu trong một số ít giai cấp tư sản, còn đại bộ phận nhân dân không được bảo vệ trước áp bức, bất công. Nơi nào có áp bức tất yếu nơi đó có đấu tranh. Dự báo của C.Mác về việc đấu tranh rút ngăn thời gian lao động từ 14, 15h/ngày xuống còn 8h/ngày trở thành mục tiêu quan trọng được tuyên bố trong Quốc tế Cộng sản I, sau này tiếp tục được nêu trong Quốc tế Cộng sản II để rồi từ ngày 1/5/1890, Quốc tế lao động đầu tiên ra đời với quy mô toàn thế giới cùng hiệp lực, cùng đấu tranh đã biến ngày làm 8h thành hiện thực.
Có lẽ chính bởi sự vạch trần và phê phán gay gắt, quyết liệt đến tận cốt tử về bản chất của CNTB nên CNTB trở lên thù hận Chủ nghĩa Mác - Lênin, thậm chí họ còn ngông cuồng coi đó như là một bóng ma cần phải trừ khử. Thế nhưng chính sự phê phán của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khiến CNTB tự biến đổi, tự sửa chữa những sai lầm của mình như, xây dựng các nhà nước phúc lợi hay tìm cách thu hẹp khoảng cách giầu nghèo nhằm điều hòa mâu thuẫn xã hội, mâu thuấn giai cấp. Thực tế CNTB không phải đi từ tờ giấy trắng để có sự tốt đẹp. Để có thành tựu hôm nay, CNTB đã để lại trên con đường đi của mình biết bao mồ hôi, xương máu của con người. Biết bao người da đen, da đỏ, da vàng đã phải bị giết chóc, tù đầy, biết bao người lao động đã bị hành hạ, bóc lột đến tận xương tủy…để họ xây dựng chế độ như ngày nay?
Jacques Derrida, một nhà triết học người Pháp viết trong tác phẩm “Những bóng ma của Mác” cho rằng: "con người trong xã hội hiện đại, dù là những người theo Chủ nghĩa Mác - Lênin hay những người phê phán C.Mác cũng gắn chặt với C.Mác. Sẽ không thể có tương lai nếu không có các di sản của C.Mác". Ông khẳng định: “cần phải trở về với Mác để chống lại cái "trật tự thế giới mới" của thị trường tư bản chủ nghĩa”. Còn Tery Eagleton, giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Lancaste Vương quốc Anh thì viết trong cuốn “Vì sao Mác đúng?” rằng: "Chủ nghĩa Mác giống như bác sỹ, khi mà cơ thể khỏe mạnh sẽ không để ý, song một khi CNTB gặp vấn đề nghiêm trọng thì chủ nghĩa Mác lại phát huy tác dụng phê phán vốn có của mình. Chính Mác đã thúc đẩy những thay đỏi tích cực của các nước tư bản". Đối với các đảng cộng sản, đảng công nhân, đảng dân chủ xã hội và loài người tiến bộ, hàng tỉ người trên khắp thế giới vẫn khẳng định học thuyết của C.Mác có giá trị thời đại, vững bền.
Linh hồn và sự sống của chủ nghĩa Mác - Lênin chính là phương pháp luận, những đòi hỏi đổi mới và sáng tạo không ngừng. Nhưng nguyên lý này không chỉ đúng trong thế kỷ trước, trong thế kỷ này mà còn đúng cho những thế kỷ sau, vì đó là những quy luật khách quan. Một số người chống đối chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ tập trung phê phán 3 người sáng lập C.Mác, Ph.Ăngghen, VI. Lênin mà tách rời tư tưởng hoặc tìm cách đối lập tư tưởng của họ với những người tiếp nối về sau. Họ cố tình lời đi sự phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin trong hơn một thế kỷ qua mà chỉ nhằm vào mục tiêu chứng minh chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời, giáo điều, hay xa rời thực tiễn. Cách suy luận siêu hình đó tất yếu sai lầm. Tiếp nối C.Mác, VI.Lênin khắp thế giới có nhiều nhà tư tưởng kiệt xuất. Ở Việt nam, chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng tài tình chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam mà còn cống hiến, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tạo nên những tư tưởng tầm vóc lịch sử, những cuộc cách mạng chấn động địa cầu, đẩy lùi chiến tranh xâm lược của Đế quốc, thực dân, những nô dịch, áp bức, bất công để thiết lập lên nền tảng của cuộc sống độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. Tiếp sau Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công hơn 30 năm đổi mới tạo ra sự biến đổi về chất, từ một đất nước bị bóc lột, tàn phá đến quyệt quệ, bị cô lập, chống phá quyết liệt sau chiến tranh thành quốc gia tự tin hội nhập cùng thế giới. Bởi vậy, chính sự nối tiếp một cách biện chứng và bản chất sáng tạo, luôn phát triển của mình làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi thời hay lạc hậu.
Sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ bởi tính lôgic, khoa học mà còn tính nhân văn, nhân bản trong mục tiêu, đích đến. Giá trị thời đại trong chủ nghĩa Mác chính là sự hiện tồn những giá trị tốt đẹp của CNXH. CNXH liệu có xa xôi đến mức không tưởng? Thực ra không cần tìm kiếm đâu xa, chỉ nhìn rất gần xung quanh chúng ta, rất nhiều người dù thành đạt hay chưa thành đạt lắm vẫn dành thời gian đều đặn tham gia nấu những bữa cơm cho người bệnh, vui vẻ chung tay xây dựng những chương trình từ thiện, lo những xuất ăn cho người nghèo… Dù là chủ doanh nghiệp hay cán bộ, nhân viên, thỉnh thoảnh lại chi ra một số tiền cho hoạt động thiện nguyện và trực tiếp thực hiện những chương trình của mình. Không những thế, họ rất chu đáo, tậo tâm với công việc này, vẫn quan tâm chi sẽ nỗi lo, niềm vui vì lợi ích của người khác, cho dù thế giới đang khủng hoảng tài chính hay nền kinh tế gặp khó khăn.
V.I.Lênin gọi những người quan tâm đến lợi ích của những người bà con xa là những người của CNXH. Ở Việt Nam, sự tự nguyện, tự giác chăm lo cho người khác ngày càng được nhân lên nhiều mô hình phong phú: những phụ nữ làm tủ bánh mì miễn phía cho người cơ nhỡ; những người đàn ông bơm, vá xe miễn phí cho sinh viên, người lao động nghèo; góc đường phố có bình nước mát miễn phí ai đó đặt... Trong kinh tế thị trường ai cũng vất vả kiếm sống không dễ, nhưng chia sẻ với nhau bằng tấm lòng vị tha, nhân ái thì không phải là xã hội nào cũng có. Họ có lẽ chưa hiểu đầy đủ về CNXH, CNCS nhưng họ đã có hành động như vậy đấy.
CNXH không phải là sản phẩm của C.Mác, của Ph.Ăngghen, của VI.Lênin. Ngay từ thế kỷ VII, VIII, các nhà tư tưởng ở phương Đông đã mơ về một xã hội không còn người lầm than, không còn người lê la ở nơi hang cùng, xóm vắng nữa. Thuật ngữ CNXH đã bắt đầu xuất hiện trước lúc C.Mác sinh ra hơn 100 năm. Có điều, làm thế nào để xây dựng được một xã hội như vậy thì các nhà tư tưởng lúc đó chưa tìm ra được con đường, thế cho nên người ta gọi CNXH không tưởng. Chỉ đến khi C.Mác và Ph.Ăngghen phát hiện ra cơ sở lịch sử để thực hiện lý tưởng XHCN thì CNXH mới không còn là một “bóng ma”. Các ông đã tìm thấy ở đó lực lượng, điều kiện mà những người trước đó không tìm thấy. Với Tuyên ngôn Đảng Cộng sản 1848, CNXH được khẳng định là một thực thể, một sự tồn tại có thật và đang lớn lên từng ngày, trở thành lực lượng khuynh đảo thế giới, cân bằng lại thế giới đang trong thời của bờ vực rạn vỡ.
CNXH mới được hơn 100 năm kể Cách mạng tháng Mười. Nếu nhìn rộng ra CNTB có tận 500 năm lịch sử. Thế nên nếu chỉ nhìn vào sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu những năm 90 mà vội kêu lên CNXH đã cáo chung thì hoàn toàn sai lầm. CNXH là chủ nghĩa cộng đồng, tư tưởng cộng đồng không dễ gì bác bỏ, tiêu vong được. Nhân loại đã đi qua rất nhiều chặng đường và lịch sử của CNXH cũng đã trải qua những bước thăng trầm tất yếu với 4 lần khủng hoảng, điều đó cho thấy sức sống của một lý tưởng không hề bằng phẳng. Các thế lực thù địch công kích nó đã đành, nội tại bản thân nó cũng phải đấu tranh để tồn tại và phát triển. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “CNCS không phải là một lý tưởng hay một khuân mẫu để chạy theo. Đối với chúng tôi CNCS là sự vận động của đời sống hiện thực”. Con đường đi lên CNXH sẽ không bằng phẳng mà còn rất nhiều gập ghềnh, thử thách, thậm chí phải trả giá bởi những thất bại tạm thời, bởi đó không phải con đường có sẵn, mà muốn đi lên phải tìm tòi, thử nghiệm, điều chỉ, sửa chữa, đục kết, hoàn thiện… Để có một chế độ xã hội tốt đẹp phải trải qua quá trình xây dựng. Đó là con đường tất yếu mà xã hội nào cũng phải trải qua. CNXH mà Hồ Chí Minh quan niệm là độc lập, tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một nước XHCH tức là một nước có cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do và độc lập. Ba mục tiêu mà chúng ta hướng tới đó là độc lập, tự do và hạnh phúc. Đó là mục tiêu sống còn, là đích đến cuối cùng mà chúng ta xây dựng. Lựa chọn con đường nào để đi đến chân trời tươi sáng là quyền của mỗi quốc gia, dân tộc. Người ta có thể nghi ngờ, nhưng rõ ràng ở Việt Nam hiện nay phát triển theo CNXH là con đường duy nhất đúng. Để đạt được mục tiêu ấy con đường đi lên của chúng ta không phải là con đường tư bản đã đi, mà là đi theo con đường XHCN. Một đất nước ổn định về chính trị, yên bình về xã hội, an toàn về quốc phòng an ninh để phát triển kinh tế, thu hút đầu tư phải là một nước Việt Nam của con người CNXH. Khi đất nước đã bước qua những năm tháng chiến tranh đói khổ, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXH ở Việt Nam tiến lên một bước mới: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Thế giới đã đổi thay, thế nhưng thực tiễn xã hội cũng như sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ vẫn không đưa ra được bằng chứng xác thực nào để bác bỏ nguyên lý căn bản của triết học Mác - Lênin. Hơn thế, đi ngược về các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thế kỷ này, tức là trên dưới 150 năm học thuyết Mác ra đời người ta buộc phải tìm lại giá trị Mác để tìm ra giải pháp cho cuộc khủng hoảng đương thời, bởi Mác đã mô tả hoàn toàn chính xác về quy luật phát triển của CNTB. Cho đến hôm nay, chính nội tại của các nước Tư bản, đằng sau sự hào nhoáng thì con người phải đối diện với những bất an, bất lực, phân biệt chủng tộc, khoảng cách giầu nghèo, xung đột, khủng bố, bạo lực và bất ổn chính trị xã hội. Và cũng chính ở đó, sự an hòa, yên bình, người với người sẻ chia của xã hội XHCN lại là những chân trời mà nhân loại khao khát vươn tới.
Hơn 100 năm qua tư tưởng của các nhà kinh điển đã vượt qua thử thách của thời đại cũng như sự công kích, chống phá của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, bất chấp mội công kích, bôi nhọ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn vững vàng và phát huy vai trò trong thời đại mới. Sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đối với tư tưởng Mác ngày càng tăng như một đơn đặt hàng của lịch sử./.

CHUYỆN CỔ TÍCH THỜI NAY

Hai lão ấy là đồng môn, học hết phổ thông thì cùng đi bộ đội, ở cùng một đơn vị, vào sinh ra tử có nhau. Hết chiến tranh, cả hai cùng về theo nghiệp bút nghiên.

Tuy nhiên sau này chỉ một lão thành đạt làm Quan đứng đầu một Sở. Còn lão kia là chồng tôi thì chỉ là một công chức làng nhàng ở một cơ quan khác.
Một hôm vợ chồng tôi quyết định đến công sở bạn chồng tôi, xin ông ấy chiếu cố nhận cho đứa con duy nhất mới tốt nghiệp đại học vào làm nhân viên trong cơ quan ông ấy.
Mặc dù chồng tôi bảo rằng không cần quà cáp gì đâu, nhưng tôi không nghe, vẫn thủ sẵn một chiếc phong bao trong đó nhét gần như toàn bộ tháng lương của ông ấy.
Lão bạn chồng tôi vui vẻ tiếp vợ chồng tôi, khi tôi đưa phong bì thì lão cũng vui vẻ nhận và cho ngay vào ngăn bàn, hứa sẽ giúp vợ chồng tôi hết khả năng.
Về tới nhà, tôi cười mỉa nói với chồng:
- Anh thấy chưa, làm Quan thằng nào mà chẳng nhận hối lộ, làm gì có tình bạn chiến đấu thiêng liêng như ông tưởng, các cụ bảo rồi, trên đời làm gì có mèo chê mỡ.
Chồng tôi ngồi im suy nghĩ một lúc rồi buồn bã đáp:
- Thì cũng là tình trạng chung của xã hội hiện nay thôi em. Anh nghĩ nếu nhận một trường hợp khác thì chí ít nó cũng ra giá vài ba trăm triệu, mình là chỗ bạn bè, đồng đội, đến xin việc cho con có mấy triêu bạc, nó nhận giúp là may lắm rồi. Hơn nữa tự em đưa phong bì cho nó, chứ nó có đòi hỏi đâu, xin việc cho con thời nay có mấy triệu bạc thì ở đâu người ta nhận. Thôi, thế là quý lắm rồi chứ nó từ chối thì cũng chẳng có lý do gì mà trách móc được.
Sau đó ít hôm, lão bạn chồng tôi ghé nhà tôi chơi sau khi tan việc ở cơ quan.
Thấy lão xuất hiện, tôi nghĩ bụng:
- Kiểu này không ổn rồi chắc tại phong bì của mình nhẹ quá nên hắn đến từ chối hoặc kiếm cớ đòi thêm nữa chăng?
Sau một hồi trò chuyện, lão ta lấy từ túi áo ra một chiếc phong bì rồi nói:
- Việc của cháu xong rồi, tuần sau cháu có thể tới cơ quan làm việc, lúc nào cháu đến thì bảo cháu ghé chỗ mình rồi mình dẫn sang chỗ làm việc giới thiệu với mọi người luôn. Hôm nay mình mang trả lại vợ chồng cậu chiếc phong bì, vẫn còn nguyên niêm phong đấy, mình chưa bóc ra đâu, bóc ra vợ chồng cậu có khi lại nghĩ mình chê ít. Hôm đó mình nhận là để cậu yên tâm khỏi chạy nhờ thêm ai khác.
Vợ chồng tôi giữ lại ăn cơm, lão vui vẻ nhận lời. Bữa cơm thường nhật chẳng có gì mà hai lão vui vẻ lắm, cứ luôn miệng tranh nhau kể chuyện thời còn ở chiến trường, tôi ngồi nghe mà nhiều lúc cứ rưng rưng chực khóc. Những chuyện này bình thường lão chồng tôi có bao giờ kể cho tôi nghe đâu.
Khi bạn ra về, lão chồng chỉ vào mặt tôi sẵng giọng:
- Bà thấy chưa, không phải ai cũng xấu bụng như bà nghĩ đâu. Ông ấy là bạn học, là là đồng đội chiến đấu của tôi, một thời sống chết có nhau đấy, không có gì cao cả hơn tình đồng đội đâu, không tiền bạc nào mua được đâu.
Nói đến đây, lão đi ra sân đứng và cứ ngưới mắt nhìn lên bầu trời tối đen như đang nung nấu một điều gì đó.
Còn tôi mọi khi chồng to tiếng - điều hiếm xảy ra ở lão - thì tôi bao giờ mắng át đi, nhưng lần tôi này chỉ biết rưng rưng im lặng cúi đầu nghe lão mắng.
Giờ thì tôi đã hiểu rằng: Tình đồng đội của những người lính nó thiêng liêng trân quý biết bao.

HOÀ BÌNH LÀ MÓN QUÀ VÔ GIÁ NHẤT

Trong muôn vàn những điều tốt đẹp mà cuộc sống mang lại cho mỗi người thì Hòa Bình là món quà vô giá nhất, vì vậy hoà bình luôn là niềm khao khát cháy bỏng của những con người chân chính trên trái đất này, đặc biệt là dân tộc Việt Nam ta.

Dân tộc Việt Nam đã phải trải qua hơn 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, hàng trăm năm chiến tranh triền miên ghánh chịu bao mất mát đau thương nên thấu hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình, không một thế lực nào có thể phủ nhận được điều đó và không một quốc gia nào có thể xứng đáng hơn Việt Nam để nói lên hai tiếng Hòa Bình.
Để có được cuộc sống thanh bình như ngày hôm nay ông cha đã phải đánh đổi bằng máu và nước mắt. Trong các cuộc trường chinh của dân tộc, lớp lớp thế hệ cha anh lên đường ra mặt trận, bỏ lại sau lưng mẹ già, em thơ, vợ trẻ, họ chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc. Họ chiến đấu và mất đi một phần thân thể lịch sử được viết lên bằng máu xương của bai người anh hùng đã ngã xuống. Trên mỗi con đường, mỗi thửa ruộng đi qua, thấm đẫm máu nước mắt, máu cha ông đổ xuống để lá cờ Quốc mãi thắm tươi. Không thể nào kể hết những mất mát đau thương mà cuộc chiến tranh để lại, nên chúng ta không bao giờ có thể quên ..
Tuy rằng chiến tranh đã đi vào quá khứ mất mát đau thương đã nhường chỗ cho một Việt Nam tự hào và phát triển, nhưng mỗi hình ảnh, mỗi câu chuyện được kể lại khiến cho chúng ta hình dung được những tháng năm bi hùng của dân tộc, nhắc về quá khứ không phải là gây thù chuốc oán, mà để chúng ta biết trân trọng và gìn giữ cuộc sống bình yên mà chúng ta đang được thừa hưởng.
Giờ đây dân tộc ta vừa xây dựng đất nước vừa phải hàn gắn vết thương chiến tranh, các thế lực thù địch vẫn luôn tìm mọi cách chống phá Đảng- Nhà nước ta. Hậu quả của cuộc chiến tranh khốc liệt vẫn còn đó, nỗi đau nhức nhối của các anh thương bệnh binh, bao em bé nhiễm chất độc màu da cam có lớn mà không có khôn, bao cảnh vợ mất chồng, mẹ mất con, nước mắt mẹ cạn khô vì những người con ra đi mãi mãi không trở về ...
Ôn lại lịch sử để nhớ về nguồn cội để tự hào về một thế hệ không biết cúi đầu. Một thế hệ mà chúng ta phải kính cẩn nghiêng mình ngưỡng mộ và biết ơn và để hiểu rằng cái giá của hòa bình là không hề nhỏ. Không ngủ quên trong chiến thắng, nhưng nhìn về quá khứ để mỗi người chúng ta luôn hiểu rằng, mỗi tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc là phần máu thịt của cha ông đã đánh đổi mới có được.

Phát hiện biến thể mới của corona 'lây rất nhanh', Mỹ ghi nhận thú hoang mắc COVID-19

 

Bộ trưởng Y tế Anh Matt Hancock cho biết nước này ghi nhận hơn 1.000 ca nhiễm một biến thể của virus corona chủng mới trong vài ngày qua. Trong khi đó Mỹ đã phát hiện động vật hoang dã đầu tiên mắc COVID-19.

KHÔNG CÓ NƠI NÀO NHƯ ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM TÔI

Ngày xưa, cha ông ta đánh đuổi ngoại xâm cút khỏi lãnh thổ, thì ngày nay chúng ta ba lần đập tan giặc dịch Covid, không thể bùng phát được. Thông điệp "không có ai bị bỏ lại phía sau" của Chính phủ, của Thủ tướng chính phủ đã trở thành mệnh lệnh tối thượng để cả nước một lòng, các ngành các cấp quyết liệt vào cuộc chống dịch như chống giặc. Quân đội, Công an xác định đây là nhiệm vụ chiến đấu của thời bình... Nhìn những cụ già, em nhỏ cầm mớ rau, lon gạo ủng hộ chính quyền, những chiến sĩ nằm rừng ngủ núi, những nhân viên y tế kiệt sức sau hàng chục giờ trong phòng áp lực âm... mà lòng ta quặn thắt, càng thôi thúc sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vì một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và phát triển...

Ngày xưa, cha ông ta một lòng hướng ra tiền tuyến vì mục tiêu tự do độc lập và thống nhất non sông với những khẩu hiệu "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", hay "xe chưa qua, nhà không tiếc", thì ngày nay cả nước chung tay vì Miền Trung ruột thịt, từ cao nguyên Đồng Văn cho đến đất mũi Cà Mau, hàng chục triệu người như một, những chuyến xe nghĩa tình nối đuôi nhau ngày đêm về Miền Trung như đoàn xe Trường Sơn năm ấy mà ta càng thêm tự hào về tinh thần tương thân tương ái của con cháu Lạc Hồng duy nhất chỉ có ở Việt Nam. Hình ảnh Quân đội, Công an, dân quân, thanh niên xung phong... sẵn sàng hy sinh quên mình cứu dân trong lũ dữ, ta càng xúc động biết chừng nào...
Năm 2020 đang dần khép lại với những mất mát về người và tài sản do thiên tai dịch họa khách quan. Nhưng qua những hoạn nạn ấy một lần nữa khẳng định cho chúng ta và toàn thế giới biết rằng dân tộc Việt Nam hùng cường lắm, nghĩa tình lắm, nhân văn lắm. Từ lãnh đạo tối cao cho đến mỗi người dân, tất cả một lòng vì quê hương đất nước, vì một Việt Nam trường tồn và vững mạnh...
💖 Yêu quý và tự hào vô cùng đất nước Việt Nam tôi!

HÃY LÀM MỘT NGƯỜI NGHỆ SỸ CHÂN CHÍNH.

"Đừng có đụng vào nghệ sỹ" - câu nói của một nghệ sỹ dằn mặt trên trang facebook cá nhân tự nhiên biến nghề "nghệ sỹ" thành một cái gì đó rất nguy hiểm và này nọ. Nó giống như kiểu 1 ngôi đền kỳ bí mà ai có đụng vào sẽ phải chịu báo ứng. Từ những phát ngôn, lối hành xử của nhiều người được gọi là "nghệ sỹ", mình thấy quả thật nhiều "nghệ sỹ" ở đất nước này hết sức kỳ lạ!
Một số "nghệ sỹ" thì rất thích nói chuyện về chính trị, họ bàn vanh vách về bầu cử Tổng thống Mỹ rồi đem so với thể chế ở Việt Nam, nói chuyện biểu tình, dân chủ, nhân quyền, họ đọc một vài mẩu tin từ báo chí rồi rộ lên phong trào "Pray for Hong Kong" khắp các diễn đàn mạng.
Một số khác thì khóc cho mọi nỗi đau, nhà thờ đức bà Pari cháy thì họ bật dậy giữa đêm khuya, hoảng hốt không tin vào mắt mình, khóc thầm lặng lẽ, có người thì vội bay sang tận Pháp, có người thì lại Pray for Paris. Cùng năm ấy, rừng 3 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh cháy dữ dội, chẳng ai Pray for... cả.
Một số người khác nữa lại học theo báo lá cải, họ tung tin bịa đặt về dịch bệnh, đưa thông tin sai lệch về Covid-19, ho gieo rắc sự lo lắng trong cộng đồng và khi bị xử lý thì nhiều người đã im lặng chẳng 1 lời đính chính.
Giang hồ thì thích làm nghệ sỹ, nghệ sỹ lại có máu giang hồ. Phú Lê, Khá Bánh, Huấn Hoa Hồng... thi nhau ra MV, đóng phim bất chấp kiểm duyệt, tự nhiên trở thành hiện tượng mạng, đi đâu cũng có người săn đón, chụp hình thú vị, còn một số người là "nghệ sỹ" thì lại ăn nói ngông cuồng, coi thường pháp luật, xem nhẹ kỷ cương, chính quyền nhà nước. Họ ngáo quyền lực và coi những phát ngôn trên mạng xã hội là một thứ vũ khí lấn át mọi lẽ phải. Thậm chí có ca sỹ còn ngang nhiên đăng trên facebook thưởng tiền cho ai đi hành hung theo ý mình! Đó là những việc làm hết sức ngang ngược!
Chưa kể đến một số "nghệ sỹ" lại lấn sân sang làm từ thiện. Nhưng khi ngáo quyền lực đã lên đến đỉnh điểm, mù quáng bởi sự tung hô, mờ mắt vì những lợi ích từ quảng cáo, truyền thông... họ coi thường Nhà nước, coi thường chính quyền địa phương, họ nâng họ lên quá cao mà hạ thấp chính quyền, quân đội, họ bất chấp đạo lý, bất chấp lẽ phải, bất chấp luôn cả những kiến thức cơ bản nhất của mọi ngành nghề, lấn sân sang kế toán, kiểm toán, luật sư, bác sỹ... và nếu có ai đó chỉ trích họ sẽ ngay lập tức bị chụp mũ "anti".
Có vẻ so với nhiều quốc gia khác, việc làm "nghệ sỹ" ở Việt Nam quá dễ, nếu như nhiều nghệ sỹ phải vất vả rèn luyện để thành danh thì cũng có một số kẻ có thể không học hành gì, nổi tiếng thông qua scandal, mạng xã hội và ngồi chễm trệ chung mâm với các nghệ sỹ khác, họ vẫn hiên ngang đi "giỗ Tổ" mỗi khi đến ngày và tạo ra những tác phẩm không có nhiều giá trị. Đó là một điều rất đáng buồn!

Cho nên hãy làm một người nghệ sĩ chân chính, mang năng khiếu, sở trường của mình mà phục vụ người hâm mộ, cho đời những sản phẩm nghệ thuật có giá trị giáo dục, định hướng xã hội theo đúng nghĩa "Nghệ thuật vị nhân sinh". 

THẨM PHÁN TÒA ÁN ĐÂU CHỈ CÓ PHÁP LUẬT MÀ PHẢI NHÂN ÁI VỚI CÁC BỊ CÁO, ĐƯƠNG SỰ, NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG KHÁC

 


Các thẩm phán phải trở thành biểu tượng của đạo đức thanh liêm, tuân thủ những nguyên tắc của Hiến pháp về hoạt động tư pháp...
Hội đồng tuyển chọn, giám sát thẩm phán quốc gia vừa ban hành quyết định số 87/QĐ-HĐTC có hiệu lực từ ngày 4/7 về bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của thẩm phán.
Theo đó, thẩm phán là người được chủ tịch nước bổ nhiệm để nhân danh Nhà nước thực hiện quyền tư pháp. Các thẩm phán phải trở thành biểu tượng của đạo đức thanh liêm, tuân thủ những nguyên tắc của Hiến pháp về hoạt động tư pháp...
Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của thẩm phán vừa ban hành áp dụng với thẩm phán công tác tại tòa án nhân dân, tòa án quân sự các cấp; khuyến khích áp dụng với các thẩm phán đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác.
Trong hoạt động của mình, thẩm phán phải hành xử đúng mực, lịch thiệp, thận trọng; duy trì trật tự và sự tôn nghiêm trong quá trình tố tụng; luôn thể hiện sự kiên nhẫn, nhân ái đối với các bị cáo, đương sự, người tham gia tố tụng khác. Tại phiên tòa, thẩm phán không được đưa ra những nhận định gây xúc phạm người khác.
Tôi thấy rằng, hành động của thẩm phán Trương Việt Toàn chẳng có gì đáng phải lên án cả. Trước hết, hành động bắt tay không phải là trước và trong phiên tòa, nó được thực hiện sau khi tòa đã tuyên án, việc bắt tay chỉ nhằm mục đích động viên, mong bị cáo nhanh chóng cải tạo tốt, sớm hòa nhập với xã hội. Tuyên án xong là xong, ở góc độ nào đó, bị can, bị cáo cũng là con người, thẩm phán cũng là con người, chưa kể trước đây từng quen biết nhau, việc bắt tay, động viên là có thể hiểu được. Chính thẩm phán Trương Việt Toàn cũng đã công khai trước báo giới lời động viên với ông Nguyễn Đức Chung: "Cố gắng cải tạo cho tốt. 5 năm mà anh cải tạo tốt thì cũng nhanh thôi".
Tôi đã tham dự nhiều phiên tòa, thấy rằng, tòa án đâu chỉ là nơi lạnh lẽo của hình phạt, vành móng ngựa hay những lời kết tội. Mà giá trị lớn nhất của tòa án là tính giáo dục, để con người ta thừa nhận cái sai, hối hận vì những điều mình làm và quyết tâm sửa sai, làm lại cuộc đời. Thẩm phán bên cạnh là người đại diện cho công lý, còn là người động viện, thúc đẩy bị cáo nhận thức được sai lầm và hướng tới cái thiện, để người phạm tội tìm thấy ánh sáng nơi đường hầm tội lỗi.
Đó mới chính là giá trị chân, thiện, mỹ mà một vị quan tòa cần hướng tới.

MỘT SỐ BÁO CHÍ VÌ MỤC ĐÍCH GÌ KHI CỐ TÌNH DẪN DẮT LỰC LƯỢNG CÔNG AN VÀO CÁC SAI PHẠM CÁ NHÂN?

Thời gian vừa qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là các Trang báo mạng, phóng viên đã đăng tải nhiều thông tin ghi nhận sự cống hiến của lực lượng Công an nhân dân trong sự nghiệp bảo đảm An ninh trật tự nói chung và giữ gìn cuộc sống bình yên cho người dân nói riêng. Hình ảnh người cán bộ Công an vì nước quên thân, vì dân phục vụ ngày càng được thể hiện rõ nét; nhiều tấm gương cán bộ chiến sĩ Công an hy sinh, bị thương và quên mình giúp dân trong khi thi hành nhiệm vụ đã làm lay động hàng triệu con tim, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận.

Tuy nhiên, phàm là người, Công an cũng là người, là công dân cho nên trong cuộc sống, sinh hoạt, chấp hành các quy định của pháp luật không tránh khỏi những sai sót nhất định, những vi phạm đó sẽ được các cơ quan chức năng xử lý với tư cách là công dân - Điều đó cũng vốn dĩ là chuyện thường tình. Có đất nước nào mà 100% công dân không vi phạm (trong đó có cán bộ công quyền).
Mặc dù có thể hiểu rằng, báo chí, phóng viên muốn nêu đích danh chức vụ chính quyền là để các cơ quan chủ quản biết, chỉ đạo xử lý nghiêm và muốn nhắn nhủ rằng: đảng viên đi trước, làng nước theo sau.
Nhưng, kính thưa các cơ quan báo chí, phóng viên, chỉ khi nào chính cán bộ công chức (trong đó có lực lượng Công an), lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ mà vi phạm pháp luật thì lúc đó hãy nêu đích danh chức vụ chính quyền, vì khi đó họ mới đứng trên danh nghĩa chức vụ mà vi phạm pháp luật.
Con người sống trong xã hội này có nhiều "vai", cho nên khi một cá nhân sai phạm thì hãy sáng suốt nhận định họ đang đóng "vai" nào? Đừng vì một sai phạm của cá nhân hay vì bất cứ lý do gì để cố tình gắn "vai" không đúng để hạ thấp uy tín của một tập thể, cơ quan, tổ chức và lực lượng.

UY TÍN VIỆT NAM NGÀY CÀNG TĂNG TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ

Với thành công của Việt Nam trong công tác phòng, chống dịch, Liên hợp quốc (LHQ) đã đề nghị Việt Nam triển khai 1 Trung tâm xét nghiệm Covid-19 nhằm hỗ trợ LHQ tăng cường năng lực phòng, chống dịch tại địa bàn Phái bộ Gìn giữ hòa bình LHQ tại Nam Sudan (UNMISS).

Trên cơ sở báo cáo của Cục Gìn giữ hòa bình (GGHB) Việt Nam, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng báo cáo Thủ tướng Chính phủ xin chủ trương để triển khai theo đề nghị của LHQ, đồng thời viện trợ Chính phủ CH Nam Sudan một số trang thiết bị y tế, vật tư phòng dịch mà Việt Nam tự chủ sản xuất được, góp phần tăng cường quan hệ ngoại giao, tạo điều kiện cho lực lượng GGHB LHQ của Việt Nam đang thực hiện nhiệm vụ tại nước sở tại.
Những thông tin trên được khẳng định tại buổi làm việc diễn ra ngày 11-12 của Trung tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam tại Cục GGHB Việt Nam với Chỉ huy Cục và đại diện các cơ quan liên quan của Bộ Quốc phòng.
Tại buổi làm việc, Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng, Cục trưởng Cục GGHB Việt Nam báo cáo với đồng chí Phó tổng tham mưu trưởng và đoàn công tác những kết quả quan trọng mà Cục GGHB Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua, đồng thời đề xuất, kiến nghị một số nội dung nhằm nâng cao năng lực của Cục GGHB Việt Nam trong xây dựng đơn vị chính quy, quản lý, điều hành và triển khai lực lượng tham gia hoạt động GGHB LHQ.
Đại diện các cơ quan, đơn vị của Bộ Quốc phòng đã báo cáo kết quả công tác phối hợp với Cục GGHB Việt Nam trong lĩnh vực mình phụ trách và đề nghị các nội dung phối hợp triển khai trong thời gian tới, đặc biệt là công tác chuẩn bị nhân sự, trang bị cho Đội Công binh GGHB LHQ; việc chuẩn bị lực lượng, huấn luyện cho Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 3, số 4; công tác xây dựng Cục GGHB Việt Nam...
Trung tướng Phùng Sĩ Tấn chia sẻ những khó khăn, vất vả mà các lực lượng tham gia hoạt động GGHB LHQ phải vượt qua, đặc biệt là địa bàn hoạt động xa Tổ quốc, khí hậu khắc nghiệt, có nhiều bất ổn an ninh, bệnh dịch... Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 (BVDC 2.2) của Việt Nam tham gia Phái bộ UNMISS đã tích cực tham mưu cho phái bộ triển khai các biện pháp phòng, chống lây nhiễm và xây dựng các kịch bản ứng phó, luyện tập xử lý các tình huống có thể xảy ra. Tổ công tác tại Phái bộ CH Trung Phi còn chủ động may khẩu trang phát miễn phí cho nhân viên của Sở chỉ huy Phái bộ và một số người dân địa phương.
Về nhiệm vụ trong thời gian tới, đồng chí Phó tổng Tham mưu trưởng yêu cầu Cục GGHB Việt Nam cần tiếp tục phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị trung tâm trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, nhất là công tác quản lý, chỉ huy, điều hành lực lượng GGHB Việt Nam tại hai Phái bộ Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi xây dựng phương án bảo đảm an ninh, an toàn trong trường hợp dịch bệnh tiếp tục phức tạp, kéo dài tại địa bàn; chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan chuẩn bị chu đáo kế hoạch lễ xuất quân cho BVDC cấp 2 số 3 và đón BVDC 2.2 hoàn thành nhiệm vụ về nước, đồng thời chủ động thành lập BVDC cấp 2 số 4 để huấn luyện sẵn sàng thay thế BVDC cấp 2 số 3 vào năm 2022…

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2020

KHÓC THẾ ĐỦ RỒI!

Vừa qua, diễn viên hài Chí Tài đột ngột qua đời vì đột quỵ, nhiều người đã tỏ ra thương tiếc người nghệ sĩ bạc mệnh, người đã có đóng góp cho làng giải trí. Đó cũng là lẽ thường tình! Chí Tài chủ yếu hoạt động ở Hoa Kỳ, thế nhưng anh ta chỉ tập trung cho diễn suất, không theo những người chống đất nước cực đoan. Điều đó thật sự đáng quý!

Thế nhưng, truyền thông, báo chí của ta có vẻ đã đi quá xa khi liên tục đăng tải rất nhiều thông tin về việc này, nhiều báo hoặc trang mạng xã hội đã có phần diễn quá sâu, ăn theo sự việc này, thậm chí là thần thánh hoá Chí Tài thành "người vĩ đại", thành "nghệ sĩ của nhân dân" hay "tượng đài của nghệ thuật"...đã nhiều ngày nay, sự việc đã đẩy đi quá xa, ngoài những người yêu mến Chí Tài thật sự thì nhiều tờ báo, Facebooker, Youtuber...đã triệt để lợi dụng, biến tang gia trở thành nơi để câu likes, câu view, câu tương tác và mục đích chính là một chữ TIỀN! 

Khi các chiến sĩ Quân đội, Công an hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân miền Trung trong đợt mưa lũ, thiên tai vừa qua, hiếm thấy tờ báo nào đăng quá hai bài, đỏ mắt tìm kiếm cũng chẳng thấy giới show biz đăng tải, chia buồn dù chỉ một dòng. Thế mới biết là giá trị của kim tiền có sức mạnh lớn đến thế nào! Nhiều tờ báo chính thống nhưng các ngày lễ lớn của đất nước cũng chỉ đăng tải qua loa, chiếu lệ, thậm chí là có báo không hề có bất kỳ bài viết nào. Nguyên nhân chính là vì likes, tương tác cho những bài viết như thế chẳng thấm vào đâu so với đăng tin giật gân, nhảm nhí! 

Nhiều "nghệ sĩ"  và cả giang hồ đã tụ tập và làm loạn ở thành phố Hồ Chí Minh, đòi ăn thua đủ với Duy Nguyễn, vì anh ta dám xúc phạm đến vợ Chí Tài, họ thách thức cả dư luận và chính quyền. Duy Nguyễn đã sai, cậu ta đã dũng cảm xin lỗi. Vậy nên, đừng mượn chuyện này để tiếp tục gây mất an ninh trật tự!

Cái gì quá đà cũng trở nên lố bịch và phản cảm! Nhiều người đã khóc theo shown Biz cả mấy ngày nay rồi, đã đủ hay chưa? Đừng biến cái chết của Chí Tài thành "hạnh phúc của một tang gia"! Nhiều người chưa chắc đã yêu mến Chí Tài mà khóc ngất, nước mắt có lẽ đã tuôn rơi vì ám khí của kim tiền.

Yêu quý ai là chuyện của mỗi người, thế nhưng đừng nên thái quá. /.


MNQ

BÁC HỒ - TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

 

Đối với dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là biểu tượng ngời sáng về đạo đức cách mạng, tấm gương hy sinh, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước nhà bị xâm lược, nhân dân phải chịu cảnh lầm than, 21 tuổi, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Ba mươi năm bôn ba nước ngoài với biết bao phong ba, bão táp cũng không ngăn nổi, không làm chùn ý chí của Người. Người luôn bền chí, quyết tâm vượt qua, để hướng tới một mục đích cao cả: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu” (*).

Sau khi trở về Tổ quốc, rồi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, với những chủ trương sáng suốt và những quyết sách kịp thời, sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, xây dựng tổ chức, lực lượng và tiến hành thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Và suốt mấy chục năm sau đó, cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời mình để đấu tranh giành độc lập, thống nhất cho đất nước, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân.

Không chỉ cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nỗ lực hết mình trong cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì lương tri và phẩm giá con người, vì hòa bình trên thế giới và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Chính vì vậy mà không chỉ nhân dân Việt Nam kính yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh mà nhân dân thế giới cũng rất yêu quý Người, dành cho Người những tình cảm trân trọng và tốt đẹp.

Nếu như yêu nước thương dân là lẽ sống, là ngọn nguồn, động lực và đích đến của mọi hoạt động cách mạng của lãnh tụ Hồ Chí Minh, thì “cần kiệm liêm chính” lại là những phẩm chất căn bản, cốt lõi tạo nên tính cách, thói quen của Người. Người đã thực hành triệt để tất cả những quan niệm đạo đức mình đưa ra, thậm chí Người còn làm nhiều hơn, tốt hơn những gì Người nói.

Về “cần”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lao động, học tập, nghiên cứu không biết mệt mỏi để tìm ra con đường cứu nước; rồi cùng với Đảng lên kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo nhân dân làm cách mạng thành công. Về “kiệm”, Người chính là tấm gương điển hình hiếm có về tính giản dị, thanh bạch. Dù là lãnh tụ của cả một quốc gia, nhưng Người luôn giản dị hết mức, từ ăn, mặc (đôi dép cao su, bộ ka ki màu vàng với đôi giày vải); đến ở (lúc ở chiến khu thì ở chung với cán bộ, nhân viên, về Hà Nội ở nhà của người thợ điện, sau này ở trong nhà sàn đơn sơ với vài vật dụng cá nhân tối cần thiết). Ngay cả trong công việc Người cũng luôn đề cao tính tiết kiệm, “khi không nên xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu”… Về “liêm”, sự thanh liêm của Người đã được thể hiện rõ nét qua từng lời nói, hành động. Không những không bao giờ có ý nghĩ tư lợi cá nhân, Người còn luôn trăn trở, nghĩ cách làm sao để dân mình có cuộc sống tốt hơn, làm sao để “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Về “chính”, Người luôn khiêm tốn, kính trên nhường dưới, yêu thương, quan tâm đến mọi tầng lớp trong xã hội, nhất là những người nghèo khổ. Đặc biệt, Người luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trước hết, và đã hy sinh cả cuộc đời để mang lại nền độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân.
Bằng cả cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, về cần, kiệm, liêm, chính cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng noi theo./.

*. Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của BCH TƯ Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tr 5,6.

 Tầm vóc, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga còn vang mãi

Ngày 7/11/1917, cuộc Cách mạng Tháng Mười do V.I. Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích Nga lãnh đạo đã thành công. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã “mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã đi vào lịch sử nhân loại như là một sự kiện vĩ đại có tiếng vang và tầm ảnh hưởng sâu rộng, làm rung chuyển, đảo lộn trật tự thế giới. Khẳng định tầm vóc, giá trị to lớn của nó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.
Cuộc cách mạng 10 ngày đã làm rung chuyển cả thế giới, phá vỡ mắt xích yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc, đánh dấu bước ngoặt lịch sử vô cùng quan trọng. Đây cũng là lần đầu tiên liên minh công nhân - nông dân - binh lính, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, đã đồng loạt đứng lên lật đổ chế độ Nga hoàng, lập ra Nhà nước Nga Xô viết - Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới.
Lần đầu tiên trên thế giới, chính quyền đã từ trong tay thiểu số người bóc lột chuyển sang tay đa số người lao động bị bóc lột vươn lên làm chủ. Khác với tất cả các cuộc cách mạng xã hội từng diễn ra trong lịch sử loài người chỉ nhằm thay thế một phương thức bóc lột này bằng một phương thức bóc lột khác. Cách mạng Tháng Mười chứa đựng nội dung vô cùng sâu sắc nhằm thủ tiêu mọi hình thức bóc lột giai cấp và áp bức dân tộc, mở đường thắng lợi cho độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ là động lực mạnh mẽ cổ vũ các dân tộc thuộc địa đứng lên đấu tranh chống lại ách áp bức, bóc lột của giai cấp phong kiến, tư sản, tự cứu lấy mình và giải phóng mình mà còn là xung lực mạnh mẽ, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc, cũng như phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển, lan tỏa nhanh và mạnh sang châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh, làm cho giai cấp thống trị run sợ, buộc phải lùi bước, xuống thang và thay đổi chính sách.
Noi gương Cách mạng Tháng Mười, các dân tộc bị áp bức trên thế giới đã vùng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc và lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa để xây dựng đất nước. Chủ nghĩa xã hội hiện thực từ thắng lợi ở một nước đã phát triển trở thành hệ thống thế giới.
Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga đã ảnh hưởng to lớn đối với cách mạng thế giới, trong đó có Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Việt Nam yêu nước đầu tiên tiếp thu ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười viết: Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa Mác - Lê-nin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng.
Từ giữa cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân ta liên tiếp đứng lên đánh đuổi bọn cướp nước, nhưng đều bị dìm trong biển máu. Cách mạng Việt Nam ở vào tình trạng khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo. Sau bao năm bôn ba tìm đường cứu nước, tháng 7/1920, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đọc được “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lê-nin”.
* Tầm quan trọng và ý nghĩa của Cách mạng Tháng 10 Nga đối với Cách mạng Việt Nam:
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện được thành lập. Với đường lối đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cả dân tộc Việt Nam đứng lên giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chế độ phát xít, thực dân và phong kiến tay sai gần thế kỷ, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp năm 1954 và đế quốc Mỹ xâm lược năm 1975.
Đối với cách mạng Việt Nam, Cách mạng Tháng Mười là “tiếng sấm báo hiệu mùa xuân”, là mặt trời chói lọi, là “cơm ăn”, “nước uống”. Như Người đã từng khẳng định: “Nhờ Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người cách mạng Việt Nam đã được tiếp thu ảnh hưởng đầy sự sống của Cách mạng Tháng Mười và chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Điều đó tựa như người đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn”.
Với lòng biết ơn sâu sắc khi nói về ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga đối với cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Uống nước nhớ nguồn. Càng nhớ lại những ngày tủi nhục mất nước, nhớ lại mỗi bước đường đấu tranh cách mạng đầy hy sinh, gian khổ mà cũng đầy thắng lợi vẻ vang thì giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam càng thấm thía công ơn to lớn của Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười”. “Mối tình gắn bó và lòng biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với Cách mạng Tháng Mười, đối với Lê-nin vĩ đại… là vô cùng sâu sắc”.
Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa của nước ta hôm nay là minh chứng con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn thể dân tộc ta đồng tâm lựa chọn. Đây cũng là cơ sở để mỗi người Việt Nam nhận thức sâu sắc hơn tầm vóc lịch sử, ý nghĩa và giá trị hiện thực của Cách mạng Tháng Mười, của Lê-nin vĩ đại đối với cách mạng Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.
Gần một thế kỷ đã qua kể từ khi cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, nhân loại đã chứng kiến biết bao biến cố thăng trầm, phức tạp. Nhưng Cách mạng Tháng Mười vẫn là một trong những sự kiện trọng đại nhất của lịch sử thế giới hiện đại. Lý tưởng và con đường Cách mạng Tháng Mười vẫn tiếp tục tỏa sáng, soi rọi cuộc đấu tranh tự giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tiếp thêm nguồn sinh lực cho phong trào xã hội chủ nghĩa./.

Những nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới

Những nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới Một là, thống nhất về nhận thức, an ninh quốc gia là một vấn đề đặc biệt hệ trọng, then chốt, sống còn của Ðảng, Nhà nước và của chế độ. Bảo vệ an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Ðảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị, lực lượng CAND làm nòng cốt, trong đó an ninh chính trị, an ninh biên giới, lãnh thổ là trụ cột; an ninh kinh tế là trung tâm; an ninh văn hóa, tư tưởng, truyền thông là chốt chặn quan trọng hàng đầu để phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống và các biểu hiện "tự diễn biến" "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Bảo vệ an ninh quốc gia phải hướng tới mục tiêu phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; gắn chặt với công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, xây dựng hệ t hống chính trị trong sạch, vững mạnh, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; bảo tồn và phát huy vai trò của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Giải quyết vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia, bảo vệ an ninh quốc gia phải quán triệt sâu sắc phương châm: "Giữ vững bên trong là chính", chủ động, từ xa, từ sớm và từ cơ sở. Hai là, giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Ðảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia. Huy động, động viên, khuyến khích cả hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng thế trận lòng dân, nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, hình thành thế trận tổng hợp bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Ba là, tập trung nâng cao chất lượng nghiên cứu và dự báo chiến lược, xu hướng vận động chính trị và chính sách quan hệ giữa các nước lớn, các nước láng giềng, khu vực có liên quan trực tiếp đến an ninh, lợi ích quốc gia của Việt Nam; nhận diện rõ hơn các nguy cơ bên trong, bên ngoài, các mối đe dọa xâm phạm đến an ninh quốc gia, lợi ích quốc gia, dân tộc. Bổ sung, phát triển, hoàn thiện lý luận về an ninh quốc gia, bảo vệ an ninh quốc gia, nhất là mở rộng nội hàm của khái niệm an ninh quốc gia, lý luận về công tác tham mưu, chỉ huy, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia; lý luận nghiệp vụ chuyên ngành khoa học an ninh, về đối tượng, đối tác; bổ sung lý luận về an ninh phi truyền thống, gắn kết bảo vệ an ninh truyền thống với bảo vệ an ninh phi truyền thống, bảo vệ an ninh đất liền với an ninh biển - đảo, bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng. Chủ động, kịp thời tham mưu với Ðảng, Nhà nước chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về bảo đảm an ninh quốc gia, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, đối ngoại, khoa học - công nghệ với an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Triển khai đồng bộ, toàn diện các giải pháp, biện pháp có tính chiến lược phòng ngừa, xử lý có hiệu quả quan hệ với các nước lớn, các nước láng giềng, có kế sách ngăn ngừa chiến tranh, xung đột ngay từ bên ngoài biên giới, lãnh thổ, ứng phó có hiệu quả với các nguy cơ an ninh phi truyền thống; kết hợp giữa nhiệm vụ "xây" và "chống", trước mắt và lâu dài, triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là nhân tố bên trong có thể gây đột biến. Bốn là, tiếp tục tăng cường công tác đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, ổn định, hiệu quả hơn; tích cực tham gia vào cơ chế đối ngoại an ninh song phương, khu vực và toàn cầu, nhất là Liên hợp quốc, Interpol, Aseanapol, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền an ninh đối ngoại. Qua đó, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược, gia tăng độ tin cậy, tránh đối đầu, bị cô lập, phụ thuộc; làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, góp phần gìn giữ, xây dựng hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam đẹp trong lòng bạn bè quốc tế. Năm là, xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, là lực lượng chính trị trọng yếu, đặc biệt tin cậy, tuyệt đối trung thành của Ðảng, Nhà nước và nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. Nguồn: Báo Nhan.

Đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa hiện nay

“Diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Đảng ta xác định là một nguy cơ của cách mạng Việt Nam. Do vậy, đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là công cuộc “giữ nước” trong thời bình của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là một nhiệm vụ cấp bách, diễn ra quyết liệt trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách _Ảnh: Tư liệu Tác động của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa là sự chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị không phù hợp, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, làm tha hóa con người, dẫn tới biến chất xã hội. Thời gian qua, nhiều biểu hiện của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xuất hiện trong đời sống, ở các tầng lớp xã hội. Đó là hiện tượng suy đồi đạo đức, gia tăng lối sống vị kỷ, sự vô cảm, tâm lý cũng như hành động sùng ngoại... Đặc biệt, với sự phổ biến của các phương tiện truyền thông mới, trên mạng xã hội, một bộ phận giới trẻ đã có nhiều lời nói, hành động, thái độ cổ xúy cho những biểu hiện lệch lạc trong lối sống. Tệ nạn mê tín dị đoan, việc lợi dụng tín ngưỡng, tâm linh, ngoại cảm để trục lợi, các hủ tục, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội… có chiều hướng gia tăng. Trong sáng tác, biểu diễn, phổ biến các tác phẩm văn học, nghệ thuật có không ít tác phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính tiên tiến và bản sắc dân tộc. Dù số lượng tác phẩm văn học, nghệ thuật xuất hiện ngày một nhiều, song còn ít tác phẩm đạt đỉnh cao, tương xứng với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc và thành tựu của công cuộc đổi mới. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội, thẩm mỹ chưa rõ nét. Một số tác phẩm có nội dung tư tưởng lệch lạc, thiên về khai thác những mặt tiêu cực, thậm chí phủ nhận quá khứ hào hùng của dân tộc cũng như xuyên tạc sự thật lịch sử. Không ít tác phẩm còn thể hiện sự dễ dãi, chiều theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng. Một bộ phận văn nghệ sĩ tỏ ra lúng túng trong tiếp cận, nhận thức về những biến đổi và những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hiện đại, có biểu hiện lệch lạc trong khuynh hướng sáng tác và biểu diễn. Một số tác phẩm và sản phẩm có biểu hiện bắt chước, mô phỏng, chạy theo hình thức và các thủ pháp mới, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Tính giáo dục, định hướng thẩm mỹ cho giới trẻ chưa được quan tâm đúng mức và chưa thực sự có hiệu quả. Trước tình hình này, văn hóa được Đảng và Nhà nước xác định là lĩnh vực quan trọng trong công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam là một trong những nội dung thiết yếu. Đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa hiện nay Xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam là một trong những nội dung quan trọng nhằm phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”. Trong những năm qua, đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác xây dựng đạo đức, lối sống được ban hành và triển khai thực hiện, như Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 12-1-1998, của Bộ Chính trị khóa VIII về “Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội”; Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 27-7-2010, của Ban Bí thư về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại, gây hủy hoại đạo đức xã hội”; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”… Trong đó, đặc biệt, Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, xác định sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là bước chuyển trực tiếp đến “diễn biến hòa bình”, làm “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta nhấn mạnh, cần chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là đòi hỏi khách quan, là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân tự soi, tự sửa và giám sát người khác; qua đó góp phần đấu tranh phòng, chống đúng đối tượng, có trọng tâm, trọng điểm, tránh chung chung. Thực trạng “vi phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên” chưa được ngăn chặn, đẩy lùi kịp thời đã ảnh hưởng đến lòng tin của người dân vào đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây cũng là điểm cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng để bôi nhọ, nói xấu chế độ ta. Để đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ động tham mưu và ban hành, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, như tham mưu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg, ngày 29-3-2017, về “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình”; Chỉ thị số 05/CT-TTg, ngày 9-2-2018, của Thủ tướng Chính phủ về “Đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang”; Nghị định số 110/2018/NĐ-CP, ngày 29-9-2018, “Quy định về quản lý và tổ chức lễ hội”; Nghị định số 122/2018/NĐ-CP, ngày 17-9-2018, “Quy định về xét tặng danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa””… Cùng với việc ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng triển khai xây dựng các đề án, đề tài, hội thảo khoa học để nghiên cứu những giá trị văn hóa tốt đẹp cần phát huy và những hủ tục, những biểu hiện văn hóa lai căng, không phù hợp cần được loại bỏ nhằm hướng tới xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam, như các đề án, đề tài về tuyên truyền giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam; vai trò của hương ước, quy ước đối với xây dựng đạo đức lối sống hiện nay; bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình; xây dựng mô hình cưới văn minh tiết kiệm, phù hợp với phong tục, tập quán; văn hóa ứng xử trong lễ hội… Phát huy được những hiệu quả, hiệu lực quản lý nhất định, góp phần đề cao vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội. Nhiều giá trị, chuẩn mực văn hóa đã trở thành hiện thực trong đời sống, trở thành nền nếp, tạo ra những giá trị mới phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, đồng thời, góp phần thúc đẩy, vận động quần chúng nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm, phát huy tinh thần xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam trong tình hình mới, đẩy lùi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng “hệ giá trị văn hóa tư sản”. Nền văn hóa truyền thống, cách mạng giữ gìn được bản sắc dân tộc, phát huy được giá trị tinh hoa trong quá trình đổi mới và hội nhập. Với các chủ trương, đường lối kịp thời của Đảng và Chính phủ, đời sống mọi mặt của đất nước ổn định, phát triển bền vững, mối đoàn kết toàn dân tộc được giữ vững. Tuy nhiên, phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trên lĩnh vực văn hóa. công tác xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam còn có hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Đặc biệt, trong bối cảnh mới, những tác động của cơ chế thị trường đã làm thay đổi các giá trị xã hội, định hướng chuẩn mực đạo đức trong mỗi con người. Nhiều giá trị truyền thống, đạo đức nghề nghiệp, lối sống tốt đẹp của dân tộc bị biến đổi, mai một, thậm chí bị lấn át bởi quan hệ kinh tế, lợi nhuận. Hệ giá trị mới với các chuẩn mực cụ thể về đạo đức, lối sống chưa được tập trung xây dựng; những giá trị mới hình thành chưa bền vững nên chưa có tác động tích cực đối với định hướng giá trị nhân cách con người. Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức, lối sống chưa đồng bộ; sự kết hợp giữa giáo dục đạo đức và pháp luật chưa tốt; sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong việc tham gia xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam chưa được phát huy. Tình trạng lai căng sùng ngoại, coi thường giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, các tệ nạn xã hội và sự xâm nhập các sản phẩm, dịch vụ độc hại, chủ nghĩa cá nhân vị kỉ, đang làm ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhất là giới trẻ hiện nay. Hoạt động đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch trong hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật có lúc còn thiếu sắc bén, thiếu tính thuyết phục và tính chiến đấu. Việc ngăn chặn sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn chưa thực sự hiệu quả, kịp thời. Một số giải pháp thời gian tới Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay những yếu tố bất ngờ như dịch bệnh COVID-19 vừa qua, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng các hoạt động thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, nhất là hoạt động tuyên truyền phá hoại trên không gian mạng. Trước tình hình đó, việc thấm nhuần quan điểm của Đảng về chống “diễn biến hòa bình”, nhất là trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật”, kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách làm vũ khí lý luận sắc bén, góp phần làm thất bại âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ, chống phá thành quả cách mạng, là trách nhiệm hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam hiện nay. Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Một là, nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác, bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, để xây dựng các chương trình, kế hoạch, giải pháp công tác cụ thể; đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đi vào nền nếp và đạt hiệu quả cao. Hai là, công tác tuyên truyền về đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa cần được thực hiện với chất lượng, hiệu quả tốt hơn. Tăng cường các chương trình, bài viết giàu sức thuyết phục, tính chiến đấu cao trên các phương tiện thông tin và truyền thông về chủ đề này. Bên cạnh đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt giải quyết các vấn đề nóng, đang đặt ra của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng, các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ tác động đến nhận thức để thay đổi hành vi của công chúng trong những vấn đề liên quan đến văn hóa. Ba là, tăng cường vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp. Đây là giải pháp quan trọng bởi thực tiễn cho thấy thông qua những tấm gương người tốt, việc tốt, các mô hình, điển hình tiên tiến, công tác tuyên truyền mới thực sự có hiệu quả. Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các bộ, ngành và tổ chức đoàn thể, đi đầu là sự phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa. Xây dựng môi trường lành mạnh để phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước./. Theo dangcongsan.org.vn