Thứ Tư, 16 tháng 12, 2020
Tự do tôn giáo ở Việt Nam: Sự thật không thể xuyên tạc
Vượt qua đại dịch, thiên tai, Việt Nam khẳng định mô hình “quản trị quốc gia tốt”
Quân đội nhân dân Việt Nam mãi xứng đáng là điểm tựa, niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân
Xử lý nghiêm chiêu trò phá hoại đại hội Đảng
Cảnh giác với hiện tượng gieo mầm, nuôi dưỡng đối tượng phản biện xã hội tiêu cực
Nhận diện rõ ràng, đấu tranh kiên quyết với âm mưu lợi dụng vấn đề tham nhũng để chống phá Việt Nam
Quan điểm của Đảng về Bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Quán triệt đường lối cách mạng của Đảng qua các thời kỳ và từ thực tiễn của cuộc đấu tranh cách mạng ở nước ta từ sau năm 1975 đến nay, tư duy về bảo vệ Tổ quốc của chúng ta đã có sự phát triển từng bước và đổi mới mạnh mẽ trong quá trình đổi mới đất nước.
Tư duy về bảo vệ Tổ quốc từ chủ yếu là tư duy về quân sự, về chiến tranh đã phát triển một cách toàn diện hơn về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời bình, bao gồm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, ngoại giao, quân sự; về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân để chủ động ứng phó với mọi tình huống, ngăn ngừa chiến tranh, tạo môi trường hoà bình để xây dựng đất nước, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng tiến hành thắng lợi chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc
Phải kết hợp chặt chẽ quốc phòng – an ninh với đối ngoại; quốc phòng, an ninh, đối ngoại với xây dựng kinh tế, xây dựng đất nước theo đường lối đổi mới của Đảng. Trong khi đặt nhiệm vụ trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta không một phút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn coi trọng nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, coi đó là hai nhiệm vụ gắn bó chặt chẽ, quan hệ khăng khít với nhau
Yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau đây:
Bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc gắn chặt với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay là bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tưởng văn hoá và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ.
Xây dựng và phát triển chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa một cách toàn diện, vững mạnh, đồng thời phải trực tiếp bảo vệ từng tế bào của chế độ một cách kiên quyết và thường xuyên. Xây dựng và bảo vệ xâm nhập lẫn nhau, diễn ra một cách phổ biến, thường xuyên ở mọi lúc mọi nơi, trên tất cả các mặt, các lĩnh vực hoạt động, trong mỗi tổ chức, mỗi con người.
Tư duy mới về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay, một mặt nhấn mạnh tích cực xây dựng đất nước về mọi mặt theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa; mặt khác không coi nhẹ các biện pháp vũ trang bảo đảm có đủ sức mạnh cần thiết để răn đe, giữ vững hoà bình và sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược. điều đó đòi hỏi:
Phải chăm lo xây dựng tiềm lực mọi mặt của đất nước: tiềm lực kinh tế, tiềm lực chính trị – tinh thần, tiềm lực khoa học – công nghệ và tiềm lực quân sự tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ, giữ gìn hoà bình, không để xảy ra chiến tranh là thượng sách để giữ nước. Xây dựng đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội là tạo ra sức mạnh lớn nhất để bảo vệ đất nước, là quá trình bảo vệ tích cực nhất, chủ động nhất. Mỗi bước phát triển của quá trình xây dựng là tạo nên một sức mạnh mới để bảo vệ Tổ quốc
Tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Gắn chặt nhiệm vụ quốc phòng an ninh và đối ngoại trong công cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ động đối phó có hiệu quả và sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động chống phá từ bên trong và tấn công quân sự từ bên ngoài của các thế lực thù địch.HT
Xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh về
Vận dụng sáng tạo những nguyên lý xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới của chủ nghĩa Mác – Lênin, kế thừa những kinh nghiệm quý báu về xây dựng lực lượng vũ trang trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị, xây dựng và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc, làm cho lực lượng vũ trang ta luôn là lực lượng chính trị trung thành và tin cậy của Đảng, của Nhà nước và của nhân dân.
Bằng hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam về chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta di sản quý báu, thể hiện ở một số nội dung sau:
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở cho mọi mặt khác, coi việc xây dựng nhân tố chính trị tinh thần là một trong những yêu tố quyết định đến tiến trình và kết cục của chiến tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “ Nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị” và “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”
Tư tưởng coi trọng nhân tố chính tri – tinh thần, coi trọng nguyên tắc xây dựng về chính trị thể hiện tập trung ở vấn đề cốt lõi là củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang, bảo đảm cho lực lượng vũ trang ta luôn luôn là lực lượng chính trị trung thành tin cậy của Đảng, của Nhà nước, của nhân dân.
Xây dựng bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang ở một nước mà thành phần tham gia lực lượng vũ trang là con em của các tầng lớp nhân dân lao động, chủ yếu là nông dân, là đóng góp lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lý luận xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới của giai cấp công nhân. Đồng thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận về sự thống nhất gắn bó giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của lực lượng vũ trang nhân dân.
Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn các mối quan hệ cơ bản như quan hệ giữa lực lượng vũ trang với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, quan hệ trong nội bộ lực lượng vũ trang, quan hệ giữa lực lượng vũ trang ta với lực lượng vũ trang các nước xã hội chủ nghĩa – những mối quan hệ cơ bản quyết định quá trình hình thành, phát triển bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp của quân đội ta.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị gắn liền với những quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trải qua thực tiễn hơn sáu thập kỷ qua những tư tưởng đó ngày càng được bổ sung, hoàn thiện và trở thành những vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng lực lượng vũ trang. Đó là nguyên tắc coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị là “gốc”, là cơ sở cho xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện; không ngừng củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tinh nhân dân, tính dân tộc; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; kiên định mục tiêu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác lập và không ngừng nâng cao hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị; xây dựng tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang trong sạch, vững mạnh và xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.
Thực tiễn hơn 60 năm xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta đã tạo dựng được sức mạnh chính trị – tinh thần to lớn của lực lượng vũ trang để chiến đấu và chiến thắng những lực lượng vũ trang xâm lược nhà nghề có số lượng đông, có vũ khí, trang bị, kỹ thuật hiện đại. Lực lượng vũ trang ta đã lập nên những chiến công vẻ vang, góp phần xuất sắc vào sự nghiệp đấu tranh giành quyền độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Những giá trị lý luận xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn lực lượng vũ trang phải tập trung sức tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở.TH
Vai trò của lực lượng vũ trang nhân dân trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Hiện nay, đất nước đang tiến hành công cuộc đổi mới hướng đến thực hiện khát vọng của dân tộc là cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc. Để biến khát vọng đó thành hiện thực, mỗi tổ chức và mỗi cá nhân có vai trò quan trọng trong tiến trình đó. Lực lượng vũ trang nhân dân với chức năng, nhiệm vụ của mình, xá định rõ và cần làm tốt ọt số vấn đề sau:
Cùng toàn Đảng, toàn dân tích cực đấu tranh phong chống “Diễn biến hoà bình” , bạo loạn lật đổ; là lực lượng nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, ngăn chặn và làm thất bại các cuộc chiến tranh xâm lược ở các quy mô và cường độ khác nhau, làm tròn chức năng đội quân chiến đấu cả vũ trang và phi vũ trang trong giai đoạn mới
Luôn luôn là lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là trên lĩnh vực chính trị, giữa vững ổn định chính trị của đất nước, tạo môi trường chính trị thuận lợi để phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại, làm tròn chức năng đôi quân công tác trong giai đoạn mới.
Tích cực tham gia, xây dựng kinh tế, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Lực lượng vũ trang không chỉ là lực lượng bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mà còn là lực lượng quan trọng góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm tròn chức năng lực lượng vũ trang lao động sản xuất trong giai đoạn mới.
Chủ động, sáng tạo, đi đầu trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân, cùng với hệ thống chính trị xây dựng “thế trận lòng dân”, góp phần tạo dựng sức mạnh từ cơ sở, trong mỗi tổ chức, mỗi con người cho nhiệm vụ xây dựng và BVTQ xã hội chủ nghĩa!
Chăm lo xây dựng tổ chức đảng, tổ chức quần chúng trong đơn vị, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh SSCĐ và chiến đấu đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới!TH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và vấn đề đặt ra đối với xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị.
Cuộc đấu tranh để giải quyết vấn đề “ ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của đời sống xã hội những nhân tố kinh tế, chính trị xã hội, giai cấp, tư tưởng đang biến đổi và tác động đến xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị trên các mặt chủ yếu sau đây:
Sự tác động của nền kinh tế nhiều thành phần, cơ chế thị trường đến xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị
Sự phát triển của kinh tế, sự ổn định chính trị của đất nước đã tác động tích cực đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang: lòng tin vào Đảng, vào chế độ được củng cố, ý thức, trách nhiệm chính trị đối với sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được nâng cao, làm tăng thêm sức mạnh chính trị – tinh thần của lực lượng vũ trang .
Tuy nhiên, bên cạnh sự tác động tích cực, thì mặt trái của nền kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường đã làm xuất hiện những tiêu cực mới, tác động không nhỏ đến lực lượng vũ trang như: ý thức giác ngộ chính trị; nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; sự thoái hoá biến chất, chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Vì vậy, việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu, lý tưởng, con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là vấn đề cốt tử trong xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị.
Sự tác động của những biến đổi về cơ cấu xã hội – giai cấp ở nước ta hiện nay đến xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị. Trong quá trình vận động, biến đổi, các giai cấp và tầng lớp xã hội có xu hướng xích lại gần nhau, liên kết, hợp tác với nhau, trên cơ sở khối đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Mặt khác với cơ cấu xã hội – giai cấp không thuần nhất, phát triển đa dạng, đan xen, vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau dẫn tới sự không thuần nhất về chính trị – tư tưởng, sự xuất hiện các khuynh hướng chính trị – tư tưởng, sự xuất hiện các khuynh hướng chính trị – tư tưởng khác nhau thậm chí đối lập nhau sẽ tác động đến quá trình xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị.
Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay phải giải quyết mâu thuẫn giữa việc tiếp tục xây dựng, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang với thành phần tham gia lực lượng vũ trang từ các giai cấp, tầng lớp khác nhau của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ.TH
Xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị theo quan điểm Mác – Lênin.
Cũng như giai cấp và nhà nước, chiến tranh và quân đội là những hiện tượng chính trị xã hội. Sự xuất hiện của chiến tranh và lực lượng vũ trang gắn chặt với sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước. C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin đã nghiên cứu lý luận về chiến tranh và lực lượng vũ trang trong mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với lý luận về giai cấp và nhà nước.
Lực lượng vũ trang là một hiện tượng lịch sử. Lực lượng vũ trang ra đời
trong giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người, khi xuất hiện chế
độ tư hữu và loài người bị phân chia thành các giai cấp. Đi đôi với việc phân
chia xã hội thành giai cấp, sự bất bình đẳng về sở hữu tài sản càng trở nên sâu
sắc, lực lượng vũ trang được tăng cường và có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hơn. Khi
xuất hiện bộ máy cưỡng bức đặc biệt là nhà nước, thì cũng đẻ ra thiết chế xã hội mới về chất là lực
lượng vũ trang
Khi đã xuất hiện chế độ tư hữu, giai cấp và nhà nước, nảy sinh mâu
thuẫn đối kháng thì chiến tranh cũng xuất hiện trong đời sống xã hội. đối với
bọn bóc lột thì chiến tranh đã trở thành phương tiện và công cụ quan trọng để
nô dịch các dân tộc khác, để củng cố địa vị thống trị của chúng ở trong nước.
Ăng ghen đã viết: “ Quân đội là một tập đoàn người vũ trang có tổ chức, do nhà
nước xây dựng nên và dùng vào cuộc chiến tranh tấn công hoặc chiến tranh phòng
ngự”
Như vậy, sự xuất hiện của hiện tượng
lực lượng vũ trang trong lịch sử gắn chặt với sự xuất hiện của chế độ tư
hữu, giai cấp, nhà nước và chiến tranh. Lực lượng vũ trang là công cụ để thực
hiện mục đích chính trị của một giai cấp, một nhà nước nhất định.
C. Mác, Ph. Ăng ghen và Lênin
xem xét vấn đề chiến tranh và lực lượng vũ trang trong mối quan hệ chặt chẽ với
chính trị. Phạm trù bạo lực, chiến tranh và lực lượng vũ trang bao giờ cũng gắn
liền với phạm trù chính trị - giai cấp. Chiến tranh là sự kế tục của chính trị
bằng thủ đoạn bạo lực; lực lượng vũ trang là công cụ để tiến hành chiến tranh,
để thực hiện mục đích chính trị của một giai cấp, một nhà nước nhất định
Lực lượng vũ trang là lực lượng đặc biệt của một giai cấp, là công cụ
vũ trang chủ yếu của nhà nước để tiến hành chiến tranh nhằm thực hiện mục đích
chính trị của giai cấp. lực lượng vũ trang hiện và tồn tại gắn liền với chính
trị, bị chi phối bởi chính trị, là công cụ thực hiện chính trị. Mọi mặt hoạt
động của lực lượng vũ trang đều bị quy định bởi chính trị và phụ thuộc vào
chính trị. Chính trị quy định bản chất, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ
giữa lực lượng vũ trang với giai cấp, với chế độ xã hôi, với nhan dân, với dân
tộc. Lực lượng vũ trang bao giờ cũng gắn
chặt với giai cấp, nhà nước đã sinh ra nó, mang bản chất giai cấp sâu sắc.
Không có và không thể có lực lượng vũ
trang “phi giai cấp” hoặc “siêu giai cấp”, “quân đội phi chính trị” hoặc “đứng
ngoài chính trị”.
Trong khi chăm lo xây dựng sức mạnh toàn diện của
lực lượng vũ trang, để làm cho lực lượng vũ trang kiểu mới thực sự trung thành
và phục vụ lợi ích của giai cấp vô sản, Mác, Ăng ghen và Lênin hết sức chăm lo
xây dựng lực lượng vũ trang về chính
trị, nhất là chăm lo củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực
lượng vũ trang, coi đó là vấn đề sống còn của lực lượng vũ trang cách mạng, là
một trong những nguyên tắc hết sức cơ bản trong xây dựng lực lượng vũ trang
kiểu mới.
Trong quá trình xây dựng lực
lượng vũ trang về chính trị; xây dựng, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp
công nhân cho lực lượng vũ trang, C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin đã
thường xuyên quan tâm xây dựng cả 3
phương diện chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đó là sự kiên định và thực hiện mục
tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp công nhân; giáo dục hệ tư tưởng Mác –
Lênin, thực hiện đường lối, nguyên tắc tổ chức của giai cấp công nhân; xây dựng
đội ngũ cán bộ, sĩ quan lực lượng vũ trang theo quan điểm, đường lối của giai
cấp công nhân. Mặt khác, C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin rất quan tâm xây
dựng, củng cố và phát triển mối quan hệ giữa lực lượng vũ trang với nhân dân,
coi đây là một trong những nguyên tắc hết sức quan trọng trong xây dựng lực
lượng vũ trang cách mạng, làm cho lực lượng vũ trang kiểu mới khác về chất với
các kiểu lực lượng vũ trang của giai cấp, nhà nước bóc lột trước đây. Đồng
thời, C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin rất quan tâm đến tăng cường xây dựng các
mối quan hệ trong nội bộ lực lượng vũ trang, nhất là mối quan hệ giữa cán bộ và
chiến sĩ trên tinh thần đoàn kết, dân chủ, kỷ luật, trên cơ sở thống nhất về
nghĩa vụ và quyền lợi; tăng cường củng cố và phát triển mối quan hệ hữu nghị
giữa lực lượng vũ trang các nước xã hội chủ nghĩa trên tinh thần quốc tế vô
sản.
V.I Lênin đặc biệt quan tâm đến việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản, tiến hành công tác tưởng, công tác tổ chức trong lực lượng
vũ trang, coi đó là một nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới, trực
tiếp nâng cao chất lượng chính trị, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của
lực lượng vũ trang. V.I Lênin đã kiên quyết đấu tranh bác bỏ luận điểm sai lầm
và phản động của giai cấp tư sản coi lực lượng vũ trang “ là trung lập đứng
ngoài chính trị”, từ đó đi tới phủ nhận nội dung giai cấp trong xây dựng lực
lượng vũ trang.
Những thảm kịch ở Liên Xô và Đông Âu đầu những năm 90 vừa qua là bài
học đau xót và lời cảnh tỉnh cho những ai xa rời những nguyên lý, nguyên tắc
của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới, nhất là vấn
đề xây dựng lực lượng vũ trang về chính
trị, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang
kiểu mới.TH
Ngăn chặn thông tin xấu độc “tiến công” thanh niên Quân đội
Internet và mạng xã hội ngày càng phát triển và đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận mà chúng mang lại, đây cũng là môi trường thuận lợi mà các thế lực thù địch, chống đối thường lợi dụng để chống phá Việt Nam.
SÁNG NGỜI Ý CHÍ VÀ TRÍ TUỆ VIỆT NAM
Có thể nói, Việt Nam là quốc gia thành công nhất Thế giới trong năm 2020, trên mọi phương diện, bất chấp khó khăn kép “dịch bệnh – thiên tai”, “bão chồng bão, lũ chồng lũ” xảy ra tại các tỉnh miền Trung với phạm vi rộng, cường độ rất mạnh và gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh đã đi xa hơn nửa thế kỷ, song tư tưởng và cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian truân song rất đỗi vĩ đại của Người đã là một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Trong đó, ý nghĩa lịch sử và giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia và trở thành một phần giá trị của văn hóa nhân loại.
Cũng là tội ác!
Trước diễn biến khó lường của dịch Covid – 19, nhờ những chủ trương, chính sách kịp thời, đúng đắn, biện pháp quyết liệt của Đảng, Nhà nước, toàn hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang và nhân dân cả nước, chúng ta không những kiểm soát tốt dịch bệnh, bước đầu nỗ lực chữa trị khỏi bệnh cho người dân trong nước cũng như nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam không may mắc dịch bệnh.
NGĂN CHẶN TRUYỀN BÁ TƯ TƯỞNG KHỦNG BỐ TRÊN INTERNET
Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không gian mạng đã và đang trở thành vùng lãnh thổ mới có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của mỗi quốc gia.
Thứ Ba, 15 tháng 12, 2020
NHỮNG CÂU NÓI LƯU DANH MUÔN ĐỜI CỦA ANH HÙNG NƯỚC VIỆT
1. Bà Triêụ:" Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông. Chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người"
2. Lý Thường Kiệt:" Ngồi yên đợi giặc không bằng hãy đem quân ra phá thế mạnh của giặc"
3. Trần Thủ Độ:" Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác"
4. Trần Quốc Tuấn:" Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước muôn đời vậy"
5. Trần Quốc Tuấn:" Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã"
6. Trần Bình Trọng:" Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc"
7. Trần Quốc Toản:" Phá cường địch, báo hoàng ân"
8. Trần Nhân Tông:" Xã tắc hai phen chồn ngựa đá. Non sông nghìn thuở vùng âu vàng"
9. Hồ Nguyên Trừng:" Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo"
10. Đặng Dung:" Quốc thù vị báo đầu tiên bạch. Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma"
11. Lê Lai:" Ta là chúa Lam Sơn đây"
12. Nguyễn Trãi :" Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân"
13. Nguyễn Trãi:" Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
14. Nguyễn Bỉnh Khiêm:" Hoành Sơn nhất đái. Vạn đại dung thân"
15. Bùi Thị Xuân:" Con nhà tướng không được khiếp nhược trước quân thù"
16. Quang Trung:" Nơi nào Ta mang quân tới, nơi đó quân thù bị đánh tan tành"
17. Quang Trung:" Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam Quốc Anh Hùng chí hữu chủ"
18. Nguyễn Trung Trực:" Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây"
19. Duy Tân:" Tay dơ lấy nước mà rửa, nước dơ thì lấy máu mà rửa"
20. Hồ Chí Minh:" Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"
21. Nguyễn Viết Xuân:" Nhằm thẳng quân thù! Bắn"
Yêu nước ST.
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và yêu cầu củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trong giai đoạn hiện nay
Hồ Chí Minh với tư tưởng lấy dân làm gốc
Sinh ra từ Nhân dân; sống và hoạt động cách mạng trong lòng dân; cuối đời lại muốn trở về với Nhân dân, Hồ Chí Minh khảm trong di sản của mình hạt ngọc lung linh tỏa sáng, đó là tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Tư tưởng đó mãi mãi soi sáng công việc của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là công tác dân vận.
ASEAN TRUNG LẬP, GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG BẰNG BIỆN PHÁP HÒA BINH
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng
Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh nhấn mạnh lập trường nguyên tắc của ASEAN là trung
lập với những diễn biến khu vực, trong đó có vấn đề Biển Đông. Kết thúc tuần lễ
Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 53 và các Hội nghị liên quan, chiều
tối 12/9 đã diễn ra cuộc họp báo quốc tế thông báo về kết quả các Hội nghị. Buổi
họp báo do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh chủ trì, cùng
tham dự trực tuyến có Tổng thư ký ASEAN Lim Jock Hoi. Tại buổi họp báo, Phó Thủ
tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh đã thông báo tóm tắt về kết quả
các Hội nghị. Trong đó đã nhấn mạnh AMM 53 và các Hội nghị liên quan đã thành
công tốt đẹp với sự đóng góp tích cực của các Bộ trưởng, các đối tác. Trả lời
phỏng vấn báo chí về tác động của cạnh tranh nước lớn và những diễn biến khu
vực, trong đó có vấn đề Biển Đông, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nhấn
mạnh lập trường nguyên tắc của ASEAN là trung lập, giải quyết các tranh chấp
bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có
Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, đảm bảo thực thi đầy đủ Tuyên bố
ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (DOC) và tiến tới đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở
biển đông (COC) hiệu quả, phù hợp. Tham dự họp báo trực tuyến, Tổng thư ký
ASEAN Lim Jock Hoi đã đề cao vai trò nỗ lực, chủ động của nước chủ nhà Việt Nam
trong suốt thời gian qua, đặc biệt là trong gắn kết khu vực ứng phó đại dịch
COVID-19 thông qua nhiều diễn đàn, cơ chế khác nhau, trong đó có Khung Kế hoạch
phục hồi ASEAN sau đại dịch, dự kiến được đệ trình lên Hội nghị cấp cao ASEAN
lần thứ 37 tới để các lãnh đạo xem xét, thông qua. Việc tổ chức thành công các
Hội nghị trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp đã thể hiện việc chủ
động thích ứng và quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam khi đảm nhận vai trò Chủ tịch
ASEAN. 19 Hội nghị cấp Bộ trưởng đã được tổ chức, 42 văn kiện đã được thông
qua, trong đó có Thông cáo chung AMM53, Kế hoạch Hà Nội 2 của Diễn đàn khu vực
ASEAN (ARF) cùng nhiều đề xuất, sáng kiến của Việt Nam. Đây là là số lượng văn
kiện nhiều nhất mà các Bộ trưởng đã thông qua tại 1 kỳ Hội nghị.
Kết thúc Hội nghị, các đối tác và các nước thành viên ASEAN
thống nhất đánh giá Việt Nam đã nỗ lực tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng
Ngoại giao ASEAN lần thứ 53 và các Hội nghị Liên quan. Việt Nam cũng thể hiện
quyết tâm để tổ chức Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 37 dự kiến diễn ra tháng 11
tới bằng hình thức trực tiếp./.