Thứ Tư, 16 tháng 12, 2020

CẢNH GIÁC VỚI UY TÍN GIẢ - TẤM BÌNH PHONG “ CHUI SÂU, LEO CAO” CỦA NHỮNG KẺ CƠ HỘI

Uy tín là tiền đề và điều kiện bảo đảm chắc chắn cho sự thành công trong hoạt động thực tiễn của các tập thể, cá nhân nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng. Tuy nhiên, thực tế đã và đang xuất hiện loại uy tín giả rất nguy hại, nó ngấm ngầm phá vỡ mối đoàn kết nội bộ, che đậy bản chất và là bình phong để những kẻ cơ hội “chui sâu, leo cao”. Nhận diện những biểu hiện, thủ đoạn và có giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, đấu tranh với loại uy tín giả là điều cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng, nhất là trong xây dựng đội ngũ cán bộ của nhiệm kỳ mới hiện nay.
Quyền uy và “dân chủ giả hiệu”
Trong công tác lãnh đạo, quản lý, uy tín có vai trò rất lớn đối với hoạt động thực tiễn của người lãnh đạo. Người lãnh đạo có uy tín càng cao thì ảnh hưởng của người đó với tổ chức càng lớn, tính chất ám thị và thuyết phục đối với những người dưới quyền càng tăng lên. Nếu người lãnh đạo không có uy tín thì mọi lời nói và mệnh lệnh sẽ không được cấp dưới thực hiện một cách có hiệu quả. Lúc sinh thời, lãnh tụ Lênin cho rằng: Điều quyết định thành công trong việc lãnh đạo quần chúng không phải bởi sức mạnh của quyền hành mà là sức mạnh của uy tín, sức mạnh của nghị lực, của sự hiểu biết phong phú, của tài năng xuất sắc...
Nói một cách khái quát thì uy tín được hình thành từ 3 yếu tố chính: Phẩm chất, năng lực và phong cách của người lãnh đạo. Nó được thể hiện và đo lường ở “lòng dân”. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Người lãnh đạo chỉ có uy tín khi được dân tin, dân phục, dân yêu.
Trong thực tiễn hoạt động lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành hiện nay cho thấy, bên cạnh những cán bộ có uy tín đích thực còn có cán bộ cố tình tạo ra cho mình loại uy tín giả danh (giả hiệu). Loại uy tín này được xây dựng không dựa trên những phẩm chất, năng lực và giá trị xã hội đích thực của người lãnh đạo, quản lý mà được chủ thể tạo nên bằng nhiều thủ đoạn.
Uy tín giả biểu hiện rất phong phú với nhiều dạng khác nhau. Đó là:
Loại uy tín do hạ thấp yêu cầu hay là “mị dân”, “dân chủ giả hiệu”. Họ giả vờ tỏ ra quan tâm, gần gũi quần chúng, hạ thấp yêu cầu với cấp dưới để lôi kéo tình cảm, sự ủng hộ của cấp dưới theo mình.
Loại uy tín được tạo ra bởi “trấn áp” bằng quyền lực, độc đoán, gia trưởng, tạo khoảng cách đối với cấp dưới. Người lãnh đạo tìm cách phô trương sức mạnh quyền lực, đe dọa cấp dưới; tạo quyền uy, khoảng cách, che đậy bản chất thật.
Loại uy tín do phóng đại thành tích của mình, thổi phồng khuyết điểm người khác. Họ lẩn tránh khuyết điểm của bản thân, nhưng lại khoét sâu hoặc xuyên tạc khuyết điểm người khác; phóng đại thành tích để thông báo, tự ca ngợi mình; luôn đề cao cá nhân, coi mình là nhất...
Uy tín giả tìm mọi cách che mắt tập thể, che mắt cấp trên. Nhất là mỗi khi có sự kiện như: Chuẩn bị đại hội Đảng, làm quy trình nhân sự hay thay đổi đội ngũ cán bộ chủ chốt... Thời điểm này, những kẻ cơ hội tìm mọi cách ban phát những quyền lợi vật chất nhỏ bé, "thiết kế" các cuộc gặp gỡ "chén chú chén anh", cười cợt lừa phỉnh người nhẹ dạ để lôi kéo phe cánh, quần chúng, dùng phiếu bầu để hạ uy tín người khác; họ có thể thu mình, tránh va chạm, nịnh trên, vuốt ve dưới...
Uy tín giả và cuộc đấu tranh chống “địch bên trong”
Có thể thấy, uy tín giả rất nguy hại, nó tác động và làm suy yếu tổ chức, tập thể, làm méo mó động cơ phấn đấu của cá nhân. Nó ngấm ngầm phá vỡ mối đoàn kết trong tập thể; tạo ra môi trường, tâm lý không lành mạnh với sự ghen ghét, độ kỵ, nghi ngờ trong các thành viên và làm suy giảm hiệu quả công việc của tập thể. Đặc biệt, nếu tổ chức, tập thể không tỉnh táo, dũng cảm để nhận diện và đấu tranh thì uy tín giả sẽ trở thành bình phong để những kẻ cơ hội tiến thân, lọt qua các quy trình để “chui sâu, leo cao” vào các vị trí lãnh đạo, quản lý cao hơn.
Uy tín giả gây tác hại khôn lường, nhưng nhận diện không hề đơn giản vì nó được che đậy tinh vi bằng nhiều thủ đoạn, nó nằm sâu trong động cơ, lợi ích cá nhân của một bộ phận cán bộ lãnh đạo. Phát hiện ra nó phải nhìn nhận từ phẩm chất, năng lực thật sự, đặc biệt là phong cách, phương pháp, tác phong công tác của cán bộ đó. Xem đạo đức, trình độ có tương xứng với cương vị, chức trách không, có độc đoán, gia trưởng hay mị dân, dân chủ giả hiệu không, có thổi phồng thành tích của mình không?...
Nguyên nhân tạo nên uy tín giả có cả khách quan và chủ quan. Đó là do công tác giáo dục, quản lý đội ngũ cán bộ chưa chặt chẽ, tinh thần dân chủ, tính đấu tranh phê bình, tự phê bình trong tập thể không cao hoặc bị vô hiệu hóa. Bản thân một số cán bộ không có phẩm chất, năng lực đáp ứng chức trách nhiệm vụ được giao, không có nhận thức đúng về uy tín, động cơ sai trái, nhằm mục đích cá nhân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện... Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cho rằng, chủ nghĩa cá nhân là chỉ chăm lo vun vén cho lợi ích riêng, đặt lợi ích của cá nhân, của gia đình mình lên trên lợi ích chung của giai cấp, của dân tộc, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”, nó là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên, tha hóa Ðảng. Người cũng khẳng định: Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng độc hại, tồn tại dai dẳng trong mỗi người cán bộ, đảng viên, luôn chờ cơ hội để trỗi dậy; là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. Người coi chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng. Người nói: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”, “Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài thì trước hết phải đánh thắng kẻ địch bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”.

VIỆT NAM ĐỨNG TRÊN VAI NHỮNG NGƯỜI KHỔNG LỒ

 Việt Nam, trong con mắt của đông đảo các nhà nghiên cứu chính trị thế giới, là một trường hợp "vô cùng kỳ lạ". Một quốc gia bé nhỏ về diện tích, đông đảo về dân số, GDP đầu người chỉ tầm trung bình thấp, kinh tế chỉ đang phát triển, cũng không phải là quốc gia có những tiếng nói quyết định về mặt chính trị, cũng không có quyền lực mềm về tài nguyên. Việt Nam còn nằm trong khu vực được coi là "vũng trũng thế giới". Nhưng trong con mắt của các nước lớn, Việt Nam luôn có một cái thái độ khiến người ta không thể hài lòng nổi nhưng cũng không thể ghét được. Giống như cô gái hotgirl trên FB hay Instagram, cô ấy có thể quăng cục thính khắp nơi nhưng tuyệt nhiên không ngả vào ai cả. Điều đó khiến cho các quan khách, các anh trai khó chịu nhưng tuyệt nhiên không ai lên tiếng.

Việt Nam có quan hệ khăng khít với cả Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, 3 nước mới đây đã thành lập một liên minh trong G20 chống lại cuộc chiến thương mại do Mỹ đơn phương án đặt ra.
Tờ Economictimes loan tin rằng Ấn Độ đã bán tên lửa BrahMos - tên lửa hành trình siêu vượt âm mạnh nhất thế giới hiện nay cho một quốc gia Đông Nam Á và họ chỉ đích danh Việt Nam. Nhưng Việt Nam thì không bình luận và từ chối trả lời báo chí quốc tế về vấn đề này. Viettel, doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng lớn nhất Việt Nam được cho rằng tham gia vào việc thiết kế linh kiện cho phiên bản BrahMos lắp trên các máy bay Su , cũng từ chối lời bình luận.
Cũng mới quý I, 2019, một nguồn tin giấu tên trên MSN cho biết, Việt Nam sẽ mua tiêm kích thế hệ thứ 5 của Nga là SU-57, phiên bản khắc chế J31 của Trung Quốc và F35 của Mỹ. SU-57 Việt Nam được đồn đoán sẽ gắn BrahMos phiên bản đặc biệt. Nhưng cũng như thường lệ, các lãnh đạo ngoại giao Việt Nam đều "từ chối phát ngôn" về các vấn đề này.
Việt Nam vẫn luôn "âm thầm viện trợ nhân đạo" cho Triều Tiên để đổi trác những thứ không ai biết. Những người Hàn Quốc biết chứ, nhưng họ không nói gì cả. Trong nhiều diễn đàn quân sự, những người Hàn Quốc cho rằng có vẻ như ông Un đã đem thứ gì đó đến Hà Nội trên chuyến tàu mười mấy toa bọc thép với sức chứa vài trăm tấn. Chưa kể rằng việc Hà Nội điều 3 sư đoàn bộ đinh, nhiều đoàn vận tải đến Đồng Đăng là có "một lý do ngoài việc đón tiếp".
"Tại sao họ lại phong tỏa quốc lộ 1? Điều nhiều xe vận tải, xe phá sóng? Hay họ đang vận chuyển vũ khí của Bắc Triều Tiên". Và ý kiến này có vẻ như khá đúng, khi hơn 5000 tấn gạo, hàng trăm tấn rau củ đã cập bến Triều Tiên trong tháng qua.
Người Hàn biết rằng người Việt thân với người Triền Tiên. Họ cần 1 vùng đệm để có thể kê cao gối ngủ. Cũng đúng, nhà giàu thì thường sợ mất nhiều hơn. Người Hàn trở thành một trong những quốc gia đầu tư vào Việt Nam nhiều nhất, viện trợ ODA cho Việt Nam nhiều nhất. Đại sứ Hàn Quốc và đại sứ Triều Tiên được cho rằng vẫn thường xuyên duy trì kênh liên lạc tại Hà Nội. Người Hàn sang Việt Nam ngày càng nhiều, được biết, có tới gần 200.000 người Hàn đang sinh sống làm việc tại Việt Nam.
Các bạn có biết quốc gia nào viện trợ ODA nhiều nhất cho Việt Nam không? Đúng rồi đó, là Nhật Bản. Người Nhật Bản luôn cho rằng, họ phải là anh cả của châu Á. Họ muốn vươn lên như một cường quốc thực sự về mặt chính trị. Một giáo sư Nhật ở Đại học Kyoto cho rằng có 3 điều cần phải làm để hiện thực hóa điều này:
1. Có ảnh hưởng mạnh mẽ đến Đông Nam Á, Nam Á và Tây Á.
2. Có nền kinh tế top châu Á
3. Có chiếc ghế thường trực trong Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc.
Nhật Bản đã đạt được điều 2, họ duy trì là nền kinh tế vững chắc nhất châu Á trước khi Trung Quốc vượt qua. Về điều 1, họ cần có sự ảnh hưởng sâu rộng đến các khu vực này. Tại Nam Á, họ chơi rất thân với Ấn Độ. Tại Tây Á, họ có quan hệ tốt với các nước Ả Rập, Iran bất chấp thái độ không hài lòng của Mỹ. Tại Đông Nam Á, khu vực vốn hợp nhất nhưng lại có sự chia rẽ sâu sắc, người Nhật cần sự ủng hộ của một quốc gia "nắm trùm" Đông Nam Á, nhưng không muốn quốc gia đó quá thân với Mỹ, quá thân với Trung Quốc, quá thân với EU nhưng phải "có sự ảnh hưởng nhất định đến các ông lớn".
Các bạn biết quốc gia nào đó ở Đông Nam Á rồi chứ: Việt Nam.
Đức cũng như Nhật, người Đức cho rằng thật là quá vô lý khi Đức phải đứng sau Anh và Pháp tại châu Âu. Người Đức cũng chọn Việt Nam, chứ không phải là quốc gia nào khác ở Đông Nam Á. Từng có thời gian "không bằng lòng" với việc Việt Nam đã âm thầm bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ngay giữa Berlin, người Đức phải thể hiện tâm thế "ông lớn" khi tạm thời đóng băng quan hệ với Việt Nam. Nhưng thật buồn khi hơn 40 tỷ USD mua máy bay từ 3 hãng hàng không Việt đã khiến cho giới chính trị Đức tái mặt. Thêm nữa, Vinfast công bố sẽ hợp tác với GM, Ford nếu giới chính trị Đức tiếp tục thái độ "không hợp tác". Và một ngày cuối tháng 2/2019, ngoại trưởng Đức Heiko Maas đã bày tỏ thiện chí mong muốn xin bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Việt Nam thì vẫn chưa lên tiếng, dửng dưng và có vẻ muốn đưa mối quan hệ này vào "chế độ chờ". Đức tiếp tục thể hiện thiện bằng cách đưa kim ngạch giao thương 2 nước lên 2 tỷ USD và vận động doanh nghiệp Đức đầu tư vào Việt Nam. Tổng vốn FDI của Đức đầu tư vào Việt Nam chạm mốc 343,5 triệu USD, đứng thứ 5 trong khối EU. Mới đây, cựu phó thủ tướng Đức cũng đã về làm việc tại Việt Nam, và người Đức muốn cựu phó thủ tướng có 2 dòng máu Việt - Đức này làm cầu nối cho việc nối lại quan hệ 2 quốc gia. Điều này khiến cho giới ba dòng kẻ ở bên kia bán cầu tỏ ý khó chịu ra mặt khi ông này về làm việc tại Hà Nội.
Tờ Bloomberg cho rằng, Mỹ đang coi Việt Nam là đồng minh thân cận, không có quốc gia xuất siêu vào Mỹ lại được Mỹ "làm lơ" như vậy. Việc Mỹ đưa Việt Nam vào "theo dõi" về việc phá giá đồng tiền chỉ là do sức ép phải "công bằng" của một nước lớn. Tậm chí tờ báo này cho rằng mối quan hệ Mỹ - Việt đã vượt qua 2 đồng minh truyền thống khác ở Đông Nam Á là Thái Lan và Philippines. Philippines thì liên tục cầu thị sự hành động của Mỹ tại Biển Đông nhưng Mỹ thì dửng dưng, chính mối quan hệ này đã bị xát muối khi Mỹ im lặng để Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough của Philippines mà không tốn một viên đạn. Còn về mặt Thái Lan, vị vua mới lên thay, họ đã không còn coi Hoa Kỳ như một đồng minh không thể thay thế nữa. Cả 2 quốc gia này, kèm với Indonesia luôn mong muốn trở thành lãnh đạo Asean, nhưng rất tiếc, trong những năm vừa qua, các lãnh đạo thế giới liên tục tụ họp về Việt Nam đã khiến cho cả Đông Nam Á có lẽ đã phải nhận ra: Ai mới đang là kẻ có tiếng nói quyết định tại khu vực này.
Việt Nam, đang trên đà trở thành cường quốc tầm trung mới trên thế giới - báo Singapore nhận xét.
Sức mạnh của Việt Nam, đến từ nền ngoại giao thượng thừa và sức nặng từ lịch sử. Quốc gia này là nguồn cảm hứng duy nhất khiến cho nhân dân châu Phi, Tây Á, Nam Mỹ tiến lên dành độc lập. Quốc gia này đã đánh bại những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử nhân loại. Việt Nam chính là tấm gương cho những thế hệ quốc gia thứ 3, những quốc gia vươn lên từ chiến tranh, đói nghèo.
Giữa thế giới đầy lọc lõi, Việt Nam như một anh bạn sẵn sàng đón tiếp tất cả đến nhà vui vẻ, trò chuyện và hướng đến tương lai. Không một nơi nào trên Trái Đất này có thể khiến đại sứ quán Triều Tiên và Hàn Quốc cùng ngồi lại với nhau, đại sứ quán Palestine và Israel có thể trao đổi các thông tin ngoại giao, đại sứ quán Ấn Độ và Pakistan ngồi điện đàm trong lúc xung đột tới đỉnh. Không một quốc gia nào ở Đông Nam Á, lãnh đạo Nga - Mỹ - Trung có thể đi dạo đường hoàng và có những cái bắt tay khăng khít.
Sức mạnh của Việt Nam, không đến từ những năm tháng hòa bình như đa phần những người hàng xóm khác ở Đông Nam Á, những quốc gia được "trao trả độc lập" hoặc chịu mất đất để đổi lấy hòa bình. Việt Nam đã chiến thắng thì có quyền ít nhất là mặt hướng lên cao và tay nắm chặt hiên ngang.

NGUY CƠ KHỦNG BỐ "SÓI ĐƠN ĐỘC" ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không gian mạng đã và đang trở thành vùng lãnh thổ mới có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của mỗi quốc gia.

Do đặc thù thông tin trên không gian mạng có tốc độ truyền thông tin nhanh chóng, không gian, thời gian rộng mở nên những thông tin trên mạng có khả năng tác động nhanh chóng, mạnh mẽ đến nhận thức của con người ở mọi đối tượng, nhất là trong một thời điểm nhất định có thể tạo làn sóng tích cực hay tiêu cực tác động vào đời sống kinh tế - xã hội và tình hình an ninh, trật tự của một khu vực hay một quốc gia.
Thực tiễn trong những năm qua, các tổ chức khủng bố triệt để lợi dụng các hình thái mạng xã hội để tuyên truyền về chủ nghĩa khủng bố, đồng thời cũng coi đây là phương thức liên lạc an toàn hiệu quả cho các thành viên trên thế giới thực hiện các hành vi khủng bố theo kiểu “sói đơn độc”. Phương thức sử dụng không gian mạng để thực hiện các hoạt động khủng bố đã và đang đặt ra những thách thức không nhỏ về công tác an ninh cho các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Không gian mạng là hệ thống của những mối quan hệ trên nền tảng internet; Việt Nam là nước có số người dùng Internet trên không gian mạng thuộc tốp đầu trên thế giới. Năm 2019, dân số Việt Nam đạt mốc xấp xỉ 97 triệu dân, với tỷ lệ dân thành thị là 36%.Cùng trong năm, có 64 triệu người sử dụng Internet, tăng đến 28% so với năm 2017; hơn 55 triệu người sử dụng các mạng xã hội (chiếm 57% dân số) và 436 mạng xã hội đang hoạt động, đứng thứ 7 trong 10 nước có số người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất thế giới. Cùng với những giá trị tích cực không gian mạng cũng bộc lộ những mặt trái và hệ lụy của nó, không gian mạng “được ví như con dao 2 lưỡi ẩn chứa nhiều vấn đề bất cập và hiểm họa khó lường, nhất là những đối tượng sử dụng không đúng mục đích”.
Trong những năm qua kể từ khi các hình thái mạng xã hội trên không gian mạng xâm nhập và phát triển vào Việt Nam các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước càng gia tăng hoạt động tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước ta.
Thông qua các trung tâm phá hoại tư tưởng, các tổ chức khủng bố lưu vong (như “Việt Tân”, “Quỹ người Thượng”, “Khối 8406”, Ủy ban Cứu người vượt biển”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, “Triều đại Việt”) và số đối tượng phản động, chống đối, bất mãn chế độ, cơ hội chính trị trong nước đã tiến hành nhiều phương thức khác nhau, đặc biệt là lợi dụng hình thái mạng xã hội trên không gian mạng để thực hiện các hoạt động truyền bá tư tưởng cực đoan nhằm kích động người dân thực hiện các hành vi như tụ tập đông người gây rối an ninh, trật tự; sử dụng bom xăng tấn công lực lượng chức năng; thậm chí tuyển thành viên để tiến hành các hoạt động khủng bố ở trong nước mà đối tượng đó không cần phải xuất cảnh ra nước ngoài.
Điển hình từ cuối năm 2016, các đối tượng Đào Minh Quân, Phạm Lisa và một số đối tượng phản động trong và ngoài nước là thành viên của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, thông qua mạng xã hội đã lôi kéo nhiều đối tượng không nghề nghiệp, bất mãn chế độ nhưng có chung một điểm là hám lợi thành lập các “nhóm hành động” để tiến hành khủng bố, phá hoại tại Việt Nam.
Trong đó có vụ đặt bom xăng ở sân bay Tân Sơn Nhất năm 2016, vụ ném bom xăng bãi giữ xe vi phạm Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai năm 2017 và gần đây nhất là vụ ném bom tại trụ sở Công an phường 12, quận Tân Bình năm 2019.
Các vụ khủng bố trên dù chưa gây ra thiệt hại lớn về người nhưng đã đặt ra những thách thức trong công tác đảm bảo an ninh của Việt Nam. Qua quá trình điều tra, xét xử, các đối tượng đều thành khẩn khai nhận trong quá trình sử dụng mạng xã hội đã tiếp xúc liên lạc với những đối tượng khủng bố lưu vong ở nước ngoài và nhận hướng dẫn, chỉ đạo và nhận tiền từ các đối tượng bên ngoài để thực hiện các hành vi khủng bố.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, hoạt động truyền bá tư tưởng khủng bố trong thời gian qua đã được các tổ chức khủng bố lưu vong người Việt ở nước ngoài đẩy mạnh trên không gian mạng. Vì vậy, để phòng ngừa nguy cơ truyền bá tư tưởng khủng bố trên không gian mạng, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục qua các trang tin chính thống và các phương tiện thông tin đại chúng đểngười dân, nhất là những người thường xuyên xử dụng mạng nhận thức đúng đắn, đầy đủ về nguyên nhân, sự nguy hiểm cùng tác hại, ảnh hưởng to lớn do hoạt động khủng bố gây ra không chỉ đối với sống của mình và người thân mà đối với an ninh, an toàn xã hội.
Đồng thời công khai các địa chỉ trang tin trên mạng xã hội của các tổ chức khủng bố lưu vong và các đối tượng khủng bố người Việt ở nước ngoài để người dân nhìn nhận rõ nét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn của chúng để cảnh giác, ngăn chặn.

Những kết quả đạt được về công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua đã có tác động mạnh mẽ, có tính cảnh tỉnh, răn đe, ngăn chặn tiêu cực, góp phần tăng cường, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân với Đảng.


Ngày 25/11, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (Ban Chỉ đạo) đã chủ trì cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo.

Nhân sự kiện có ý nghĩa quan trọng này, Báo Điện tử Chính phủ đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Hà, nguyên Vụ trưởng Vụ Cơ sở Đảng, Ban Tổ chức Trung ương về những kết quả nổi bật của công tác phòng, chống tham nhũng trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng ta.

Ông Nguyễn Đức Hà cho biết, từ hội nghị Trung ương 5 khóa XI đã kiện toàn Ban Chỉ đạo Trung ương Phòng, chống tham nhũng là một Ban trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng Bí thư trực tiếp làm Trưởng ban. Cùng với đó, Trung ương đã quyết định tái lập lại Ban Nội chính Trung ương, vừa là cơ quan tham mưu cho Trung ương về lĩnh vực nội chính, vừa là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo.

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công tác xây dựng Đảng và trước sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, Đại hội XII đã bổ sung nội dung xây dựng Đảng về đạo đức; bổ sung hai nhiệm vụ, giải pháp về công tác xây dựng Đảng so với Đại hội XI, trong đó có nhiệm vụ rất quan trọng là: Đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã nói “Tham nhũng là giặc nội xâm” và Người cũng cảnh báo “Thắng giặc ngoại xâm đã khó, thắng giặc nội xâm lại càng khó hơn”. Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã từng gọi tham nhũng là “quốc nạn”, là “tệ nạn” liên quan đến sự sống còn của Đảng. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Đức Hà, trong một thời gian dài chúng ta đã làm nhưng hiệu quả thấp, thì hai nhiệm kỳ gần đây, đặc biệt là nhiệm kỳ khoá XII, cuộc đấu tranh chống tham nhũng đã được đẩy lên giai đoạn mới cao hơn, mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, hiệu quả hơn và góp phần quan trọng củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Cuộc chiến này đã được cả xã hội đồng thuận, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng chỉ đạo: “Cả lò nóng lên, tất cả các cơ quan vào cuộc, không ai có thể đứng ngoài được”.

Theo ông Nguyễn Đức Hà, nếu như ở Đại hội XI, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí chỉ được đề cập trong phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thì Đại hội XII, vấn đề đấu tranh phòng, chống tham nhũng được đề cập cả trong phần xây dựng Nhà nước và xây dựng Đảng, đã nói lên quyết tâm chính trị của Đảng ta đối với tệ nạn nguy hiểm này, coi tham nhũng là một nguy cơ đe dọa sự tồn vong của đất nước và chế độ.

Nghị quyết Đại hội XII nêu rõ: “Nguy cơ tệ nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các tiêu cực xã hội, làm suy yếu Đảng”. Có thể thấy, từ Đại hội XII, công cuộc chống tham nhũng do Đảng ta phát động bước sang một giai đoạn mới, với những chủ trương, cách làm, hướng đi ngày càng quyết liệt, triệt để. Nhiều tuyên bố của Đảng, thông qua người đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: Chống tham nhũng phải huy động sức mạnh của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, cả xã hội cùng vào cuộc.

Đảng đã lãnh đạo thể chế hóa chủ trương thành các đạo luật, tạo hành lang pháp lý quan trọng để phòng, chống tham nhũng. Từ Pháp lệnh chống tham nhũng, trở thành Luật Phòng, chống tham nhũng và sau lần sửa đổi, bổ sung năm 2012, hiện nay đạo luật này tiếp tục được sửa đổi để nâng cao hiệu quả "thanh bảo kiếm" pháp luật. Cùng với đó, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự; Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước (sửa đổi); Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng; dự thảo Luật Tố cáo (sửa đổi); dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi, bổ sung)... đã và đang được hoàn thiện đã hoàn chỉnh thêm hành lang pháp lý cho chống tham nhũng.

Ông Nguyễn Đức Hà cho biết, để góp phần phục vụ xây dựng đường lối, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian tới, nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng đã chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng tiến hành tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng từ khi thành lập Ban Chỉ đạo (ngày 1/2/2013) đến nay.

Kết quả cho thấy, cùng với những thành tựu “rất quan trọng” và “khá toàn diện” trên các lĩnh vực mà đất nước ta đã đạt được, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng là một trong những điểm sáng, là dấu ấn nổi bật trong nhiệm kỳ Đại hội XII.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo, trực tiếp là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã có “chuyển biến mạnh mẽ, được triển khai quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước đột phá và đạt nhiều kết quả cụ thể, rõ rệt, tích cực”, tham nhũng “từng bước được kiềm chế”.

Đặc biệt là, đã phát hiện, điều tra làm rõ bản chất tư lợi, chiếm đoạt, xử lý nghiêm minh nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, án kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.

Cơ quan tiến hành tố tụng các cấp đã khởi tố, điều tra 7.270 vụ với 12.303 bị can, truy tố 5.976 vụ với 11.613 bị can, xét xử sơ thẩm 5.641 vụ với 10.970 bị cáo về các tội tham nhũng, quản lý kinh tế và các tội phạm khác về chức vụ.

Riêng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng đã chỉ đạo xử lý 125 vụ án, 91 vụ việc. Chỉ đạo xét xử sơ thẩm 66 vụ án với 604 bị cáo, xét xử phúc thẩm 50 vụ án với 475 bị cáo. Trong đó, đã xử lý dứt điểm một số vụ việc, vụ án lớn lâu nay được cho là “vùng cấm, nhạy cảm”, kéo dài từ nhiều năm trước.

Đã phát hiện và xử lý nghiêm nhiều cán bộ, đảng viên có hành vi sai phạm liên quan đến tham nhũng, trong đó có nhiều cán bộ cao cấp, cả đương chức và nghỉ hưu, cả tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang.

Các cơ quan có thẩm quyền đã xử lý kỷ luật hơn 110 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 26 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng (có 4 Ủy viên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị), 27 sĩ quan cấp tướng; xử lý hình sự 18 cán bộ diện Trung ương quản lý.

Đã thu hồi được lượng tài sản tham nhũng có giá trị lớn. Từ năm 2013 đến nay, thu hồi 67.930 tỷ đồng trong số 118.367 tỷ đồng, một số vụ tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng đạt 100%.

Riêng các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng theo dõi, chỉ đạo, đã thu giữ, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, ngăn chặn giao dịch tài sản giá trị hơn 50.000 tỷ đồng.

Phải xử lý kỷ luật đối với cán bộ cấp cao, đồng chí Tổng Bí thư rất đau xót nói rằng: “Thật là đau lòng nhưng chúng ta không thể không làm. Vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, vì sự tối thượng của pháp luật nhà nước, vì sự trong sạch của Đảng và vì ý nguyện của nhân dân, chúng ta đã làm, đang làm và sẽ tiếp tục làm trong thời gian tới”. Có thể nói, lời tuyên bố của người đứng đầu Đảng, Nhà nước là quan điểm nhất quán của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cũng là ý chí, nguyện vọng, lòng mong đợi của nhân dân. Đồng chí Tổng Bí thư cũng nói rằng, chúng ta phải chống tham nhũng ngay trong các cơ quan chống tham nhũng. Ai chần chừ, do dự, không quyết liệt, không dám làm thì đứng sang một bên để người khác làm. Bởi vì nếu chúng ta không làm thì sẽ mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng và liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Phát biểu kết luận Phiên họp thứ 18 của Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã trở thành phong trào quần chúng mạnh mẽ, xu thế không thể đảo ngược. 

Từ chủ trương, cách làm đúng đắn của Đảng, Nhà nước, công cuộc chống tham nhũng đã tạo ra được sức mạnh lòng dân với sự đồng thuận, ủng hộ ngày càng cao, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Ông Nguyễn Đức Hà nhắc lại câu nói của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong một lần tiếp xúc cử tri giờ đây đã trở thành thông điệp, thành hình ảnh chung được toàn dân nhắc đến “đưa củi vào lò để thiêu đốt tham nhũng”.

Thực tiễn chứng minh sự khởi xướng của Đảng đã tạo nên những phong trào hành động cách mạng hiệu quả. Tinh thần xây dựng Chính phủ liêm chính, vì nhân dân phục vụ, kiên quyết loại bỏ những kẽ hở cơ chế chính sách tạo đất cho tham nhũng, đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ tham nhũng, ngày càng được nhiều bộ, ngành, địa phương thực hiện.

Theo ông Nguyễn Đức Hà, chống tham nhũng muốn thành công, trong thời gian tới, cần tiếp tục có sự vào cuộc mạnh mẽ, chính xác, hiệu quả  của cả hệ thống chính trị, đúng như sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng căn dặn: Chống tham nhũng “phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức, ắt phải có lãnh đạo và trung kiên; biến hàng trăm, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”.

Vạch mặt những kẻ đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang

 Phi chính trị hóa” quân đội, cảnh sát là luận điểm đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ở các nước tư bản phương Tây. Với chế độ đa đảng chính trị, để hạn chế sự can dự của quân đội, cảnh sát vào các cuộc tranh giành quyền lực chính trị, nhà cầm quyền các nước này đề ra luận điểm “phi chính trị hóa quân đội, cảnh sát”. 

Tính giả tạo của luận điểm này đã được V.I.Lênin chỉ rõ trong bài báo “Quân đội và cách mạng” đăng trên báo “Đời sống mới” của nước Nga, ngày 16/11/1905: “...những câu nói của bọn tôi tớ của nền chuyên chế về tính trung lập của quân đội, về sự cần thiết phải giữ cho quân đội đứng ngoài chính trị... là giả dối, rằng những lời nói đó không thể mong được binh lính đồng tình một chút nào”.

“Việt Nam phải “phi chính trị hóa” quân đội, công an” là một luận điệu mà các thế lực phản động, thù địch với Việt Nam vẫn rả rích tuyên truyền, với nhiều biến thể khác nhau, được phân chia thành nhiều nội dung cụ thể. Vấn đề đặt ra hiện nay là nhận diện thật rõ: Ai đòi Việt Nam phải “phi chính trị hóa” quân đội, công an? Họ là người như thế nào? Chúng ta phải đấu tranh chống các luận điệu sai trái đó như thế nào?

Thực tiễn đấu tranh tư tưởng ở Việt Nam đã lộ diện một số “gương mặt” đòi Việt Nam phải “phi chính trị hóa” quân đội, công an như sau:

Một là, một số “lý luận gia” tư sản, chính trị gia ở các nước phát triển phương Tây vốn thâm thù ý thức hệ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Những người này chống cộng điên cuồng, chống Đảng Cộng sản Việt Nam bằng mọi giá. Từ thực tế ở Liên Xô, Đông Âu, họ rút ra kinh nghiệm muốn xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH) trước hết phải xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản đối với quân đội, công an. Những “lý luận gia” này đang làm việc trong bộ máy chính quyền nhà nước hoặc làm việc trong quân đội nên họ có điều kiện tác động vào chính sách đối ngoại của đất nước họ, đồng thời quyên góp, ủng hộ vật chất để đầu tư cho các chương trình tuyên truyền, xuyên tạc đòi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân, Công an nhân dân Việt Nam.

Hai là, một số nhóm tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền Việt Nam Cộng hòa ở nước ngoài. Thành viên các nhóm này bỏ chạy khỏi đất nước năm 1975, vốn là những người phản bội Tổ quốc, có nợ máu với nhân dân. Những hội, nhóm này tự xưng đảng phái, ủy ban, hội nọ, hội kia để lôi kéo những người Việt trẻ ở nước ngoài và các thành phần tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền ở trong nước.

Ba là, một số trí thức, văn nghệ sĩ suy thoái, biến chất, bất mãn chế độ trong nước. Đáng tiếc nhất, trong số này có cả một vài cán bộ cấp cao trong hệ thống chính trị, sau khi nghỉ hưu hoặc bị kỷ luật đã sa vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã thành lập những câu lạc bộ, hội, nhóm để chống phá đất nước, chĩa mũi dùi tấn công nền tảng tư tưởng bằng cách xuyên tạc bản chất chính trị của quân đội, công an.

Bốn là, một bộ phận nhỏ người dân có nhận thức non kém về chính trị. Họ là trí thức trẻ, sinh viên, thanh niên, nông dân, công nhân... vì những lý do khác nhau, bị đầu độc bởi môi trường thông tin xấu độc, tham gia đòi “phi chính trị hóa” quân đội, công an.

“Phi chính trị hóa” quân đội, công an được xác định là nhiệm vụ trọng yếu của chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm vào Việt Nam; các thế lực thù địch cho rằng, “phi chính trị hóa” quân đội, công an chính là con đường cơ bản để “vô hiệu hóa” vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chỉ có như vậy thì chúng mới có cơ hội làm “cách mạng sắc màu”, “cách mạng đường phố” ở Việt Nam.

Nếu như trước đây, các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hóa” quân đội, công an thông qua đòi hỏi trực diện là xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, công an, thì gần đây có những biến thể mới về nội dung. Cụ thể như:

Dựa vào chính các nội dung lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, công an để xuyên tạc, bịa đặt. Chẳng hạn, mục tiêu xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trong đó một số lực lượng, quân chủng, binh chủng tiến thẳng lên hiện đại thì chúng “bẻ lái” sang xây dựng “quân đội hiện đại, quân đội nhà nghề”. Từ đó cho rằng “không có quân đội nhà nghề nào lại do một đảng chính trị lãnh đạo”.

Dựa vào chính sách tuyển quân, tuyển công an của Đảng, Nhà nước ta để tung ra luận điệu cho rằng “quân đội, công an là của nhân dân, của mọi người dân yêu nước” để phá bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội, công an; phá hoại bản chất giai cấp của quân đội, công an.

Tuyên truyền, kích động, gây mất đoàn kết giữa quân đội với công an, gây mất đoàn kết trong nội bộ hai lực lượng này. Đặc biệt, chúng phao tin, đồn nhảm về các tướng lĩnh, cán bộ cấp cao trong lực lượng vũ trang (LLVT); cho rằng “có tham nhũng ghê gớm” trong quân đội, công an; từ đó gây tâm lý hoang mang, dao động trong cán bộ, chiến sĩ hòng làm suy giảm sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội, công an. Những vụ việc tiêu cực trong quân đội, công an được xử lý, thể hiện rõ tính nghiêm minh của pháp luật thì chúng cho rằng, đó chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”.

Nét mới nổi lên gần đây là các lực lượng ở trong nước chủ động ngụy tạo hoặc thổi phồng, bôi đen các sự kiện, vấn đề của quân đội, công an trong nước để “đánh trống, la làng” gây sự chú ý của các lực lượng thù địch, phản động ở nước ngoài; từ đó móc nối, liên hệ với nhau để chống phá.

Xuyên tạc về hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang. Cho rằng, đây là những hoạt động tốn kém, không thiết thực đối với xây dựng sức mạnh của lực lượng vũ trang; chia rẽ, gây sự phân biệt giữa các cán bộ chính trị với đội ngũ cán bộ trong lực lượng vũ trang.

Bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ và hình ảnh người chiến sĩ công an; truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo vật chất trong bộ đội, công an; kích động, lôi kéo một số cựu chiến binh, cán bộ, chiến sĩ sa vào lối sống sa đọa, hưởng thụ, không còn lý tưởng vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Các thế lực thù địch đã sử dụng kết hợp nhiều phương tiện truyền thông (sách, băng đĩa, truyền hình, phát thanh, báo in, báo điện tử) cùng với mạng xã hội để phát tán thông tin. Một số cơ quan báo chí của nước ngoài như RFA, RFI, BBC, VOA... thường xuyên đăng, phát các dạng bài tuyên truyền đầu độc nêu trên và đăng kèm phụ đề “bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả”. Hằng năm, vào dịp các ngày lễ lớn của đất nước hoặc các sự kiện chính trị quan trọng (như Đại hội Đảng bộ Quân đội, Đại hội Đảng bộ Công an Trung ương hướng tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng) thì các hoạt động tuyên truyền, vận động đòi “phi chính trị hóa” quân đội, công an lại được tổ chức rầm rộ như một chiến dịch truyền thông.

Thực tiễn “phi chính trị hóa” quân đội diễn ra ở Liên Xô cho thấy, nếu xa rời những vấn đề nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội cách mạng thì sự rệu rã của quân đội, dẫn đến sự sụp đổ chế độ XHCN sẽ hết sức nhanh chóng. Liên Xô bắt đầu “phi chính trị hóa” quân đội từ năm 1987, và chỉ 4 năm sau thì Liên Xô tan rã. Đầu tiên là việc Đảng Cộng sản Liên Xô tự xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội. Chỉ trong khoảng 2 năm (1987-1989), gần 50% cán bộ chiến lược của quân đội, 30% tướng lĩnh bị “về vườn”. Hơn 100 cán bộ chính trị cấp chiến dịch - chiến lược bị cách chức với lý do “không ủng hộ cải tổ”. Năm 1990, Đại hội bất thường của Đảng Cộng sản Liên Xô tiếp tục xiết thêm sợi dây thòng lọng vào cổ mình với việc từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội đã ghi trong Hiến pháp, chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Chỉ đợi có thế, tháng 7/1991, Tổng thống Liên bang Nga ra sắc lệnh “phi đảng hóa” và cấm các đảng chính trị hoạt động trong các cơ quan nhà nước. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô ra lệnh buộc mọi quân nhân là đảng viên cộng sản phải trả thẻ đảng... Bi kịch “phi chính trị hóa” xảy ra đã khiến Quân đội Xô Viết, một quân đội hùng mạnh từng đánh bại chủ nghĩa phát xít, với gần 4 triệu quân thường trực, vũ khí trang bị rất hiện đại bỗng chốc mất phương hướng chiến đấu, không biết phải bảo vệ mục tiêu nào trong “thảm họa chính trị” tháng 8/1991 dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô.

Bài học rút ra từ quá trình “phi chính trị hóa” Quân đội Xô Viết càng giúp chúng ta hiểu hơn lời dạy của V.I.Lênin: Hiện nay, cũng như trước kia và sau này, “quân đội không thể và không nên trung lập”(2).

Đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” quân đội, công an là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; trong đó, quân đội và công an là những lực lượng nòng cốt. Trong đó, chúng ta cần chú trọng một số giải pháp sau đây:

Trước hết, tuyệt đối trung thành, kiên định và giữ vững nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo LLVT tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Tuân thủ những chỉ dẫn của chủ nghĩa
Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng LLVT cách mạng; tích cực đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị trong LLVT nhằm tăng cường bản chất giai cấp công nhân trong bộ đội, công an; tăng “sức đề kháng” của bộ đội, công an trước các âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trên mặt trận chính trị tư tưởng.

Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ chính trị, cán bộ tuyên giáo, tuyên huấn, đội ngũ phóng viên và văn nghệ sĩ trong tuyên truyền về mục tiêu, bản chất của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trên mạng xã hội.

Thứ hai, không ngừng hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo LLVT cho phù hợp với tình hình mới, kiện toàn hệ thống và nâng cao chất lượng tổ chức đảng trong quân đội, công an; xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân thực sự trung thành, tin cậy về chính trị, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, tích cực đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, vạch trần các âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm vào Việt Nam, phản bác sự phi lý của luận điểm “phi chính trị hóa” quân đội, công an bằng các luận cứ, luận chứng, luận điểm khoa học và thuyết phục. Sử dụng các biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn những luồng thông tin xấu độc tiếp cận công dân Việt Nam.

Thứ tư, lực lượng chức năng của quân đội, công an chủ động đấu tranh với các đối tượng tàn dư của chế độ cũ, những đối tượng suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở trong nước; ngăn chặn, bóc gỡ các đường dây liên kết của các đối tượng phản động trong nước với thế lực thù địch bên ngoài.

Thứ năm, cần có chính sách nâng cao đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong LLVT phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, bảo đảm thu nhập xứng đáng với loại hình lao động đặc biệt để bộ đội, công an  yên tâm công tác và chiến đấu./.

Nguồn: Tạp chí Tuyên giáo.

Lời Bác Hồ dạy ngày 16‏ tháng 12‏:

“Chịu khó, chịu khổ: Muốn giữ vững tinh thần chiến đấu, muốn dẻo dai trong lúc tác chiến, ngay bây giờ bộ đội phải tập ăn uống kham khổ, chịu đựng sự thiếu thốn cho quen; tập đi bộ, tập đi nặng, làm việc tỉ mỉ… Chịu khó, chịu khổ là phương thuốc bổ cho tinh thần và lực lượng bộ đội‏"

Là lời Hồ Chủ tịch khuyên răn bộ đội, đăng trên báo Chiến thắng, tờ báo của Việt Nam Vệ Quốc đoàn, xuất bản tại Hà Nội, số 16 và 18 ngày 16 và ngày 18/12/1945.‏

Trước yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng trong thời điểm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ phải tự phê bình nghiêm túc với bản thân để sửa chữa khuyết điểm; nêu cao tinh thần học tập, huấn luyện, rèn luyện về mọi mặt, nhất là sức khỏe phải dẻo dai, ý chí quyết tâm cao, tác phong sâu sát, tỉ mỉ, đoàn kết thống nhất cao, sẵn sàng thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Thực hiện lời Bác Hồ dạy, cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang nghiêm túc tự phê bình, chấn chỉnh, khắc phục những khuyết điểm, sai sót; kiên trì, nhẫn nại, nêu cao tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tâm sắt đá, đoàn kết một lòng, cùng với toàn Đảng, toàn dân chiến đấu thắng lợi, hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và làm tròn nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.‏

Hiện nay, cùng với những tác động tích cực, xu thế quốc tế hóa và hội nhập quốc tế đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho chúng ta thực hiện nhiệm vụ quân sự - quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Song mặt trái của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", thực hiện "phi chính trị hóa" quân đội,… đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải luôn giữ vững và phát huy cao độ truyền thống “‏Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, SSCĐ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng‏”, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện với tinh thần “Khổ luyện thành tài, miệt mài thành giỏi”, “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu"; nêu cao tinh thần đoàn kết, chủ động khắc phục khó khăn, tự lực, tự cường, mưu trí, sáng tạo, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; xứng đáng là lực lượng chính trị đặc biệt, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, tiếp tục góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới./.

Mai Năm Mới (ST)

TẤM LÒNG CỦA THẦY GIÁO QUÂN HÀM XANH

 

TẤM LÒNG CỦA THẦY GIÁO QUÂN HÀM XANH❗️

————————

Cuộc sống gặp nhiều khó khăn, một số hộ dân người Việt Nam sinh sống trên đất Campuchia di dân tự do trở về quê hương, cư trú dọc các tuyến kênh, rạch hoặc neo đậu thuyền trên sông để làm ăn, sinh sống. Những đứa trẻ con của các hộ Việt kiều Campuchia không có điều kiện đến trường, vì vậy, các đồn biên phòng (ĐBP) tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương, phối hợp các trường tiểu học trên địa bàn đóng quân mở lớp học tình thương giúp các em được học chữ, rèn người.

Thời gian qua, cứ đều đặn từ 18 đến 20 giờ mỗi ngày, tại điểm phụ Trường Tiểu học Tuyên Bình, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An lại vang lên tiếng học bài của các em nhỏ. Đó là lớp học tình thương do cán bộ, chiến sĩ ĐBP Tuyên Bình trực tiếp dạy nhằm tạo điều kiện cho con em người Việt Nam di cư tự do từ Campuchia trở về có điều kiện biết đọc, biết viết.

Gần 18 giờ, mặt trời dần khuất bóng, trên Đường tỉnh 831 thấp thoáng các em nhỏ trong bộ áo quần tươm tất cùng thầy giáo quân hàm xanh vui vẻ đến lớp học tình thương. Để các em đến lớp được an toàn, đúng giờ, ĐBP Tuyên Bình cử các thầy giáo quân hàm xanh đến từng nhà đón đưa các em như vậy. Người gắn bó nhiều với các em là binh nhất Võ Thanh Tài và Mạc Văn Nhân - chiến sĩ Đội Vận động quần chúng ĐBP Tuyên Bình. Sau khi kết thúc khóa huấn luyện chiến sĩ mới, được điều động về ĐBP Tuyên Bình, cấp ủy, Ban Chỉ huy đơn vị đã chọn binh nhất Võ Thanh Tài, Mạc Văn Nhân trực tiếp giảng dạy lớp học tình thương.

Mặc dù chưa được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm nhưng khi được phân công vào vai thầy giáo, binh nhất Võ Thanh Tài và Mạc Văn Nhân xác định sẽ nỗ lực hoàn thành dẫu có khó khăn. Khó khăn đầu tiên với 2 chiến sĩ là vận động các em đến lớp, tiếp đến là soạn giáo án và phương pháp sư phạm,... Chia sẻ những khó khăn này, Ban Giám hiệu Trường Tiểu học Tuyên Bình tạo điều kiện cho thầy giáo quân hàm xanh tham gia dự giờ các tiết dạy của trường nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng sư phạm trong quá trình đứng lớp. Bằng tình thương và trách nhiệm, các thầy giáo mang quân hàm xanh đã giúp các em biết đọc, biết viết cũng như cách ứng xử lễ phép với gia đình và những người xung quanh.

Đồng hành cùng hành trình tìm con chữ của những đứa trẻ Việt kiều Campuchia, từ năm 2012 đến nay, được sự giúp đỡ của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, Trường Tiểu học Tuyên Bình cùng chính quyền địa phương, đồn đã mở nhiều lớp học tình thương, tận tình hướng dẫn các em từ nét chữ, rèn từng lời ăn, tiếng nói và những đức tính tốt. Hiện tại, lớp học tình thương của đồn có 5 lớp với 48 học sinh tham gia. Đây là “mái nhà chung” mang con chữ, tình thương đến với những đứa trẻ nghèo trở về từ bên kia biên giới.

Những việc làm thấm đượm nghĩa tình quân - dân nơi biên giới của cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng được người dân biên giới tin yêu, mến phục, gọi bằng cái tên trìu mến “thầy giáo quân hàm xanh”./
Nguồn: Minh Luận - Việt Đức (Báo Long An).

• Ảnh: Thầy giáo quân hàm xanh" tận tình chỉ dạy các em ở lớp học tình thương.



Giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Một số giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội

Hiện nay, các thế lực thù địch triệt để sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền các thông tin xấu, độc và các luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta, nhất là tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng (chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh). Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, chúng ta cần tập trung thực hiện một số giải pháp như sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và tổ chức xã hội; nâng cao trách nhiệm các cơ quan trong hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội; tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

1. Sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và tổ chức xã hội với các hình thức đa dạng, phong phú

2. Phân định rõ trách nhiệm các cơ quan trong hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội



Phản bác quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch


Đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng Việt Nam là một bộ phận quan trọng hợp thành cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và là yêu cầu, nhiệm vụ cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hiện nay.

Tham gia cuộc đấu tranh này là trách nhiệm chính trị của các cấp, các ngành, không phải là công việc, nhiệm vụ của riêng ai. Trong khi đó, điều kiện, khả năng thu thập, xử lý thông tin và kỹ năng sử dụng, làm chủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân ta còn hạn chế.

Vì vậy, để giữ thế chủ động, đấu tranh kịp thời, có chất lượng và hiệu quả, đòi hỏi phải xây dựng được lực lượng chuyên trách, có năng lực chuyên môn, trình độ về mọi mặt để giữ vai trò nòng cốt, xung kích trong cuộc đấu tranh này. Thực tiễn đã chứng minh, lực lượng chuyên trách cũng như bất kỳ cá nhân, tổ chức, lực lượng nào cũng đều không thể đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm, tư tưởng, lý luận sai trái với một bản lĩnh chính trị hèn yếu, một nền tảng lý luận nghèo nàn, một hệ thống tri thức không đầy đủ, trình độ ngoại ngữ và công nghệ thông tin yếu kém, ít am hiểu những vấn đề thực tiễn xã hội đang diễn ra...

Vì vậy, vấn đề vừa mang tính cấp thiết, vừa cơ bản lâu dài là cần phải bồi dưỡng lực lượng chuyên trách trong đấu tranh tư tưởng, lý luận một cách toàn diện để họ trở thành những người có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, trình độ, tư duy, lý luận cao, có phương pháp luận nhạy bén, sắc sảo, am hiểu thời cuộc; mục tiêu xa hơn là trở thành những “chuyên gia” giỏi về lý luận, những cây “bút chiến” sắc bén.

Trong đó, chú trọng bồi dưỡng chuyên biệt cho lực lượng này, bảo đảm cho họ thành thạo về công nghệ thông tin, làm chủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại, sử dụng tốt ngoại ngữ để thu thập, tiếp nhận và xử lý nhanh chóng các thông tin, các tình huống đặt ra.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện các chính sách và khung pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức tích cực tham gia đấu tranh. Đấu tranh với thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá Đảng và Nhà nước ta, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là một cuộc chiến rất cam go, nhạy cảm và phức tạp; liên quan đến cả “sinh mệnh chính trị” của người tham gia đấu tranh.

Điều đó đặt ra và đòi hỏi phải xây dựng và thường xuyên rà soát, bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản lý, cách thức tổ chức, bảo đảm phát huy cao nhất ý thức, trách nhiệm chính trị của mỗi cá nhân, tổ chức để họ tham gia tích cực, hiệu quả vào cuộc đấu tranh đầy cam go này.

Trong đó, cần quan tâm chính sách đãi ngộ thỏa đáng, tạo điều kiện về mọi mặt, cả về bảo vệ chính trị, bảo vệ “sinh mệnh chính trị” của những người tham gia; chú trọng cung cấp thông tin đầy đủ, nhiều chiều và có định hướng đúng để phản bác quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Đồng thời, tăng cường hơn nữa vai trò quản lý của Nhà nước, trách nhiệm của các tổ chức và từng cá nhân trong sử dụng mạng xã hội; thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, triệt để Luật An ninh mạng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để nhận diện, ngăn chặn, bóc gỡ các thông tin, tài liệu có nội dung phản động do các thế lực thù địch tuyên truyền, tán phát trên không gian mạng.

Cơ quan chức năng các cấp cần quản lý chặt chẽ, đúng quy định việc truy cập, khai thác thông tin trên mạng xã hội, internet và phòng, chống việc lộ lọt thông tin bí mật nhà nước, bí mật quân sự mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để chống phá, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước.

Tuyệt đối không mơ hồ, mất cảnh giác


Như đã nêu trong bài Nhận diện những thủ đoạn lợi dụng chống phá của các thế lực thù địch, những thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 của các thế lực thù địch đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp trong bối cảnh hiện nay.

Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức sâu sắc và tiến hành đồng bộ các giải pháp đấu tranh kịp thời, hiệu quả.

Trong đó, tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, tiến hành tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, tạo chuyển biến sâu sắc về nhận thức của mọi tổ chức, lực lượng trong cuộc đấu tranh này.

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ đưa lại cho mỗi người dân được hưởng thụ các sản phẩm vật chất và tinh thần của nhân loại với chi phí rẻ hơn, tiện nghi và phong phú hơn. Nó cũng làm cho con người rất dễ rơi vào tình trạng không phân biệt được cái đúng và cái sai; cái tốt và cái xấu; cái thực và cái hư; khó phân biệt quan điểm đúng đắn với quan điểm sai trái, xuyên tạc... Do vậy, công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng phải tạo ra được nhận thức đầy đủ, đúng đắn và thống nhất trong mỗi tổ chức, cá nhân về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng này để chống phá cách mạng nước ta; tuyệt đối không mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác.

Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27.9.2019 của Bộ Chính trị (khóa XII) về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xác định: tránh mọi biểu hiện bàng quan, thiếu tự tin, thụ động, nhưng không chủ quan, nóng vội, duy ý chí.

Vì vậy, cần khắc phục triệt để các biểu hiện giản đơn khi cho rằng, Cách mạng công nghiệp 4.0 chỉ thuần túy là vấn đề khoa học và công nghệ hiện đại, không liên quan đến vấn đề chính trị nên không tác động, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc cách mạng này để chống phá cách mạng Việt Nam.

Mặt khác, phải nhận thức rõ cuộc đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc cách mạng này để chống phá cách mạng nước ta hiện nay của các thế lực thù địch là vấn đề rất khó khăn và phức tạp. Điều đó, trực tiếp liên quan đến sự mất còn của chế độ, vận mệnh của dân tộc nên cần phải được lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chặt chẽ trên cơ sở nhận thức đầy đủ, sâu sắc của mọi tổ chức, lực lượng.

Chỉ có nhận thức đúng mới có thái độ và trách nhiệm cao trong tham gia cuộc đấu tranh với những thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta hiện nay. Từ đó, mới bảo đảm cho nhiệm vụ này được tiến hành một cách chủ động, tích cực, có hiệu quả và khắc phục được những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn.

Giải pháp đấu tranh làm thất bại thủ đoạn lợi dụng để chống phá cách mạng

 Thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta là mối nguy hại thực sự, gây ra nhiều khó khăn và tạo lực cản lớn để Việt Nam tiếp cận và tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Thêm trân quý đức hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ

 

Bộ đội Cụ Hồ-danh hiệu nhân dân vinh tặng, là niềm tự hào rất lớn đối với các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Phẩm chất của Bộ đội Cụ Hồ được hình thành và tỏa sáng trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, phát triển của Quân đội ta, trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Những bài học quý báu trong 50 năm thực hiện Di chúc

  


 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng nhấn mạnh, 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu để lại cho chúng ta những bài học lịch sử hết sức quý báu. Đó là bài học nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là bài học sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đó là bài học không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết; đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Đó là bài học sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

  Nhấn mạnh những giá trị to lớn và ý nghĩa lịch sử của Di chúc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: Tuy nhiên, chúng ta cũng không khỏi trăn trở, day dứt trước không ít những khuyết điểm, yếu kém và khó khăn, thách thức đang cản trở tiến trình đổi mới, xây dựng đất nước, nếu không kiên quyết, kiên trì ngăn chặn, đẩy lùi sẽ đe doạ tới vận mệnh của Tổ quốc, sự sống còn của chế độ và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ: Ý thức được vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình, Đảng ta càng cần phải thấm nhuần sâu sắc những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; phát huy truyền thống và bản chất tốt đẹp của Đảng ta, với quyết tâm chính trị cao, kiên quyết, kiên trì đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chăm lo xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên, xứng đáng là đội quân tiên phong, là Đảng cầm quyền, ngang tầm nhiệm vụ.

Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta nguyện kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếp tục thực hiện lý tưởng cao cả của Người; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh. “Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi với non sông đất nước, với nhân dân ta. Di chúc của Người toả sáng giá trị dân tộc và thời đại, thấm đậm nhân văn, văn hoá Hồ Chí Minh, mãi mãi là ngọn cờ quy tụ sức mạnh toàn dân tộc, đã, đang và sẽ tiếp thêm sức mạnh, nguồn năng lượng to lớn cho Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam muôn vàn yêu quý của chúng ta”./.