Thứ Ba, 22 tháng 12, 2020

VIỆT NAM CÓ TIẾNG NÓI MẠNH MẼ VÀ CÓ ĐƯỢC LÒNG TIN CỦA THẾ GIỚI!

 “Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ và có được lòng tin của thế giới, nhất là ở châu Á, châu Phi và cả châu Âu cũng như Mỹ”, Đại sứ Philippe Kridelka, Trưởng phái đoàn thường trực Bỉ, ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ) đã chia sẻ như vậy trong cuộc trả lời phỏng vấn với phóng viên tại LHQ.

Đại sứ  Kridelka khẳng định: “Tôi tin rằng Việt Nam có thể là cầu nối hết sức hiệu quả giữa các nước. Sắp tới Mỹ sẽ có chính quyền mới do Tổng thống Joe Biden đứng đầu và tôi cho rằng Việt Nam sẽ có cơ hội đóng góp nhiều hơn nữa để HĐBA có được sự đồng thuận, để các nước ủy viên thường trực như Nga, Mỹ và Trung Quốc hiểu nhau hơn”.

Nhà ngoại giao Bỉ nhận định thách thức của thế giới trong năm 2021 sẽ vẫn là nỗ lực xây dựng và củng cố chủ nghĩa đa phương mạnh mẽ hơn, ứng phó với biến đổi khí hậu, giải quyết đại dịch COVID-19, củng cố hệ thống luật pháp quốc tế vì điều này là rất cần thiết cho mọi hoạt động kinh tế. Đại sứ Kridelka  nhấn mạnh Việt Nam và Bỉ đều đặt niềm tin vào hệ thống trật tự dựa trên luật lệ để giải quyết các vấn đề, các thách thức của thế giới. Hai nước đều ủng hộ mạnh mẽ vấn đề công lý trong xét xử tội phạm ở các tòa án quốc tế, công lý cho giai đoạn chuyển tiếp của các nước hậu xung đột. Ông khẳng định Việt Nam và Bỉ đã hợp tác rất hiệu quả trong khuôn khổ HĐBA và có quan hệ hữu nghị tốt đẹp.

Trưởng phái đoàn thường trực Bỉ tại LHQ cũng chia sẻ về nỗ lực của các nước ủy viên được bầu vào HĐBA, đặc biệt là của Việt Nam và Bỉ, trong việc thúc đẩy an ninh, hòa bình và sự phát triển của thế giới trong năm qua. Theo ông, là những nước tầm trung đã trải qua rất nhiều mất mát trong quá khứ, hai nước đều nhất quán ủng hộ chủ nghĩa đa phương và hợp tác quốc tế, kể cả ở tầm khu vực như ASEAN đối với Việt Nam, hay Liên minh châu Âu (EU) đối với Bỉ hay ở tầm thế giới như tổ chức LHQ. Vì vậy, khi cùng đảm nhiệm vai trò ủy viên không thường trực HĐBA và cùng nỗ lực củng cố chủ nghĩa đa phương, hai nước đã hỗ trợ rất nhiều cho 5 nước ủy viên thường trực HĐBA là Mỹ, Nga, Anh, Pháp và Trung Quốc hợp tác hiệu quả hơn và thỏa hiệp tìm được tiếng nói chung.

Đại sứ Kridelka dẫn chứng vấn đề Yemen, cả Việt Nam và Bỉ đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của phụ nữ trong tiến trình hòa bình cho Yemen, cùng cho rằng phụ nữ cần được đảm trách những vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị cũng như trong tái thiết đất nước trong giai đoạn hậu xung đột.

Đại sứ Kridelka nêu rõ Bỉ đã nỗ lực giải quyết rất nhiều thách thức như chống khủng bố, ứng phó với biến đổi khí hậu… Ông cho rằng vấn đề chống biến đổi khí hậu cũng hết sức quan trọng với Việt Nam, nhất là khi khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (Mekong) của Việt Nam hiện đang bị ảnh hưởng rất lớn. Đây cũng là một vấn đề trọng tâm của LHQ được Tổng Thư ký Antonio Guterres nhắc tới nhiều lần. Đại sứ Kridelka tin rằng trong năm tới, Việt Nam sẽ tiếp tục đóng góp chủ động, tích cực để HĐBA có thể có được sự đồng thuận cần thiết trong giải quyết vấn đề này. Về đối phó với đại dịch COVID-19, ông nhận định Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng là bài học, là hình mẫu cho nhiều nước trên thế giới.

Đại sứ Kridelka cũng chia sẻ kinh nghiệm của Bỉ trong việc giải quyết những vấn đề khó của HĐBA trong năm qua. Đó là tập trung ưu tiên hàng đầu cho vấn đề bảo vệ trẻ em trong xung đột vũ trang, nỗ lực thúc đẩy để HĐBA phải chú ý tới thực trạng rất nhiều trẻ em vẫn bị chiêu mộ để tham chiến trong các cuộc xung đột, bị buộc phải ra chiến trường, không được đến trường và không được hưởng những trợ giúp nhân đạo mà đáng lẽ các em phải được hưởng; vấn đề trẻ em trở thành nạn nhân bạo lực tình dục và thúc đẩy để thế giới phải bảo vệ trẻ em tốt hơn. Đại sứ Kridelka chia sẻ những nỗ lực của Bỉ  đã nhận được sự ủng hộ rất lớn của Việt Nam và đây cũng sẽ vẫn là lĩnh vực mà chính Việt Nam sẽ ưu tiên trong năm thứ hai của nhiệm kỳ ủy viên không thường trực HĐBA.

Đại sứ Kridelka cho biết Bỉ là nước luôn ưu tiên hỗ trợ nhân đạo cho người dân ở các khu vực xung đột. Trong năm 2020, Bỉ đã chi 200 triệu euro cho các nỗ lực nhân đạo trên toàn cầu, trong đó hơn 60% được giải ngân thông qua các tổ chức của LHQ. Vấn đề an ninh và ứng phó với biến đổi khí hậu cũng là những ưu tiên của Bỉ. Ông cho biết Bỉ đã tập trung giải quyết vấn đề nhân quyền và hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vựđọc của trẻ em thế giới, Việt Nam đã vượt lên rất nhanh trở thành một trong những nước có hệ thống giáo dục cơ sở tốt nhất. Đây chính là một thành quả về quyền con người mà Việt Nam đã làm được khiến chúng tôi thấy cần học hỏi”. Ông cũng khẳng định Bỉ luôn tôn trọng các quan điểm khác biệt của Việt Nam về một số vấn đề./.

Nguồn: TTXVN.

NGUYỄN QUANG A LÀ AI? VÌ SAO CƠ QUAN AN NINH VIỆT NAM TRIỆU TẬP LÊN LÀM VIỆC.

 

--------
Thông tin Nguyễn Quang A bị Cơ quan An ninh điều tra triệu tập làm việc đang được cộng đồng mạng hết sức quan tâm.
Là một trí thức, xuất phát trong gia đình có công với cách mạng, đáng lẽ Nguyễn Quang A phải đưa kiến thức để xây dựng đất nước, nhưng không, Quang A lại làm điều ngược lại. Xin giới thiệu đến quý độc giả một số thông tin về vị tiến sĩ bất mãn này.
Nguyễn Quang A sinh năm 1946 tại Quế Võ, Bắc Ninh, là con trai duy nhất trong gia đình có cha là liệt sĩ chống Pháp.
Năm 1965, Nguyễn Quang A được chính quyền cử đi học đại học tại Hungary ngành vô tuyến điện, rồi ở lại học tiếp Phó Tiến sĩ và công tác qua nhiều cơ quan, đơn vị quân đội.
Năm 1975 làm việc tại Viện Kỹ thuật Quân sự Việt Nam.
Năm 1982, Nguyễn Quang A trở lại Hungary làm nghiên cứu sinh cấp cao và bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Khoa học chuyên ngành Điện tử Viễn thông.
Năm 1987 chuyển từ làm việc trong Quân đội nhân dân Việt Nam sang làm việc tại Tổng cục Điện tử và Kỹ thuật Tin học Việt Nam. Sau đó, lại chuyển sang làm việc tại Công ty Liên doanh Máy tính Việt Nam Genpacific.
Năm 1989 thành lập Công ty Máy tính – Truyền thông – Điều khiển 3C.
Ngoài lãnh vực tin học, Nguyễn Quang A cũng là một chuyên gia kinh tế và là một trong những người đi đầu trong ngành ngân hàng tư nhân tại Việt Nam. Năm 1993 tham gia sáng lập Ngân hàng ngoài Quốc doanh VP Bank nay là Ngân hàng TMCP Việt nam thịnh vượng.
Năm 2007 đã cùng 8 nhà nghiên cứu có tên tuổi trong nước thành lập Viện Nghiên cứu Phát triển IDS.
Quang A từng giữ chức Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam – Hungary (nhiệm kỳ 2007-2012).
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), khi tổ chức này ra đời vào năm 1983. Từ năm 1990, VUSTA đã tổ chức “các cuộc hội thảo về đa nguyên, đa đảng”. Đến năm 2005, Chu Hảo, một lãnh đạo Viện IDS, đã bất ngờ nghỉ hưu sớm, trở thành thành viên Hội đồng Trung ương của VUSTA và thành lập NXB Tri thức trực thuộc VUSTA trong cùng năm đó. Năm 2007, tại trụ sở VUSTA, ông Hảo và ông Quang A liên tiếp tổ chức các buổi hội thảo của Viện IDS có nội dung trái quy định. Với nhiều vi phạm đi quá mục đích của cơ quan này nên Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định giải tán.
Từ 2010 đến nay thì lợi dụng nhiều tình hình đất nước Nguyễn Quang A móc nối với nhiều đối tượng chống đối ngoài nước kích động biểu tình, trả lời xuyên tạc các Đài báo chống Nhà nước Việt Nam.
Đáng chú ý là Quang A cũng là người tiên phong cản trở các hiệp định TTP, EVFTA giữa Việt Nam và liên minh Châu Âu ký kết trong việc giao thương phát triển kinh tế của đất nước. Nhưng kết quả các hiệp định quan trọng này như thế nào, chắc các bạn cũng đã biết.
Đã đến lúc cần làm rõ các hành vi của trường hợp này khi thường xuyên sử dụng mạng xã hội để xuyên tạc, tuyên truyền chống phá nhà nước.
                                                                                                                                Theo Phù Đổng

QUẢ TÊN LỬA THỨ BA MANG TÊN "VŨ XUÂN THỀU" ĐÃ TIÊU DIỆT CHIẾC B-52D TRÊN BẦU TRỜI MIỀN BẮC

Phó Tư lệnh Không quân Trần Mạnh nhắc: "046 bật công tắc bắn cả loạt, kiên quyết tiêu diệt địch".

Phi công Vũ Xuân Thiều trả lời: "Nghe rõ!". Một phút sau, Sở chỉ huy hỏi: "046 công tác tốt không?" nhưng không nghe trả lời. Điện đàm liên tục tiếng gọi: "Sông Mã gọi 046?" nhưng đều không phản hồi. Tất cả cán bộ, chiến sỹ tại Sở chỉ huy tim như ngừng đập.

Phó Tư lệnh Trần Mạnh và Trần Hanh đều hiểu có điều gì đó không bình thường nhưng rất phi thường đã xảy ra. Hai người chỉ huy lóe lên suy nghĩ có thể do cự ly quá gần do ban đêm khó ước lượng bằng mắt, sau khi phóng hai tên lửa trúng mục tiêu, máy bay của Thiều đã lao vào chiếc B-52 và anh dũng hy sinh.

TÊN ANH ĐI VÀO LỊCH SỬ, GHI TẠC TRỜI XANH!

Tuy nhiên, sự hy sinh của phi công Vũ Xuân Thiều vẫn là một ẩn số. Có ý kiến cho rằng máy bay của Vũ Xuân Thiều bị đối phương bắn hạ. Ý kiến của đồng chí Trần Mạnh và Trần Hanh mới chỉ là nhận định. 

Tháng 10/2002, câu chuyện về tinh thần cảm tử của Vũ Xuân Thiều được giải mã.

Nhân một chuyến sang Mỹ công tác, một số chuyên viên Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam đến thăm Viện Bảo tàng Không quân Mỹ tại Oa-sinh-tơn và được tìm hiểu cuốn sách "Không chiến trên bầu trời Bắc Việt". Trong tài liệu có ghi kỹ lưỡng về trận không chiến đêm 28/12/1972 trên bầu trời miền Bắc Việt Nam theo lời kể của các phi công Mỹ tham gia trận chiến.

Tác giả Istvan Toperczer ghi lại lời kể một phi công Mỹ lái máy bay làm nhiệm vụ vệ tinh cho chiếc B-52D bị máy bay của không quân của ta tấn công đêm hôm đó: "Chiếc máy bay MiG-21 của không quân Bắc Việt lao vút lên bầu trời. Khi phát hiện ra mục tiêu B-52 và các máy bay tiêm kích của Mỹ bảo vệ, chiếc MiG-21 đã mưu trí vượt qua hàng rào bảo vệ và tiếp cận mục tiêu.

Quả tên lửa thứ nhất phóng đi, rồi quả thứ hai, chiếc B-52 bị thương nhẹ chỉ tròng trành trong vài giây rồi vẫn gắng gượng lao đến vị trí cắt bom. Khi khói vàng vừa nhả ra thì chớp nhoáng chiếc MiG-21 lao như một mũi tên vào chiếc B-52 Mỹ. Cả hai khối sắt thép cùng nổ tung trên bầu trời.

Từ nội dung trong tài liệu này, nhận định của đồng chí Trần Mạnh và Trần Hanh về sự hy sinh dũng cảm của phi công Vũ Xuân Thiều đã được khẳng định.

Khi bám sát B-52 ở cự ly quá gần để phóng tên lửa, đối mặt với cái sống - cái chết, người lính bay quả cảm ấy đã không toan tính hạnh phúc của riêng mình, hạ quyết tâm tiêu diệt địch khi cùng chiếc MiG-21 thân yêu biến thành "quả tên lửa thứ ba" lao vào "Pháo đài bay".

Với chiến công này, ngày 20/12/1994, Thượng úy, Liệt sĩ Vũ Xuân Thiều đã được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Vũ Xuân Thiều sinh năm 1945 tại Nam Định. Vốn là cựu học sinh Trường Bưởi – Chu Văn An và là sinh viên Trường Đại học Bách Khoa. Tháng 7/1965, anh nhập ngũ, tham gia lớp huấn luyện lái máy bay MiG-21 đoàn thứ ba tại Liên Xô.

Chiếc máy bay B-52D bị Thượng úy Vũ Xuân Thiều bắn hạ đêm ngày 28/12/1972 trên bầu trời Sơn La là chiếc máy bay B-52 thứ hai bị Không quân nhân dân Việt Nam bắn hạ và là chiếc pháo đài bay cuối cùng của Mỹ bị bắn rơi trong trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972.

Nhìn ngắm tấm ảnh của Anh hùng, Liệt sĩ Vũ Xuân Thiều cùng tại triển lãm Bản hùng ca Điện Biên phủ trên không, thế hệ hôm nay và mai sau luôn khâm phục và ghi nhớ tấm gương về lòng dũng cảm của Anh hùng, Liệt sĩ Vũ Xuân Thiều, đã góp phần xứng đáng vào chiến thắng của quân và dân ta trong 12 ngày đêm chống trả cuộc tập kích đường không của đế quốc Mỹ.

Ngày nay, tại quận Long Biên, Hà Nội có một con phố và một trường Tiểu học mang tên Vũ Xuân Thiều.

Hải Đăng st

Đổi mới- Quy luật phát triển của Việt Nam

 

    Đầu thế kỷ XI, triều Tiền Lê lâm vào khủng hoảng sâu sắc, từ khủng hoảng xã hội dẫn đến khủng hoảng cung đình đòi hỏi phải giải quyết. Lịch sử tất yếu phải dẫn đến “đổi mới triều đại”: Nhà Lý thay Tiền Lê. Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi. Đó cũng là thời điểm lịch sử mà sự nghiệp “đổi mới đế đô” đã đến độ chín muồi. Đổi mới đế đô nhằm phát triển tiền đồ, vận mệnh của quốc gia. “Chiếu dời đô” của Lý Thái Tổ đã nêu rõ: “Nhà Thương đến đời Bàn Canh 5 lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương 3 lần dời đô, há phải các vua đời Tam Đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm thế nào cốt để mưu nghiệp lớn, chọn chỗ ở giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh”.

        Dời đô “cốt để mưu nghiệp lớn…, cho vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh”.  Thăng Long với thế “Rồng cuộn, hổ ngồi bốn phương tụ hội” như Chiếu dời đô nói, đã góp phần đưa kinh tế Việt Nam, sau hơn 100 năm độc lập tự chủ (từ Khúc đến Tiền Lê, 907-1009) tiến lên đáng kể. Giao thông vận tải đã có dấu hiệu mở mang. Để thông thương giữa miền Bắc và miền Trung các đoạn sông đào (được gọi chung là “Kênh nhà Lê”) cứ tiếp nối nhau hoàn thành. Trước đã đào đến núi Đồng Cổ; năm 983 lại đào từ Đồng Cổ đến sông Bà Hòa (Thanh Hóa), đến năm 1003 lại vét kênh Đa Cái thông tới Hoan Châu (Nghệ An). Năm 1009, đào sông từ cửa ải Chi Long qua núi Đinh Sơn đến sông Vũ Lũng (Thanh Hóa). Có thể nói, một thị trường dân tộc thống nhất tiền tư bản chủ nghĩa xuất hiện đòi hỏi phải có một đô thị trung tâm là đế đô. Nơi đó không đâu hơn là Thăng Long.

      Từ đổi mới tư duy kinh tế dẫn đến “đổi mới đế đô” – một tất yếu lịch sử phải diễn ra, tạo tiền đề thuận lợi cho đổi mới chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, đánh dấu một bước phát triển mới của xã hội Đại Việt, củng cố vương nghiệp nhà Lý, giữ gìn cho được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.

       Những thành công trong dựng nghiệp của triều Lý là nguyên nhân dẫn đến thắng lợi kháng chiến chống Tống của Lý Thường Kiệt với sự ra đời của bài thơ nổi tiếng “Nam quốc sơn hà” –  “Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên” của Đại Việt. Đó cũng là một trong những nguyên nhân để triều Lý tồn tại hơn 200 năm (1010-1225) một triều đại tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử dân tộc. Tất cả không tách rời khỏi kết quả của sự nghiệp “đổi mới” ban đầu kể trên của Lý Công Uẩn, trong đó nổi bật nhất là “đổi mới đế đô”.

 

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2020

Đổi mới- Quy luật phát triển của Việt Nam

 

          Lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam  đã không ngừng đổi mới, sáng tạo để tồn tại, phát triển, vươn lên tạo nên cơ đồ nước Việt ngày nay sánh vai với các nước trong khu vực và thế giới. 

        Trong dòng chảy lịch sử đã có rất nhiều các cuộc cải cách, đổi mới, tành công có, chưa thành công cúng có. 

         Cuộc cải cách của họ Khúc

        Thực hiện chủ trương “khoan, giản, an, lạc”. Khoan là khoan sức cho dân. Giản là quản lý giản dị, gần dân sao cho dân dễ hiểu, dễ thấm, dễ thực hành… An là đem lại bình yên cho cuộc sống. Chính quyền nắm sát dân đến tận xã, quản lý hộ khẩu, hộ tịch, giúp ích cho việc giữ vững trật tự trị an… Lạc là hệ quả cuối cùng của các biện pháp trên, nhờ thực hiện cải cách mà “Nhân dân đều được yên vui” bớt được hờn, giận, oán, sầu…

       Họ Khúc tập trung khâu trọng yếu là cải cách cơ cấu hành chính. Trước đó cơ cấu hành chính do bọn xâm lược dựng lên là the phương thức “nắm từ trên xuống”, từ tiết độ sứ đến quân lệnh… mục đích là để đàn áp, bóc lột. Nay họ Khúc thay bằng cơ cấu hành chính “nắm từ dưới lên”, nắm từ cơ sở là cấp xã và trên thì thay chế độ “quận, huyện, hương” của nhà Đường bằng cơ chế mới. Giao Châu trước chia thành quận, huyện. Dưới huyện là hương và xã. Hương có đại hương (160-540 hộ), tiểu hương (70-150 hộ). Xã có đại xã (40-60 hộ), tiểu xã (10-30 hộ). Nhưng bọn thống trị chưa bao giờ với tay được đến xã và không đặt được chức xã quan. Họ Khúc đã đặt ra các chức “chánh lệnh trưởng” và “tá lệnh trưởng” – tức các xã quan trông coi các xã… Trên xã là “hương” thì Khúc Hạo đã đổi “hương” thành “giáp”, mỗi giáp có khoảng gần 10 xã. Lại “định ra hộ tịch”, “lập sổ khai hộ khẩu, kê rõ họ tên, quê quán” nhằm nắm vững dân số và thông hiểu dân tình, điều mà đô hộ nhà Đường không thể nào làm được (biện pháp này cho đến nay chúng ta vẫn còn thực hiện).

        Cùng với trọng tâm cải cách hành chính, đã tiến hành cả cải cách kinh tế, văn hóa, xã hội. Về kinh tế, thực hiện chính sách “bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch”. Nếu trước kia bọn đô hộ bóc lột siêu kinh tế, mặc sức vơ vét của dân, nhiều tầng thu và thu nhiều loại thuế, thì nay họ Khúc căn cứ vào cách phân phối ruộng đất theo chế độ công xã (tức toàn bộ ruộng đất đều là công hữu, được phân chia cho các hộ canh tác), đánh thuế một cách bình quân theo ruộng đất mà các hộ được phân chia. Bỏ hẳn thuế đinh. Người thu thuế không phải là xã quan tức chánh lệnh trưởng hay tá lệnh trưởng mà là phó tri giáp, theo mô hình cống nạp liên danh của phương thức sản xuất châu Á, khắc phục được sự phiền hà sách nhiễu của các xã quan cũng như nạn thu thuế nhiều tầng nhiều loại trước đó, tránh cả được nạn thất thu cho ngân sách Giao Châu. Còn lực dịch trước là một thứ khổ sai, bắt dân đi mò trai lấy ngọc, săn voi lấy ngà… nay họ Khúc thực hiện “tha bỏ lực dịch”. Đó là một sự “cởi trói cho dân”, có tác dụng to lớn đến việc thu phục nhân tâm, ổn định xã hội. 

          Thành công và hiệu quả lâu dài của cải cách là đem lại sự vững vàng và ổn định cho đất nước. Đối nội là củng cố và phát huy được quyền độc lập tự chủ. Đối ngoại chống lại được mọi kẻ thù, giữ được chính quyền trong mấy chục năm, tạo tiền đề thuận lợi cho các bước phát triển của đất nước. Nếu sau các cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng, Lý Bôn, Triệu Quang Phục… trước đây, dân tộc ta chỉ giữ được chính quyền trong một thời gian ngắn rồi lại bị bọn xâm lược quay lại thống trị, thì nay cuộc giành chính quyền và cải cách của họ Khúc đã mở đầu cho một quá trình liên tục đấu tranh giành cho kỳ được độc lập dân tộc. (còn nữa)

                                                                                      MLN

chào mừng kỷ niệm ngày thành lập QDND Việt Nam


 

Sự cần thiết phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tấn công vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, là thủ đoạn tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, nhằm tạo ra khoảng trống ý thức hệ trong cán bộ, đảng viên của Đảng, cũng như trong toàn xã hội, để từ đó thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và trong xã hội, tiến tới làm tan rã Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là thủ đoạn không mới, bởi từ khi chủ nghĩa Mác xuất hiện đến nay, chưa bao giờ các thế lực chống cộng ngưng nghỉ việc công kích, chống phá nó. Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng nước ta, với dã tâm thâm độc là nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Để thực hiện được âm mưu này, trên lĩnh vực tư tưởng, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn hòng xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, làm lung lạc niềm tin của nhân dân vào nền tảng tư tưởng của Đảng, vào chế độ, vào con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Sự công kích, chống phá ngày càng quyết liệt khi họ có được cái hiện thực vô cùng mới mẻ là sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới vào cuối thế kỷ thứ XX. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, mạng xã hội, việc lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội để chống phá cách mạng Việt Nam càng trở nên tinh vi, phức tạp với mức độ nguy hiểm khó lường. Vì vậy, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội là nhiệm vụ vô cùng cấp bách hiện nay. Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết đã nêu những quan điểm và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm củng cố trận địa tư tưởng của Đảng trong bối cảnh toàn cầu hóa và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế của đất nước. Điểm đặc biệt trong các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội hiện nay là họ tìm mọi cách tập hợp những người có trình độ cao nhưng thiếu bản lĩnh chính trị, suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống để tấn công trực tiếp vào nền tảng tư tưởng của Đảng, tìm mọi cách để chứng minh chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là sai lầm; họ hoan hỉ, tung hô về “sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản” và “sự kết thúc của chủ nghĩa Mác”, ra sức tuyên truyền và cổ súy cho hệ tư tưởng và nền dân chủ tư sản; xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ và lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước; xuyên tạc quan hệ giữa nước ta với các nước khác trên thế giới; lợi dụng, lôi kéo những người dân bị thu hồi đất hoặc đang chịu tác động của ô nhiễm môi trường, những người nhẹ dạ, cả tin để kích động; tìm mọi cách để lập luận, chứng minh Đảng và Nhà nước ta không thực sự vì dân, chỉ có họ mới thực sự vì dân, vì nước, đứng ra đấu tranh để bảo vệ nhân dân; bảo vệ chủ quyền lãnh thổ... lên án cán bộ, đảng viên của Đảng và Nhà nước tham nhũng, thiếu dũng khí, quyết tâm trong bảo vệ chủ quyền biển đảo... Khi Đảng ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, đưa những vụ án lớn ra xét xử thì họ lại xuyên tạc đó là cuộc đấu đá giữa các phe phái trong Đảng, Nhà nước... Với những sản phẩm truyền thông được đầu tư kỹ lưỡng và được lan tỏa, không chỉ khiến những người dân trình độ thấp, ít thông tin bị mê hoặc mà ngay cả một bộ phận người dân có trình độ cao hơn cũng hoang mang, hoài nghi và tin theo, từ đó hình thành dư luận xã hội tiêu cực một cách sâu rộng. Thủ đoạn tinh vi, phức tạp này còn được kết hợp với thủ đoạn dựng lên và tung ra những tin đồn thất thiệt, những thông tin sai sự thật hoàn toàn hoặc một phần, được nhào nặn khéo léo để xuyên tạc và chia rẽ nội bộ ta. Có thể khẳng định, các thế lực phản động, thù địch, cơ hội đang ráo riết tìm mọi cách để người dân giảm sút, tiến đến không còn tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ, từ đó tin vào những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch của chúng. Khi đã thuyết phục được một bộ phận người dân, họ tiến hành tập hợp lực lượng, liên kết các bộ phận này để tiến hành các hoạt động biểu tình, chống phá. “Thực tế đó cho thấy, việc nghiên cứu bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh chống lại những tư tưởng sai trái, thù địch trên mạng xã hội là vô cùng cần thiết và cấp bách”./.

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI ÂM MƯU CHỐNG PHÁ ĐẢNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển vững bền của đất nước nên thu hút sự quan tâm sâu sắc với sự kỳ vọng, niềm tin của cả hệ thống chính trị, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cả nước. Thế nhưng, từ khi bắt đầu Đại hội Đảng các cấp và nhất là càng đến gần Đại hội Đảng lần thứ XIII dự kiến diễn ra vào đầu năm tới càng thấy các thế lực thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị thi nhau lợi dụng, tăng cường các hoạt động vu khống, xuyên tạc, bịa đặt, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Trong hoạt động chống phá, nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ ta là một “trọng điểm” mà các thế lực thù địch, phản động tập trung chống phá. Đảng ta khẳng định: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”, vì thế chúng hiểu rõ vai trò của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế thời gian qua, các thế lực thù địch, chống đối đã ra sức xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh với các luận điệu lặp đi lặp lại như: “Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là minh chứng cho Chủ nghĩa Mác - Lênin hiện đã lỗi thời, không còn phù hợp”; việc “Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm”... Không những thế, chúng còn tìm cách đặt Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với Chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp Hồ Chí Minh nhằm hạ bệ uy tín và phủ nhận tư tưởng của Người. Trước thềm Đại hội XIII của Đảng ta, chúng đẩy mạnh rêu rao: “Chủ nghĩa tư bản là đỉnh cao của sự phát triển của xã hội loài người không có gì có thể thay thế, chủ nghĩa tư bản đang tự điều chỉnh và hoàn thiện” để rồi từ đó “phán” rằng: “Nếu Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục kiên định với Chủ nghĩa Mác - Lênin thì đừng trông chờ gì vào đường lối Đại hội XIII”... Cùng với đó, chúng đưa ra những luận điệu cho rằng Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ là sự sao chép và biến tấu từ văn bản các Đại hội trước, nội dung không có giá trị gì so với sự phát triển của đất nước mà ngược lại là nhân tố kìm hãm sự tiến bộ của dân tộc ta; rằng Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ là những vấn đề sáo rỗng, giáo điều, bảo thủ, khư khư ôm giữ Chủ nghĩa Mác - Lênin để duy trì quyền lực của Đảng... Sau khi phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các Văn kiện của Đại hội XIII của Đảng, chúng đã tự phơi bày mục đích thâm hiểm khi đòi phải thay thế toàn bộ, thực hiện “đa nguyên”, “đa đảng”, “xã hội dân sự”... Việc chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thực hiện bằng mọi phương thức, thủ đoạn. Chúng đã tăng cường xuất bản, tán phát các loại ấn phẩm, tài liệu như: Các báo cáo, văn bản của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ như: Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), Tổ chức Theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW)… cùng các ấn phẩm: sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi… của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước; hàng nghìn trang web, blog, các chương trình phát thanh, phát hình bằng tiếng Việt ở nước ngoài… Bảo vệ thành công Đại hội Đảng lần thứ XIII Mục tiêu phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta là nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Vì thế, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, bảo vệ Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhìn lại thực tiễn cách mạng Việt Nam để thấy rằng, ngay từ khi mới ra đời, Luận cương chính trị năm 1930 của Đảng ta đã xác định rõ: “Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản lấy Chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc”. Xuất phát từ điều kiện khách quan của lịch sử, việc thành lập một chính đảng Mácxit kiểu mới ở Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ngay từ khi mới ra đời không chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, không phải chỉ vì lợi ích của giai cấp công nhân mà cao hơn nữa chính là vì lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam. Cùng với thời gian và đòi hỏi của cách mạng, Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là di sản tư tưởng và lý luận vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi” và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng ta và dân tộc ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và sau đó là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng ta đã chứng minh, những thành tựu mà đất nước và nhân dân ta đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong 35 năm Đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng vừa qua chính là nhờ tư tưởng đúng đắn mà Đảng ra đã lấy làm kim chỉ nam cho hành động. Đảng ta nắm vững, kiên định và vận dụng sáng tạo, đúng đắn Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật của thời đại. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng nhằm bảo vệ đường lối, Cương lĩnh chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Hiện nay, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, trong đó có chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, càng phải được coi trọng, nêu cao, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ và hiệu quả. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ ta, bảo vệ cho sự thành công của Đại hội lần thứ XIII của Đảng. (Nguồn Báo mới)

MUỐN CẢI TẠO XÃ HỘI MÀ ĐẢNG VIÊN KHÔNG TỰ CẢI TẠO MÌNH, KHÔNG TỰ NÂNG CAO MÌNH THÌ KHÔNG THỂ ĐƯỢC

 


 

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc”, ngày 07 tháng 9 năm 1957. Đây là thời điểm cách mạng nước ta đang bước vào thời kỳ mới sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Lúc này, miền Bắc đang trong giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa. Tình hình đó đặt ra phải xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên có trình độ và năng lực, đáp ứng được yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nhắc nhở đối với người đảng viên phải luôn cố gắng vươn lên, không ngừng tự hoàn thiện bản thân, tự nâng cao trình độ của mình. Đây cũng là yêu cầu của Bác, trước khi muốn cải tạo xã hội, tự thân người đảng viên phải tự cải tạo mình, tự học, tự rèn để không ngừng tiến bộ. Lời Bác dạy có tác dụng to lớn trong việc nâng cao nhận thức của người đảng viên, trước hết đối với việc xác định động cơ, thái độ phấn đấu đúng đắn, thường xuyên, liên tục, để không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực. Đồng thời, câu nói có ý nghĩa là phương châm hành động, mục tiêu phấn đấu cho mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình. Ngày nay, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn, là sự định hướng cho quá trình học tập, tu dưỡng của mỗi cán bộ, đảng viên. Là người lãnh đạo, đảng viên phải là lực lượng xung kích, đi đầu, phải nêu gương về mọi mặt trong thực hiện nhiệm vụ. Muốn vậy, đảng viên cần không ngừng cải tạo mình, tự học, tự rèn để nâng cao trình độ, khắc phục những hạn chế, yếu kém để hoàn thiện bản thân. Điều kiện hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên chịu tác động nhiều chiều của đời sống xã hội, trong đó có những tác động tiêu cực, đòi hỏi người đảng viên phải nâng cao bản lĩnh, trình độ, để không bị chi phối bởi các yếu tố tiêu cực. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải thực sự là một tấm gương tốt cho bộ đội học tập, noi theo, mẫu mực về phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực chuyên môn; thường xuyên có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện mình. Quá trình thực hiện nhiệm vụ phải luôn đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi cao, do vậy phải có động cơ, thái độ đúng đắn, rõ ràng. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức được ý nghĩa của việc “tự cải tạo”, “tự nâng cao”, coi đó là một nhu cầu tự thân. Không tự ti, giấu dốt, luôn có thái độ cầu tiến bộ, xóa bỏ tư tưởng chủ nghĩa cá nhân, vì tập thể, đặt lợi ích của tập thể lên trên, lên trước. Có như vậy, mỗi cán bộ, đảng viên mới thực sự mẫu mực về phẩm chất và năng lực, là tấm gương có sức lan tỏa rộng rãi, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị./.

 

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2020

THỰC HIỆN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO LÀ QUAN ĐIỂM NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG TA

 Thực tế hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cho thấy chính sách nhất quán và đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, cũng như các nước khác, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước hay kích động bạo lực, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân... Chính sách đó đã luôn được Nhà nước Việt Nam khẳng định và thực hiện nhất quán.

Những năm qua, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta diễn ra khá sôi động, đa dạng với nhiều hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, nhiều tổ chức tôn giáo và mô hình tổ chức tôn giáo. Trong xu thế phát triển của đất nước và xu thế chung của thời đại, các tôn giáo tại Việt Nam luôn được tạo điều kiện hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Cụ thể, chức sắc và tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo, biểu hiện đức tin, được tạo điều kiện tốt nhất để mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự và mở mang, phát triển quan hệ giao lưu quốc tế. Các ngày lễ trọng, lễ hội truyền thống như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành... được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia. Cùng với sự phát triển về tổ chức, đăng ký hoạt động cho các tôn giáo đủ điều kiện, số lượng tín đồ và các hoạt động tôn giáo tại Việt Nam cũng không ngừng gia tăng trong những năm gần đây.

Sự ra đời của các tổ chức tôn giáo một mặt phản ánh sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt đối xử giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào, dù là nội sinh hay truyền từ nước ngoài, tôn giáo đã ổn định hay mới được công nhận, miễn sao hoạt động của họ nằm trong khuôn khổ pháp luật. Dư luận của tuyệt đại bộ phận chức sắc, tín đồ cũng thừa nhận rằng, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Nhà nước Việt Nam là đúng đắn, phù hợp, không có cản trở nào trong các hoạt động và sinh hoạt tôn giáo của họ.

Chính nhờ có quan điểm, đường lối, chính sách về tín ngưỡng đúng đắn và triển khai có hiệu quả trong thực tế đời sống xã hội đã góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp để đưa đất nước vượt qua những khó khăn, thách thức qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đát nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.

Công an TP HCM sẽ sử dụng "bàn tay thép" với đòi nợ thuê!

 Trong năm qua, 4 loại tội phạm được kéo giảm và trong năm tới, Công an TP HCM sẽ tiếp tục trấn áp tội phạm, trong đó sẽ mạnh tay với đòi nợ thuê và cờ bạc.

Ngày 21-12, Công an TP HCM đã tổ chức thông tin về tình hình, kết quả công tác công an năm 2020, định hướng công tác năm 2021 và công tác đảm bảo an ninh trật tự trong dịp lễ Noel, Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021. Đại tá Nguyễn Sỹ Quang - Phó Giám đốc Công an TP HCM chủ trì buổi cung cấp thông tin.

Thượng tá Thái Thanh Xuân, Trưởng phòng Công an TP HCM báo cáo trước Ban Giám đốc Công an TP HCM rằng phạm pháp hình sự tiếp tục được kéo giảm. Trong năm qua, trên địa bàn TP HCM ghi nhận xảy ra 4.409 vụ, so với cùng kỳ giảm 13 vụ.

Theo thượng tá Thái Thanh Xuân, có 4 loại án được kéo giảm gồm: Cướp tài sản giảm 14 vụ, cố ý gây thương tích giảm 15 vụ, cướp giật tài sản giảm 25 vụ, trộm tài sản giảm 105 vụ. Công an TP HCM đã điều tra, khám phá 3.220 vụ phạm pháp hình sự (đạt tỉ lệ 73,03%), bắt 5.119 người phạm tội.

Thượng tá Thái Thanh Xuân thông tin tình hình tội phạm

Lực lượng 363 Công an TP HCM dã phát hiện, xử lý nhanh và bàn giao các đơn vị có thẩm quyền 694 trường hợp nghi vấn, có dấu hiệu của tội phạm hình sự, ma túy, kinh tế và 23.086 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông.

Công tác đấu tranh với tội phạm về ma túy: Tội phạm và tệ nạn về ma túy vẫn tiềm ẩn phức tạp trên các tuyến, địa bàn trọng điểm. Hầu hết các đường dây mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy khám phá gần đây đều có yếu tố xuyên quốc gia với số lượng lớn ma túy tổng hợp và heroin bị thu giữ có nguồn gốc từ Campuchia.

Lợi dụng ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhiều đối tượng đã chuyển sang hoạt động mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy tại các chung cư cao tầng, căn hộ cao cấp, biệt thự, khách sạn... nhầm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng.

Nguồn: Người lao động.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm, làm việc tại Bộ tư lệnh Quân khu 5

 

Sáng 21-12, đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội và đoàn công tác của Quốc hội đã đến thăm, làm việc với Bộ tư lệnh Quân khu 5. Tham gia đoàn công tác có các đồng chí: Đại tướng Đỗ Bá Tỵ, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Hạnh Phúc, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội…

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm, làm việc tại Bộ tư lệnh Quân khu 5

Lãnh đạo Quân khu 5 đón Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân.

Tại buổi làm việc, Trung tướng Thái Đại Ngọc, Tư lệnh Quân khu 5 đã báo cáo kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của Quân khu 5 năm 2020. Cụ thể, trong năm qua, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5 đã lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công đại hội đảng các cấp và Đại hội Đảng bộ Quân khu 5 nhiệm kỳ 2020-2025; chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ (KVPT), xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD); duy trì, thực hiện nghiêm chế độ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) ở các cấp, chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng SSCĐ của LLVT Quân khu 5 được nâng lên; triển khai thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn. Công tác phòng, chống dịch Covid-19 được triển khai toàn diện; tổ chức tiếp nhận, cách ly công dân thực hiện chặt chẽ, đúng quy định…

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm, làm việc tại Bộ tư lệnh Quân khu 5

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu tại buổi làm việc.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân ghi nhận, đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, ý chí, bản lĩnh chính trị, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, gian khổ của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang (LLVT) Quân khu 5. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh, thời gian qua, LLVT Quân khu 5 luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, nhất là trong huấn luyện, SSCĐ. Cùng với đảng bộ, nhân dân xây dựng các tỉnh, thành phố trên địa bàn quân khu thành KVPT liên hoàn, vững chắc. LLVT Quân khu 5 là lực lượng nòng cốt trong phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, giúp nhân dân trên địa bàn khắc phục hậu quả thiên tai, tỏa sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới…

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm, làm việc tại Bộ tư lệnh Quân khu 5

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân chụp ảnh lưu niệm với các đồng chí trong Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5.

Để hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân lưu ý trong thời gian tới, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5 cần thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng LLVT Quân khu 5 vững mạnh toàn diện, tập trung xây dựng vững mạnh về chính trị; hết sức coi trọng công tác giáo dục, chính trị, tư tưởng, xây dựng cho cán bộ, nhân viên, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có động cơ phấn đấu tốt, chủ động sáng tạo, tự lực, tự cường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm, làm việc tại Bộ tư lệnh Quân khu 5

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân ghi lưu bút vào sổ vàng truyền thống Quân khu 5.

LLVT Quân khu 5 cần phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các địa phương củng cố vững chắc nền QPTD, thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn; tập trung xây dựng KVPT các tỉnh, thành phố vững chắc, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng-an ninh, quốc phòng-an ninh với kinh tế, giữa quốc phòng-an ninh với đối ngoại; phát huy vai trò của LLVT Quân khu 5, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, vùng có nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm; tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, kế hoạch của Bộ Quốc phòng về tổ chức quân đội đến năm 2021 và những năm tiếp theo; thực hiện nghiêm biểu tổ chức, biên chế, củng cố kiện toàn tổ chức lực lượng theo hướng tinh, gọn, mạnh, cơ động, linh hoạt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm, làm việc tại Bộ tư lệnh Quân khu 5

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân trồng cây lưu niệm.

Theo đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, LLVT Quân khu 5 cần duy trì nghiêm chế độ SSCĐ; tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập sát với thực tế, bảo đảm an toàn trong mọi hoạt động; đẩy mạnh thực hiện các khâu đột phá; nâng cao trình độ chính quy, ý thức chấp hành kỷ luật, pháp luật, xây dựng LLVT Quân khu 5 vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”; tập trung xây dựng Đảng bộ Quân khu 5 thực sự trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu, mẫu mực về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; thực hiện tốt công tác dân vận, vận động quần chúng; tích cực đổi mới, sáng tạo, có nhiều cách làm hay, thiết thực, hiệu quả trong tham gia chủ trương xóa đói, giảm nghèo; xây dựng các khu kinh tế-quốc phòng trên địa bàn ngày càng phát triển. Cùng với đó, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5 cần quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, nhất là đường lối, chính sách đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới, giữ vững môi trường hòa bình, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, phát triển và làm tốt công tác giúp bạn.

Nguồn: Quân đội nhân dân.

 

Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay

NHỮNG DẤU ẤN ĐỔI MỚI

Từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2013 đến nay, nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, công tác đấu tranh PCTN đã được lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội và thực sự "đã trở thành phong trào, xu thế", được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được quốc tế ghi nhận. Tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. 

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTN giai đoạn 2013 - 2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về PCTN được tăng cường và có nhiều đổi mới; sự giám sát của các cơ quan dân cử, vai trò của Mặt trận Tổ quốc, nhân dân và báo chí, truyền thông trong PCTN được phát huy tốt hơn.

Theo kết quả điều tra dư luận xã hội tháng 8/2020 của Viện Dư luận xã hội, những việc làm trong công tác PCTN của Đảng, Nhà nước ta đã đạt kết quả nổi bật, đáng phấn khởi, được dư luận đánh giá cao thì “công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về PCTN cho cán bộ, đảng viên” đứng thứ ba trong số 19 việc được nêu ra. 

Thực tế cho thấy, công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về PCTN luôn được Ban Chỉ đạo Trung ương, Thủ tướng Chính phủ, các ban, bộ, ngành, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền xác định là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác PCTN. Từ đó, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn công tác quan trọng này. Nội dung thông tin, tuyên truyền, giáo dục về PCTN phong phú, bao quát đầy đủ các lĩnh vực.

Các cấp ủy, chính quyền, ban tuyên giáo các cấp, các cơ quan báo chí đã tuyên truyền, phổ biến sâu rộng tới cán bộ, đảng viên và nhân dân các nghị quyết, chỉ thị, quy định, luật, nghị định… của Đảng, Nhà nước về công tác PCTN, gắn với việc tuyên truyền thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, các quy định của Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. 

Các cơ quan báo chí luôn theo dõi chặt chẽ và tuyên truyền kịp thời về hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN và kết quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí của các ban, bộ, ngành, địa phương và cả nước. Tập trung tuyên truyền kết quả thanh tra, kiểm tra các vụ việc và điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến tham nhũng, kết quả xử lý các vụ việc, đối tượng thuộc phạm vi kiểm tra, giám sát của Đảng về PCTN. Nhiều cơ quan báo chí đã tổ chức triển khai các bài viết, chuyên đề phóng sự, bình luận, phân tích sâu về kết quả, bài học cũng như các vấn đề đặt ra sau các vụ án tham nhũng nghiêm trọng. 

Không chỉ phản ánh thông tin về kết quả đạt được của công tác PCTN, với tinh thần lấy “xây” để “chống”, công tác tuyên truyền đã chú trọng phản ánh gương người tốt, việc tốt, tập thể, cá nhân điển hình trong công tác xây dựng Đảng, công tác đấu tranh PCTN. Nhiều nội dung, thông tin kinh nghiệm bài học về PCTN của thế giới và các hoạt động hợp tác quốc tế của Việt Nam về PCTN đã được phản ánh kịp thời, thông tin với cộng đồng quốc tế về PCTN của Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp trong công tác PCTN giữa Việt Nam với các nước và tăng cường vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Song song với đó, các hoạt động đấu tranh phản bác các thông tin xấu, độc, các quan điểm sai trái, các luận điệu lợi dụng PCTN để kích động, chia rẽ, gây mất đoàn kết nội bộ được đẩy mạnh.

Cùng với việc chuyển tải nội dung thông tin, tuyên truyền, giáo dục về PCTN,  các hình thức tuyên truyền ngày càng đa dạng, kết hợp nhiều loại hình tuyên truyền khác nhau như: tuyên truyền trên báo chí, tuyên truyền miệng, tờ gấp, tờ rơi, tài liệu, băng đĩa, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, các hội nghị tập huấn… Các bộ, ngành ở Trung ương và địa phương đã chú trọng biên soạn, phát hành tài liệu, tờ gấp, DVD tiểu phẩm pháp luật tuyên truyền về PCTN. Từ năm 2016 đến 2019, đã xuất bản hơn 677.999 cuốn sách, tài liệu về PCTN; xuất bản 2.419.518 đầu sách, tài liệu tuyên truyền pháp luật về PCTN. 

Đồng thời, các địa phương cũng tăng cường buổi nói chuyện chuyên đề, đối thoại về công tác PCTN tại khu dân cư, tổ chức thi tìm hiểu pháp luật dưới hình thức sân khấu hóa hoặc sinh hoạt văn hóa, văn nghệ. Lồng ghép nội dung công tác PCTN vào các buổi sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt câu lạc bộ, thực hiện niêm yết công khai các thủ tục hành chính, mức thu phí, lệ phí tại trụ sở làm việc… Các bộ, ngành địa phương đã tổ chức các cuộc thi về PCTN với nhiều hình thức như “Tìm hiểu pháp luật về PCTN”, hội thi “Tuyên truyền viên pháp luật giỏi”, hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”…. Nhiều lớp tập huấn kiến thức về PCTN được tổ chức cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp trong cả nước. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức giải báo chí toàn quốc “Báo chí với công tác đấu tranh PCTN, lãng phí” thu hút đông đảo các cơ quan báo chí tham gia. Năm 2018 - 2019, đã có 1.046 tác phẩm ở các loại hình tham dự giải thưởng.

Trong giai đoạn 2013 - 2020, cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131 nghìn đảng viên. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, đã thi hành kỷ luật hơn 87 nghìn cán bộ, đảng viên, trong đó, có trên 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; đã thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý.

Có thể khẳng định, công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về PCTN đã mang lại kết quả tích cực. Nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước được nâng lên, tạo sự chuyển biến về nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nguy cơ, tác hại của tham nhũng đối với việc giữ vững an ninh chính trị, ổn định đất nước, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, tầm quan trọng cũng như những khó khăn của cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng.

Từ đó, nhận thức rõ hơn đấu tranh PCTN là cuộc chiến liên tục, lâu dài, nhiều chông gai, quyết liệt mà  mỗi người dù ở vị trí công tác nào đều cần góp sức mình để phòng, chống và đẩy lùi tham nhũng. Nhiều cấp ủy đảng, chính quyền và người đứng đầu cơ quan, đơn vị đã xác định rõ hơn, đấu tranh PCTN là nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nêu cao ý thức trách nhiệm của mình trong công tác này. Cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tin tưởng, phấn khởi, đồng tình, ủng hộ, cổ vũ, động viên trước quyết tâm chống tham nhũng, lãng phí của Đảng và Nhà nước.

NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM 

Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn dân, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã đạt được những kết quả rất quan trọng. Tuy nhiên, phòng, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, do đó, tuyệt nhiên không được chủ quan, thoả mãn, không được ngập ngừng, chờ đợi, mà phải tiếp tục đẩy mạnh, quyết liệt, thường xuyên, kiên trì, liên tục, với quyết tâm cao hơn, mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn. Trong thời gian tới, công tác tuyên truyền, giáo dục PCTN tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như sau:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về PCTN, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và sự đồng thuận xã hội về nhiệm vụ đấu tranh PCTN.

Khẳng định rõ quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong công tác đấu tranh PCTN, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, việc PCTN, việc xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm không làm “chậm lại” sự phát triển mà ngược lại, là cơ hội để làm trong sạch bộ máy, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của bộ máy và đội ngũ cán bộ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Hai là, đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền kết quả đạt được của công tác PCTN cũng như những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tạo không khí tích cực, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và quyết tâm PCTN của Đảng ta.

Thông tin, tuyên truyền về PCTN cần chú trọng nêu gương điển hình, biểu dương người tốt, việc tốt; giảm hiện tượng nêu, phản ánh sự việc mà chưa kiểm chứng, xác minh thông tin để đảm bảo thông tin chuẩn xác, khách quan. Tuyên truyền kết quả thực hiện nhiệm vụ xây dựng chỉnh đốn Đảng gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đề cao đạo đức trong Đảng và trong xã hội, động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân tự phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống, đặc biệt là đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đề cao vai trò trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trong PCTN.

Ba là, tăng cường năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng thông tin, tuyên truyền về PCTN của các cơ quan có trách nhiệm; bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong chỉ đạo, định hướng, nhất là với các cơ quan báo chí. Hình thành cơ chế chặt chẽ để tăng cường tham gia của người dân trong việc cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng và cơ quan báo chí, tuyên truyền về PCTN.

Bốn là, phát huy tính chủ động, sáng tạo, sức chiến đấu của các cơ quan báo chí, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong công tác thông tin, tuyên truyền PCTN. Các cơ quan báo chí cần chủ động xây dựng kế hoạch thông tin tuyên truyền hằng năm về PCTN. Tăng cường các chuyên trang, chuyên mục, dành thời lượng, dung lượng thỏa đáng cho nội dung PCTN. Chú trọng, nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của người làm báo đối với công tác PCTN, quan tâm bổ sung lực lượng phóng viên tham gia trực tiếp cho mảng đề tài trọng yếu  này.

Cùng với công tác phát huy vai trò chủ lực của báo chí trong công tác thông tin, tuyên truyền PCTN, cần chú trọng sử dụng các hình thức tuyên truyền khác nhằm phát huy thế mạnh của từng loại hình tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng, địa bàn, thời điểm trong công tác thông tin, tuyên truyền PCTN. Đặc biệt, quan tâm tới công tác tuyên truyền PCTN trên Internet và mạng xã hội.

Năm là, tăng cường công tác giáo dục về PCTN, đưa nội dung PCTN vào các chương trình giảng dạy, đào tạo, bồi dưỡng trong hệ thống cơ sở giáo dục, đào tạo, trường chính trị. Chú trọng tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kiến thức về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về PCTN; lồng ghép nội dung PCTN vào các môn học, các chương trình giáo dục, đào tạo.

Sáu là, đẩy mạnh công tác đấu tranh chống các âm mưu, hoạt động lợi dụng PCTN để chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị. Tăng cường nắm bắt các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị lợi dụng PCTN để chống phá Đảng, Nhà nước.

Bảy là, xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, bảo đảm kinh phí cho công tác tuyên truyền, PCTN, lãng phí. Khen thưởng kịp thời những cơ quan, tổ chức và cá nhân làm tốt công tác này; bảo vệ những người tố cáo, cung cấp thông tin về các hành vi, dấu hiệu tham nhũng. Thường xuyên mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao nhận thức chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên làm công tác thông tin, tuyên truyền về PCTN./.

ST.