Thứ Ba, 23 tháng 2, 2021

Đảng Cộng sản Việt Nam - Nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

 


Chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu hàng đầu và xuyên suốt của các thế lực thù địch. Chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, tiến hành tác động, phá hoại nội bộ Đảng, làm giảm uy tín, nhằm đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, dù có sử dụng “trăm phương nghìn kế”, các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên về niềm tin của toàn dân ta đối với Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với những thành tựu to lớn đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận cả trên phương diện lý luận, thực tiễn và lịch sử.

Mục đích và thủ đoạn của các thế lực thù địch là gì khi chúng tung ra luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không đủ khả năng để lãnh đạo đất nước”? 

Về chính trị, chúng cho rằng “Ở Việt Nam, công nghiệp chưa phát triển, số lượng, chất lượng công nhân giai cấp công nhân bị hạn chế. Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, nó có rất ít tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa phong kiến”. Vì thế, “giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản không thể lãnh đạo, xây dựng được CNXH đích thực ở Việt Nam”(!). “Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”. Chúng xuyên tạc Đảng ta đã sai lầm về chính trị khi “vội vàng xóa bỏ” đảng Dân chủ và đảng Xã hội, “tạo điều kiện cho Đảng Cộng sản độc đoán, chuyên quyền, bóp nghẹt tự do, dân chủ”. Chúng kêu gào: “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ. Đảng cho mình cái quyền đứng trên dân tộc, cái đó không ai chịu chấp nhận”; đòi “xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng”.

Về tư tưởng, chúng cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng là sai lầm”, vì rằng “chủ nghĩa Mác - Lênin là ngoại lai, bắt nguồn từ phương Tây, nên không còn phù hợp với Việt Nam”; rằng “Học thuyết Mác là sản phẩm của thế kỷ XIX, do vậy, đem đặt nó trong bối cảnh thế kỷ XXI nếu không lạc hậu, thì cũng chẳng thể là khoa học” (!); “chủ nghĩa Mác đã đóng góp khá nhiều cho lịch sử, đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử rồi, nó không còn phù hợp với thời đại ngày nay”; v.v.

Đối với tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng cho rằng, Hồ Chí Minh là nhà “dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là nhà mác-xít”; “không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” vì không phù hợp với điều kiện mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam đề cao tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, là để “an dân” chứ thực chất không theo Hồ Chí Minh (!?).

Về phương diện tổ chức, chúng tập trung đánh vào các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ. Chúng cho rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ đã lỗi thời, nó chỉ thích hợp với hoạt động của Đảng khi chưa giành được chính quyền, còn hoạt động bí mật hoặc lãnh đạo trong chiến tranh; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên nhân gây ra độc đoán, chuyên quyền trong Đảng và trong xã hội, không có nhân đạo. Chúng còn cho rằng, trong Đảng có nhiều phe phái: phe cải cách và phe bảo thủ; trong Đảng còn có các nhóm lợi ích, v.v.

Về đạo đức, chúng bịa đặt, bôi nhọ, nói xấu cán bộ Đảng và Nhà nước, đánh vào sinh hoạt, đạo đức, lối sống các đồng chí lãnh đạo; tung ra nhiều chuyện giật gân trong sinh hoạt của lãnh đạo. Chúng cho rằng, Đảng và đảng viên ngày càng suy thoái, biến chất; tham nhũng, tham ô, lãng phí là căn bệnh trầm kha không thể chữa trị được. Từ đó chúng suy diễn thành “Đảng tham nhũng”, “Nhà nước tham nhũng”...

Thực chất, những “lập luận” trên là thủ đoạn dọn đường cho sự hình thành tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập hòng vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Vậy hãy giả định rằng, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không đủ khả năng để lãnh đạo đất nước thì lực lượng nào sẽ có đủ khả năng để thay thế vai trò đó? Các thế lực thù địch thừa hiểu về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là như thế nào, và ở Việt Nam hiện nay không một tổ chức nào có thể thay thế và làm tốt vai trò lãnh đạo như Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, việc nói là cứ nói, “đòi” là cứ đòi, dù biết là “nói lấy được”, mà đòi thì không được! Vì thế, trong các luận điệu chúng tung ra, rất ít thấy xuất hiện một lực lượng cụ thể, một gương mặt “sáng giá” khả dĩ có thể thay thế vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đâu đó họ có nói đến “lực lượng chính trị mới”. Nhưng cái gọi là “lực lượng chính trị mới” mà các thế lực thù địch tung hô có thể thay thế Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước và xã hội, thực chất chỉ là lực lượng được các nước tư bản và các thế lực phản động quốc tế nuôi dưỡng, ủng hộ, cung cấp tài chính, hậu thuẫn về chính trị, quân sự, ngoại giao. Đó là một tổ chức ô hợp gồm nhiều đại diện của nhiều lực lượng có thù hận với cách mạng Việt Nam, có tội ác với nhân dân, những kẻ muốn lợi dụng dân tộc ta làm lá bài chính trị để phục vụ cho lợi ích ích kỷ của chúng.

Với lực lượng chính trị như vậy thì chắc chắn con đường mà họ hay “lực lượng chính trị mới” lựa chọn cho đất nước ta sẽ là con đường TBCN. Khi nắm được quyền lãnh đạo, họ sẽ từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, xóa bỏ thành tựu mà nhân dân ta đã hy sinh bao xương máu mới giành được, sớm đưa đất nước đi vào quỹ đạo của CNTB. Với một mục tiêu chính trị và một nhân thân như vậy, chúng biết rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ trao cho chúng quyền lãnh đạo đất nước. Cho nên, các chiêu bài được tung ra cũng chỉ nhằm gây chú ý, tạo dư luận, gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân ta, trong xã hội ta, đồng thời để tranh thủ sự ủng hộ của các nước tư bản và các thế lực phản động quốc tế hòng gây sức ép, đặt điều kiện với chúng ta… để từng bước vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Về thực chất, cái gọi là “lực lượng chính trị mới” không phải là lực lượng vì dân vì nước, mà chủ yếu là vì quyền lợi giai cấp, vì mục tiêu chính trị phản động.  Do đó, một khi lực lượng này lãnh đạo đất nước thì hệ quả tất yếu sẽ là: lái đất nước đi theo con đường TBCN. Theo đó, thì cái lợi trước hết không phải cho nhân dân lao động, cho dân tộc ta mà cho giai cấp bóc lột, cho các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia. Còn nhân dân ta phải đổ bao xương máu mới giành được độc lập, mới thoát khỏi kiếp nô lệ, là người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình, thì sẽ phải quay lại địa vị cũ, đất nước lại rơi vào vòng lệ thuộc của các nước tư bản, đế quốc.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, sau khi lãnh đạo nhân dân giành được những thành tựu vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám, trong các cuộc kháng chiến giành lại độc lập, thống nhất cho non sông đất nước, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới - thời kỳ cả nước thống nhất cùng đi lên CNXH. Đất nước chuyển sang giai đoạn mới, vừa có hòa bình vừa có chiến tranh; vừa phải đối phó với kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế, vừa chống lại sự bao vây, cấm vận và cô lập tứ phía. Khó khăn chồng chất khó khăn. Kinh nghiệm lãnh đạo đất nước xây dựng CNXH được tích lũy trong những năm lãnh đạo miền Bắc xây dựng CNXH trong điều kiện đất nước có chiến tranh trước đây tuy rất quý báu, nhưng chừng đó là chưa đủ cho việc lãnh đạo, tổ chức xây dựng và quản lý phát triển đất nước trong điều kiện mới với quy mô và tầm vóc mới. Mọi việc dường như phải làm lại từ đầu, để xây dựng xã hội XHCN ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, vừa mới giành được độc lập và vừa bước ra khỏi các cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài 30 năm. Chưa hết, CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng và sụp đổ đã giáng một đòn mạnh vào hệ thống XHCN làm nó tan rã. Đất nước rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng chưa từng có và đang đứng trước nguy cơ của sự sụp đổ. Trong hoàn cảnh lịch sử ngặt nghèo ấy, bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng được phát huy và thể hiện trong điều kiện thực tiễn mới. “Đổi mới hay là chết” đó không chỉ là khẩu hiệu mà còn là mệnh lệnh của những con tim và khối óc có đủ sự nhiệt huyết và sự tỉnh táo để đưa đất nước thoát khỏi sự hiểm nguy. 

Nhưng thật trớ trêu thay, trong những lúc đất nước khó khăn và lâm nguy như vậy, đã không có một lực lượng nào, một tổ chức nào đồng lòng cùng chung tay gánh vác trách nhiệm trước non sông, đất nước, dân tộc và nhân dân. Trái lại, chỉ thấy nhưng tiếng kêu la, oán thán, những điều chỉ trích, gây chia rẽ phân tâm, làm ngã lòng người từ phía các thế lực thù địch và cơ hội... Thực tiễn lịch sử lại cho thấy một lần nữa, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xứng đáng và tin cậy của dân tộc và nhân dân Việt Nam; lịch sử và nhân dân Việt Nam lại một lần nữa tin tưởng trao cho Đảng sứ mệnh lãnh đạo dân tộc, dẫn dắt giống nòi Lạc hồng tiến bước cùng thời đại. Đó là sự thật hiển nhiên không phải bàn cãi.

          Bởi vậy, chúng ta phải kiên định con đường mà Đảng và Bác đã chọn thường xuyên, liên tục đấu tranh phê phán với các quan điểm trên. 

Trước hết về cơ sở lý luận

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là cần thiết, tất yếu, khách quan. Đảng Cộng sản cầm quyền là một trong những nội dung quan trọng được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất, tiên tiến nhất, giai cấp có sứ mệnh lịch sử đào huyệt chôn CNTB. Nhưng muốn thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình thì giai cấp công nhân phải có “đội tiên phong với lý luận tiên phong và hành động tiên phong” để lãnh đạo. Đội tiên phong chính là Đảng Cộng sản - bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh, chính đảng của giai cấp công nhân ra đời là một đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp cần có lực lượng lãnh đạo giai cấp thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của mình. Ph.Ăngghen cho rằng, Đảng Cộng sản ra đời là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho cách mạng XHCN giành thắng lợi và thực hiện được mục tiêu cuối cùng của nó là thủ tiêu giai cấp.

Kế thừa tư tưởng trên của Mác - Ăngghen, Lênin khẳng định: Về nguyên tắc, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn phải nghi ngờ gì nữa. Bởi Đảng Cộng sản là đội tiên phong giác ngộ có tổ chức, và là tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chỉ có Đảng Cộng sản mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo xã hội mới. Lênin cũng chỉ rõ: Đảng Cộng sản…. cầm quyền tức là Đảng không chỉ lãnh đạo Nhà nước mà là lãnh đạo cả xã hội. Và trong điều kiện cầm quyền đó, Đảng phải là trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại.

Giải đáp vấn đề “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?”, Hồ Chí Minh chỉ rõ: trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững mạnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Có thể khẳng định dứt khoát đây là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về tổ chức và đường lối của cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng.

Bên cạnh đóĐảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là chính danh, hợp hiến và hợp pháp. Trên thế giới, việc quy định về đảng chính trị trong Hiến pháp mang tính phổ biến. Chẳng hạn: Hiến pháp của Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc có 1 điều; Hiến pháp của Thổ Nhĩ Kỳ, Ucraina, Ba Lan có 2 điều; Hiến pháp Udơbêkixtan có 3 điều,… quy định về đảng chính trị. Các bản Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều có 1 điều quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là phù hợp với xu hướng chung của thế giới hiện nay, không phải là cá biệt. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam. Điều lệ Đảng quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy.

Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Cương lĩnh, Điều lệ Đảng đơn phương quy định. Đây là một yếu tố quan trọng bảo đảm tính chính danh đầy đủ được quy định tại Hiến pháp và Điều lệ Đảng, điều lệ các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp về mối quan hệ của Đảng với các tổ chức khác ở Việt Nam.

Mặt khácĐảng cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Trên thực tế, Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công CNXH và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.

Về cơ sở thực tiễn.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam và những thành quả mà nhân dân ta đạt được, dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 90 năm qua, đã hoàn toàn bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước. Bởi vì:

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trong thực tế tiến hành cách mạng và được nhân dân thừa nhận. Thực tiễn Việt Nam đã từng có thời kỳ đa đảng. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn tồn tại hai đảng đối lập là Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội. Hai đảng này không đại diện cho lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân, mà bám gót ngoại bang, nên không được nhân dân chấp nhận.

Có thời kỳ, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ Việt Nam (1944 - 1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (1946 - 1988), nhưng các đảng ấy cũng không được đa số nhân dân giao cho sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng. Các đảng ấy, đều tuân thủ đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân giao phó, ủy thác. Sau đó hai đảng này tuyên bố tự giải thể và chỉ còn lại Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hiển nhiên, là sự lựa chọn và giao phó của lịch sử, của nhân dân và dân tộc Việt Nam, Đảng  không tranh giành vai trò lãnh đạo với bất kỳ đảng phái nào. Trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, Đảng ta là đảng cầm quyền chính là thông qua việc nắm quyền, Đảng thực hiện sứ mệnh lãnh đạo xã hội, lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo nhân dân, để đạt được mục tiêu cách mạng mà Đảng và dân tộc đều đồng thuận.

Bên cạnh đó, vai trò lãnh đạo lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tế kiểm nghiệm, nhất là vào những bước ngoặt của lịch sử. Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, đưa cả nước đi lên CNXH. Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới đã thu được nhiều thắng lợi: đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới; quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt; đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Tuy nhiên, trong lãnh đạo, Đảng có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm nghiêm trọng. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên. Nhưng, một số kẻ thù địch, cơ hội chính trị lại không thấy hoặc cố tình lờ đi điều ấy, hơn thế, họ còn thổi phồng những khuyết điểm, sai lầm của Đảng và quy kết Đảng không đủ năng lực lãnh đạo trong điều kiện mới của đất nước. Rõ ràng đây là một sự xuyên tạc, vu cáo Đảng ta, nhằm kích động, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm.

Nhân dân Việt Nam đã thừa nhận và ủy quyền Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Quan hệ Đảng - dân là mối quan hệ bản chất và máu thịt của Đảng ta. Ngay từ khi ra đời Đảng luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, được nhân dân thương yêu, đùm bọc, che chở và xây dựng. Hơn 90 năm đi theo Đảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận rõ hơn ai hết, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, không có một lực lượng, một tổ chức nào có thể đại diện chân chính cho lợi ích của mình. Vì thế, nhân dân tin tưởng ủy thác trao quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tế cách mạng Việt Nam cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là ý nguyện của nhân dân. Vì thế, các tầng lớp nhân dân mong muốn Đảng luôn giữ vững vai trò lãnh đạo, không chia sẻ quyền lực với các lực lượng khác khác trong vai trò cầm quyền của mình. Bởi đó là nguyên tắc đã được được hiến định và là một kết quả tất yếu của lịch sử cách mạng Việt Nam, không thể thay đổi.

Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước và xã hội. Tuyệt đại đa số nhân dân mong muốn Đảng tự chỉnh đốn, khắc phục các khuyết điểm, yếu kém để hoàn thành sứ mệnh của mình là lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân, Đảng đã đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, làm tròn trách nhiệm là đội tiền phong, vai trò của Đảng cầm quyền và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã đề ra bốn nhóm giải pháp giải quyết những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, trong đó nhóm giải pháp thư tư nêu rõ việc phát huy vai trò, trách nhiệm của quần chúng nhân dân trong nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Tóm lại, quan điểm cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước” là quan điểm sai lầm, phản khoa học, phi thực tế. Quan điểm này dựa trên những lập luận mang tính chủ quan, võ đoán, thiếu căn cứ khoa học, bất chấp đạo lý và lẽ phải thông thường, phiến diện và phi lôgic. Thực tiễn cách mạng Việt Nam và những thành quả mà nhân dân ta đạt được, dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 90 năm qua, đã hoàn toàn bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch đó và chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất có đủ khả năng lãnh đạo đất nước thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Tản mạn về tâm sự"điều thiêng liêng nhất" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 


Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã bế mạc được một thời gian và thành công tốt đẹp. Song để lại trong mỗi người đảng viên nhiều suy tư về tâm sự của TBT hôm họp báo về Đại hội XIII của Đảng sáng ngày 1/2/2021. Thiết nghĩ, nếu như bất cứ cán bộ, đảng viên nào đứng trước cám dỗ cũng đều có thể cương quyết chối từ thì không lo sự nghiệp không thắng lợi.

Tổng Bí thư nói: "Có người hối lộ xách vali tiền tới Ủy ban Kiểm tra Trung ương định biếu xén, lấp liếm. Tôi nói cán bộ kiểm tra mở vali ra xem là cái gì, toàn tiền đô la. Tôi bảo khóa lại, ký vào đây, rồi xách vali đó về."

Đó là tâm sự về câu chuyện chân thực từ cách đây nhiều năm được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kể lại với các phóng viên ở phiên họp báo về Đại hội XIII của Đảng sáng ngày 1/2. Điều này quả thực khiến nhiều người sửng sốt, nhưng lại không hề bất ngờ!

Người ta sửng sốt vì hóa ra đối tượng tham nhũng, tiêu cực có những thời điểm táo bạo đến mức lộ liễu. Tham nhũng đánh vào lòng tham cán bộ một cách trực diện và phủ đầu với những khoản lợi ích kếch xù, thế mới có chuyện thời gian qua, đến một số vị cấp cao cũng không kháng cự nổi. Đúng như Tổng Bí thư đã phân tích: "Bệnh của người có chức, có quyền, nắm trong tay tiền của nữa thì rất dễ tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm". Bởi vậy, để không sa vào cạm bẫy của tham nhũng, tiêu cực cần phải thực sự bản lĩnh và quyết đoán, đòi hỏi người cán bộ phải rất tự trọng, giữ gìn danh dự như bảo vệ con ngươi của mình vậy.

Tuy nhiên, câu chuyện trên kia lại không gây bất ngờ. Vì sự tín nhiệm của Trung ương và của nhân dân đối với Tổng Bí thư và cuộc chiến trường kỳ chống tham nhũng, tiêu cực đã nói lên tất cả. Bản thân TBT cũng chia sẻ: "Tôi không được khỏe lắm, tuổi cao rồi, tôi xin nghỉ, nhưng Đại hội bầu, là đảng viên phải chấp hành". Đương nhiên, nhiệm vụ chống tham nhũng không thể thực hiện trong ngày một, ngày hai là hoàn thành, mà cần một quá trình lâu dài và bền bỉ.

"Đấu tranh chống tham nhũng phức tạp khó khăn như thế, không có bản lĩnh dũng khí, tình cảm chân chính chắc không làm được. Ai chả thích của thích tiền! Tôi đã từng nói danh dự mới là điều thiêng liêng cao quý nhất, chết không mang tiền đi theo được. Tôi khẳng định đây là cuộc đấu tranh còn lâu dài, gian khổ, quyết liệt. Vừa qua mới hạn chế nó, ngăn ngừa nó một bước thôi. Còn tiền, còn chức, còn quyền, người ta không tu dưỡng được thì còn xảy ra tham nhũng. Đây là cuộc đấu tranh gian nan lắm!"

Do vậy, phải "nhốt" được quyền lực, kiểm soát được quyền lực, phải khiến cho những người có ý đồ tham nhũng thấy sợ, không dám tham nhũng nữa. Nhưng mặt khác, còn phải tập trung chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Phải khiến cho bộ máy của Đảng hoàn toàn trong sạch. Thiết nghĩ, nếu như bất cứ cán bộ, đảng viên nào đứng trước cám dỗ cũng đều có thể cương quyết chối từ thì không lo sự nghiệp không thắng lợi, mà nhất định thắng lợi như di nguyện của Bác là sánh vai với các cường quốc.

Không để thói vô trách nhiệm làm rối loạn xã hội!

 


Tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ ngày 2.2.2021, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam ủng hộ đề xuất của Bộ Y tế về việc áp dụng bắt buộc khai báo y tế đối với toàn dân trong thời gian tới. Những trường hợp trốn khai báo y tế phải xử lý nghiêm, thậm chí xử lý hình sự để răn đe, nâng cao ý thức cho cộng đồng. Kiên quyết không để thói vô trách nhiệm với bản thân, vô trách nhiệm với cộng đồng làm rối loạn đời sống xã hội.

Đại dịch covid - 19 bùng phát trở lại vào những ngày giáp tết đã tạo sự đảo lộn không nhỏ trong đời sống xã hội. Nhiều ngày, số người mắc lên tới con số hàng chục và chưa có dấu hiệu khả quan. Nhiều lĩnh vực kinh doanh ở một số địa phương đã bị ngưng trệ, một số nơi đã phải áp dụng biện pháp cách ly. Trong khi Chính phủ, các nhà khoa học, các y bác sĩ cùng với đông đảo người dân đang tập trung quyết liệt nhằm ngăn chặn đại dịch thì tiếc thay, lại có một số người thiếu trách nhiệm, cố tình che giấu, không khai báo y tế.

Bộ Y tế và Tổ Thông tin đáp ứng nhanh phòng chống Covid-19 cho biết, có tới 20% F0 là bệnh nhân mắc Covid-19 không hợp tác với cơ quan chức năng để truy vết, hàng trăm F1 không chủ động khai báo y tế, không hợp tác, từ chối giao tiếp, gây khó khăn cho công tác phòng chống dịch.

Trước thực tế trên, người dân ở các vùng có dịch, đặc biệt ở khu vực Chí Linh, một phần Kinh Môn, Nam Sách, Cẩm Giàng (Hải Dương) và Đông Triều (Quảng Ninh) cùng với việc thực hiện tốt các biện pháp phòng chống dịch như hiện tại, hãy dùng tối đa các phương tiện, công cụ truyền thông xã hội để cung cấp thông tin cho Tổ thông tin, Bộ Y tế, Ban Chỉ đạo quốc gia tất cả những người đã tiếp xúc với mình thời gian qua. Đồng thời mọi người cũng kêu gọi những người đấy dù hiện đang ở đâu cũng khai báo y tế và cung cấp thông tin. Việc này không chỉ bảo vệ mình mà còn vì sự an bình của cả đất nước.

Dẫu biết rằng, việc phải khai báo y tế rồi có thể phải thực hiện cách ly là rất phiền toái cho bản thân và gia đình. Song, nếu không thực hiện nghiêm, sẽ là hậu họa lớn cho chính họ, gia đình, những người thân của họ và cho đất nước.

Mặt khác, việc không hợp tác trong phòng chống dịch bệnh còn là hành vi vi phạm pháp luật. Tại Điều 20 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội thì hành vi cản trở, chống lại thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ số tiền phạt lên đến 5.000.000 đồng. Còn theo quy định tại Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người vi phạm có thể bị xử phạt hình phạt tù cao nhất đến 07 năm.

Vì thế, một mặt cần tích cực tuyên truyền, vận động, thuyết phục, kêu gọi những người nằm trong diện nghi vấn tham gia khai báo y tế, thực hiện nghiêm những qui định về phòng chống dịch bệnh, cần phải nghiêm khắc xử lý những đối tượng không hợp tác với cơ quan chức năng để truy vết, không chủ động khai báo y tế, không hợp tác, từ chối giao tiếp, gây khó khăn cho công tác phòng chống dịch. Kiên quyết không để thói vô trách nhiệm với bản thân, vô trách nhiệm với cộng đồng làm rối loạn đời sống xã hội.

Hãy chung sức, đồng lòng và có biện pháp kiên quyết khống chế sự lây lan của đại dịch bởi có thực hiện nghiêm túc vấn đề này thì chúng ta mới đảm bảo được an toàn phục vụ sản xuất, phát triển, thực hiện thắng lợi mục tiêu kép của Chính phủ đề ra.

 

Phát huy tinh thần tự phê bình để xây dựng Đảng ta là đạo đức, là văn minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 


Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng phải là đạo đức, là văn minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn đề cao ý thức tự giác tự phê bình, phải chủ động, tự giác kiểm thảo, tự nhận trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, gắn trách nhiệm của cá nhân với trách nhiệm của tập thể. Người nói: Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên hằng ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng. Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về thực hành tự phê bình và phê bình. Mọi suy nghĩ và hành động của Người, trong đó có việc phê bình và tự phê bình, đều xuất phát từ mục tiêu giản dị: tất cả vì con người và vì hạnh phúc của mọi người.

Trong quá trình công tác, có một số cán bộ, đảng viên, kể cả người giữ cương vị cao mắc phải sai lầm, khuyết điểm, thậm chí phạm phải những khuyết điểm, vi phạm nghiêm trọng. Điều quan trọng là khi mắc phải sai lầm, khuyết điểm đó, cấp ủy, tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên phải nêu cao ý thức tự giác nhận rõ sai lầm, khuyết điểm, vi phạm, chủ động tự giác nhận trách nhiệm của tập thể, cá nhân, đề ra cách sửa chữa, khắc phục phù hợp, phấn đấu vươn lên. Khi cần thiết phải công khai xin lỗi, sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm đó trước quốc dân, đồng bào để mong đồng bào tha thứ. Trong cải cách ruộng đất, Đảng, Chính phủ đã mắc phải những sai lầm, khuyết điểm, Trung ương tự phê bình, đồng chí Trường Chinh từ chức Tổng Bí thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh với cương vị là người đứng đầu Đảng, Chính phủ tự giác nhận khuyết điểm, sai lầm đó và đã được quốc dân, đồng bào tha thứ. Vì thế, uy tín của Đảng, của Chính phủ, của cán bộ, đảng viên không những không giảm sút mà còn được nâng lên.

Thực tế cho thấy, thời gian qua, còn một bộ phận cấp ủy, tổ chức đảng và một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, sa vào chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, cơ hội thực dụng, tham nhũng, lãng phí, “tư duy nhiệm kỳ và bệnh thành tích”, “lợi ích nhóm”, quên đi bổn phận với Đảng, với nhân dân, với dân tộc. Tình trạng tham nhũng chính trị, tham nhũng cơ chế, chính sách, tham nhũng quyền lực thông qua việc tác động, can thiệp để “chạy”, hoặc “bắc thang cho trèo”, hoặc “nâng đỡ không trong sáng” vào những chức vụ, những vị trí quan trọng, có nhiều thuận lợi, cơ hội thăng tiến và thu được nhiều lợi ích, bất chấp tiêu chuẩn, điều kiện không đúng, không đủ quy trình, sai thủ tục, không bảo đảm diễn ra ngày càng tinh vi. Dẫn đến hậu quả chỉ tìm được người thân, người nhà, người chịu “chạy”, "người có bề dày cung tiến", người thiếu đức, kém tài; gây nhiều hậu quả trong công tác tổ chức, cán bộ, công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành; làm cho công tác cán bộ là khâu then chốt của then chốt đang là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ, làm giảm sút niềm tin của nhân dân.

Điều đáng lo ngại là khi mắc phải những khuyết điểm, vi phạm, đã chót “nhúng chàm” đã có những cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên không tự giác nhận trách nhiệm, khuyết điểm, vi phạm và không chủ động có biện pháp sửa chữa, khắc phục, phấn đấu vươn lên. Thậm chí còn tìm mọi cách để tiêu hủy, hợp pháp hóa chứng cứ, hồ sơ, tài liệu, bưng bít thông tin, che giấu khuyết điểm, vi phạm, tìm cách mua chuộc, đe dọa, trả thù và trù dập người đấu tranh phê bình, tố cáo đúng, hoặc nhờ can thiệp, tác động tổ chức, cá nhân có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra,… xem xét, xử lý. Khi cấp ủy, ủy ban kiểm tra có thẩm quyền qua kiểm tra đã kết luận có khuyết điểm, vi phạm, yêu cầu kiểm điểm, tự phê bình, tự kiểm tra, tự nhận hoặc đề xuất hình thức kỷ luật thì còn không ít cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên không tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm, chưa tự nhận trách nhiệm. Một số cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên còn quanh co, đổ lỗi cho khách quan, cho người khác, cho cấp dưới hoặc cấp trên; chỉ nêu ưu điểm, kết quả, thành tích, quá trình cống hiến hoặc chỉ nhận những khuyết điểm, vi phạm nhỏ, thứ yếu, chối bỏ khuyết điểm, vi phạm chính, gây hậu quả rất nghiêm trọng... để đề nghị được minh oan, xem xét giảm mức độ, hình thức xử lý. Tổ chức đảng có khuyết điểm, vi phạm cũng không tự giác nhận trách nhiệm, khuyết điểm, vi phạm của tập thể và gắn với trách nhiệm, khuyết điểm, vi phạm của từng cá nhân, trong đó có cả người đứng đầu, cán bộ chủ chốt có khuyết điểm, vi phạm rất nghiêm trọng, phải xử lý ở mức độ, hình thức cách chức hoặc khai trừ ra khỏi Đảng.

Và còn tình trạng tổ chức đảng quản lý nhận thức chưa đúng, không nêu cao ý thức phê bình, góp ý chân thành, thẳng thắn để giúp cho tổ chức đảng hoặc cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm kiểm điểm, tự phê bình nghiêm túc, cầu thị, tự giác nhận trách nhiệm, hình thức xử lý kỷ luật phù hợp, từ đó bỏ phiếu quyết định hoặc đề nghị hình thức kỷ luật theo thẩm quyền được chính xác. Có cấp ủy, tổ chức đảng không thấy được trách nhiệm của tổ chức mình trong việc động viên, thuyết phục tổ chức đảng cấp dưới, cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm tự giác kiểm điểm, nhận trách nhiệm, hình thức xử lý phù hợp, mà còn bao biện, che giấu, xin hoặc đề nghị không xử lý, xử lý kỷ luật nhẹ hơn; sợ ảnh hưởng đến truyền thống, đến phong trào chung và công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của địa phương, đơn vị... Đó là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của tổ chức đảng và của một bộ phận cán bộ, đảng viên với các hình thức, mức độ khác nhau.

Các vụ việc vi phạm, sai phạm thời gian qua ở một số bộ, ngành, tập đoàn và địa phương cấp tỉnh, hầu hết các tổ chức đảng, đảng viên được kiểm tra, kể cả cán bộ cao cấp chưa tự giác kiểm điểm, tự kiểm tra, nhận trách nhiệm và hình thức kỷ luật đúng với nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm. Tổ chức đảng tính chiến đấu kém, không đề nghị hoặc đề nghị hình thức kỷ luật đối với đảng viên được kiểm tra thấp, chưa đúng với mức lỗi phạm, gây bức xúc trong dư luận. Song, cũng đã xuất hiện một số trường hợp cán bộ được kiểm tra đã tự giác kiểm điểm, tự nhận trách nhiệm về khuyết điểm, vi phạm và nhận hình thức kỷ luật. Tổ chức đảng nơi đảng viên công tác, sinh hoạt cũng đã nhận thức đúng, nêu cao trách nhiệm trong việc phê bình, góp ý kiến về khuyết điểm, vi phạm của đồng chí mình và bỏ phiếu đề nghị hình thức kỷ luật đúng với kết luận của tổ chức đảng có thẩm quyền.

Về vấn đề này, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần đề cập trong bối cảnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời gian qua, bên cạnh kết quả, thành tích đã đạt được, cũng còn những khuyết điểm, hạn chế, yếu kém, thậm chí là vi phạm của một số cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Cần phải chủ động giám sát, kiểm tra để phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn từ khi còn manh nha, không để xảy ra khuyết điểm, vi phạm là quan trọng nhất để vừa không mất cán bộ, vừa không hỏng công việc, không ảnh hưởng đến sự phát triển của Đảng, của đất nước. Còn việc phải kiểm tra, xử lý kỷ luật một số cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm thì không “thích thú gì”, là việc “cực chẳng đã”. Tuy nhiên, để đề cao sự cảnh tỉnh, răn đe, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật, sự trong sạch, vững mạnh sự phát triển của Đảng thì cần phải xử lý kỷ luật “một vài người để cứu muôn người” là việc cần thiết nhằm khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “trên khởi động, dưới chậm chuyển động”. Điều quan trọng không phải xử lý kỷ luật “thật nhiều, thật nặng” đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm, mà xử lý phải “thấu tình, đạt lý”, khiến đối tượng bị kiểm tra, xử lý phải phải thực sự “tâm phục, khẩu phục”, phải bảo đảm “công minh, chính xác, kịp thời”, có tính giáo dục, phòng ngừa, răn đe chung và có “tính nhân văn cao” theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Sau thành công tốt đẹp của Đại hội XIII, để nêu cao tinh thần tự phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh và tiến tới thực hiện văn hóa tự giác tự phê bình, “tự soi”, “tự nhận khuyết điểm vi phạm”, “tự nhận trách nhiệm”, “tự xử” của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên qua kiểm tra có khuyết điểm, vi phạm, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ một số nội dung sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức cho cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên thấy được trách nhiệm của mình cả khi là chủ thể kiểm tra, khi là đối tượng kiểm tra và khi là đối tượng có liên quan (phối hợp, tham gia, chỉ đạo...) trong quá trình kiểm tra để thực hiện đúng trách nhiệm và thẩm quyền hoặc trách nhiệm và quyền của mình. Từ đó giúp cho quá trình kiểm tra trở thành tự kiểm tra, tự phê bình và phê bình sâu sắc để bảo đảm chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của kiểm tra. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình trong Đảng nói chung, trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật nói riêng. Đồng thời, tuyên truyền tính nhân văn theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật để cán bộ, đảng viên học tập, thấm nhuần, thực hiện đúng quy định cả khi là chủ thể, cả khi là đối tượng kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh.

Thứ hai, chủ thể kiểm tra phải có biện pháp khơi gợi, động viên, thuyết phục, cảm hóa đối tượng kiểm tra tin tưởng vào sự kiểm tra của tổ chức đảng để chủ động cộng tác, phối hợp, chấp hành nghiêm yêu cầu kiểm tra, quá trình thực hiện quy trình, thủ tục thi hành kỷ luật khi có khuyết điểm, vi phạm để bảo đảm nâng cao tính chủ động tự giác kiểm điểm, tự phê bình, tự kiểm tra, tự nhận trách nhiệm và hình thức xử lý thích hợp (tức là nâng cao văn hóa tự xử).

Thứ ba, tổ chức đảng phải nêu cao trách nhiệm trong việc động viên, thuyết phục, tạo điều kiện cho tổ chức đảng cấp dưới, đảng viên chấp hành nghiêm yêu cầu của chủ thể kiểm tra; đồng thời, phải nêu cao trách nhiệm trong việc tự phê bình, góp ý cho tổ chức đảng cấp dưới, cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm. Qua đó, giúp cho tổ chức đảng cấp dưới, cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm chuyển biến nhận thức, biến quá trình kiểm tra thành tự kiểm tra, tự phê bình, tự nhận trách nhiệm và hình thức xử lý kỷ luật phù hợp.

Thứ tư, từng cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy khi có khuyết điểm, vi phạm, phải có nhận thức đúng, nêu cao ý thức trách nhiệm, chủ động tự giác kiểm điểm, tự kiểm tra, tự phê bình về khuyết điểm, vi phạm, từ đó tự nhận trách nhiệm, mức độ, hình thức xử lý thích hợp. Khắc phục tình trạng thiếu tự giác, thiếu trung thực, không thành khẩn, quanh co, chối tội, đổ lỗi cho khách quan, cho người khác, cho tập thể, cho cấp dưới hoặc cho cấp trên.

Thứ năm, tăng cường tuyên truyền, phổ biến những vụ việc, trong đó cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm đã chủ động tự giác kiểm điểm, tự phê bình, tự kiểm tra, tự nhận trách nhiệm và hình thức xử lý thích hợp, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra. Đôn đốc, tạo điều kiện cho đối tượng có khuyết điểm, vi phạm thực hiện đúng kết luận kiểm tra, quyết định xử lý kỷ luật, khắc phục hậu quả, phấn đấu vươn lên.

Sử dụng đúng khẩu hiệu “Mừng xuân mới, mừng đất nước đổi mới, mừng Đảng quang vinh”

 


Cứ mỗi độ Tết đến, xuân về là thời gian diễn ra nhiều sự kiện chính trị quan trọng. Đặc biệt là sự kiện đón chào mừng năm mới, tổ chức lễ kỷ niệm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và tổ chức tiễn đưa thanh niên nhập ngũ… Đây cũng là thời gian mà chúng ta tổ chức xây dựng nhiều khẩu hiệu, nhiều cụm cổ động ngoài trời phục vụ cho các sự kiện này. Đi khắp các địa phương, cơ sở trên địa bàn cả nước đều thấy khẩu hiệu chào đón năm mới, chào mừng ngày thành lập Đảng được xây dựng ở các khu dân cư, các trung tâm xã (phường, thị trấn), huyện (quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh) và các tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương). Tuy nhiên, khi xây dựng khẩu hiệu chào mừng các sự kiện này, nội dung khẩu hiệu lại không thống nhất mà mỗi nơi xây dựng theo một cách hiểu khác nhau.

Ví dụ: có địa phương xây dựng nội dung khẩu hiệu “Mừng Đảng, mừng xuân, mừng đất nước đổi mới”; Nơi khác lại xây dựng nội dung khẩu hiệu “Mừng Đảng quang vinh, mừng xuân mới, mừng đất nước đổi mới”; Có nơi xây dựng nội dung  khẩu hiệu “Mừng Đảng, mừng xuân” … Những nội dung khẩu hiệu này tồn tại từ năm này qua năm khác, nghe mãi, đọc mãi trở thành thói quen và nghĩ rằng nội dung đó đúng, nhưng thực ra là chưa chính xác.

Vậy sử dụng nội dung khẩu hiệu thế nào là đúng?

Theo Hiến pháp năm 2013, theo Hướng dẫn số 3420/HD- BVHTTDL, ngày 02/10/2012 về việc sử dụng Quốc kỳ, Quốc ca và chân dung Hồ Chí Minh và Nghị định số 111/2018/NĐ, ngày 31 tháng 8 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định về ngày thành lập, ngày truyền thống, ngày hưởng ứng của các bộ, ban, ngành, địa phương, đã thống nhất quy định trang trí trên lễ đài như sau: Nếu nhìn từ dưới lên, vị trí quan trọng nhất (vị trí số 1) phía tay phải là vị trí để treo Quốc kỳ, vị trí bên trái (vị trí số 2) là vị trí để treo Đảng kỳ. Điều đó cũng có nghĩa là, đất nước là quan trọng nhất và Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, trở thành lực lượng lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện sự nghiệp cách mạng của đất nước, của dân tộc nhưng Đảng sinh ra trong lòng đất nước, trong lòng dân tộc, cho nên Đảng kỳ chỉ được treo ở vị trí số 2. Trong nghi lễ ngoại giao cũng vậy, khi đón khách nước ngoài, thì cờ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao giờ cũng được treo ở vị trí quan trọng nhất (vị trí số 1), cờ của nước là khách chỉ được treo ở vị trí số 2.

Vì thế, khi vận dụng quan điểm, tư tưởng này vào việc xây dựng khẩu hiệu chào mừng năm mới, chào mừng thành công của Đại hội XIII, chào mừng ngày thành lập Đảng, chào mừng sự nghiệp đổi mới của đất nước chúng ta nên thống nhất rằng: có vũ trụ, có đất trời thì mới có đất nước; có đất nước thì mới có Đảng. Điều đó có nghĩa là, Đảng được sinh ra từ trong phong trào đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam được hình thành từ vũ trụ, trời đất này. Do vậy, cần nhận thức đúng và xây dựng nội dung khẩu hiệu chào xuân mới, chào mừng sự nghiệp đổi mới đất nước, chào mừng ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và tổ chức xây dựng khẩu hiệu này cho thống nhất trên địa bàn cả nước là: “MỪNG XUÂN MỚI, MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI, MỪNG ĐẢNG QUANG VINH”.

Phải chữa ngay bệnh quan liêu

 


Thấm nhuần lời dạy của V.I.Lênin “Kẻ thù bên trong tệ hại nhất của chúng ta, chính là anh chàng quan liêu... Chúng ta phải gạt bỏ kẻ thù đó”, Hồ Chí Minh khẳng định “bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến cán bộ và công tác cán bộ. Bởi, theo Người: Cán bộ là gốc của mọi công việc, Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Đó là một chân lý nhất định. Cán bộ là dây chuyền của bộ máy, nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, toàn bộ máy cũng bị tê liệt, vì họ là những người đem chính sách của Đảng thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ kém thì chính sách hay mấy cũng không thể thực hiện được.

Xác định vị trí, vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cánh mạng, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những thứ “bệnh”, nguyên nhân, tác hại và đưa ra “thuốc chữa bệnh”. Bệnh quan liêu là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, mà có nằm trong các tổ chức ta, để làm hỏng công việc của ta, Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác… phải tẩy sạch nó để thực hiện cần kiệm, liêm chính… để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc. Đó là nhiệm vụ quan trọng của mỗi chúng ta.

Theo Hồ Chí Minh, “Bệnh quan liêu” là “chỉ biết dùng mệnh lệnh. Không biết giải thích, tuyên truyền. Không biết làm dân chúng tự giác và tự động”; là tham ô, hủ hóa. Trước mặt dân chúng thì lên mặt quan cách mạng, bệnh quan liêu... là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm. Nguyên nhân của bệnh quan liêu là vì xa cách quần chúng, không hiểu biết dân chúng, không học hỏi dân chúng, sợ dân chúng phê bình và khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa. Tác hại của bệnh quan liêu là vô cùng lớn, bởi vì nó đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Cho nên, bệnh quan liêu chỉ đưa đến một kết quả là: hỏng việc. Vì vậy, chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy.

Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, Đảng ta xác định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững. Trong những năm qua, cùng với đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng ta thường xuyên quan tâm, chăm lo công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với sự nghiệp cách mạng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới. Công tác cán bộ được đổi mới và phát triển mạnh mẽ theo phương châm công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, đạt được một số kết quả quan trọng. Tuy nhiên, từ thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ chưa thực sự phát huy được vai trò, hiệu quả, trách nhiệm trong công tác, tinh thần tự giác trong học tập, tu dưỡng phẩm chất đạo đức lối sống, ý thức tự phê bình và phê bình chưa cao, nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiền phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở, ngại va chạm, tiếp xúc với nhân dân, không lắng nghe và giải đáp kịp thời ý kiến, nguyện vọng của nhân dân; đánh giá hiệu quả công việc cá nhân, cơ quan, đơn vị, địa phương chủ yếu dựa trên các báo cáo, lối làm việc bàn giấy, chưa nghiên cứu tình hình thực tế. Do đó, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị không cao, gây bức xúc trong nhân dân... Những biểu hiện đó đã và đang làm giảm sút ý chí chiến đấu, ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết trong nội bộ, là cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm kích động, lôi kéo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, làm giảm lòng tin của nhân dân.

Quán triệt quan điểm của Đảng về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; đẩy mạnh Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp tục thực hiện có chất lượng Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII về Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” và tiêu chuẩn cán bộ nêu tại Quy định số 89-QĐ/TW, Quy định số 90-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII… là những giải pháp quan trọng nhằm từng bước “tẩy sạch bệnh quan liêu” của “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và phức tạp, xuyên suốt trong tiến trình cách mạng; cần có sự quan tâm, chung sức của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. “Tẩy sạch bệnh quan liêu” cũng là để củng cố, phát huy vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng, theo đó, cần thực hiện tốt những giải pháp sau:

Một là, thực hiện có hiệu quả chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt, công tác của tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị

Mục đích của phê bình giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Chế độ tự phê bình và phê bình là một trong những nguyên tắc, quy luật phát triển của Đảng ta, thông qua tự phê bình và phê bình giúp cho cán bộ, đảng viên nhận thấy và chỉ ra những ưu, khuyết điểm của mình và đồng chí, đồng đội. Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở một số cơ quan, địa phương thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình còn mang tính hình thức, e dè, chiếu lệ, cán bộ cấp dưới không mạnh dạn chỉ ra các khuyết điểm của cấp trên, một số cán bộ, đảng viên chưa thực sự lắng nghe ý kiến phê bình đồng chí, đồng đội, cấp dưới và quần chúng nhân dân; sau khi phê bình chưa tổ chức rút kinh nghiệm, chưa gắn chế độ tự phê bình và phê bình với chế độ kiểm tra, giám sát và sửa chữa kịp thời.

Dùng cách thật thà tự phê bình và phê bình, để tẩy trừ những thói tham ô lãng phí và bệnh quan liêu, để cùng nhau tiến bộ, Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng. Kết hợp chặt chẽ giữa chế độ tự phê bình và phê bình với công tác kiểm tra, giám sát của nhân dân, thực hiện đúng nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và giám sát”. Thực hiện nghiêm túc chế độ phê bình từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, chủ động tạo các kênh thông tin để nhân dân phản ánh, đánh giá cán bộ, đặc biệt là cán bộ địa phương; giúp cho cán bộ gần dân, nghe dân, hiểu dân để dân dân tin, thể hiện tinh thần, trách nhiệm, trình độ và năng lực của mình trong sinh hoạt và công tác. Mở rộng dân chủ phê bình trong cơ quan và ngoài quần chúng, từ trên xuống và từ dưới lên. Trên đe dưới búa của phê bình, thì nhất định tẩy được bệnh quan liêu. Phải gắn chế độ tự phê bình và phê bình trong cơ quan, đơn vị với công tác phản biện của các tổ chức chính trị - xã hội và quần chúng nhân dân.

Hai là, thực hiện đúng nguyên tắc trong quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển và đánh giá cán bộ.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, “khi cân nhắc cán bộ, cần phải xét rõ người đó có được quần chúng tin cậy và mến phục không. Lại phải xem, người ấy xứng đáng với việc gì”, Đảng ta xác định: Đổi mới và tăng cường công tác cán bộ, tạo sự chuyển biến trong thực tế về đánh giá, tuyển chọn và sử dụng cán bộ chủ yếu theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ chế thị trường và chính sách mở cửa. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác quy hoạch cán bộ; Đảng thống nhất lãnh đạo và quản lý đội ngũ cán bộ, bảo đảm vai trò lãnh đạo tập trung của cấp uỷ đi đôi với việc phát huy trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu; đồng thời mở rộng dân chủ trong việc phát hiện nguồn, phát hiện tài năng. Kết hợp chặt chẽ giữa công tác quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, luân chuyển và sử dụng cán bộ, bảo đảm khách quan, dân chủ, đúng người, đúng việc, được nhân dân tín nhiệm. Phải lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên. Công tác cán bộ phải nắm vững tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc của chiến lược cán bộ của Đảng và đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ của từng cương vị, địa phương, cơ quan. Kiên quyết xử lý nghiêm và đưa ra khỏi bộ máy lãnh đạo những cán bộ có biểu hiện thoái hóa, biến chất, vi phạm đạo đức cách mạng, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn.

Ba là, không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, phong cách làm việc và năng lực công tác của cán bộ

Phẩm chất chính trị, đạo đức, phong cách và năng lực công tác là cơ sở, điều kiện để mỗi cán bộ hoàn thành mọi nhiệm vụ trên cương vị chức trách được giao. Thực tế cho thấy, ở đâu và khi nào cán bộ có những biểu hiện hạn chế về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực công tác thì ở đó bệnh quan liêu có cơ sở, điều kiện phát triển. Do vây, các cấp, các ngành, ở mỗi cơ quan, địa phương, đơn vị và mỗi cán bộ, đảng viên cần quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu. Nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ là một quá trình thường xuyên, liên tục, lâu dài; là sự nỗ lực của các cấp lãnh đạo, các cơ quan đơn vị và từng cán bộ. Do đó, các cấp, các nghành, các cơ quan đơn vị và mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thực chất, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, kết hợp với các chế độ kiểm tra, giám sát, sắp xếp, bổ nhiệm, đánh giá và luân chuyển cán bộ.

Thực hiện đúng nguyên tắc và phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của nhân dân, của tập thể trong đánh giá cán bộ, đảng viên. Kiên quyết, kịp thời xử lý cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và thói làm việc quan liêu, không sâu sát thực tiễn... Xây dựng kế hoạch, tiến hành có hiệu quả công tác giáo dục, nâng cao năng lực và tác phong công tác của cán bộ, thông qua thực tiễn để đánh giá năng lực công tác và trách nhiệm của cán bộ. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn. Thực hiện nghiêm túc chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ. “Phải làm kiểu mẫu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư” cán bộ, người đứng đầu phải làm gương và là tấm gương để nhân dân và cấp dưới học tập và theo; “đặt công việc chung, lợi ích chung lên trên hết, trước hết”.

Bốn là, rèn luyện phong cách làm việc gần dân, sát thực tế của cán bộ.

Để chữa “bệnh quan liêu” đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện phương pháp, phong cách làm việc quần chúng, thường xuyên tiếp xúc, lắng nghe ý kiến góp ý của tập thể, cấp dưới và của nhân dân. Tích cực hoạt động thực tiễn, chủ động nghiên cứu thực tế, rèn luyện khả năng đánh giá, định hướng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và hoạt động thực tiễn. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lãnh đạo nhân dân bằng cách tuyên truyền, giải thích, cổ động, giáo dục, tổ chức nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân”. Qua đó, cán bộ, đảng viên không những hiểu được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân mà còn học tập được nhiều kinh nghiệm hay của nhân dân. Làm cho mối quan hệ, đoàn kết gắn bó giữa cán bộ, đảng viên ngày càng bền chặt hơn, để cán bộ, đảng viên thực sự là “công bộc, đầy tớ của nhân dân”.

Sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới đòi hỏi phải không ngừng nâng cao vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ. Từ thực tế bệnh quan liêu ở không ít cán bộ hiện nay, đòi hỏi các cấp ủy đảng, các cơ quan, đơn vị và toàn hệ thống chính trị phải tích cực, chủ động, linh hoạt và kiên quyết, đảm bảo đúng nguyên tắc, phương châm, quan điểm chỉ đạo trong công tác cán bộ để tẩy sạch bệnh quan liêu trong cán bộ. Mong rằng toàn thể cán bộ ta, ai không mắc bệnh quan liêu phải giữ gìn, tránh nó. Ai đã mắc bệnh ấy, thì phải cố gắng sửa chữa cho khỏi đi, cho xứng đáng với người cán bộ cách mạng, chớ để bị đào thải.

Đảng và mùa xuân dân tộc - giá trị văn hóa trường tồn

 


Thêm một lần chúng ta khẳng định chân lý vững chắc, ở Việt Nam, Đảng với dân tộc, nhân dân là một. Đảng và mùa xuân dân tộc là giá trị văn hóa bất tuyệt, kế thừa truyền thống lịch sử và tinh hoa bản sắc của tiên tổ, ông cha. Đó là bức tường thành vững chãi ngăn chặn, đẩy lùi mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng...
Đại hội XIII của Đảng ta, ngày hội chính trị-văn hóa trọng đại của toàn dân ta, đã đặt vào hành trình lịch sử của dân tộc và của Đảng một mốc son chói lọi ngay trước thềm năm mới Tân Sửu 2021. Chính vì vậy, mặc dù phải đối mặt với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 và những khó khăn, thách thức mới của nền kinh tế nhưng trong đời sống văn hóa tinh thần của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, Tết Tân Sửu 2021 là một cái Tết có ý nghĩa trọng đại. Thêm một lần nữa, linh khí tươi mới của đất trời vào xuân hòa quyện cùng hào khí của ý Đảng, lòng dân, làm cho niềm vui, niềm tự hào được nhân lên. Báo cáo của Ban Chấp hành (BCH) Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trình bày, đã nêu rõ: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là một sự kiện chính trị trọng đại của Đảng ta, đất nước ta và dân tộc ta, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước. Cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đang náo nức chờ mong, tin tưởng và đặt nhiều kỳ vọng vào những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ, sáng suốt của Đảng... Đại hội đã thực sự là thành quả kết tinh trí tuệ, tâm huyết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, thể hiện rõ sự thống nhất giữa ý Đảng, lòng dân, hòa quyện cùng quyết tâm và ý chí phát triển của dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Suốt 91 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, dân tộc ta, nhân dân ta đã vượt qua bao gian nan, thử thách, đi từ vị trí thấp kém của một dân tộc thuộc địa, từ thân phận của những người dân nô lệ, vươn lên làm chủ đất nước, khẳng định vị thế của một dân tộc độc lập, tự do. Suốt chiều dài lịch sử dân tộc, đặc biệt kể từ ngày dân tộc ta có Đảng, rất nhiều sự kiện trọng đại của Đảng và đất nước đều gắn với mùa xuân. Đó là ngày thành lập Đảng, đánh dấu sự chuyển mình bước sang trang mới của dân tộc vào ngày 3-2-1930 (mồng Năm tháng Giêng năm Canh Ngọ), khởi đầu một mùa xuân mới của dân tộc. 15 năm sau, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vào ngày 2-9-1945. Tết Bính Tuất năm 1946 là cái Tết đầu tiên toàn dân ta được đón Tết trong niềm tự hào của những người làm chủ đất nước. Trong thư gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước, Bác Hồ đã viết những vần thơ chúc Tết: “Trong năm Bính Tuất mới/ Muôn việc đều tiến tới./ Kiến quốc chóng thành công,/ Kháng chiến mau thắng lợi.”... Sự nghiệp kiến quốc, kháng chiến bền bỉ, trường kỳ, gian khổ, chúng ta phải đương đầu với hai cường quốc quân sự và kinh tế là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, những mùa xuân dân tộc nối tiếp nhau trong khói lửa chiến tranh. Chiến thắng Điện Biên Phủ vào mùa xuân Giáp Ngọ năm 1954 làm nên một cơn “địa chấn” khắp địa cầu, đặt dấu chấm hết cho ách thống trị của thực dân Pháp tại Việt Nam. Xuân Mậu Thân 1968 ghi dấu ấn đậm nét vào lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc bằng Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân, dân cả nước, tạo thế và lực rút ngắn khoảng cách đến ngày toàn thắng. Để rồi 7 năm sau, mùa xuân Ất Mão năm 1975, cả dân tộc ta ca khúc khải hoàn mừng thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mở ngày hội non sông mừng đất nước thống nhất... Mùa Xuân Đinh Mão năm 1987, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986). 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, phát triển đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta, nhân dân ta đã thực hiện những bước tiến vượt bậc, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, lập nên những thành tựu vẻ vang. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia trên thế giới, ngày càng khẳng định vị thế, đối tác quan trọng với bạn bè quốc tế. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Khẳng định của người lãnh đạo cao nhất Đảng và Nhà nước ta chính là sự kết tinh niềm tin, niềm hạnh phúc, tự hào to lớn của nhân dân ta.

Trong tiến trình lịch sử vẻ vang của dân tộc ta, cứ mỗi dịp Tết đến, xuân về, đồng bào, chiến sĩ và kiều bào yêu nước khắp nơi trên thế giới lại hòa chung niềm hân hoan của ngày hội non sông mừng xuân, mừng Đảng. Linh khí mùa xuân hòa quyện với hào khí muôn dân, trở thành thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý, niềm tự hào của mọi người dân đất Việt. 91 mùa xuân kể từ ngày dân tộc ta có Đảng, độ lùi của thời gian càng sâu, dòng lịch sử càng dài, tình cảm thiêng liêng ấy trong các thế hệ đồng bào, chiến sĩ càng sâu đậm, kết thành giá trị bản sắc. Mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân đều có trách nhiệm, bổn phận nâng niu, gìn giữ, bảo vệ, làm giàu thêm giá trị bản sắc ấy để Đảng trường tồn cùng mùa xuân dân tộc bất tuyệt.

Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm “Dân là gốc”. Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu... Đây là sự khẳng định mang tính chân lý, thể hiện bước phát triển mới về lý luận của Đảng trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng những đánh giá, đúc kết bài học kinh nghiệm lãnh đạo đất nước trong 35 năm đổi mới của Đảng, kế thừa tinh hoa từ lịch sử dân tộc, kinh nghiệm của tổ tiên, ông cha. Quan điểm “Dân là gốc”, “Nhân dân là trung tâm” cũng chính là sự thể hiện sinh động tính hài hòa, thống nhất của giá trị văn hóa Đảng và mùa xuân dân tộc ở đất nước ta. Đây cũng là cơ sở, niềm tự hào chính đáng để mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân đất nước và đông đảo kiều bào yêu nước đề cao tinh thần dân tộc, nâng cao ý thức cảnh giác, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại các âm mưu kiểu “ngụy tư tưởng”, “ngụy lý luận”, “ngụy phản biện”... của các thế lực thù địch, phản động. Trước Đại hội XIII của Đảng ta, các thế lực thù địch, phản động chĩa mũi nhọn tuyên truyền, kích động, xuyên tạc về văn kiện và công tác nhân sự của Đảng. Tại Hội thảo về nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch do Học viện An ninh Nhân dân (Bộ Công an) tổ chức ngày 29-12-2020, dẫn số liệu từ Bộ Công an cho biết: Từ đầu năm 2020 đến nay, các đối tượng phản động lưu vong đã lập gần 150 hội, nhóm với hàng trăm nghìn thành viên, lập nhiều trang mạng, kênh youtube, tài khoản facebook, hơn 500 cuốn sách và khoảng 6.000 tài liệu để phát tán các thông tin xấu độc, xuyên tạc công tác chuẩn bị văn kiện và công tác nhân sự của Đại hội XIII. Việc chúng ta tổ chức thành công Đại hội XIII của Đảng cũng chính là bằng chứng thất bại của các thế lực thù địch. Ngay sau khi Đại hội công bố kết quả bầu cử BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư..., lập tức, nhiều kênh truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại thông qua một số đối tượng được khoác cái mác “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”... đã thực hiện các hình thức “bàn tròn”, “tọa đàm”, “phỏng vấn” bình luận về “tương lai của Việt Nam sau Đại hội XIII”. Một trong những luận điệu chúng tập trung xuyên tạc là coi Đảng Cộng sản Việt Nam như một đảng phái, nhằm tách rời Đảng với dân tộc, chia tách Đảng với nhân dân Việt Nam và kiều bào yêu nước. Những luận điệu này không mới, nhưng đặt trong không khí mừng xuân, mừng Đảng đang bừng lên trong cả nước, chúng ta cần có thái độ kiên quyết phản bác, đấu tranh để bảo vệ uy tín của Đảng, bảo vệ thành quả Đại hội XIII và môi trường văn hóa của toàn Đảng, toàn dân đón chào năm mới Tân Sửu 2021 với niềm tin mới, khát vọng mới.

Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân hãy nhuộm đỏ trang cá nhân của mình bằng màu cờ Tổ quốc, màu cờ Đảng cùng sắc đào, mai rực rỡ; ngăn chặn âm mưu lôi kéo, kích động của các phần tử cực đoan, các thế lực thù địch. Hiện nay, chúng lợi dụng tình hình khó khăn của nền kinh tế do ảnh hưởng của dịch Covid-19 để “ký sinh” tư tưởng cực đoan nhằm phá hoại bầu không khí ấm áp, lạc quan của mùa xuân Tân Sửu, mùa xuân dân tộc mừng Đại hội Đảng thành công, mừng đất nước đổi mới, hội nhập. Hành trình cùng mùa xuân dân tộc, chúng ta kiên định đường lối đổi mới của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước đều cần phải nghiêm trị.

Kết quả Đại hội XIII là kết quả Lòng dân và sự kiên định


Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam: Từ buổi đầu dựng nước cho đến hôm nay và mãi mãi về sau là minh chứng cho thấy, chặng đường lịch sử nào của dân tộc cũng có nhân dân đồng hành và đó là một quy luật lịch sử. Lòng dân là luôn là quốc bảo thiêng liêng, vô giá, vì thế, không phải tự nhiên Nguyễn Trãi lại nói: Phúc chu thủy tín dân do thủy và cũng không phải ngẫu nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh lại khẳng định: Dễ mười lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng xong.

Lịch sử cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng xuyên suốt bề dày 91 năm xây dựng và phát triển đã cho thấy, với đường lối chính trị đúng đắn và bằng sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trung kiên, Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền phong của giai cấp và dân tộc không chỉ nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp nhân dân mà còn nhanh chóng giành được vị thế lãnh đạo, độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ thực tế cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có thể khẳng định rằng: Mọi thành công của cách mạng Việt Nam chỉ có được khi xuất phát từ lợi ích của nhân dân, hợp lòng dân và được nhân dân tin tưởng, đồng lòng ủng hộ. Lòng dân kiên trung là thành, là lũy, là chỗ dựa vững chắc của Đảng!

Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đảm nhận trọng trách lớn lao mà Tổ quốc và nhân dân giao phó, đó là lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam và xu thế của thời đại, Đảng đã không chỉ hấp dẫn, quy tụ mà còn lãnh đạo nhân dân Việt Nam, những người đang bị đọa đày trong đêm trường nô lệ kiên cường vượt mọi khó khăn, thử thách tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do vào mùa Thu năm 1945; tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước cùng đi lên CNXH; tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Trong hành trình đó, Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là một tổ chức để làm quan phát tài và Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào. Trải qua 13 kỳ Đại hội, Đảng luôn kiên định con đường đi lên CNXH; luôn lấy dân làm gốc, coi dân là chủ, đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy trên tinh thần: Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh. Luôn phụng sự Tổ quốc và Nhân dân, Đảng thường xuyên giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi.

Trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh, Đảng-đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đều nhận thức rõ: Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ; trong xã hội, không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân và Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, uỷ viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng... để tận tâm, tận sức phụng sự nhân dân, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật thật trung thành của nhân dân. Đồng thời, thấm nhuần sâu sắc lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc, dân là chủ, nên đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu từ Chủ tịch nước trở xuống đều gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào lòng dân kiên trung để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và tự soi, tự sửa mình từ sự giám sát, từ những ý kiến đóng góp chân tình, quý báu của nhân dân.

Xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, lòng dân luôn là nguồn sức mạnh vô địch, được bồi tụ và hiển hiện đậm nét trong hành trình đấu tranh giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; tiếp tục được củng cố vững chắc, kiên trung trong hành trình đi đến tương lai tươi sáng của dân tộc. Vì vậy, gắn bó mật thiết với nhân dân, củng cố niềm tin, lòng tin của nhân dân vừa là yêu cầu khách quan đối với Đảng cầm quyền vừa góp phần để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, phòng và chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong. Lòng dân là quốc bảo thiêng liêng. Niềm tin của nhân dân vào Đảng là sức mạnh vô giá.

Song các thế lực thù địch, những phần tử thoái hóa, biến chất, cơ hội, bất mãn đã bẻ cong, xuyên tạc, bịa đặt, bôi đen Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm gây tâm lý hoang mang, chia rẽ Đảng với Nhân dân, phá hoại niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; nhất là thời gian trước, trong và sau khi Đại hội XIII diễn ra. Tuy nhiên, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam hoàn toàn không phải là sự áp đặt từ phía Đảng mà chính là sự lựa chọn của dân tộc, sự tin tưởng và "ủy thác" của nhân dân. Thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cho thấy, ở Việt Nam không cần và không chấp nhận chế độ đa nguyên, đa đảng. Sự thống nhất biện chứng, phù hợp lợi ích giữa Đảng với nhân dân; giữa Đảng với giai cấp công nhân và dân tộc; mưu cầu và phấn đấu cho độc lập, tự do, dân chủ, ấm no, hạnh phúc của nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh nội lực của Đảng.

Vì thế, dù nhân danh ai và vì bất cứ lý do gì thì những luận điệu phản động, những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận được vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. 91 năm với 13 kỳ Đại hội, có thể khẳng định rằng, nội dung các văn kiện của 13 kỳ Đại hội và các nghị quyết chuyên đề của Đảng Cộng sản Việt Nam đều khẳng định rõ vị trí, vai trò của nhân dân trong tiến trình cách mạng cũng như trong lịch sử dân tộc. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân. Tinh thần hành động của mỗi cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều nhằm  mục tiêu phục vụ nhân dân, lấy sự hài lòng, niềm tin tưởng của người dân làm thước đo hiệu quả công tác lãnh đạo toàn diện sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là sự thật, chứ không phải: Sự lãnh đạo của Đảng là "chế độ toàn trị", "độc tài chuyên chế"…  như những thông tin sai lệch trên mạng xã hội.

Như các tiền bối đã dạy, dù ai nói ngả nói nghiêng, lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân. Dù các thế lực thù địch có xuyên tạc hay bôi đen thế nào thì lòng dân tin Đảng vẫn là sự thật không thể phủ nhận. Lòng tin ấy ngày càng được củng cố, được phát huy, bởi mỗi người dân Việt Nam yêu nước, yêu quê hương, tha thiết với một tương lai tốt đẹp của đất nước, với độc lập - tự do - hạnh phúc - phồn vinh tất yếu sẽ kiên trung tin và đi theo Đảng. Đồng thời, ủng hộ Đảng quyết liệt hơn, sát sao hơn trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ", làm cho Đảng "mạnh khỏe, chắc chắn", trong sạch, vững mạnh, vững vàng tay lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đến thành công.

Đại hội XIII của Đảng đã thành công tốt đẹp. Một Ban Chấp hành Trung ương khóa mới được bầu gồm 180 Ủy viên chính thức cùng 20 Ủy viên dự khuyết và việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp tục được Đại hội bầu là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII là kết quả của công tác nhân sự và nhân sự dự kiến Ban Chấp hành Trung ương được chuẩn bị sớm, kỹ lưỡng, thận trọng, khách quan, công tâm. Đó là những người có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, đạo đức, năng lực, trình độ để gánh vác trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó. Thước đo để đánh giá “phẩm chất, đạo đức, năng lực và trình độ” của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính là sự tín nhiệm của nhân dân, của chính đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp và của các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng.

Đại hội XIII là Đại hội của trí tuệ, đổi mới và hoạch định tầm nhìn tương lai của đất nước. Một đường lối chiến lược hoạch định tương lai đất nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc; xác định tầm nhìn đến giữa thế kỷ XXI, với các mốc ngắn hạn, trung hạn, dài hạn: 2025, 2030, 2045… để phấn đấu đưa nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phải hoàn thành cho mỗi chặng đường mà còn thể hiện rõ tính kế thừa và phát triển, tính liên tục và hoàn chỉnh trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đó không phải là "bình cũ rượu mới" mà là sự kiên định và sáng tạo; là sự phản ánh khát vọng phát triển đất nước độc lập - tự do - hạnh phúc - phồn vinh của nhân dân Việt Nam; phản ánh sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, ý chí tự lực, tự cường của toàn dân tộc trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không chỉ thể hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc mà còn là sự cụ thể hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đồng thời làm cho mong ước "xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành hiện thực sinh động.

Những nội dung trọng yếu của Đại hội; trong đó có sự kiên định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sự kiên định con đường đi lên CNXH và công tác nhân sự… đã không chỉ thu hút sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và kiều bào ta mà còn thu hút sự chú ý của nhiều hãng tin, tờ báo lớn trên thế giới.

Truyền thông của Việt Nam đã đưa tin chi tiết nội dung chương trình từng ngày Đại hội và kết quả của Đại hội. Cùng với đó, truyền thông quốc tế về Đại hội XIII và nhất là Đại hội đã nhận được rất nhiều thư, điện chúc mừng của nhiều chính đảng, tổ chức, bạn bè quốc tế và cá nhân… gửi đến chúc mừng đã cho thấy sự quan tâm sâu sắc, tình cảm hữu nghị, hợp tác với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam của bạn bè quốc tế.

Không chỉ quan tâm mà đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp, các tầng lớp nhân dân và kiều bào ta còn tin tưởng, trao trọn niềm tin của mình vào tinh thần, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của các đại biểu dự Đại hội để cùng sáng suốt lựa chọn và bầu ra đội ngũ cán bộ đủ tâm và tầm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, tiếp tục duy trì và thúc đẩy thành công của Việt Nam - một đất nước không chỉ có tốc độ phát triển kinh tế năm 2020 vượt xa một số quốc gia trong khu vực mà còn có chủ trương, chính sách, hợp lý để từng bước ngăn chặn đại dịch Covid- 19 nhờ các biện pháp kiểm dịch nghiêm ngặt, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Một tương lai của đất nước được hoạch định cụ thể theo lộ trình tại Đại hội XIII không chỉ thể hiện rõ định hướng và tầm nhìn chiến lược cho tương lai mà còn là sự tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; tiếp tục chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước nhanh, mạnh, bền vững hơn. Một đất nước Việt Nam đã và đang thay đổi từng ngày, từng giờ chính là sự chứng minh khách quan nhất trước những thông tin sai lệch, xuyên tạc về tương lai đất nước của các thế lực thù địch.

Cơ đồ của đất nước, niềm tin và sự kỳ vọng của nhân dân với Đại hội XIII của Đảng chính là động lực, là nguồn cảm hứng, là sức mạnh nội sinh tạo nên sức bật, sự cất cánh của một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc trong tương lai. Nội dung văn kiện, tương lai của đất nước là sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng và toàn Dân, thể hiện được “ý Đảng, lòng Dân". Nhân dân Việt Nam, kiều bào yêu nước đều có chung niềm tin tưởng và sự kỳ vọng vào đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và tương lai phát triển đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, của đội ngũ cán bộ lãnh đạo do Đại hội XIII bầu ra nói riêng. Vì thế, đó mới là sự thật, chứ không phải là những luận điệu: Không biết quốc gia sẽ đi về đâu, là có thay đổi được gì đâu mà quan tâm, là thất vọng hay lãnh đạm về Đại hội của Đảng… như mạng xã hội xuyên tạc.

Có thể khẳng định rằng: Đại hội XIII và kết quả của Đại hội đã bồi tụ niềm tin của toàn dân, toàn quân vào Đảng Cộng sản Việt Nam và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng; đã truyền cảm hứng về một đất nước Việt Nam phát triển trong tương lai; đồng thời, cũng cho thấy, những thông tin trên mạng xã hội là sự xuyên tạc sự thật, cần được mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân nâng cao cảnh giác và nhận diện đúng để tránh rơi vào tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"!