Thứ Tư, 7 tháng 4, 2021

CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH - BẢN HÙNG CA BẤT DIỆT

 Cách đây 46 năm, với cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Bắc - Nam sum họp một nhà, đất nước trọn niềm vui.

Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 đã đập tan hơn 1 triệu quân Ngụy, lật đổ hoàn toàn chế độ Ngụy quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam, cố vấn Mỹ phải rời khỏi miền Nam, Tổng thống Ngụy quyền Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Chiến thắng đó đã giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và tay sai.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đánh dấu kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ, đồng thời kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của đế quốc Pháp - Mỹ và chế độ phong kiến, rửa sạch nỗi nhục và nỗi đau mất nước hơn 1 thế kỷ của dân tộc Việt Nam.

Chủ nghĩa thực dân cũ, chủ nghĩa thực dân mới và thế lực phản động tay sai là nguyên nhân chia cắt đất nước. Thực dân Pháp chia nước ta thành 3 kỳ trong xứ Đông Dương 5 kỳ thuộc Pháp, xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới. Đế quốc Mỹ và Ngụy quyền Ngô Đình Diệm chia cắt đất nước thành 2 miền Nam - Bắc với vĩ tuyến 17. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã xóa bỏ mọi ranh giới chia cắt đất nước, đất nước đã được thống nhất về mặt lãnh thổ, đó là điều kiện thuận lợi để hai miền Nam - Bắc thống nhất đất nước về mặt nhà nước và thống nhất trên các lĩnh vực khác.

Đường lối cách mạng dân chủ nhân dân của Đảng là mục tiêu của cách mạng, là niềm tin của dân tộc, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp tạo điều kiện cho miền Bắc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đại thắng mùa Xuân năm 1975 lật đổ chế độ đế quốc và tay sai, mở đường cho sự hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp cách mạng dân chủ nhân dân, xóa bỏ giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản ở miền Nam.

Đất nước không còn bóng giặc ngoại xâm, chế độ Ngụy quyền tay sai đã bị lật đổ, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước độc lập, thống nhất trong cả nước và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, một trong những chiến công hiển hách nhất của lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, Chiến dịch Hồ Chí Minh - trận kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước- cùng với trận Bạch Đằng (1288), Chi Lăng (1427), Đống Đa ( 1789), Điện Biên Phủ (1954) đã cắm một cột mốc vinh quang chói lọi trong quá trình đi lên của lịch sử nước ta, tô đậm truyền thống kiên cường bất khuất của dân tộc ta trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc.

Tình đoàn kết gắn bó keo sơn của ba dân tộc Đông Dương được thể hiện sâu sắc trong quá trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên một chiến trường thống nhất nhằm chống một kẻ thù chung với cùng một mục tiêu là giải phóng dân tộc. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 không những mở ra bước ngoặt mới của lịch sử dân tộc và còn tạo thời cơ lớn cho nhân dân Campuchia giải phóng đất nước ngày 17/4/1975, cho nhân dân Lào giành độc lập ngày 2/12/1975.

Đối với đế quốc Mỹ, thất bại ở miền Nam năm 1975 là thất bại của một cuộc chiến tranh hao người tốn của nhất, là thất bại to lớn và nặng nề nhất trong lịch sử 200 năm của đế quốc Mỹ, thất bại đó đã tác động sâu sắc tới nội tình nước Mỹ, làm suy giảm uy tín và vị trí của Mỹ trên trường quốc tế.

Đối với thế giới, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã đập tan cuộc phản kích lớn nhất vào các lực lượng cách mạng của tên đế quốc đầu sỏ, phá vỡ phòng tuyến ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc và sự mở rộng của chủ nghĩa xã hội ở khu vực Đông Nam Á, góp phần làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ.

Thắng lợi mùa Xuân năm 1975 đã quyết định sự giải thể của khối quân sự SEATO do Mỹ cầm đầu tháng 9 năm 1975, góp phần đem lại hòa bình, an ninh và sự hòa hợp của khu vực Đông Nam. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 nói riêng và cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung không chỉ là thắng lợi riêng của dân tộc Việt Nam mà còn là thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Thắng lợi đó đã góp phần tăng cường sức mạnh của chủ nghĩa xã hội, thu hẹp trận địa của chủ nghĩa đế quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là nguồn cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc, phong trào dân chủ tiến bộ trên thế giới, tiếp tục chứng minh một chân lý của thời đại ngày nay là: Một dân tộc kiên quyết chống chủ nghĩa đế quốc có đường lối lãnh đạo đúng đắn, có sự đồng tình giúp đỡ của quốc tế thì nhất định sẽ giành được thắng lợi dù phải đương đầu với tên đế quốc đầu sỏ.

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân ta đã thực hiện được ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nhân dân hai miền Nam - Bắc đã sum họp một nhà. Trong cuộc đọ sức giữa ý chí Việt Nam và sức mạnh quân sự Mỹ, mặc dù phải chiến đấu gian khổ, hy sinh nhiều người, nhiều của, nhưng tinh thần và ý chí của nhân dân Việt Nam quyết tâm giành độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà đã toàn thắng. Chiến thắng oanh liệt đó mãi là niềm tự hào của mỗi thế hệ người dân Việt Nam, là động lực tinh thần to lớn để chúng ta kiên định, vững bước trên con đường mà Đảng, Bác Hồ kính yêu và nhân dân ta đã chọn: Độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; tiếp tục công cuộc đổi mới, CNH-HĐH, xây dựng và phát triển đất nước, sánh vai với bạn bè thế giới như Bác Hồ kính yêu vẫn hằng mong muốn./.





GIÁO DÂN GỠ NHÀ HIẾN ĐẤT MỞ ĐƯỜNG!

 Trong thời chiến, để mở đường, mở cầu cho xe bộ đội đi qua nhiều người dân đã sẵn sàng chặt cây, dỡ nhà. Câu chuyện đẹp đẽ này đã và đang được các linh mục và giáo dân ở nhiều xứ họ, đạo ở tỉnh Nam Định “viết lại” trong công cuộc xây dựng nông thôn mới.

Sự việc này được ghi lại tại Giáo xứ Phú Thứ (xã Tam Thanh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), thuộc Giáo phận Hà Nội. Giáo xứ Phú Thứ nằm gần Núi Gôi ở huyện Vụ Bản, dãy núi duy nhất ở tỉnh Nam Định. Nhà thờ giáo sứ được giáo dân địa phương khởi công xây dựng tháng 7/2014, khánh thành ngày 23/11/2017. Hiện Giáo xứ Phú Thứ có khoảng 800 giáo dân.
Thời gian qua, chính quyền địa phương triển khai dự mở rộng, nâng cấp tuyến đường liên xã, chạy qua địa bàn các xã Tam Thanh (Vụ Bản)-Yên Lương (Ý Yên) theo phương châm xây dựng nông thôn mới, nghĩa là nhà nước đầu tư kinh phi làm đường, người dân tự nguyện giải phóng mặt bằng, hiến góp đất mở rộng đường.
Theo ông Nguyễn Văn Bài, Chủ tịch UBND xã Tam Thanh, trước đây đường cũ chỉ rộng khoảng 5m, nay mở rộng thêm lên 7m nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu đi lại, vận chuyển của người dân. Số nhà dân nằm dọc tuyến đường có đất, công trình thuộc diện phải giải phóng mặt bằng do vậy rất lớn. Riêng đoạn chạy qua địa bàn thôn Phú Thứ có khoảng 70 hộ. Trong đó, cổng, tường bao nhà thờ giáo xứ Phú Thứ dài trên 100m cũng thuộc diện phải giải phóng. Khó khăn lớn nhất của dự án là không có kinh phí đền bù giải phóng mặt bằng và không phải hộ dân nào cũng đồng thuận tháo dỡ công trình, hiến góp đất.
Với tinh thần vì lợi ích chung, Linh mục Giuse Tạ Ngọc Nghiệp, Ban hành giáo Giáo xứ Phú Thứ đã bàn bạc, thống nhất quyết định tháo dỡ toàn bộ cổng, tường bao của nhà thờ dài hơn 100m, xây lùi lại vào phía trong để hiến đất mở rộng đường, ủng hộ dự án, trong đó có hai hộ dân sẵn sàng cưa cả tầng nhà mái bằng, xây lùi vào trong, chấp nhận thu hẹp diện tích sinh hoạt./.

Kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về bầu cử

 

Báo Quân đội nhân dân (QĐND) từ ngày 29 đến 31-3 đã đăng vệt bài “Vạch trần chiêu trò đòi “dân chủ” vô nguyên tắc trong bầu cử” ở chuyên mục “Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”. Sau khi báo đăng, tòa soạn nhận được nhiều ý kiến phản hồi của các đại biểu Quốc hội (ĐBQH), nhà khoa học, nhà quản lý, chuyên gia, cán bộ quân đội và đông đảo bạn đọc.

Công nghệ 4.0 và những điều bạn cần biết

 

Công nghệ 4.0 là gì ? Industrie 4.0 hay còn gọi là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là một trong những chủ đề được thảo luận nhiều nhất hiện nay. Vẫn còn nhiều sự nhầm lẫn xung quanh Công nghiệp 4.0. Hôm nay chúng ta sẽ khám phá các công nghệ chính đằng sau Cách mạng Công nghiệp 4.0, cũng như các ứng dụng của nó trong thế giới thực.

Cách mạng Công nghiệp 4.0 (hay Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư) là sự ra đời của một loạt các công nghệ mới, kết hợp tất cả các kiến thức trong lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số, sinh học, và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, nền kinh tế, các ngành kinh tế và ngành công nghiệp.


Trung tâm đến cuộc cách mạng này đang nổi lên những đột phá công nghệ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI) , robot, Internet vạn vật (IoT), Công nghệ sinh học, xe tự lái, công nghệ in 3D, và công nghệ nano.

Trong đó, những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn vật kết nối – Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data).

Trong lĩnh vực công nghệ sinh học, cách mạng công nghiệp 4.0 tập trung nghiên cứu để tạo ra những đột phá trong nông nghiệp, thuỷ sản, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng hoá tái tạo, hoá học và vật liệu.

Nếu như Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Cách mạng công nghệ 4.0 tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra các nhà máy thông minh, sự phát triển của internet vạn vật giúp tạo ra bản sao ảo của thế giới vật lý, cho phép mọi người ở khắp nơi trên thế giới kết nối với nhau thông qua mạng internet dịch vụ qua các thiết bị di động ở mọi lúc, mọi nơi.

Công nghiệp 4.0 thúc đẩy chuyển đổi kỹ thuật số của sản xuất thông qua việc tích hợp các hệ thống và quy trình khác nhau trước đây thông qua các hệ thống máy tính được kết nối với nhau qua chuỗi cung ứng và giá trị. Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang báo hiệu một sự thay đổi trong bối cảnh sản xuất truyền thống bao gồm ba xu hướng công nghệ thúc đẩy sự chuyển đổi này: kết nối, thông minh và tự động hóa linh hoạt .

Có thể mở ra kỷ nguyên mới của đầu tư, giúp quá trình sản xuất nhanh hơn, tốn ít sức người, năng suất và chất lượng cuộc sống của con người được tăng cao: Việc áp dụng sự tiến bộ của khoa học, kĩ thuật, máy móc vào trong cuộc sống, trong việc sản xuất giúp cho năng suất lao động được tăng cao từ đó cải thiện được cuộc sống của con người. Đối với các nhà đầu tư thì công nghệ 4.0 sẽ mở ra cơ hội thu được mức lợi nhuận khổng lồ tương tự như các cuộc cách mạng trước đem lại.

Tuy nhiên, nhiều lao động sẽ mất việc làm do bị máy móc thay thế. Các doanh nghiệp cũng gặp khó khăn trong việc tuyển dụng nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của công việc. Điều này có thể dẫn tới sự bất bình đẳng, thậm chí là phá vỡ thị trường lao động. Ngoài ra, cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi. Muốn tồn tại và phát triển, họ phải đầu tư và nâng cấp công nghệ, cùng lúc nâng cao chất lượng nhân sự.

Cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm thay đổi tương lai của hầu hết các ngành nghề

Phần mềm:

Sẽ tạo ra bước đột phá trong hầu hết các ngành công nghiệp truyền thống trong tương lai. Để minh chứng cho điều này thì có thể kể đến Grab. Với việc áp dụng công cụ phần mềm đã giúp cho Grab trở thành một trong những hãng taxi lớn trên thế giới, dần thay thế vị trí của các hãng taxi truyền thống trước kia.

Trong lĩnh vực Y tế:

Cỗ máy IBM Watson có biệt danh “Bác sỹ biết tuốt” có thể lướt duyệt cùng lúc hàng triệu hồ sơ bệnh án để cung cấp cho các bác sĩ những lựa chọn điều trị dựa trên bằng chứng chỉ trong vòng vài giây nhờ khả năng tổng hợp dữ liệu khổng lồ và tốc độ xử lý mạnh mẽ. “Bác sĩ biết tuốt” này còn cho phép con người tra thông tin về tình hình sức khỏe của mình. Các bác sĩ chỉ cần nhập dữ liệu người bệnh để được phân tích, so sánh với kho dữ liệu khổng lồ có sẵn và đưa ra gợi ý hướng điều trị chính xác. Đầu năm nay, một số bệnh viện tại TP HCM và Hà Nội đã thực hiện ca mổ với sự hỗ trợ của robot. Với bốn cánh tay, đầu camera thông minh, góc phẫu thuật rộng 540 độ, hình ảnh 3D, robot có thể phẫu thuật ở những vị trí khó, hỗ trợ các bác sĩ tiến hành ca mổ với sự xâm lấn tối thiểu và độ chính xác, hiệu quả an toàn hơn, giúp bệnh nhân ít mất máu, ít đau, giảm nguy cơ tai biến và mau hồi phục.

Sản xuất: Tạo ra các nhà máy thông minh:

Máy móc có thể nói chuyện với nhau: Giống như một cái gì đó từ một bộ phim khoa học viễn tưởng đầu những năm 2000, máy móc đang nói chuyện với nhau !!! Tuy nhiên, thay vì âm mưu hủy diệt loài người, họ đang giúp tiết kiệm thời gian, cắt giảm chất thải và tiết kiệm tiền. Tất cả là nhờ vào Internet of Things (IOT), kết nối các thiết bị này với các thiết bị khác, cho phép các thiết bị làm việc thông minh và có tính liên kết với nhau. Nó mở rộng khối lượng công việc mà một thiết bị có thể làm nhiều hơn so với  đó là một sản phẩm độc lập không có kết nối.

Trong một nhà máy thông minh, kiểm soát sản xuất là tuyệt đối. Việc tích hợp thông tin kỹ thuật số cung cấp quyền truy cập thời gian thực vào dữ liệu, sẽ được chọn cho từng dòng, sở thích hoặc hồ sơ người dùng để chúng có liên quan đến doanh nghiệp.

Ngành nông nghiệp 4.0:

Một trang trại kỹ thuật số hiệu quả và bền vững hơn so với các trang trại trước đây. Trong một trang trại thông minh, kỹ thuật số, cây trồng có thể được trồng bằng nông nghiệp chính xác, máy kéo có thể tự lái, thu hoạch có thể được xác định bằng hình ảnh kỹ thuật số của các cánh đồng và nông dân thường làm việc với một nhà công nghệ để được cung cấp bí quyết . Ở Tennessee, chủ sở hữu của một trang trại đang thay đổi cách họ trồng rau theo những cách ấn tượng. Máy bay không người lái, hình ảnh vệ tinh và canh tác chính xác là một phần của công nghệ đang được sử dụng để cải thiện chi phí, năng suất

Qua bài viết trên hy vọng đã giúp các bạn hiểu khái niệm cơ bản Công nghệ 4.0 là gì và ứng dụng của Công nghệ 4.0 trong thực tế. Bạn có thể theo dõi trang page của ITG để cập nhật những xu hướng ứng dụng công nghệ 4.0 nổi bật ở Việt Nam và trên thế giới./.

Không để mắc mưu những kẻ dân chủ rởm

 

Những ngày gần đây, trước tình hình rối loạn ở Myanmar, một số phần tử tự xưng là “nhà dân chủ” trên mạng xã hội đã tung ra nhiều thông tin lôi kéo, kích động, nhắm vào giới trẻ Việt Nam. Họ ca tụng những người trẻ tuổi xuống đường biểu tình ở Myanmar với danh xưng mỹ miều như những “anh hùng trẻ tuổi”... Tuy nhiên luận điệu tung hứng đó không lôi kéo được những người Việt Nam có nhận thức đúng đắn.

Sự thật về cái gọi là “kênh truyền hình CHTV” và "nhà báo Lê Dũng vô va"

 

Thời gian qua, trên các trang mạng xã hội Facebook, Youtube thường xuyên xuất hiện cái gọi là “Đài truyền hình CHTV” với hàng loạt video clip, livestream xuyên tạc tình hình đất nước, nói xấu chế độ, bôi nhọ chính quyền. “CHTV” hoàn toàn không phải là một kênh truyền hình, mà chỉ là trang cá nhân do Lê Văn Dũng (Dũng Vova) cùng đồng bọn lập ra để trục lợi và chống phá Đảng, Nhà nước.

Cảnh giác với " Cách mạng màu trước thềm bầu cử bầu cử Quốc hội khoá XV và hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2021-2026

 

 Cách mạng màu là cụm từ để chỉ những phong trào chính trị trong một số quốc gia thuộc Liên Xô cũ hay thuộc vùng Balkan trong những năm đầu thập niên 2000, lấy tên 1 màu sắc hay 1 cây cối, bông hoa tiêu biểu. Trong những cuộc cách mạng này, những người tham gia đã đấu tranh bất bạo động để đối phó với các chính quyền mà họ xem là tham ô hay độc đoán. Các cuộc cách mạng màu nổi bật với sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ (NGO) và các nhà hoạt động sinh viên trong việc tổ chức các cuộc đấu tranh bất bạo động.

Điển hình trong các cuộc cách mạng màu là Cách mạng 5 tháng 10 ở  Serbia (2000), Cách mạng Hoa hồng ở  Gruzia (2003), Cách mạng Cam ở  Ukraina (2004), và Cách mạng Hoa Tulip ở  Kyrgyzstan (2005). Trong mỗi lần, nhiều người đã xuống đường biểu tình sau các cuộc bầu cử gây tranh cãi. Nếu thành công, nó sẽ dẫn đến sự lật đổ chính phủ hay từ chức của những lãnh đạo bị họ xem là độc đoán.

Từ này cũng được dùng cho một số cuộc cách mạng ở những nơi khác bao gồm vùng Trung Đông như cuộc cách mạng cây tuyết tùng 2005 tại Liban, cách mạng xanh 2005 tại Kuwait, Phong trào phản đối Luật Dẫn độ Hong Kong 2019.

 Như vậy có thể khảng định “Cách mạng màu” là chiến lược nguy hiểm của các thế lực thù địch chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung vào lật đổ chính quyền đương nhiệm, chuyển hoá chế độ xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Trước thềm bầu cử bầu cử Quốc hội khoá XV và hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2021-2026, chúng ta cần cảnh giác nhận diện để triệt tiêu những điều kiện, thời cơ xảy ra “Cách mạng màu” ở nước ta hiện nay.               

Có thể hiểu, bản chất của “Cách mạng màu” là phương thức giành chính quyền bằng biểu tình; thực chất, là cuộc đảo chính chính trị nhằm lật đổ chính quyền không thân phương Tây thông qua các chiến dịch tuyên truyền, đề cao  dân chủ và “giá trị dân chủ” tư sản. Vốn là một học thuyết của các học giải phương Tây, đứng đầu là Mỹ đã được áp dụng để chống phá thành công nhiều nước trên thế giới, “Cách mạng màu” thường tiến hành theo một quy trình nhất định.

Theo đó, các thế lực thù địch và tay sai sử dụng tiền thông qua các quỹ tư nhân, các tổ chức từ thiện để hình thành và phát triển các phe phái đối lập tại các nước sở tại. Sau đó, tiến hành lựa chọn và nuôi dưỡng các thủ lĩnh đối lập được Mỹ và phương Tây chấp thuận nhằm mục đích liên kết, tập hợp các lực lượng đối lập vốn manh mún, phân tán xung quanh một ứng cử viên thống nhất; Cử đặc phái viên tới các nước sở tại để tổ chức các phong trào vận động, hỗ trợ cho hoạt động chống đối. Trước ngày bỏ phiếu (hoặc diễn ra các sự kiện quan trọng của đất nước như: Bầu nhân sự cấp cao trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước), phe đối lập tuyên bố chính quyền có gian lận để tạo nghi ngờ, ám thị, tác động đến niềm tin trong quần chúng nhân dân.

Trong thời gian bầu cử, lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng để tổ chức tuyên truyền về một cuộc bầu cử không khách quan, tiến hành thăm dò dư luận tại các điểm bầu cử với phần thắng luôn nghiêng về ứng cử viên đối lập nhằm củng cố thêm nghi ngờ chính quyền trong công chúng. Khi ứng cử viên thất cử, hô hào quần chúng biểu tình, gây sức ép, đe dọa buộc chính quyền sở tại ủng hộ phe đối lập, đưa ứng cử viên đối lập lên nắm quyền. Có thể khẳng định rằng, dân chủ, nhân quyền, tự do đều là các quyền thiêng liêng, cao quí của mỗi con người, mỗi dân tộc. Trong đó, các quốc gia, dân tộc được tự nguyện lựa chọn phạm vi ảnh hưởng các quyền trên mà không có bất cứ sự áp đặt hay ràng buộc nào khác. Đó là dân chủ tự nhiên, là quyền bất khả xâm phạm mà thế giới hiện đại trong những năm qua đã mặc nhiên thừa nhận. Mỹ và tay sai của chúng cho rằng như thế là mất tự do, dân chủ, nhân quyền và tự cho mình cái sứ mệnh cao cả là áp đặt các quyền đó theo các giá trị của Mỹ mà không tham khảo, hỏi ý kiến quốc gia chủ quản, làm như vậy là duy ý chí, phản khoa học, phi dân chủ. “Áp đặt” và “dân chủ” là hai khái niệm hoàn toàn đối nghịch nhau, và khi đã áp đặt thì đừng nói đến dân chủ, và ngược lại đã là dân chủ thì không bao giờ có áp đặt.

Đối với Nhân dân Việt Nam, tất cả chúng ta đang rất hạnh phúc với các quyền cũng như nghĩa vụ mà chế độ, Nhà nước xã hội chủ nghĩa mang lại cho dân tộc. Toàn thể nhân dân ta không cần một cuộc cách mạng nào khác ngoài Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ, họ nhận thức sâu sắc rằng “cách mạng màu” là các cuộc cách mạng do các thế lực thù địch dựng lên với các tên đẹp đẽ của một viễn cảnh tương lai “tươi sáng” được vẽ ra, nhưng hậu quả từ thực tế thì đã hiện hữu rõ về một kết cục không mấy tốt đẹp như ở nhiều nước (như ở Bắc Phi, Trung Đông gần đây). Vì vậy, trước mắt cũng như trong tương lai, toàn dân, toàn quân ta luôn tin tưởng tuyệt đối vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhân dân Việt Nam cùng với nhân dân thế giới tiến bộ để tỉnh táo hơn, không mắc mưu sâu, kế hiểm của kẻ thù, lên án, kiên quyết tẩy chay, đập tan cái gọi là “cách mạng màu” của kẻ thù./.


NGUYỄN THUÝ HẠNH VÀ NGUYÊN NHÂN BỊ BẮT

 

        Ngày 7/4/2021, Cơ quan ANĐT Công an TP Hà Nội đã thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam, Lệnh khám xét đối với bị can Nguyễn Thúy Hạnh, sinh năm 1963, HKTT, chỗ ở: Căn hộ 0412A, toàn R6, số 72A, Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội về tội Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hiện vụ án đang được Cơ quan An ninh điều tra – Công an TP Hà Nội tiếp tục điều tra làm rõ.


          Nguyễn Thuý Hạnh Sinh năm 1963, nguyên quán tại thôn Vĩnh Lại, xã Cẩm Đông, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; Địa chỉ thường trú tại căn hộ 12A, tầng 4, toà nhà R6 chung cư cao cấp Royal City, Thanh Xuân, Hà Nội. Từng là cán bộ nhà nước nhưng Nguyễn Thuý Hạnh lại bị lôi kéo, cuốn theo làn gió độc bởi những tư tưởng cực đoan chống đối của nhóm Nguyễn Quang A, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Tường Thuỵ.

          Từ năm 2011, Nguyễn Thuý Hạnh bị dụ dỗ, lôi kéo bởi những kẻ được các thế lực thù địch phản động huấn luyện, những kẻ có mưu đồ lật đổ chính quyền Việt Nam bằng các cuộc biểu tình đường phố. Từ đó, Nguyễn Thị Hạnh bước vào con đường lầm lạc, tự phong là nhà đấu trung dân chủ ở nước ta, trở thành thành viên tích cực của các hội, nhóm chống đối: Nhóm No-U, Hội bầu bí tương thân, Green Trees, Hội những người cầm bút can đảm,…; trực tiếp điều hành kích động các đối tượng hoạt động chống đối tham gia tụ tập biểu tình, tích cực vận động, kêu gọi tiền tài trợ đòi thả tự do cho số đối tượng chống đối đang bị bắt, tạm giam và bị xử lý. Bản thân Nguyễn Thuý Hạnh cũng từng ba lần bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng vào các năm 2012, 2014, 2015.

          Thời gian qua, Nguyễn Thuý Hạnh cùng các đối tượng tự phong là nhà đấu tranh dân chủ triệt để lợi dụng mạng xã hội là kênh thông tin xuyên tạc tình hình liên quan đến việc xử lý các đối tượng chống đối trong nước mà chúng gọi là tù nhân lương tâm để liên kết, móc nối với các tổ chức nhân quyền quốc tế như tổ chức theo dõi nhân quyền, tổ chức ân xá quốc tế nhằm gây áp lực đối với Việt Nam. Các hoạt động liên quan đến nhân quyền tại Việt Nam được các đối tượng này đặc biệt coi trọng và coi là mũi nhọn trong hoạt động tìm kiếm nguồn tài chính để chống phá nước ta.

          Và chính thị ta là kẻ chủ mưu thành lập “Quỹ 50k”. Hoạt động của “Quỹ 50k” chính là nhằm cổ vũ cho phong trào của các đối tượng chống đối tự phong là những nhà đấu tranh dân chủ.

          Vì thế, thị ta đã bị bắt. Việc này đã được dự báo từ trước, không thể khác được.

Những thách thức đối với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng hiện nay

 

Nhìn lại tiến trình phát triển nhận thức cũng như hoạt động mà các quốc gia đã triển khai nhằm bảo vệ chủ quyền của mình trên không gian mạng, có thể thấy một số thách thức cơ bản như sau:

Thứ nhất, những thách thức do thiếu cơ sở pháp lý cũng như các cơ chế hợp tác quốc tế để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Thế giới đã đi đến nhiều đồng thuận trong việc cần phải bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng nhưng vẫn chưa đi đến thống nhất để có thể xây dựng, thiết lập các nguyên tắc pháp lý mang tính quốc tế đối với các hoạt động này. Năm 2011, Nga đưa ra sáng kiến về việc Liên Hợp quốc nên xây dựng công ước về bảo đảm an ninh thông tin quốc tế trong đó đề cập đến các tiêu chuẩn điều phối hoạt động trên internet, trong đó có các hoạt động liên quan đến chủ nghĩa khủng bố, hình sự, chính trị và quân sự. Tuy nhiên, sáng kiến này của Nga không được các quốc gia chấp thuận. Đến năm 2015, một nỗ lực để đạt được các thỏa thuận quốc tế nhằm xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng tiếp tục được đưa ra. Các chuyên gia của Liên Hợp quốc đã đi đến một thỏa thuận với bốn nguyên tắc nhằm bảo đảm hòa bình trong không gian mạng. Tuy nhiên, các quốc gia như Nga và Trung Quốc lại có những cách tiếp cận khác nhau đối với việc xây dựng các quy chuẩn chung này. Cho đến nay, thế giới mới chỉ có các thỏa thuận riêng lẻ giữa các quốc gia trong từng khu vực liên quan đến đảm bảo an ninh mạng mà chưa có các quy chuẩn pháp lý mang tính quốc tế để điều chỉnh các hoạt động trên lĩnh vực này. Liên minh châu Âu có Công ước Budapest năm 2001 nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý chung cho các quốc gia châu Âu trong công tác phòng chống tội phạm mạng. Đến nay công ước đã được đàm phán và mở rộng cho các quốc gia thành viên ở châu Á như: Nhật Bản, Philippines. Tuy nhiên, Nga, Trung Quốc và Brasil lại cho rằng để công ước này trở thành công ước chung cho toàn thế giới cần phải đàm phán để xây dựng lại công ước này bởi bản thân công ước được xây dựng dựa trên những đặc thù của khu vực nên không phản ánh hết các điều kiện và nhu cầu của tất cả các quốc gia trên thế giới. Việc thiếu cơ sở pháp lý mang tính quốc tế khiến cho việc thực hiện các hoạt động bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng của quốc gia gặp nhiều khó khăn, cũng như các hoạt động hợp tác, phối hợp trong bảo vệ chủ quyền của các quốc gia sẽ không được thúc đẩy trên thực tế.

Thứ hai, liên quan đến năng lực thực thi của các quốc gia. Việc triển khai các hoạt động phòng, chống các cuộc tấn công trên không gian mạng, ngăn chặn tin tặc hay tội phạm công nghệ cao luôn gặp phải những giới hạn liên quan đến nguồn lực như năng lực thực thi của các cơ quan công quyền, hạn chế trong hệ thống hạ tầng công nghệ. Pháp luật của các quốc gia đôi khi lạc hậu hơn so với sự phát triển và thay đổi nhanh chóng của các hoạt động tội phạm dựa trên công nghệ số. Chính vì thế mà nhiều quốc gia như Trung Quốc đã thiết lập không gian mạng riêng đáp ứng nhu cầu sử dụng mạng của người dân nước mình. Tại nước ta, nhiều người cũng đặt ra câu hỏi là: liệu Việt Nam có nên thiết lập một hệ thống mạng riêng cho người Việt giống như những gì mà Trung Quốc đang thực hiện? Tuy nhiên cần phải thấy rằng, việc làm này đi ngược lại với tinh thần và nền tảng của cuộc cách mạng công nghệ số là kết nối vạn vật, không giới hạn không gian và thời gian. Điều đó chỉ chứng tỏ sự hạn chế hay sự bất lực của nhà nước trong việc kiểm soát các hoạt động trên không gian mạng. Phương án này cũng được cho là bất khả thi với các quốc gia có dân số không quá lớn. Do đó, các quốc gia cần phải tìm ra các phương thức hoàn hảo hơn trong việc quản lý và kiểm soát các hoạt động trên không gian mạng nhằm bảo vệ hòa bình, ổn định, bảo đảm các quyền cơ bản của con người mà không làm mất đi đặc tính ưu việt của công nghệ là kết nối vạn vật.

Thứ ba, thách thức trong việc xác định ranh giới giữa hoạt động bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng với các hoạt động được coi là vi phạm quyền tự do cơ bản của con người. Rõ ràng, để bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia thì các loại hoạt động tội phạm mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng... là các hoạt động bị cấm. Tuy nhiên, một thách thức đặt ra cho các cơ quan chức năng là, làm thế nào để xác định đâu là các hoạt động mạng gây thiệt hại cho an ninh quốc gia, trật tự công cộng, an toàn tài sản và tính mạng của người dân. Vẫn có những hoạt động đứng giữa lằn ranh của hai thái cực và những xung đột giữa việc bảo vệ quyền kiểm soát của chính phủ với việc bảo vệ các quyền tự do cơ bản của người dân. Chính phủ Pháp đã từng có nhiều nỗ lực nhằm ngăn chặn các cá nhân tìm cách tải các phim hay nhạc bất hợp pháp trên internet nhưng lại gặp phải sự phản đối của người dân và điều này chỉ được thông qua gần đây sau những sự phản đối của các ca sĩ. Hay việc Liên minh châu Âu “yêu cầu tất cả các nhà cung cấp dịch vụ internet lưu giữ thông tin về lưu lượng email, truy cập vào các trang web và các cuộc gọi điện thoại qua internet trong 12 tháng”. Yêu cầu này đã dẫn đến những phản ứng của một số nhóm./.



Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong sinh viên Việt Nam hiện nay

 

Những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” về tư tưởng, văn hóa đối với sinh viên thời gian vừa qua là tập trung vào một số vấn đề như: thâm nhập vào tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên nhằm phá vỡ các tổ chức này; đưa các xuất bản phẩm đồi trụy, phản động vào đời sống tinh thần của sinh viên; lợi dụng tín ngưỡng, mê tín dị đoan để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” về tư tưởng, văn hóa. Nhiều đối tượng đã len lỏi vào các ký túc xá sinh viên, giảng đường, đến các hội thảo khoa học, thông qua internet... lôi kéo, kích động, nhằm tạo sự bất ổn về chính trị tư tưởng, làm cơ sở cho những vụ gây rối trật tự an ninh trong đời sống sinh viên và trong xã hội thời gian qua. Hơn nữa, nếu như trước kia, các thế lực thù địch lợi dụng các hình thức chống phá truyền thống như tuyên truyền “rỉ tai” với mục đích “mưa dầm thấm lâu” bằng tờ rơi, báo chí, phát thanh... thì ngày nay, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng mạng xã hội để tấn công vào thanh niên. Chúng ra sức đăng tải các bài viết, blog, hình ảnh, clip... trên mạng xã hội để đưa các thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống.

Những nội dung mà các thế lực thù địch thường xuyên hướng đến sinh viên là:

Thứ nhất, lấy sự thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu làm cái cớ để xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhằm làm lung lạc tinh thần, lung lay ý chí, khiến cho thanh niên, sinh viên hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, từ đó phai nhạt lý tưởng, mất mục tiêu phấn đấu.

Thứ hai, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tuy có những thành công trong lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc song hiện tại đã mất đi vai trò lãnh đạo của mình bởi lẽ việc lựa chọn phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là một sự “kéo lùi lịch sử”; “tránh chỗ sáng tìm chỗ tối”, “không tuân theo quy luật khách quan”... Sự phủ nhận trắng trợn đó nhằm làm phai nhạt lý tưởng của thanh niên, phai nhạt lòng trung thành với Đảng và không còn mục tiêu phấn đấu đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Thứ ba, “bôi nhọ”, “hạ bệ” các đồng chí lãnh đạo của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Các thế lực thù địch đã lợi dụng những hạn chế, thiếu sót, tha hóa của một số cán bộ lãnh đạo để quy chụp công tác cán bộ của Đảng. Chúng còn cho rằng việc Đảng ta đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua chỉ là “che mắt thế gian”... Điều đó nhằm khiến cho thanh niên mất niềm tin vào Đảng, vào các cán bộ lãnh đạo của Đảng, từ đó hoài nghi, dao động về lập trường tư tưởng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thứ tư, thổi phồng những thành tựu của chủ nghĩa tư bản hiện đại, tuyên truyền, cổ xúy lối sống phương Tây với những biểu hiện thực dụng, coi trọng các giá trị vật chất, lối sống cá nhân, vị kỷ... lôi kéo, mua chuộc nhằm làm cho sinh viên quên những giá trị truyền thống tốt đẹp, có biểu hiện sính ngoại, sẵn sàng vì lợi ích cá nhân trước mắt mà đánh đổi lợi ích, sự nghiệp lâu dài.

Với những chiêu bài tinh vi đó của các thế lực thù địch, có sinh viên do còn mơ hồ về chính trị, thiếu kinh nghiệm sống nên bị mắc mưu. Ở một số địa phương, một số sinh viên đã bị các phần tử phản động lôi kéo, tham gia biểu tình chống chính quyền. Trong những ngày chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, một số sinh viên bị kích động đã lập các blog cá nhân đăng tải nội dung cổ xúy cho các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, từ đó có các bình luận xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội... Cũng có sinh viên bị các phần tử phản động lôi kéo trên mạng xã hội bằng cách tham gia bình luận, chia sẻ các bài viết nói xấu, xuyên tạc, bóp méo sự thật về Đảng, Nhà nước và nhân dân ta... Điều đó khiến cho tình hình chính trị, tư tưởng của sinh viên trở nên rất phức tạp, khó kiểm soát, khó nắm bắt. Đây là một thách thức không nhỏ đối với công tác tư tưởng, văn hóa, rèn luyện, giáo dục./.


Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội tham gia thực hiện công tác tôn giáo

 

Quân đội ta là quân đội kiểu mới, quân đội của dân, do dân và vì dân; thực hiện đồng thời 3 nhiệm vụ là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Những năm qua, quán triệt quan điểm của Đảng, chỉ thị của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, từng đơn vị và cá nhân mỗi cán bộ, chiến sĩ đã nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về công tác tôn giáo của Đảng và vai trò, trách nhiệm trong tham gia thực hiện công tác này, nhất là trong đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng.

Cán bộ, chiến sĩ cơ bản nhận thức đúng về vấn đề tôn giáo, phân biệt rõ các hoạt động tôn giáo thuần túy, với những thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để thực hiện mục đích chính trị phản động của các thế lực thù địch. Phân biệt đư¬ợc những hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước với hoạt động tôn giáo trái pháp luật. Nhờ đó, nhiều đơn vị đã tham gia có hiệu quả công tác đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, các đơn vị quân đội cũng đã thực hiện tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận động chức sắc, tín đồ, người có uy tín trong các tôn giáo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia hỗ trợ đồng bào các tôn giáo phát triển kinh tế; xóa đói, giảm nghèo; nâng cao dân trí; khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh; xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; giúp đỡ đồng bào phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, v.v..


Các hình thức tham gia công tác tôn giáo của Quân đội khá phong phú, mang lại hiệu quả thiết thực. Trong đó, nổi bật là việc thực hiện các phong trào: “Hành quân dã ngoại làm công tác dân vận”; giúp đồng bào các tôn giáo phát triển kinh tế hộ gia đình,“Xóa một hộ đói, giảm một hộ nghèo”; “Cảnh sát biển với đồng bào dân tộc, tôn giáo”; “Gắn kết yêu thương, giữa lương và giáo”,v.v.. Cùng với đó, các đơn vị quân đội còn thực hiện tốt công tác quản lý, rèn luyện, giáo dục, bồi dưỡng quân nhân theo các tôn giáo thực hiện nghiêm điều lệnh quản lý bộ đội; tạo điều kiện cho quân nhân theo các tôn giáo phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị... Những hoạt động nêu trên đã góp phần tạo sự đồng thuận, niềm tin của các chức sắc, tín đồ và nhân dân theo các tôn giáo vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào có tôn giáo; tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở. Đồng thời, làm cho quần chúng nhân dân hiểu rõ và nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng nước ta.

Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, việc phát huy vai trò của quân đội trong tham gia thực hiện công tác tôn giáo của Đảng còn tồn tại những hạn chế nhất định. Trong đó, nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế đó là chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện công tác này còn chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ và thực tiễn sự vận động, biến đổi của tình hình thực tiễn, chư¬a thư¬ờng xuyên, thậm chí còn có nhận thức xem nhẹ, hoặc chư¬a chú trọng đến các nội dung cụ thể. Chính điều này đã dẫn đến còn tình trạng một số cán bộ, chiến sĩ nhận thức chư¬a đầy đủ, thiếu kiến thức cần thiết về tôn giáo và công tác tôn giáo nên hiệu quả tham gia công tác vận động đồng bào có tôn giáo còn có những hạn chế nhất định; cá biệt còn có biểu hiện mất cảnh giác, cứng nhắc, hoặc giản đơn.

Dự báo trong những năm tới, tình hình tôn giáo trên thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, các hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện và được truyền bá nhanh chóng, nhất là việc ứng dụng công nghệ thông tin để đẩy mạnh việc phát triển tín đồ. Ở trong nước, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng đất nước, tiềm ẩn những yếu tố khó lường, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Những vấn đề nêu trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện công tác tôn giáo của Đảng nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình tham gia thực hiện./.

Cảnh giác với những kẻ lật sử, bài học lịch sử luôn nhãn tiền!

             Cách mạng Tháng Mười như một cơn địa chấn của thế kỷ 20, không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới đối với nước Nga mà còn cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của giai cấp công nhân các nước, chỉ ra cho họ con đường đi tới thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ cũ, xây dựng chế độ mới tốt đẹp hơn. Đánh giá về giá trị và ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.

Thế nhưng, A.Yakovlev, Trưởng ban Tuyên huấn Đảng Cộng sản Liên Xô, sau này hiện nguyên hình là kẻ chống chủ nghĩa xã hội, chống Chủ nghĩa Mác-Lênin từng tuyên bố: Cách mạng Tháng Mười là “sai lầm lịch sử”. Hay những người theo "thuyết âm mưu" như A.Yakovlev thông qua lật sử Cách mạng Tháng Mười hòng phủ nhận các giá trị, thành quả của cuộc cách mạng, tiến tới xóa bỏ Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng không coi Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng thực sự mà là “vụ cướp chính quyền”, “cuộc cách mạng mạo danh”, “là sự chệch hướng lịch sử”... 

Từ việc coi Cách mạng Tháng Mười là “sai lầm lịch sử” chúng phủ nhận những giá trị nhân văn, tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, đánh đồng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu với sự thất bại của Chủ nghĩa Mác-Lênin và rêu rao cuộc cách mạng đó là “đẻ non”, “đã chết” và chủ nghĩa xã hội đã đến “hồi kết thúc”...

Như vậy, bản chất sự xuyên tạc của những kẻ lật sử ấy không chỉ nhắm vào xuyên tạc một sự kiện lịch sử cụ thể, mà sâu xa hơn là qua đó phủ nhận học thuyết Mác-Lênin, phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa, hướng lái các quốc gia, dân tộc đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Tuy nhiên, những luận điệu bóp méo, xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc giá trị của cuộc cách mạng vĩ đại với mưu đồ đen tối, không thể dễ dàng làm lung lạc dư luận, càng không bao giờ làm đảo lộn xu hướng phát triển tất yếu của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Quay lưng lại quá khứ và bôi nhọ các giá trị truyền thống cũng chính là hành động phá hoại tương lai.

Một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra là: “Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”. Chính vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao trách nhiệm, cảnh giác, hết sức tỉnh táo để phát hiện, ngăn chặn những luận điệu, thủ đoạn xuyên tạc lịch sử, thông qua lật sử hòng phủ nhận các giá trị và thành quả cách mạng, tiến tới xóa bỏ Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa. Bài học lịch sử luôn nhãn tiền.


MAI NĂM MỚI

Xuyên tạc hoạt động của Quốc hội - Đòn vô vọng của những kẻ có mưu đồ đen tối

Trước Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XIV, các thế lực thù địch và những kẻ thiếu thiện chí tập trung chống phá, xuyên tạc về hoạt động của Quốc hội ta. Họ cho rằng, Quốc hội ta hoạt động không dân chủ, Quốc hội không có vai trò thực chất(!) Nhưng thực tế, hiệu quả hoạt động và sự quan tâm đặc biệt của xã hội đối với hoạt động của Quốc hội những năm qua đã vạch trần các luận điệu xuyên tạc nói trên. Các luận điệu đó, chỉ là đòn vô vọng của những kẻ có mưu đồ đen tối nhằm chống phá cách mạng nước ta. . Quốc hội-Nơi gặp gỡ của “ý Đảng, lòng dân” Mỗi quốc gia đều có một chế độ chính trị phù hợp với lịch sử, văn hóa và điều kiện kinh tế-xã hội của mình. Chế độ chính trị mà toàn thể dân tộc Việt Nam đang đồng lòng, nỗ lực xây dựng là chế độ chính trị pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, hướng tới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây là vấn đề cốt lõi, hết sức rõ ràng của chế độ chính trị nước ta. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được quy định rõ trong Hiến pháp của Việt Nam, mà mới nhất là Hiến pháp năm 2013 (Điều 4 của Hiến pháp năm 2013), phù hợp với ý chí của toàn dân tộc, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Trước khi được thông qua, dự thảo Hiến pháp năm 2013 đã được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi toàn dân, bằng nhiều hình thức phong phú, cả ở trong nước và ở nước ngoài. Kết quả lấy ý kiến cho thấy, đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, người dân đều đồng tình như dự thảo Hiến pháp và cho rằng mục tiêu, lý tưởng của Đảng không có gì khác hơn là lợi ích của dân tộc, đất nước và nhân dân. Hiến pháp năm 2013 cũng quy định rõ: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”. Quốc hội do nhân dân bầu ra, là cơ quan nhà nước cao nhất thực hiện quyền lực của nhân dân. Chỉ Quốc hội mới có quyền thể chế ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành Hiến pháp và pháp luật, thành các quy định chung mang tính chất bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi tầng lớp trong xã hội. Hiến pháp đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Điều này không hề làm mất đi vai trò của Quốc hội. Bởi quyền lực nhà nước ở nước ta là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nhưng đó là sự lãnh đạo có nguyên tắc và theo quy định. “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013). Như vậy, mối quan hệ giữa Đảng và Quốc hội vẫn là mối quan hệ biện chứng, hai chiều, nghĩa là Đảng lãnh đạo hoạt động của Quốc hội, nhưng sự lãnh đạo đó vẫn phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, không thể đứng trên, đứng ngoài Hiến pháp và pháp luật đã được Quốc hội thông qua. Đảng lãnh đạo nhưng luôn tôn trọng và phát huy vai trò của Quốc hội, không áp đặt, không làm thay, mà định hướng nội dung và phương thức hoạt động của Quốc hội. Đảng lãnh đạo, chứ Đảng không điều hành công việc của Quốc hội. Nơi nhân dân gửi gắm niềm tin Có thể thấy, kể từ khi ra đời tới nay, Quốc hội ta đã hoàn thành xuất sắc vai trò, sứ mệnh của mình đối với đất nước, với dân tộc. Trong những năm gần đây, hoạt động của Quốc hội ngày càng đổi mới, ngày càng thể hiện rõ tính dân chủ và hiệu quả ngày càng được nâng cao. Tất cả các vấn đề lớn thuộc mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế-xã hội, văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,... của đất nước đều được Quốc hội thảo luận và quyết nghị. Với tính chất Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN, vì vậy, tất cả chủ trương, đường lối của Đảng muốn đi vào đời sống, để toàn dân nghiêm túc thực hiện thì đều phải được thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật. Vai trò quan trọng của Quốc hội thể hiện qua việc các chương trình, kế hoạch quan trọng là “xương sống” hoạt động của Nhà nước như kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước hằng năm, các kế hoạch đầu tư công... phải được Quốc hội thông qua mới có thể triển khai thực hiện. Công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội được thực hiện theo những quy trình rất chặt chẽ, bảo đảm tính dân chủ, công khai, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước. Quốc hội làm việc theo chế độ nghị trường và quyết định theo đa số. Các dự án luật muốn trình ra Quốc hội cho ý kiến, xem xét, thông qua thì cơ quan soạn thảo trình Chính phủ cho ý kiến, rồi Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình ra Quốc hội, nếu không đạt phải tiếp tục chỉnh sửa. Khi dự án luật trình ra Quốc hội, cùng với tờ trình của Chính phủ thì phải kèm theo báo cáo thẩm tra của cơ quan thuộc Quốc hội. Sau đó, Quốc hội sẽ cho ý kiến trên tinh thần dân chủ, công khai, theo quy trình thảo luận ở tổ, rồi thảo luận tại hội trường, được cơ quan báo chí truyền thông phản ảnh minh bạch. Để tăng tốc độ xây dựng pháp luật, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thông thường một dự án luật được Quốc hội cho ý kiến và thông qua trong 2 kỳ họp. Tuy nhiên, với những dự án luật quan trọng, nhạy cảm thì Quốc hội có thể xem xét, cho ý kiến trong 3 kỳ họp. Có những dự án luật phải được chỉnh sửa nhiều lần mới hoàn chỉnh để được Quốc hội thông qua. Điều này cho thấy, vai trò lập pháp của Quốc hội là rất rõ ràng, và ý kiến của các đại biểu Quốc hội là rất quan trọng. Không khí dân chủ, cởi mở của Quốc hội, vai trò của các đại biểu Quốc hội càng được thể hiện rõ trong các phiên chất vấn và trả lời chất vấn. Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước. Người được chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trong trường hợp cần thiết, Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho phép trả lời bằng văn bản. Các nội dung bàn về kinh tế-xã hội, và đặc biệt là các phiên chất vấn trong những kỳ họp của Quốc hội khóa XIV ngày càng sôi nổi, được phát thanh-truyền hình trực tiếp, thu hút sự quan tâm theo dõi, đánh giá, góp ý của cử tri và nhân dân cả nước. Việc tranh luận được khuyến khích khiến vấn đề chất vấn được làm rõ ràng hơn, nhất là các mặt hạn chế, trách nhiệm cán bộ và nêu rõ giải pháp. Sau phiên chất vấn, Quốc hội sẽ ra nghị quyết về nội dung này, từ đó có cơ sở để theo dõi vấn đề đã được đặt ra và giám sát lời hứa hẹn của những người trả lời chất vấn. Việc Quốc hội tăng cường hoạt động chất vấn, khiến cho những người giữ các chức danh mà Quốc hội bầu, phê chuẩn luôn phải nỗ lực thể hiện rõ trách nhiệm của mình, không thể lơ là. Một hoạt động cũng thể hiện vai trò, vị thế của Quốc hội, đó là hoạt động lấy phiếu tín nhiệm. Qua 3 lần lấy phiếu tín nhiệm của hai nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII và khóa XIV, hoạt động này đã cho thấy hiệu quả trong việc thúc đẩy những người giữ chức danh được lấy phiếu tín nhiệm phải tìm các giải pháp để nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành bộ, ngành, cơ quan mà mình phụ trách. Vì vậy, có những vị bộ trưởng, trưởng ngành rất buồn khi có nhiều phiếu tín nhiệm thấp, nhưng chính sự đánh giá đó là cơ hội để họ nhìn lại mình, biến thành động lực vươn lên, khắc phục những điểm còn hạn chế, hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn, đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của đất nước. Thực tế, ở lần lấy phiếu tín nhiệm sau, đại đa số các vị bộ trưởng, trưởng ngành nói trên đều có số phiếu tín nhiệm cao hơn hẳn lần trước đó. Các chương trình giám sát của Quốc hội cũng thể hiện rõ hiệu quả. Cùng với những nội dung giám sát thường xuyên như về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước... thời gian qua, Quốc hội đã chọn những vấn đề “nóng” nhất, được cử tri và nhân dân quan tâm nhất để tiến hành giám sát tối cao. Ví dụ, tại Kỳ họp thứ chín vừa qua, Quốc hội đã thực hiện giám sát chuyên đề: “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em” khi trong xã hội xuất hiện những vụ xâm hại trẻ em gây bức xúc dư luận. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, cùng với việc quyết liệt đấu tranh chống tham nhũng, chống tiêu cực trong bộ máy hành chính Nhà nước nói chung, Quốc hội cũng rất quyết liệt chống tiêu cực trong đội ngũ của mình. Quốc hội khóa XIV ghi nhận số đại biểu Quốc hội phải rời vị trí khi chưa hết nhiệm kỳ, có lẽ ở mức độ kỷ lục. Có những trường hợp không được công nhận tư cách đại biểu Quốc hội do vi phạm pháp luật như Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Thị Nguyệt Hường; có những trường hợp bị mất quyền đại biểu Quốc hội vì vi phạm pháp luật, như Đinh La Thăng, Nguyễn Quốc Khánh, Châu Thị Thu Nga; một số trường hợp vì vi phạm kỷ luật Đảng đã bị miễn nhiệm, cho thôi nhiệm vụ đại biểu Quốc hội như Lê Đình Nhường, Võ Kim Cự, Phan Thị Mỹ Thanh, Hồ Văn Năm. Có thể nói, việc gương mẫu xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật của các đại biểu Quốc hội, cho thấy hiệu lực của Quốc hội không chỉ từ vai trò, chức năng theo quy định của Hiến pháp, pháp luật mà còn từ phẩm chất, tư cách và năng lực hoạt động của các đại biểu Quốc hội. Qua các cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau các kỳ họp Quốc hội, đại đa số cử tri và nhân dân đều vui mừng vì hiệu quả hoạt động, uy tín của Quốc hội ngày càng được nâng cao, Quốc hội ngày càng thể hiện tốt vai trò đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Điều đó đã tăng cường niềm tin của cử tri và nhân dân đối với Quốc hội. Mỗi kỳ họp Quốc hội luôn là sự kiện chính trị-xã hội được cử tri và nhân dân đặc biệt quan tâm, theo dõi. Bởi cử tri tin tưởng rằng, những nguyện vọng, ý kiến tâm huyết của mình luôn được Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trân trọng, lắng nghe, bàn thảo nghiêm túc và từ đó cho ra những quyết sách đúng đắn, đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước, nâng cao đời sống nhân dân. Thực tế đó là minh chứng bác bỏ đanh thép đối với những luận điệu của những đối tượng có âm mưu đen tối, cố tình xuyên tạc rằng “Quốc hội không có vai trò thực chất, chỉ quyết nghị theo chỉ đạo của Đảng, chỉ mang tính hình thức, người dân thì quay lưng, ngoảnh mặt với hoạt động của Quốc hội”. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn vì lợi ích của nhân dân, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng luôn vì lợi ích của nhân dân! Điều đó không chỉ đúng và biện chứng về mặt lý luận, mà luôn được chứng minh rõ ràng trong thực tế, không ai có thể phủ nhận! ./.

Âm mưu thủ đoạn chống phá Đảng trong lĩnh vực đạo đức .

Trước thềm Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch, phản động càng ra sức, ráo riết chống phá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có đạo đức. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng trên lĩnh vực đạo đức, qua đó nêu ra một số giải pháp đột phá đấu tranh phòng ngừa có hiệu quả là vấn đề có ý nghĩa quan trọng. “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là trong tình hình hiện nay diễn ra hết sức phức tạp, vẫn là một trong những nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra. Âm mưu, thủ đoạn của chúng thực hiện ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong lĩnh vực đạo đức cũng vậy, tính chất cũng hết sức tinh vi, xảo quyệt và nguy hiểm. Có thể nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng trong lĩnh vực đạo đức, lối sống ở cán bộ, đảng viên trước thềm Đại hội XIII của Đảng trên một số nội dung sau đây: Thứ nhất, các thế lực thù địch bằng nhiều thủ đoạn ra sức phá hoại nền tảng tư tưởng đạo đức của Đảng. Nền tảng tư tưởng đạo đức của Đảng là hệ tư tưởng, bản chất cách mạng và mục tiêu lý tưởng của Đảng. Trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;… Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam”(1). Chính vì vậy, các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc, chống phá. Chúng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Đảng ta, cho rằng Đảng không vì lợi ích của nhân dân, do đó cán bộ, đảng viên mới suy thoái về đạo đức, lối sống, tham ô, tham nhũng, nhũng nhiễu nhân dân. Qua đó, sẽ chệch phương hướng và mục tiêu lý tưởng chiến đấu, phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, trượt sang chính trị tư sản. Thực chất đó là phá bỏ nền tảng đạo đức cách mạng của Đảng. Cần khẳng định rõ nền tảng đạo đức của Đảng là hệ tư tưởng, bản chất, mục tiêu lý tưởng của Đảng. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, nhân dân ta giành được chính quyền, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc, với mục đích duy nhất là giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc, giải phóng nhân dân khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc. Đó là đạo đức của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích gì khác”(2). Là một Đảng chân chính cách mạng, Đảng trung thành tuyệt đối với lợi ích của giai cấp công nhân, của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam. Điều đó vừa thể hiện sâu sắc giá trị lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng Đảng; vừa thể hiện một cách đúng đắn và nhuần nhuyễn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ và đạo đức trong công tác xây dựng Đảng. Đồng thời, đó còn là tư tưởng chỉ đạo để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên hành động đúng tôn chỉ, mục đích của Đảng, làm cho Đảng ta thực sự là đội tiên phong, gắn bó mật thiết với nhân dân, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Đó là giá trị đạo đức của Đảng ta. Thứ hai, các thế lực thù địch đã khuếch trương những hạn chế, khuyết điểm trong bộ máy Đảng, Nhà nước làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động, thiếu tin tưởng, tha hóa về đạo đức, lối sống. Chúng tìm mọi cách để cổ súy một số cán bộ, đảng viên nhìn nhận đạo đức cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa sai lệch, chỉ thấy tiêu cực, mặt xấu, không thấy những giá trị đạo đức, lối sống tốt đẹp của dân tộc, của cách mạng. Qua đó, làm mất dần cái tốt, cái tiến bộ, làm tăng dần cái xấu, cái lạc hậu, làm chậm lại quá trình phát triển dẫn đến sự yếu kém, hư hỏng, thoái hóa, biến chất của chính bản thân con người và tổ chức về đạo đức, lối sống. Do suy thoái cho nên, những cán bộ, đảng viên này đổ lỗi cho đạo đức, lối sống truyền thống của dân tộc. Thứ ba, các thế lực thù địch cổ súy, du nhập lối sống tư sản vào một bộ phận cán bộ, đảng viên làm cho họ tha hóa về đạo đức, lối sống. Các thế lực thù địch ra sức cổ súy, du nhập lối sống buông thả, ngại học tập, phấn đấu, rèn luyện vào một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền. Qua đó, làm cho họ tha hóa; có cán bộ, đảng viên “sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”(3). Những cán bộ, đảng viên như vậy thường ngại rèn luyện, phấn đấu, lười suy nghĩ, lười học tập; luôn tìm cách để hình thành “cơ chế ngầm”, “cánh hẩu”, bảo vệ, bao che khuyết điểm cho nhau, trù dập những người thẳng thắn đấu tranh phê bình, những người bảo vệ công bằng, bình đẳng, bảo vệ sự nghiệp và lý tưởng cách mạng. Họ du nhập, sống theo lối sống tư sản, coi thường lẽ phải, đạo lý; bắt chước, học đòi coi đó như là “mốt thời thượng”. Những điều đó đã dẫn đến suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thứ tư, các thế lực thù địch thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ làm tha hóa đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Từ chỗ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ làm tha hóa đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên dẫn đến những vi phạm kỷ luật cơ quan, cao hơn là vi phạm pháp luật của Nhà nước; cổ súy lối sống thực dụng; khuyến khích làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong bộ máy để xuyên tạc, kích động... Thứ năm, các thế lực thù địch thúc đẩy suy thoái về tư tưởng chính trị làm cho suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trầm trọng hơn. Hội nghị Trung ương 4 khóa XI nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”(4). Đây là mức độ rất nguy hiểm của suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay. Vì vậy, các thế lực thù địch ra sức thúc đẩy suy thoái về tư tưởng chính trị làm cho suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trầm trọng hơn. Thứ sáu, các thế lực thù địch bóp méo, xuyên tạc các mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, với quân đội để làm suy thoái các quan hệ đạo đức của cán bộ, đảng viên. Mục đích của chúng nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với xã hội và thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Các thế lực thù địch xuyên tạc mối quan hệ trong nội bộ quân đội, rằng quan hệ cấp trên - cấp dưới, cán bộ - chiến sĩ đã “không còn như trước nữa, vì mức sống đã quá chênh lệch”, rằng cán bộ, sĩ quan “chỉ biết lo cho bản thân”; chúng triệt để lợi dụng khuyết điểm, hạn chế, những hiện tượng tiêu cực ở một số ít cán bộ, chiến sĩ để xuyên tạc mối quan hệ máu thịt quân - dân; rêu rao “quân đội không còn gần gũi, gắn bó với nhân dân nữa”; đã “không thực hiện đúng” nhiệm vụ bảo vệ nhân dân, “chỉ lo bảo vệ Đảng, Nhà nước”. Các thế lực thù địch cố tình làm biến dạng, méo mó bản chất các mối quan hệ của quân đội. Đây là một điểm mấu chốt để cổ súy cho suy thoái đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Nhằm chia rẽ Đảng với quân đội, các thế lực thù địch cố tình cắt xén nội hàm phẩm chất trung thành của quân đội ta, đối lập sự trung thành với Đảng, với nhân dân và dân tộc. Chúng đưa ra luận điệu: Quân đội “không cần dựa vào hệ tư tưởng nào”, “không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng chính trị nào”, đồng thời xuyên tạc, bóp méo nhiều giá trị đạo đức cách mạng với mục đích gây “nhiễu loạn” về nhận thức dẫn đến tha hóa về tư duy, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Những âm mưu, thủ đoạn nêu trên của các thế lực thù địch tạo ra những mối nguy hiểm khôn lường, đồng thời khiến cho chúng ta gặp nhiều khó khăn trong quá trình nhận biết và đưa ra các giải pháp đấu tranh phòng, chống. Chúng ta khó “nhận mặt chỉ tên” cụ thể đâu là “diễn biến hòa bình”, đâu là suy thoái đạo đức, lối sống và đâu là hạn chế, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên. Sự khó khăn này dễ dẫn đến lúng túng trong xác định quan điểm, nội dung, biện pháp đấu tranh, sao cho đúng và trúng, cũng như trong thực tiễn tổ chức đấu tranh, ngăn ngừa. Để đấu tranh phòng ngừa có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng trong lĩnh vực đạo đức, lối sống ở cán bộ, đảng viên, các cơ quan, đơn vị cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề sau: Một là, tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi cán bộ, đảng viên nhận rõ âm mưu, thủ đoạn, mức độ nguy hiểm của các thế lực thù địch chống phá Đảng trong lĩnh vực đạo đức, lối sống ở cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Qua đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng cho cán bộ, đảng viên; luôn kiên định vững vàng nền tảng tư tưởng của Đảng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; không dao động trước mọi âm mưu, thủ đoạn, trước sự tác động của tình hình và những thông tin sai trái, xuyên tạc, xấu độc, trên các trang mạng xã hội. Triển khai thực hiện thực chất, hiệu quả các nghị quyết, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Hai là, chủ động ngăn chặn, khắc phục có hiệu quả những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Các cơ quan, đơn vị cần phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, quần chúng trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng; thực hiện tốt tự phê bình và phê bình; đề cao tính nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt. Kiên quyết ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tình trạng quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong cơ quan, đơn vị. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững kỷ cương, giữ nghiêm kỷ luật; xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh, để tăng “sức đề kháng”, nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi cán bộ, đảng viên và từng cơ quan, đơn vị. Từng cán bộ, đảng viên phải biết tự bảo vệ mình, nâng cao trình độ, năng lực, tình cảm và lập trường cách mạng, bản lĩnh chính trị trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Không vì lý do nào đó mà “vô tình” hay “cố ý” phai nhạt mục tiêu, lý tưởng của Đảng rơi vào suy thoái đạo đức, lối sống. Ba là, xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong từng cơ quan, đơn vị. Trọng tâm là nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong từng đảng bộ; thực hiện có chất lượng Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và các chủ trương, quy định của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ, giải quyết các mối quan hệ và tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống. Hiệu quả phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống phụ thuộc vào sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức đảng. Sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là của cấp ủy và người đứng đầu có vai trò, tác động rất to lớn đến ý thức tu dưỡng, rèn luyện của đảng viên và quần chúng. Bốn là, thường xuyên trau dồi, nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Kiên quyết đấu tranh chống những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Gắn việc nâng cao bản lĩnh chính trị với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thiết thực, hiệu quả. Phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức tự lực, tự cường, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị bằng các hành động cụ thể, thiết thực.Chủ động nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh, khắc phục suy thoái đạo đức, lối sống ở cán bộ, đảng viên là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị - mọi tổ chức, lực lượng, cơ quan, đơn vị - nhằm tạo lên sức mạnh to lớn và “bức tường thành” vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cảnh giác với những "bàn tay đen" lợi dụng "tự do tôn giáo" .

Trong vô vàn những âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta dưới vỏ bọc "tự do tôn giáo", không thể không nhắc tới chiêu bài muốn biến các giáo xứ thành những thiết chế chính trị riêng, hoạt động ngoài vòng pháp luật, từ đó kích động nhân dân và giáo dân tiến hành các hoạt động gây rối, chống đối, vi phạm pháp luật, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. . Âm mưu bắt nguồn từ lợi ích cá nhân Trước hết, có thể khẳng định chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Nhìn vào thực tế các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, có thể thấy rằng đại đa số chức sắc tôn giáo, tăng ni, phật tử đã làm tốt việc đạo, việc đời, hướng dẫn tín đồ chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, lợi dụng đường lối, chính sách đổi mới, mở cửa và tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, một số đối tượng đứng đầu các giáo xứ, núp dưới chiêu bài "tự do tôn giáo" đã lái hoạt động tại các giáo xứ đi ngược với pháp luật và sự phát triển của đất nước. Đến giờ, chắc hẳn nhiều người dân ở huyện Bố Trạch (Quảng Bình) vẫn chưa hết bất bình và bức xúc khi nhắc tới một linh mục từng làm dậy sóng dư luận địa phương và cả nước cách đây khoảng hơn 2 năm bởi những việc làm coi thường luật pháp. Với tư cách là quản xứ, thay vì phải làm những điều đúng với chức phận của một cha xứ, linh mục này lại đến từng nhà giáo dân và các gia đình đảng viên giáo dân gốc giáo để xúi giục bỏ Đảng, yêu cầu tháo cờ Tổ quốc. Tiếp đó, trong năm 2019, linh mục này đã không ít lần kích động để bà con giáo dân nghỉ chạy thuyền phục vụ khách du lịch tại động Phong Nha-Kẻ Bàng nhằm gây sức ép với UBND tỉnh Quảng Bình tăng giá chạy thuyền, dù kiến nghị tăng giá cho đội thuyền của các giáo dân vẫn đang được các cấp xem xét. Nhưng rồi cũng rõ, bản chất những hành động ấy là hoàn toàn mang động cơ cá nhân, "đục nước béo cò", muốn biến giáo xứ thành “căn cứ” riêng nhằm mục đích vụ lợi kinh tế bản thân. Hay như một linh mục quản xứ khác ở thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình từng lợi dụng vấn đề cải cách giáo dục để rao giảng trên nhà thờ nghiêm cấm học sinh đến trường, nếu phụ huynh nào không nghe lời sẽ bị xử lý, bị tẩy chay khỏi giáo xứ, không được đi lễ nhà thờ. Thậm chí, linh mục này còn cắt cử tay chân chặn đường, ném đá vào các học sinh nhằm ngăn cản các em đến trường. Cuối cùng mới vỡ lẽ, mục đích của những hành vi đó chỉ là để phục vụ mưu đồ chính trị cá nhân, nhằm gây sức ép với chính quyền địa phương và thể hiện vai trò “thủ lĩnh” trong giáo xứ. Dư luận có lẽ cũng chưa thể quên một số linh mục cực đoan tại các giáo xứ ở hai huyện Bố Trạch và Quảng Trạch (tỉnh Quảng Bình) ngang nhiên lạm quyền để lấn chiếm đất công, làm đường, mở rộng khuôn viên nhà thờ, từ đó khiến tình hình tại địa phương có lúc đứng trước nguy cơ bất ổn, thậm chí xung đột. Gần đây, khi cả nước đang nêu cao tinh thần trách nhiệm, nỗ lực ngăn ngừa dịch Covid-19 lây lan, thì lại xảy ra sự việc một số linh mục ở các giáo xứ thuộc tỉnh Hà Tĩnh rung chuông tổ chức hành lễ, bất chấp Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản của Bộ Y tế cũng như địa phương về việc giãn cách xã hội, hạn chế tập trung đông người để phòng, chống dịch Covid-19... Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật về công tác tôn giáo, trong đó đưa ra những nguyên tắc cụ thể liên quan tới lĩnh vực này. Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất là: Quyền tự do tôn giáo không phải là vô hạn và Nhà nước giữ vai trò trung gian trong việc ngăn chặn tình trạng các tổ chức tôn giáo lạm quyền chính trị hoặc lạm quyền tự do tôn giáo để tranh giành ảnh hưởng, xâm phạm vào các quyền tự do dân sự khác của người dân; hoạt động của các tôn giáo phải tuân thủ theo hiến pháp, pháp luật... Bởi vậy, hành động của các linh mục nói trên xét cho cùng đã vi phạm nguyên tắc “lạm quyền”, tự do tôn giáo một cách quá trớn, muốn biến các giáo xứ thành “vương quốc” riêng, lạc nhịp với tinh thần, nguyên tắc thượng tôn pháp luật mà bất cứ công dân-giáo dân nào ở Việt Nam cũng như trên thế giới phải thực hiện. Đừng để đức tin bị lợi dụng! Thực tế cho thấy, tôn giáo và các hoạt động liên quan tới tôn giáo luôn gắn liền với luật pháp của mỗi quốc gia. Cũng giống như mọi hoạt động xã hội khác, các sinh hoạt tôn giáo ở bất kỳ quốc gia nào đều không thể vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật của quốc gia đó. Tại Việt Nam, việc quản lý nhà nước về tôn giáo cũng đã được quy định trong Hiến pháp và pháp luật, trong đó xác định rõ quyền hạn hoạt động của các tổ chức, cá nhân tôn giáo trên các lĩnh vực quản đạo, hành đạo, truyền đạo; đồng thời nêu rõ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải đúng theo quy định của pháp luật, phù hợp với đạo đức, văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Việc Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo vào năm 2016 và Chính phủ có Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là cơ sở pháp lý quan trọng, phù hợp với yêu cầu thực tiễn của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ đổi mới của đất nước, đồng thời tạo điều kiện để tiếp tục củng cố, hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm hơn nữa quyền tự do tôn giáo của nhân dân. Thế nhưng, phải thẳng thắn thừa nhận rằng đến nay, việc quản lý, tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo của chính quyền các cấp và tại một số nơi vẫn còn những sơ hở, bất cập. Và các đối tượng cực đoan, phản động luôn tận dụng kẽ hở này để kích động các giáo dân gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại các địa phương mỗi khi có các vấn đề “nóng”, được dư luận quan tâm nổi lên. Núp dưới vỏ bọc "tự do tôn giáo" và những lời rao giảng “vì lợi ích thiết thực của giáo dân”, một số linh mục cực đoan ra sức lôi kéo, xúi giục, thậm chí gây sức ép để bà con giáo dân chống phá chính quyền, nhằm gây mất ổn định an ninh trật tự trên địa bàn. Cùng với đó, họ móc nối với các đối tượng phản động trong và ngoài địa phương tổ chức các hoạt động gây rối với mục tiêu nhằm phức tạp hóa tình hình, đẩy Giáo hội công giáo đối lập với chính quyền. Âm mưu này có thể được nhận rõ qua hàng loạt vụ việc xảy ra trong những năm gần đây như lợi dụng việc xả thải gây ô nhiễm môi trường của Công ty Formosa (Hà Tĩnh), giải tỏa chùa Liên Trì (TP Hồ Chí Minh), dựng thánh giá, nhà nguyện trái phép ở giáo xứ Đồng Chiêm (Hà Nội), Đồng Hới (Quảng Bình), hay việc giải tỏa đền bù đất tại 42 Nhà Chung, Nhà thờ Thái Hà (Hà Nội)... Lợi ích đâu chẳng thấy, mà trái lại, những âm mưu kích động này cuối cùng chỉ khiến đời sống, hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt thường ngày của bà con giáo dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đáng buồn hơn, nhiều giáo dân từ chỗ sống “tốt đời, đẹp đạo” bỗng bị dụ dỗ, kích động, mê hoặc bởi những lời rao giảng phi lý, để rồi vi phạm chính sách tôn giáo của Đảng, pháp luật của Nhà nước và có người còn vướng vào vòng lao lý; đến khi tỉnh ngộ thì đã muộn. Các giáo dân trước hết là các công dân, nên bất kỳ ai theo tín ngưỡng, tôn giáo nào cũng cần đặt trách nhiệm và nghĩa vụ công dân lên hàng đầu; ở đâu trên thế giới này cũng vậy chứ không chỉ ở Việt Nam. Cùng với đó, các giáo dân cần hết sức tỉnh táo, nhận rõ âm mưu thủ đoạn của những “bàn tay đen” muốn biến các giáo xứ thành thiết chế chính trị riêng, lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin của giáo dân nhằm phục vụ lợi ích cá nhân một số người nhưng lại phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng tới lợi ích chung của dân tộc, đất nước mà trước hết là cuộc sống yên bình của các giáo xứ, người theo đạo./.