Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021

NÊU CAO TINH THẦN TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 


Việc nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt nhận thức; nhằm giúp cán bộ, đảng viên nắm vững nội dung cốt lõi, những điểm mới trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trên cơ sở đó, cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình hành động để tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, đồng thời tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết.

Để bảo đảm nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội XIII của Đảng đạt kết quả cao, các cấp ủy, tổ chức Đảng cần thực hiện một số vấn đề trọng tâm. Cụ thể, cần nhận thức sâu sắc nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội XIII của Đảng là việc thường xuyên, phải được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, khoa học trong suốt nhiệm kỳ và là nhiệm vụ trọng tâm năm 2021, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong Đảng và cả hệ thống chính trị để mỗi cán bộ Đảng viên nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết của Đảng, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội XIII của Đảng.

Đồng thời góp phần xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc.

Bên cạnh đó, việc triển khai nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết cần tiến hành nghiêm túc, có chất lượng. Tập trung làm rõ những quan điểm, nội dung cốt lõi, những chủ trương mới trong các văn kiện Đại hội XIII từ tầm bao quát, cách tiếp cận mới, mục tiêu tổng quát, các định hướng lớn, nhiệm vụ trọng tâm, các chỉ tiêu chủ yếu, các khâu đột phá chiến lược để thấy rõ sự kế thừa, bổ sung phát triển tư duy lý luận của Đảng, nắm vững những bài học kinh nghiệm từ thành tựu 35 năm đổi mới đất nước, nhất là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, nhận diện đầy đủ những thuận lợi, thời cơ, khó khăn thách thức và nhiệm vụ của các cấp ủy trong thời gian tới, liên hệ vận dụng phù hợp với yêu cầu điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị để xác định và thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trong nhiệm kỳ 2021-2025.

Trong quá trình nghiên cứu học tập Nghị quyết phải đề cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu, ý thức tự giác gương mẫu của cán bộ đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp ủy, tổ chức Đảng.

Công tác tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phải được tiến hành thường xuyên, bền bỉ, đồng bộ, sáng tạo với nhiều hình thức phong phú đa dạng, phù hợp với từng đối tượng, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống tuyên giáo các cấp, các cơ quan báo chí xuất bản, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, văn nghệ sỹ, báo cáo viên, tuyên truyền viên. Trong quá trình tuyên truyền phải kịp thời lý giải những băn khoăn vướng mắc của cán bộ, đảng viên và nhân dân về nội dung Nghị quyết. Kịp thời uốn nắn những nhận thức chưa đúng, chủ động định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận tích cực trong xã hội. Kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch.

Việc nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII chỉ là bước đầu, điều quan trọng là phải sớm đưa nội dung Nghị quyết vào thực tiễn cuộc sống, nói đi đôi với làm, thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác Hồ: “Kế hoạch 10 phần thì biện pháp 20 phần và quyết tâm 30 phần”. Biến những quyết định của Đại hội thành hiện thực sinh động trong thực tế, thành của cải vật chất, mang lại giàu có và hạnh phúc cho nhân dân. Các cấp ủy, tổ chức Đảng phải tập trung xây dựng chương trình hành động cụ thể hóa bằng các kế hoạch, dự án, đề án khả thi sát với điều kiện thực tế, định lượng được kết quả, góp phần nâng cao đời sống nhân dân và sự phát triển mạnh mẽ trong các đơn vị, địa phương. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội và việc xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của mỗi đơn vị. Khắc phục triệt để bệnh hình thức, qua loa, đại khái; kịp thời phát hiện khen thưởng biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích trong nghiên cứu học tập, nhất là việc thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ở mỗi cấp.

Vắc xin Covid-19 có hiệu quả với bệnh nhân ung thư không?

Nhiều nhóm chuyên gia y tế khuyến cáo rằng hầu hết những người bị ung thư hoặc tiền sử ung thư nên tiêm vắc xin Covid-19 khi họ đã có sẵn loại vắc xin này.

        Mối quan tâm chính về việc tiêm phòng không phải là liệu nó có an toàn cho bệnh nhân ung thư hay không mà là về hiệu quả của nó, đặc biệt là ở những người có hệ miễn dịch suy yếu.
        Một số phương pháp điều trị ung thư như hóa trị, xạ trị, cấy ghép tế bào gốc hoặc tủy xương hoặc liệu pháp miễn dịch có thể ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch, điều này có thể làm cho vắc xin kém hiệu quả hơn. Những người mắc một số loại ung thư, như ung thư bạch cầu hoặc u lympho, cũng có thể bị suy yếu hệ thống miễn dịch, điều này có thể làm cho vắc xin kém hiệu quả.
        Các nghiên cứu ban đầu thử nghiệm vắc xin Covid-19 không bao gồm những người được điều trị bằng thuốc ức chế hệ thống miễn dịch, như hóa trị hoặc những người bị suy yếu hệ thống miễn dịch vì các lý do khác. Điều này là do các nghiên cứu cần thiết để xem liệu vắc xin có hoạt động ở những người có hệ miễn dịch khỏe mạnh hay không. Do đó, vẫn chưa rõ hiệu quả của vắc xin đối với những nhóm người này.
        Chưa có thông tin cụ thể về mức độ hiệu quả của vắc xin đối với những người đang được điều trị ung thư, nhưng vắc xin có thể mang lại hiệu quả ở những người có hệ miễn dịch suy yếu kém hơn so với những người có hệ miễn dịch khỏe mạnh.
        Dù vậy, các chuyên gia vẫn khuyến cáo rằng hầu hết bệnh nhân ung thư nên tiêm vắc xin phòng Covid-19. Lý do vì những người có hệ miễn dịch mỏng manh có nguy cơ mắc bệnh Covid-19 nghiêm trọng, do đó, thậm chí nhận được một số biện pháp bảo vệ từ vắc xin vẫn tốt hơn là không có bất kỳ biện pháp bảo vệ nào.
        Vì tình hình bệnh của mỗi người là khác nhau, tốt nhất là bạn nên thảo luận về những rủi ro và lợi ích của việc tiêm một trong các loại vắc xin Covid-19 với bác sĩ ung thư của bạn. Họ có thể tư vấn cho bạn và cho bạn biết khi nào bạn nên tiêm.
        Theo PGS.TS Đào Xuân Cơ, Phó giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Tổng Thư ký Hội Hồi sức cấp cứu và chống độc Việt Nam, những trường hợp bệnh nhân ung thư đã điều trị ổn định, nên tiêm ngừa vắc xin Covid-19.
        "Những người đã có tiền sử ung thư sau điều trị ổn định càng nên tiêm vắc xin ngừa Covid-19. Bởi bệnh nhân ung thư khi nhiễm Covid-19, đã có sẵn bệnh lý nền khi mắc bệnh sẽ biểu hiện nặng nề hơn. Vắc xin sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh, giảm nguy cơ các triệu chứng nặng", PGS Cơ cho biết.
        Tuy nhiên, nhóm người có bệnh lý nền đã ổn định (bao gồm cả bệnh nhân ung thư điều trị ổn định) thuộc nhóm thận trọng khi tiêm, nên được khuyến cáo tiêm chủng tại bệnh viện, được bác sĩ khám sàng lọc kỹ trước khi chỉ định tiêm. Nếu đủ điều kiện tiêm chủng sẽ thực hiện tiêm chủng, theo dõi sức khỏe sau tiêm như hướng dẫn.


Hà Nội triển khai tổng điều tra kinh tế năm 2021 giai đoạn 2

Hà Nội sẽ tổng điều tra kinh tế giai đoạn 2 từ ngày 01 - 30/7 nhằm thu thập thông tin toàn bộ cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể và các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng. .Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Hà Minh Hải - Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Thành phố - đánh giá: Cuộc tổng điều tra lần này có sự đổi mới triệt để trong khâu thu thập thông tin, từ việc ứng dụng mạnh mẽ các hình thức thu thập thông tin điện tử đến việc đổi mới cách tiếp cận đối tượng, đơn vị điều tra nhằm đảm bảo việc thu thập thông tin thống kê ngày càng đầy đủ, chính xác, kịp thời. Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội đề nghị Cục Thống kê TP. Hà Nội, cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế Thành phố tiếp tục chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các sở, ban ngành thành viên Ban Chỉ đạo tổ chức triển khai tổng điều tra kinh tế giai đoạn 2 theo đúng tiến độ. Ban Chỉ đạo quận, huyện, thị xã căn cứ kế hoạch, thường xuyên nắm bắt kip thời, hướng dẫn, giải thích những vướng mắc về nghiệp vụ cho điều tra viên trong suốt quá trình điều tra. Đặc biệt, các đơn vị cần hỗ trợ điều tra viên liên lạc với các cơ sở sản xuất kinh doanh tạm nghỉ do dịch Covid-19. Ngoài ra, các điều tra viên, giám sát viên, thành viên Ban Chỉ đạo các cấp cũng phải thực hiện tốt các quy định, các biện pháp phòng chống dịch của Trung ương và Thành phố. Dự kiến, kết quả sơ bộ tổng điều tra kinh tế 2021 toàn Thành phố sẽ được công bố vào tháng 12/2021 và kết quả chính thức công bố vào tháng 02/2022./.

130 quốc gia ủng hộ đề xuất của Mỹ về mức thuế tối thiểu toàn cầu

Bộ trưởng Tài chính Mỹ Janet Yellen thông báo hôm thứ Năm rằng nhóm 130 quốc gia đã đồng ý mức thuế tối thiểu toàn cầu đối với các doanh nghiệp, đây là một phần của thỏa thuận rộng hơn nhằm sửa đổi các quy tắc thuế quốc tế. "Trong nhiều thập kỷ, Mỹ đã tham gia vào một cuộc cạnh tranh thuế quốc tế, hạ mức thuế doanh nghiệp chỉ để nhìn các quốc gia khác giảm thuế của họ để đáp trả. Kết quả là một cuộc chạy đua thuế suất toàn cầu đến đáy. Ai có thể hạ thấp thuế suất doanh nghiệp của họ hơn nữa và nhanh hơn? Không có quốc gia nào đã chiến thắng trong cuộc đua này", bà Yellen nói trong một tuyên bố về hiệp định. Bộ trưởng Tài chính Mỹ cho rằng: "Thỏa thuận ngày nay của 130 quốc gia đại diện cho hơn 90% GDP toàn cầu là một dấu hiệu rõ ràng: cuộc đua thuế suất xuống đáy còn một bước nữa là kết thúc". Thỏa thuận cũng được cho là bao gồm một khuôn khổ để loại bỏ thuế dịch vụ kỹ thuật số, nhằm vào các công ty công nghệ lớn nhất của Mỹ. Bên cạnh đó, các quan chức đã đồng ý với một kế hoạch thuế mới sẽ liên kết với những nơi mà các công ty đa quốc gia đang thực sự kinh doanh, thay vì nơi họ đặt trụ sở chính. Phần lớn cơ sở để áp dụng GMT đã được đặt ra bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Tổ chức đã phát hành bản kế hoạch chi tiết vào mùa thu năm ngoái phác thảo cách tiếp cận hai yếu tố chính đối với thuế quốc tế. Khuôn khổ bao trùm của OECD về Xói mòn cơ sở và Dịch chuyển lợi nhuận, được gọi là BEPS, là sản phẩm của các cuộc đàm phán với 137 quốc gia thành viên và khu vực pháp lý. Thông báo của bà Yellen không bao gồm thuế suất thực tế thuế tối thiểu toàn cầu sẽ được đặt ở mức bao nhiêu, nhưng chính quyền ông Biden mong muốn thúc đẩy nó đạt ít nhất 15%. Các bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương G-20 dự kiến ​​sẽ gặp nhau tại Venice, Ý vào cuối tháng này và kế hoạch thuế quốc tế dự kiến ​​sẽ nhận được sự chấp thuận cao trong chương trình nghị sự. Thỏa thuận GMT thể hiện một phần quan trọng trong điều mà Tổng thống Joe Biden đã gọi là "chính sách đối ngoại đối với tầng lớp trung lưu". Chiến lược này cũng nhấn mạnh cách chính sách đối ngoại và chính sách đối nội có thể được tích hợp vào một nền tảng trung gian mới giữa cách tiếp cận truyền thống bảo thủ và tự do đối với các vấn đề toàn cầu. "Chính sách đối ngoại đối với tầng lớp trung lưu" nhằm đảm bảo rằng toàn cầu hóa, thương mại, nhân quyền và quân đội đều có thể được khai thác vì lợi ích của những người Mỹ đang làm việc, không chỉ cho các tỷ phú và các tập đoàn đa quốc gia, nhưng cũng không phải vì những lý do liên quan tới chủ nghĩa duy tâm.

Đặc điểm của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam

 


- Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam phản ánh sâu đậm quá trình dựng nước, giữ nước hào hùng và oanh liệt của dân tộc

+ Với một đất nước luôn xảy ra thiên tai, địch họa, kẻ xâm lăng lại thường đông và mạnh, việc dân tộc ta thờ các vị anh hùng dân tộc như là sự kêu cầu và huy động sức mạnh của các bậc tiền bối anh linh của đất nước phù hộ, độ trì giúp cho sự nghiệp đại nghĩa được thành công. Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc trở thành nhân tố đoàn kết chặt chẽ mọi người dân, mọi tầng lớp, giai cấp và các dân tộc để chống quân xâm lược, xây dựng đất nước.

+ Theo thời gian, số lượng các vị thần anh hùng dân tộc ngày một nhiều, phản ánh quá trình phát triển đất nước, con người Việt Nam rất anh hùng, bất khuất. Hoặc như các nhà Nho từng giải thích bằng thuyết “địa linh sinh nhân kiệt”: dòng sinh khí của núi sông Việt Nam đã hun đúc, sinh ra nhiều anh hùng cái thế. Vì thế, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc của nước ta, cho dù trải qua những giai đoạn lịch sử thăng - trầm khác nhau, song vẫn tồn tại, phát triển.

- Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam đan xen, hòa đng với các loại hình tín ngưỡng, tôn giảo khác

+ Nội dung các lễ hội Thánh Gióng, An Dương Vương, các Vua Hùng, Trần Hưng Đạo... thường đan xen các nghi lễ của tín ngưỡng vật linh giáo, bái vật giáo, phồn thực...

+ Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc vừa mang nghi lễ của Nho giáo, lại vừa đan xen nghi lễ Phật giáo. Hoặc trong thần phả, nội dung mô tả thường có sự giao thoa của các giá trị tam giáo (Phật, Lão, Nho). Sự đan xen, hòa đồng của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc với các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác cũng thể hiện rõ ở nơi đình, đền, miếu thờ Thành hoàng, mà đa số Thành hoàng là các vị anh hùng dân tộc.

+ Sự đan xen đó không làm cho tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc bị hòa tan, bị che khuất, mà vẫn giữ được nét đặc sắc riêng. Điều này thể hiện ở việc người dân am hiểu khá rõ về căn tích (thần phả) của các vị thần anh hùng dân tộc, nhất là tại địa phương nơi thờ phụng, tri ân họ. Nơi thờ tự tín ngưỡng anh hùng dân tộc hầu hết cỏ tượng và bài vị của các vị thần. Các ngày lễ hội trong năm là nhằm ngày sinh, ngày giỗ của các vị thần anh hùng dân tộc. Triều đình phong kiến thường xét công trạng của các vị anh hùng khi họ còn sống, cùng với tính thiêng để rồi phong thần, sau đó giao cho các địa phương và quan lại bản xứ thờ cúng.

- Cơ cấu đối tượng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam có sự hài hòa giữa nam thần và nữ thần

+ Trong các vị thần anh hùng dân tộc ở nước ta có khoảng 25% là thần nữ. Nữ thần anh hùng dân tộc là các vị anh hùng kiệt xuất mà tên tuổi, công trạng và cả sự hiển linh của họ được sánh ngang với các vị nam thần. Như trong lịch sử có Hai Bà Trưng, Bà Triệu và các nữ tướng ca các bà; còn thời cận hiện đại là bà Nguyễn Thị Minh Khai, bà Ba Định, là anh hùng Võ Thị Sáu... Lớp đối tượng nữa được thờ là các bà mẹ, người vợ của các vị anh hùng dân tộc, khi sống họ có công lao giúp chồng, con lập nên sự nghiệp anh hùng.

+ Sự hài hòa nam thần - nữ thần còn thể hiện ở các mỹ tự phong thần. Dưới triều Nguyễn, năm Tự Đức thứ 3 (1850), quy định cụ thể mỹ tự, đó là: nam thần dùng chữ “Trác vĩ” (tuyệt tác, vĩ đại); nữ thần dùng chữ “Trang huy” (huy hoàng, sáng đẹp).

+ Các nữ thần anh hùng dân tộc Việt Nam vẫn được thờ cúng cho đến nay. Trong khi, các dân tộc đều thờ nữ thần, nhưng do chế độ phụ hệ thay thế dần chế độ mẫu hệ và dưới chế độ phong kiến Nho giáo, nữ giói bị xem nhẹ, nên tín ngưỡng thờ nữ thần mai một ở nhiều dân tộc.

- Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam mang đậm màu sắc chính trị chnh thống, nhưng nhìn chung phù hợp với lợi ích, tâm nguyện của nhân dân lao động

+ Các triều đại phong kiến Việt Nam đã rất quan tâm, chú ý đến tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc. Sự quan tâm ấy được diễn ra theo hai xu hướng

Thứ nhất, nếu chính trị cầm quyền đại diện xứng đáng cho tiến bộ xã hội, được nhân dân ủng hộ thì sự quan tâm của họ đối với tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc sẽ có sự thống nhất cao với lợi ích và tâm nguyện của toàn dân.

Thứ hai, nếu chính trị cầm quyền cản trở sự tiến bộ, không được nhân dân ủng hộ, thì việc thờ anh hùng dân tộc sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt, trong khi giai cấp thống trị thờ các vị thần để củng cố vương quyền, thì giai cấp bị trị lại mong các vị thần phù hộ, độ trí giúp sức cho mình lật đổ vương quyền đó.

+ Chính quyền nhà nước phong kiến ban hành các quy định về nghi lễ thờ anh hùng dân tộc, từ đẳng cấp thần, điều kiện thực hiện, cho đến quy mô, nghi thức cụ thể. Triều đình tích cực trong việc chế bài vị thần và xây cất các nơi thờ tự. Nội các thường có bộ máy thiết chế qun giám bách thần, giúp vua xét duyệt, phong tước các vị thần, biên chép thần tích, giao việc chăm lo thờ cúng[1].

+ Việc sắc phong thần chỉ có vua - Thiên tử - mi được sắc phong cho thần, sau đó, giao cho quan lại, dân chúng các địa phương thờ cúng, sắc phong thần là văn bản thiêng nên được các địa phương bảo vệ, bảo quản rất cẩn thận.

+ Trong tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc, còn

+ Có hiện tượng, triều đại sau phế bỏ thần mà các triều đại trước đã phong bởi lý do chính trị, khi các vị thần ấy không phù hợp với triều đại đương thời.

+ Với hình thức chính trị phong thần, các vị thần anh hùng dân tộc vốn là biểu tượng thiêng liêng trong niềm tin tín ngưỡng của nhân dân, thì nay vẫn là bề tôi, nhưng linh thiêng, luôn phù hộ cho triều đình và xã hội. Điều đó bảo đảm lợi ích trực tiếp của chính quyền; song cũng vì lợi ích của toàn dân tộc, thế nên các triều đại phong kiến đều biết, dù ít hay nhiều, cố gắng điều chỉnh (có thể chỉ là về hình thức) lợi ích giai cấp mình đến gần, hòa vào lợi ích toàn dân tộc.

- Nghỉ lễ thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam được tiến hành rộng rãi, thường xuyên, từ quy mô quốc gia cho đến làng xã

+ Vì Tín ngưỡng thờ Anh hùng dân tộc có ưu thế hơn so với các loại hình tín ngưỡng khác ở chỗ, nó được triều đình phong kiến Trung ương rất quan tâm, nên nghi lễ được diễn ra một cách quy củ, nền nếp và thống nhất ở quy mô toàn quốc. Khắp các chốn làng quê,nơi đâu cũng đều có đình, đền, miếu thờ cúng các vị thần anh hùng dân tộc, trong đó, nhiều vị thần được suy tôn là thần Thành hoàng. Bộ máy quan lại ở địa phương có trách nhiệm rất cao, đề ra các thiết chế như quy định chủ tế, ban khánh tiết, ban tư văn, hội dâng hoa, hội bát âm...

+ Các đặc điểm trên đây của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc cho thấy đây là một loại hình tín ngưỡng mang tính phổ biến của dân tộc, đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của xã hội và chính trị. So với các hình thức tín ngưỡng khác, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc có sự ưu trội, không chỉ ở thực hành nghi lễ, mà còn ở sự thống nhất cao của các yếu tố hợp thành một hĩnh thức tín ngưỡng.



[1] Theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (xuất bản năm 1993), triều Nguyễn mở rộng quy mô thờ thần ở các dinh, trấn, cho lập đền, miếu ở địa phương. Vua Gia Long năm đầu chuẩn cho tỉnh Phú Yên thờ 526 vị, tỉnh Bình Định thờ 206 vị; tỉnh Khánh Hoà 250 vị.

Quá trình du nhập và phát triển công giáo ở Việt Nam

 


 Công giáo vào Việt Nam xuất phát bởi những lý do cơ bản sau:

+ Cũng như các tôn giáo khác, Công giáo xem việc truyền đạo sứ mạng thiêng liêng và thường trực, điều này được ghi trong sách Phúc âm “Hãy đi khắp trái đất và giảng phúc âm cho mọi người”.

+ Từ những phát kiến địa lý quan trọng trong thời kỳ cận đại (thế kỷ XV-XVI), nhất là các phát kiến của Cristoforo Colombo (1451-1506, Ferdinand Magellan (1480-1521)...đã mở ra những triển vọng cho việc mở rộng nước Chúa

+ Xuất phát từ quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản, từ thế kỷ XVII đến XVIII một số nước phương Tây mạnh lên dẫn đến sự phân chia lại phạm vi ảnh hưởng và truyền đạo. Quá trình mở rộng nước Chúa gắn với chiến tranh xâm lược của CNTB để mở rộng thị trường, khai thác tài nguyên …

+ Từ sự can thiệp trực tiếp của Giáo hoàng trong việc ưu ái cho Giáo hội Pháp chen chân vào Viễn Đông và Đông Dương (được độc quyền truyền giáo ở Đông Dương).

+ Tình hình xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ XVI có nhiều xáo trộn và phức tạp.

- Nhiều nhà nghiên cứu lấy năm 1533 là mốc đánh dấu việc truyền Công giáo vào Việt Nam (gắn với dòng Phan Sinh năm 1209 và dòng Đa Minh năm 1216). Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi rõ: “Năm Nguyên Hòa đời Vua Lê Trang Tôn (1533 - Tây lịch) có một thương nhân là Inikhu đi đường biền lén vào giảng đạo Giatô ở Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Chân và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy”.

+ Ngay sau khi Công giáo đã hiện diện được ở Việt Nam, các giáo sĩ dòng Tên nghĩ đến việc bổ sung các Giám mục phụ trách để đẩy công cuộc truyền giáo phát triển ở bước cao hơn với các mốc từ năm 1645 đến năm 1960.

+ Ngày 24/11/1960, Hàng giáo phẩm Việt Nam được thiết lập (Giáo hoàng Gioan XXIII ban sắc chỉ). Theo Sắc chỉ này, tại Việt Nam sẽ có 3 giáo tỉnh gồm: Giáo tỉnh Hà Nội; Giáo tỉnh Huế; Giáo tỉnh Sài Gòn.

Nguồn gốc tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam

 


Xuất phát từ các khái niệm “tín ngưỡng thờ thần” và “anh hùng dân tộc”, “Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc” được hiểu là tín ngưỡng thờ những nhân vật sinh thời có nhiều công trạng to lớn đối với đất nước, dân tộc và khi qua đời, họ được nhà nước phong kiến sắc phong thần, kèm theo những quy định về thiết chế thờ cúng cụ thể.

- Nguồn gốc sâu xa: Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc có nguồn gốc từ kinh tế - xã hội, từ trình độ nhận thức, tâm lý xã hội được phát triển đến một trình độ nhất định.

- Nguồn gốc trực tiếp của tín ngưõng thờ anh hùng dân tộc là từ tín ngưõng thờ thần của hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc là một bộ phận của tín ngưỡng thờ thần. Các vị thần được xã hội thờ cúng có thể phân loại theo những tiêu chí khác nhau như: nếu là từ tiêu chí xuất xứ của thần thì có nhân thần và nhiên thần; từ phẩm chất của thần có phúc thần và tà thần. Thần anh hùng dân tộc là một bộ phận của các phúc thần và ở nước ta, chủ yếu là các nhân thần, rất ít là nhiên thần.

- Trong nguồn gốc xã hội của tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam, yếu tố nhân dân và yếu tố chính trị có ý nghĩa đặc biệt. Nhân dân, từ sự biết ơn, tôn kính đối với những người có công trạng to lớn với đất nước, dân tộc và quê hương, đã tri ân suy tôn, thần thánh hóa, lập nơi thờ cúng các vị anh hùng dân tộc. Đồng thời, các triều đại phong kiến Việt Nam, đứng đầu là nhà vua, đã định lệ tổ chức các đợt phong thần là các anh hùng dân tộc, dựa trên tâm nguyện của nhân dân và quy định của triều đình. Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ờ nước ta, do đó, có cơ sở vững chắc từ sự tri ân, ghi nhớ công lao của quần chúng nhân dân đến phương diện chính trị pháp lý của nhà nước phong kiến.

- Xét về thòi gian, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu. Theo truyền thuyết, vào thế kỷ thứ III Tr.CN, Thục Phán, một vị vua dựng nước Âu Lạc, đã dựng cột đá thề trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh (thuộc tỉnh Phú Thọ), để làm nghi lễ tâm linh, thề nối nghiệp các Vua Hùng. Tiếp đó, vào những năm 40 đẩu Công nguyên, Hai Bà Trưng khi dấy binh khỏi nghĩa đã thề trước các anh linh tiền bối, rằng: “Một xin ra sạch nước thù/Hai xin đưa lại nghiệp xưa họ Hùng”. Những nghi lễ thề đó thể hiện rõ yếu tố tín ngưỡng về sự biết ơn, tinh thần trách nhiệm, cầu mong sự phù trợ, che chở cùa các Vua Hùng.

 

TIN MỚI NHẤT VỀ ĐÁM TANG QUÂN NHÂN TRẨN ĐỨC ĐÔ

 


Chiều 01/7, đám tang quân nhân Trần Đức Đô đã được tổ chức trong không khí trang nghiêm, với lời chia buồn sâu sắc từ đơn vị và các cơ quan liên quan. Như vậy là bước đầu Đô đã được an nghỉ, đó là việc tốt cho hương hồn của em và cũng giúp gia đình bớt đau xót. Giờ chúng ta cần tin tưởng vào kết quả điều tra, vì khám nghiệm xong và đưa đi an táng tức là bố mẹ Đô đã đồng ý với kết quả khám nghiệm sơ bộ. Vụ của Đô đang được 4 bên hợp tác điều tra gồm Phòng Điều tra hình sự Quân khu 1, Cục Điều tra hình sự (Bộ Quốc phòng), Công an tỉnh Thái Nguyên và Viện Pháp y Quân đội.

Dù vậy, có thể nhiều vị trên cõi .. mạng sẽ không tin kết quả điều tra nếu nó không đúng theo kịch bản được các anh chị vẽ ra, giống như vụ án giao gà vậy hay nhiều vụ mà các anh chị từng sụp hố.

Còn hỏi quân đội có đánh nhau dẫn đến tử vong hay không thì chúng tôi cũng xin chia sẻ luôn là CÓ. Sự thật là như vậy, chúng tôi không hề giấu diếm.

Môi trường quân đội đề cao kỷ luật, luôn cấm hành vi bắt nạt và bao che. Nhưng đây cũng là một xã hội thu nhỏ, không ai có thể canh chừng quân nhân 24/7 được. Những xích mích vụn vặt, mâu thuẫn lớn bé, thậm chí chỉ cần sự bốc đồng nhất thời cũng đủ dẫn tới xô xát gây thương tích rồi.

Nhưng nói Quân đội tồn tại tình trạng bắt nạt có hệ thống là tuyệt đối SAI. Quân đội Nhân dân, cá nhân phạm lỗi - tập thể chịu trách nhiệm, chứ không áp dụng chế độ huấn nhục, cho sĩ quan quyền đánh đấm, làm nhục cấp dưới như nhiều quốc gia khác. Bất kỳ ai có hành vi như vậy đều đã và sẽ bị xử nghiêm. Quân đội cũng không bao che giấu diếm các hành vi sai trái trong quân ngũ.  Quân pháp cực kỳ nghiêm khắc và liên đới trách nhiệm rất cao, có đeo hàm tướng mà phi qua cổng không xuất trình giấy tờ thì cũng bị bắn cảnh cáo, hay vi phạm thì sẽ bị điều tra và nhận bản án nghiêm minh .

Năm 2004, sáu quân nhân thuộc trung đội vệ binh của Trung đoàn 209 (Sư đoàn 312, Quân đoàn 1) tự cho mình quyền đánh và xử phạt với quân nhân vi phạm kỷ luật. Hậu quả là binh nhất Trần Văn Đại đã tử vong sau những trận đòn của họ. Ngay sau có kết quả pháp y, Viện kiểm sát Quân sự Quân đoàn 1 đã truy tố các bị cáo nêu trên về tội cố ý gây thương tích, với tình tiết tăng nặng dẫn đến hậu quả chết người theo Điều 104, Bộ luật Hình sự. Tuyệt đối không bao che hay cho chìm xuồng bất kỳ vụ án nào. Chưa kể cấp chỉ huy liên quan đều bị liên đới, nhẹ thì kỷ luật giam hàm, nặng thì giáng chức, thậm chí là cả đơn vị bị đánh hạng thi đua.

Vậy nên nếu Đô không tự tử thì cơ quan chức năng sẽ điều tra rõ ràng, truy tố đúng người đúng tội. Còn nếu thật sự tự tử thì cũng phải điều tra nguyên nhân, không để lọt người lọt tội.

Nếu có oan khuất thì bố mẹ, gia đình Đô sẽ lên tiếng đầu tiên, không đến lượt những người không liên quan kêu hộ.

Điều gia đình cần là sự an ủi động viên tinh thần để vượt qua nỗi đau này, những người khác đừng làm rối thêm là mừng lắm rồi.

Hãy cùng chờ kết quả điều tra minh bạch và rõ ràng của cơ quan chức năng, chứ đừng mượn cái chết của quân nhân Trần Đức Đô để vơ đũa cả nắm và chửi rủa cả một đội quân đang căng mình chiến đấu trên nhiều mặt trận để bảo vệ Tổ quốc.

Mọi công dân Việt Nam hãy tập trung vào nhiệm vụ trước mắt là chống dịch COVID cho tốt bởi vì nếu dịch COVID còn hoành hành thì nền kinh tế của đất nước ta, đời sống của Nhân dân ta còn vất vả ./.

 

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở Việt Nam hiện nay.

 


Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc hiện nay. Để thực hiện tốt giải pháp này cần thực hiện tốt các biện pháp cụ thể sau:

- Ban chấp hành Trung ương cần sớm ban hành nghị quyết chuyên đề mới về công tác dân tộc theo tinh thần Đại hội XII của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi trong tình hình mới.

- Chính phủ: chỉ đạo triển khai, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, BCH Trung ương về công tác dân tộc; lãnh đạo việc rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, ổn định, tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; hoàn thiện chính sách đối với cán bộ làm công tác dân tộc, nhất là cán bộ công tác ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng về công tác dân tộc, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong tình hình mới.

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trong điều hành thực hiện CSDT.

+ Thể chế hóa những quan điểm ưu tiên đối với đồng bào DTTS thành cơ chế, chính sách cụ thể; nhất là Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội Phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030

+ Xây dựng cơ chế điều phối, phối hợp hiệu quả giữa Ủy ban Dân tộc với các Bộ, ngành, địa phương trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc;

+ Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc.

- Cấp ủy đảng, chính quyền các địa phương vùng DTTS cần tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc; đề cao trách nhiệm và tăng cường trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức trong thực thi chính sách dân tộc; đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách đến đối tượng thụ hưởng để nhân dân tham gia trực tiếp vào quá trình triển khai thực hiện và giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn.

Hà Nội: Tín dụng tăng 5,9% so với cuối năm 2020

Số liệu thống kê về tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn Hà Nội quý II và 6 tháng đầu năm 2021vừa được Cục Thống kê TP Hà Nội công bố cho thấy, mặt bằng lãi suất trên địa bàn đã được các tổ chức tín dụng (TCTD) điều chỉnh giảm nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và cá nhân tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp hơn. Cụ thể, lãi suất huy động bằng VND trên địa bàn TP. Hà Nội phổ biến ở mức 0,1 - 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,1-3,8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,0-6,0%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 5,6-6,8%/năm. Lãi suất huy động USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Hà Nội: Tín dụng tăng 5,9% so với cuối năm 2020 - Ảnh 1 Mặt bằng lãi suất cho vay bằng VND của TCTD phổ biến ở mức 5,5- 8,0%/năm đối với ngắn hạn; 7,5-9,5%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao) ở mức 4,5%/năm. Tính đến hết tháng 6/2021, tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn Thành phố ước tính đạt 3.911 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 4,2% so với thời điểm kết thúc năm 2020. Trong đó, tiền gửi VND đạt 3.240 nghìn tỷ đồng, tăng 5% so với thời điểm kết thúc năm 2020; tiền gửi ngoại tệ đạt 412 tỷ đồng, tăng 0,7%; tiền gửi tiết kiệm đạt 1.491 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2%; tiền gửi thanh toán đạt 2.161 nghìn tỷ đồng, tăng 4,7%. Đến hết tháng 6/2021, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn Thành phố đạt 2.333 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 5,9% so với thời điểm kết thúc năm 2020, trong đó dư nợ cho vay đạt 2.118 nghìn tỷ đồng (chiếm 90,8% trong tổng dư nợ), tăng 1,8% và tăng 6,5%. Theo kỳ hạn, dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 942 nghìn tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước và 7,1% so với thời điểm kết thúc năm 2020; dư nợ trung hạn và dài hạn đạt 1.391 nghìn tỷ đồng, tăng 1,4% và tăng 5,1%. Các TCTD tích cực nâng cao hiệu quả công tác quản lý rủi ro thông qua việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm nhằm phát hiện các khoản vay có vấn đề trước khi phát sinh tình trạng nợ xấu. Tính đến hết tháng 6/2021, tỷ lệ nợ xấu của các TCTD chiếm 1,9% trong tổng dư nợ và 2,1% trong tổng dư nợ cho vay. Trước đó, Tổng cục Thống kê cũng cho biết, tính đến ngày 21/6/2021, tăng trưởng tín dụng của toàn nền kinh tế ước đạt 5,47% so với cuối năm 2020 (cùng thời điểm năm 2020 tăng 2,45%). Tổng phương tiện thanh toán tăng 3,48% so với cuối năm 2020 (cùng thời điểm năm 2020 tăng 4,59%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 3,13% (cùng thời điểm năm 2020 tăng 4,35%). Với hoạt động của thị trường chứng khoán, tính đến hết tháng 5/2021, tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế của thị trường chứng khoán ước tính đạt 116,4 nghìn tỷ đồng, tăng 68% so với cùng kỳ năm trước. Trên thị trường cổ phiếu, tại thời điểm ngày 20/6/2021, chỉ số VN-Index đạt 1.377,8 điểm, tăng 3,7% so với cuối tháng trước và tăng 24,8% so với cuối năm trước; mức vốn hóa thị trường đạt 6.699,5 nghìn tỷ đồng, tăng 64,5% so với cùng thời điểm năm trước. Giá trị giao dịch bình quân trên thị trường chứng khoán trong tháng 6/2021 (đến ngày 20/6) đạt 32.013 tỷ đồng/phiên, tăng 265,3% so với cùng kỳ năm 2020; tính chung 6 tháng đầu năm 2021, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường đạt 22.428 tỷ đồng/phiên, tăng 302,3%. Trên thị trường trái phiếu, tính đến cuối tháng 5/2021 có 456 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 1.381 nghìn tỷ đồng, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm 2020. Trong lĩnh vực chứng khoán phái sinh và các sản phẩm khác, quy mô giao dịch bình quân đến ngày 20/6/2021 đạt 34.121 tỷ đồng/phiên, tăng 137,8% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 6 tháng đầu năm 2021 đạt 24.041 tỷ đồng/phiên, tăng 90,9%.

Hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch

Ngày 01/7/2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Tại Nghị quyết này, Chính phủ quyết nghị thực hiện 12 nhóm chính sách quan trọng nhằm hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động phục hồi sản xuất, sinh hoạt, cụ thể: 1. Chính sách giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Người sử dụng lao động được áp dụng mức đóng bằng 0% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong 12 tháng (từ ngày 1/7/2021 đến hết ngày 30/6/2022) cho người lao động thuộc đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (trừ cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, người lao động trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập được hưởng lương từ ngân sách nhà nước). Người sử dụng lao động hỗ trợ toàn bộ số tiền có được từ việc giảm đóng Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động phòng chống đại dịch Covid-19. 2. Chính sách tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất Người sử dụng lao động đã đóng đủ bảo hiểm xã hội hoặc đang tạm dừng đóng vào Quỹ hưu trí và tử tuất đến hết tháng 4/2021 mà bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 dẫn đến phải giảm từ 15% lao động tham gia bảo hiểm xã hội trở lên so với thời điểm tháng 4/2021 (kể cả lao động ngừng việc, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thỏa thuận nghỉ không hưởng lương) thì người lao động và người sử dụng lao động được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất 6 tháng kể từ thời điểm nộp hồ sơ đề nghị. Đối với trường hợp đã được giải quyết tạm dừng đóng theo Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 9/4/2020 và Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, nếu đủ điều kiện thì vẫn được giải quyết nhưng tổng thời gian tạm dừng đóng không quá 12 tháng. 3. Chính sách hỗ trợ đào tạo duy trì việc làm cho người lao động Người sử dụng lao động được hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp khi đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động từ đủ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm đề nghị hỗ trợ; thay đổi cơ cấu công nghệ theo quy định tại khoản 1 Điều 42 Bộ luật Lao động; có doanh thu của quý liền kề trước thời điểm đề nghị hỗ trợ giảm từ 10% trở lên so với cùng kỳ năm 2019 hoặc năm 2020; có phương án hoặc phối hợp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp có phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động theo quy định. Mức hỗ trợ tối đa là 1,5 triệu đồng/người lao động/tháng và thời gian hỗ trợ tối đa 06 tháng. Hồ sơ đề nghị hỗ trợ được nộp trong thời gian từ ngày 1/7/2021 đến hết ngày 30/6/2022. 4. Chính sách hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương Chính sách này áp dụng đối với người lao động làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên hoặc chi đầu tư và chi thường xuyên; cơ sở giáo dục dân lập, tư thục ở cấp giáo dục mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp bị tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch Covid-19 có thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương trong thời hạn của hợp đồng lao động từ 15 ngày liên tục trở lên; người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tính đến thời điểm ngay trước khi tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương. Mức hỗ trợ một lần như sau: từ 15 ngày liên tục trở lên đến dưới 1 tháng được hỗ trợ 1,855 triệu đồng/người; từ 1 tháng trở lên được hỗ trợ mức 3,710 triệu đồng/người. Thời gian được áp dụng tính từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021 và thời điểm bắt đầu tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021. 5. Chính sách hỗ trợ người lao động ngừng việc Người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động bị ngừng việc theo khoản 3 Điều 99 Bộ luật Lao động và thuộc đối tượng phải cách ly y tế hoặc trong các khu vực bị phong tỏa theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ 14 ngày trở lên trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021; đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tính đến thời điểm ngay trước khi ngừng việc được hỗ trợ một lần 1 triệu đồng/người. 6. Chính sách hỗ trợ người lao động chấm dứt hợp đồng lao động Hỗ trợ một lần 3,710 triệu đồng/người đối với người lao động làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên hoặc chi đầu tư và chi thường xuyên, cơ sở giáo dục dân lập, tư thục ở cấp giáo dục mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động do phải dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch Covid-19 trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021; đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp. 7. Chính sách hỗ trợ bổ sung và trẻ em Đối với người lao động đang tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương, ngừng việc, chấm dứt hợp đồng lao động đang mang thai được hỗ trợ thêm 1triệu đồng/người; đang nuôi con hoặc chăm sóc thay thế trẻ em chưa đủ 6 tuổi được hỗ trợ thêm 1 triệu đồng/trẻ em chưa đủ 6 tuổi và chỉ hỗ trợ cho 1 người là mẹ hoặc cha. Đối với trẻ em phải điều trị do nhiễm Covid-19 hoặc cách ly y tế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được ngân sách nhà nước đảm bảo các chi phí điều trị và đã được Chính phủ hỗ trợ 80.000 đồng/người/ngày sẽ được ngân sách nhà nước hỗ trợ thêm 1 triệu đồng/trẻ em trong thời gian điều trị, cách ly từ ngày 27/4/2021 đến hết ngày 31/12/2021. 8. Hỗ trợ tiền ăn đối với người phải điều trị nhiễm Covid-19 Đối với các trường hợp là F0 điều trị từ ngày 27/4/2021 đến hết ngày 31/12/2021, Chính phủ hỗ trợ 80.000 đồng/người/ngày với thời gian hỗ trợ theo thời gian điều trị thực tế nhưng tối đa 45 ngày. Đối với các trường hợp là F1 phải thực hiện cách ly y tế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, từ ngày 27/4/2021 đến hết ngày 31/12/2021, Chính phủ hỗ trợ tiền ăn mức 80.000 đồng/người/ngày với thời gian hỗ trợ tối đa 21 ngày. 9. Hỗ trợ một lần Chính phủ hỗ trợ một lần 3,710 triệu đồng/người đối với các đối tượng: đạo diễn nghệ thuật, diễn viên, họa sĩ giữ chức danh nghề nghiệp hạng IV đang hoạt động trong các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động nghệ thuật biểu diễn (không bao gồm các đơn vị nghệ thuật lực lượng vũ trang), phải dừng hoạt động từ 15 ngày trở lên để phòng, chống dịch Covid-19 trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021; hướng dẫn viên du lịch được cấp thẻ hành nghề hướng dẫn du lịch bị ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021. 10. Chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh Hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh, có đăng ký thuế và phải dừng hoạt động từ 15 ngày liên tục trở lên trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021 theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch Covid-19 được ngân sách Nhà nước hỗ trợ một lần 3 triệu đồng/hộ. 11. Chính sách cho vay trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất Thứ nhất, với trường hợp người sử dụng lao động trả lương ngừng việc: Người sử dụng lao động được vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất 0% và không phải thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay để trả lương ngừng việc đối với người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc phải ngừng việc từ 15 ngày liên tục trở lên theo quy định khoản 3 Điều 99 Bộ luật Lao động, trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/3/2022. Thứ hai, trường hợp người sử dụng lao động trả phục hồi sản xuất: Người sử dụng lao động phải tạm dừng hoạt động do yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch Covid-19 trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/3/2022 khi quay trở lại sản xuất kinh doanh và người sử dụng lao động hoạt động trong lĩnh vực vận tải, hàng không, du lịch, dịch vụ lưu trú và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/3/2022 được vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất 0% và không phải thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay để trả lương cho người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Người sử dụng lao động được áp dụng chính cho vay khi không có nợ xấu tại tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại thời điểm đề nghị vay vốn. Mức cho vay tối đa bằng mức lương tối thiểu vùng đối với số người lao động đang làm việc theo hợp đồng lao động theo thời gian trả lương thực tế tối đa 3 tháng. Thời hạn vay vốn dưới 12 tháng. 12. Đối với lao động không có giao kết hợp đồng lao động (lao động tự do) và một số đối tượng đặc thù khác Căn cứ điều kiện cụ thể và khả năng ngân sách của địa phương, các tỉnh, thành phố xây dựng tiêu chí, xác định đối tượng, mức tiền hỗ trợ nhưng mức hỗ trợ không thấp hơn 1.500.000 đồng/người/lần hoặc 50.000 đồng/người/ngày căn cứ theo thực tế số ngày tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của địa phương.

"Nhọc nhằn" bất động sản phát mãi

Ngay cả trong thời điểm giá bất động sản không ngừng tăng ở các phân khúc, các bất động sản (BĐS) phát mãi dù được "đại hạ giá" vẫn chẳng thể hấp dẫn người mua. Chỉ trong 6 tháng đầu năm, các ngân hàng đã liên tục rao bán các tài sản thế chấp với giá khởi điểm từ vài tỷ đến hàng nghìn tỷ đồng. Trong đó, mới đây, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã rao bán một khoản nợ ngàn tỉ đồng của Công ty CP Tập đoàn Khải Vy. Khoản nợ này có tổng dư nợ trên 1.035 tỷ đồng. Đáng chú ý, trong danh sách tài sản thế chấp có Trung tâm hội nghị tiệc cưới Crystal Palace tại đường Nguyễn Lương Bằng (Q.7, TP. Hồ Chí Minh), công trình được xây dựng với tổng vốn đầu tư hơn 580 tỷ đồng, hiện giá rao bán còn 356 tỷ đồng. Đây được xem là mức giá chỉ bằng 60% so với giá đất cùng khu vực, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có ai mua. Tương tự, BIDV cũng rao bán khoản nợ của Công ty Thuận Thảo Nam Sài Gòn, với giá rao bán dưới 800 tỷ đồng. Trong khi đó, theo tìm hiểu của phóng viên, các lô đất được giao bán trên thị trường ước tính đã gần 2.000 tỷ đồng, gấp 2,5 lần tổng giá trị rao bán nhưng vẫn chẳng ai ngó ngàng. Theo ông Nguyễn Văn Đính, Phó Chủ tịch Hội Môi giới BĐS Việt Nam, BĐS phát mại, thanh lý khá hấp dẫn do mức giá “mềm”. Tuy nhiên, với những người mua nhà để ở thì họ lại không mặn mà, khi quan niệm của đa số người dân Việt Nam khi mua nhà là tránh những ngôi nhà mà chủ cũ làm ăn “bết bát”. Bên cạnh đó, việc mua các BĐS thanh lý có thể đi kèm nhiều rắc rối về pháp lý cũng như sự đồng thuận của chủ tài sản. Ngoài ra, không ít tài sản bảo đảm đã được định giá cao hơn giá trị thực tế khi phê duyệt khoản vay. Do đó, khi thanh lý, các ngân hàng thường có xu hướng định giá theo giá trị khoản nợ mà không sát với giá thị trường. Đồng quan điểm, Luật sư Triệu Trung Dũng - Đoàn Luật sư Hà Nội cho rằng, bất động sản phát mãi phải đối mặt với các rủi ro như tài sản phát mại bị vướng tranh chấp do gắn liền với quyền sử dụng đất của người khác hoặc nằm trong diện quy hoạch… khiến người mua tài sản phát mại không thể sử dụng được. Người mua cũng có khả năng gặp phải các vấn đề phức tạp trong mối quan hệ 3 bên gồm chủ sở hữu tài sản, ngân hàng và người mua. Do đó, bất động sản phát mãi không hấp dẫn người mua dù đã giảm giá khá nhiều.

130 quốc gia ủng hộ đề xuất của Mỹ về mức thuế tối thiểu toàn cầu

Bộ trưởng Tài chính Mỹ Janet Yellen thông báo hôm thứ Năm rằng nhóm 130 quốc gia đã đồng ý mức thuế tối thiểu toàn cầu đối với các doanh nghiệp, đây là một phần của thỏa thuận rộng hơn nhằm sửa đổi các quy tắc thuế quốc tế. "Trong nhiều thập kỷ, Mỹ đã tham gia vào một cuộc cạnh tranh thuế quốc tế, hạ mức thuế doanh nghiệp chỉ để nhìn các quốc gia khác giảm thuế của họ để đáp trả. Kết quả là một cuộc chạy đua thuế suất toàn cầu đến đáy. Ai có thể hạ thấp thuế suất doanh nghiệp của họ hơn nữa và nhanh hơn? Không có quốc gia nào đã chiến thắng trong cuộc đua này", bà Yellen nói trong một tuyên bố về hiệp định. Bộ trưởng Tài chính Mỹ cho rằng: "Thỏa thuận ngày nay của 130 quốc gia đại diện cho hơn 90% GDP toàn cầu là một dấu hiệu rõ ràng: cuộc đua thuế suất xuống đáy còn một bước nữa là kết thúc". Thỏa thuận cũng được cho là bao gồm một khuôn khổ để loại bỏ thuế dịch vụ kỹ thuật số, nhằm vào các công ty công nghệ lớn nhất của Mỹ. Bên cạnh đó, các quan chức đã đồng ý với một kế hoạch thuế mới sẽ liên kết với những nơi mà các công ty đa quốc gia đang thực sự kinh doanh, thay vì nơi họ đặt trụ sở chính. Phần lớn cơ sở để áp dụng GMT đã được đặt ra bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Tổ chức đã phát hành bản kế hoạch chi tiết vào mùa thu năm ngoái phác thảo cách tiếp cận hai yếu tố chính đối với thuế quốc tế. Khuôn khổ bao trùm của OECD về Xói mòn cơ sở và Dịch chuyển lợi nhuận, được gọi là BEPS, là sản phẩm của các cuộc đàm phán với 137 quốc gia thành viên và khu vực pháp lý. Thông báo của bà Yellen không bao gồm thuế suất thực tế thuế tối thiểu toàn cầu sẽ được đặt ở mức bao nhiêu, nhưng chính quyền ông Biden mong muốn thúc đẩy nó đạt ít nhất 15%. Các bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương G-20 dự kiến ​​sẽ gặp nhau tại Venice, Ý vào cuối tháng này và kế hoạch thuế quốc tế dự kiến ​​sẽ nhận được sự chấp thuận cao trong chương trình nghị sự. Thỏa thuận GMT thể hiện một phần quan trọng trong điều mà Tổng thống Joe Biden đã gọi là "chính sách đối ngoại đối với tầng lớp trung lưu". Chiến lược này cũng nhấn mạnh cách chính sách đối ngoại và chính sách đối nội có thể được tích hợp vào một nền tảng trung gian mới giữa cách tiếp cận truyền thống bảo thủ và tự do đối với các vấn đề toàn cầu. "Chính sách đối ngoại đối với tầng lớp trung lưu" nhằm đảm bảo rằng toàn cầu hóa, thương mại, nhân quyền và quân đội đều có thể được khai thác vì lợi ích của những người Mỹ đang làm việc, không chỉ cho các tỷ phú và các tập đoàn đa quốc gia, nhưng cũng không phải vì những lý do liên quan tới chủ nghĩa duy tâm.

Tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, chủ xe cơ giới có nghĩa vụ gì?

Nghị định số 03/2021/NĐ-CP ngày 15/1/2021 của Chính phủ quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới quy định, ngoài các nghĩa vụ quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm có nghĩa vụ phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm xem xét tình trạng xe trước khi cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm có nghĩa vụ kịp thời thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm để áp dụng phí bảo hiểm phù hợp cho thời gian còn lại của hợp đồng Bảo hiểm trong trường hợp có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được Bảo hiểm. Đặc biệt, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm phải luôn mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm còn hiệu lực (bản cứng hoặc bản điện tử) khi tham gia giao thông, xuất trình giấy tờ này khi có yêu cầu của lực lượng Cảnh sát giao thông và cơ quan chức năng có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật; tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ. Phối hợp giải quyết khi xảy ra tai nạn giao thông Khi tai nạn giao thông xảy ra, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm có nghĩa vụ phải có trách nhiệm thông báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm để phối hợp giải quyết, tích cực cứu chữa, hạn chế thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản, bảo vệ hiện trường tai nạn; thông báo ngay cho cơ quan Công an hoặc chính quyền địa phương nơi gần nhất để phối hợp giải quyết vụ tai nạn giao thông theo quy định và phối hợp với cơ quan chức năng trong việc điều tra, xác minh nguyên nhân vụ tai nạn giao thông. \Đồng thời, không được di chuyển, tháo gỡ hoặc sửa chữa tài sản khi chưa có ý kiến chấp thuận của doanh nghiệp bảo hiểm; trừ trường hợp cần thiết để đảm bảo an toàn, đề phòng hạn chế thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản hoặc phải thi hành theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Chủ động thu thập và cung cấp các tài liệu quy định trong hồ sơ bồi thường bảo hiểm thuộc trách nhiệm của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Bảo hiểm trong quá trình xác minh các tài liệu do mình cung cấp. Bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm phải thông báo và trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại hoặc người thừa kế hoặc đại diện của người bị thiệt hại biết số tiền họ được doanh nghiệp bảo hiểm trả đối với từng trường hợp thiệt hại về sức khỏe, tính mạng theo quy định; thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, việc sở hữu bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự là vô cùng hữu ích. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự sẽ giảm bớt phần nào gánh nặng đối với các chủ xe cơ giới nếu không may có tai nạn xảy ra.

Những điểm mới về bảo hiểm y tế có hiệu lực từ ngày 01/7/2021

Ngày 13/11/2020, Quốc hội đã thông qua Luật Cư trú năm 2020, có hiệu lực từ ngày 01/7/2021. Luật này sửa đổi, bổ sung nội dung một số Luật khác liên quan, trong đó có Luật BHYT. Cụ thể, tại Khoản 2 Điều 38 Luật Cư trú sửa đổi Khoản 7 Điều 2 Luật BHYT như sau: Hộ gia đình tham gia BHYT là những người cùng đăng ký thường trú hoặc cùng đăng ký tạm trú tại một chỗ ở hợp pháp theo quy định của pháp luật về cư trú. Trong khi đó, Luật BHYT hiện đang quy định: Hộ gia đình tham gia BHYT bao gồm toàn bộ người có tên trong Sổ hộ khẩu hoặc Sổ tạm trú. Như vậy, theo quy định mới, những người thuộc diện tham gia BHYT hộ gia đình phải là những người cùng đăng ký thường trú hoặc cùng đăng ký tạm trú tại một chỗ ở hợp pháp, thay vì cùng Sổ hộ khẩu hoặc Sổ tạm trú như trước đây. Sở dĩ có sự điều chỉnh này là do Luật Cư trú năm 2020 quy định, từ ngày 01/01/2023, chính thức bãi bỏ Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú, thay bằng việc quản lý trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đồng thời, từ ngày 01/7/2021, cơ quan đăng ký cư trú cũng sẽ không cấp mới, cấp lại Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú mà thực hiện điều chỉnh, cập nhật thông tin của công dân trên Cơ sở dữ liệu về cư trú. Bổ sung đối tượng được ngân sách nhà nước (NSNN) mua thẻ BHYT Tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. So với quy định hiện hành tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013, Điều 5 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP đã bổ sung thêm đối tượng: “Người thuộc diện hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 đến 22 tuổi và người con đó đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất (người con này đang được hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội)” được NSNN mua thẻ BHYT. Theo quy định trước đây, nhóm đối tượng này chỉ được NSNN hỗ trợ mua thẻ BHYT tối thiểu 70%. Người có công và thân nhân được hưởng chính sách BHYT Từ ngày 01/7/2021, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH14 chính thức có hiệu lực. Theo Pháp lệnh mới, thì “Vợ hoặc chồng liệt sỹ lấy chồng hoặc vợ khác mà nuôi con liệt sỹ đến tuổi trưởng thành hoặc chăm sóc cha đẻ, mẹ đẻ liệt sỹ khi còn sống hoặc vì hoạt động cách mạng mà không có điều kiện chăm sóc cha đẻ, mẹ đẻ liệt sỹ khi còn sống” sẽ được NSNN mua thẻ BHYT, trước đây không có quy định này. Thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo định suất Thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo định suất là phương thức thanh toán giữa cơ quan BHXH và cơ sở khám chữa bệnh BHYT theo mức phí được xác định trước theo phạm vi dịch vụ cho một đầu thẻ đăng ký tại cơ sở cung ứng dịch vụ y tế trong một khoảng thời gian nhất định. Ngày 29/4/2021, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 04/2021/TT-BYT hướng dẫn thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo định suất. Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2021. Theo đó, Thông tư xác định Quỹ định suất là số tiền được xác định trước, giao cho cơ sở KCB BHYT để khám chữa bệnh ngoại trú cho người bệnh có thẻ BHYT trong phạm vi định suất, trong khoảng thời gian nhất định. Tại các cơ sở y tế từ tuyến huyện trở xuống sẽ áp dụng phương thức thanh toán theo định suất đối với toàn bộ chi phí khám chữa bệnh ngoại trú trong phạm vi hưởng của người tham gia BHYT. Tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh, tuyến Trung ương sẽ áp dụng tại các cơ sở có ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT ban đầu và chỉ áp dụng thanh toán theo định suất đối với phần chi phí KCB ngoại trú của người đăng ký khám chữa bệnh ban đầu phát sinh tại chính cơ sở khám chữa bệnh ban đầu đó. Tuy nhiên, phạm vi định suất không bao gồm các chi phí khám chữa bệnh của đối tượng, bệnh, nhóm bệnh sau: Chi phí của các đối tượng có mã thẻ quân nhân (QN), cơ yếu (CY), công an (CA); Chi phí vận chuyển người bệnh có thẻ BHYT; Toàn bộ chi phí của lần khám chữa bệnh BHYT có sử dụng dịch vụ kỹ thuật thận nhân tạo chu kỳ hoặc dịch vụ kỹ thuật lọc màng bụng hoặc dịch lọc màng bụng. Toàn bộ chi phí của lần khám chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc chống ung thư hoặc dịch vụ can thiệp điều trị bệnh ung thư đối với người bệnh được chẩn đoán bệnh ung thư gồm các mã chẩn đoán từ C00 đến 297 và các mã chẩn đoán từ D00 đến D09 thuộc bộ mã Phân loại bệnh quốc tế lần thứ X (ICD-10). Toàn bộ chi phí của lần khám chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc điều trị Hemophilia hoặc máu hoặc chế phẩm của máu đối với người bệnh được chẩn đoán bệnh Hemophilia gồm các mã D60, D67, D68 thuộc bộ mã ICD-10. Toàn bộ chi phí của lần khám chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc chống thải ghép đối với người bệnh ghép tạng; Toàn bộ chi phí của lần khám chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc điều trị viêm gan C của người bệnh bị bệnh viên gan C; Toàn bộ chi phí của lần khám chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc kháng HIV hoặc dịch vụ xét nghiệm tải lượng HIV của người bệnh có thẻ BHYT được chẩn đoán bệnh HIV. Công khai giá thu dịch vụ khám chữa bênh BHYT đối với người bệnh Thông tư số 05/2021/TT-BYT ngày 5/5/2021 của Bộ Y tế quy định về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ sở khám chữa bệnh bệnh công lập. Trong đó, quy định, cơ sở khám chữa bệnh phải thông tin kịp thời và công khai với người bệnh và người đại diện hợp pháp của người bệnh giá thu dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm: Giá thu dịch vụ khám chữa bệnh đối với người bệnh có thẻ BHYT, giá thu dịch vụ khám chữa bệnh không theo yêu cầu đối với người bệnh không có thẻ BHYT; giá dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu của người bệnh; giá các loại dịch vụ khác tại đơn vị. Ngoài ra, còn quy định cơ sở y tế phải công khai các chế độ miễn, giảm giá dịch vụ khám chữa bệnh và thực hiện chính sách BHYT, thanh toán giá và chi phí khám chữa bệnh BHYT theo quy định của pháp luật. Có các hình thức công khai thông tin như sau: - Niêm yết công khai, chạy thông tin trên băng thông tin điện tử. - Các văn bản, bản vẽ, sơ đồ chỉ dẫn, dấu chỉ đường đến các khu vực, khoa, phòng và đơn vị trực thuộc trong đơn vị; các bản nội quy, quy định, giá các loại dịch vụ khám chữa bệnh và giá các loại dịch vụ phục vụ người bệnh tại các địa điểm thuận lợi có nhiều người bệnh qua lại. - Việc niêm yết công khai phải thường xuyên, liên tục và kịp thời. - Tổ chức thông tin, truyền thông, tư vấn về chế độ chính sách, những vấn đề có liên quan đến việc khám chữa bệnh kể từ khi người bệnh mới đến phòng khám bệnh, phòng cấp cứu, buồng bệnh. - Thông báo trực tiếp với người bệnh, người đại diện hợp pháp của người bệnh; tổ chức sinh hoạt hội đồng người bệnh của khoa, phòng và đơn vị. Phụ nữ mang thai xét nghiệm HIV được hưởng chế độ BHYT Đây là nội dung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), có hiệu lực từ ngày 01/7/2021. Theo Luật này, phụ nữ mang thai xét nghiệm HIV theo chỉ định chuyên môn được quỹ BHYT, NSNN chi trả chi phí xét nghiệm như sau: Quỹ BHYT chi trả cho người có thẻ BHYT theo mức hưởng quy định của pháp luật về BHYT; NSNN chi trả phần chi phí Quỹ BHYT không chi trả nêu trên và chi trả cho người không có thẻ BHYT theo mức giá dịch vụ khám chữa bệnh BHYT. Tuy nhiên, từ trước ngày 01/7/2021, Quỹ BHYT đã thực hiện thanh toán chi phí xét nghiệm HIV trong khám chữa bệnh đối với phụ nữ trong thời kỳ mang thai và sinh con theo yêu cầu chuyên môn theo quy định tại Thông tư số 27/2018/TT-BYT ngày 26/10/2018 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện BHYT và khám chữa bệnh liên quan đến HIV/AIDS. Quy định này đã được luật hóa tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người.

Một số lưu ý về quỹ đóng trên thị trường chứng khoán

Theo Điều 112, Luật Chứng khoán, việc tăng vốn của quỹ đóng phải được sự chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và đáp ứng các điều kiện sau đây: Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán có quy định việc tăng vốn của quỹ; Lợi nhuận của quỹ trong năm liền trước năm đề nghị tăng vốn phải là số dương; Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán trong thời hạn 02 năm, tính đến thời điểm đề nghị tăng vốn; Phương án phát hành thêm chứng chỉ quỹ đóng phải được Đại hội nhà đầu tư thông qua. Chứng chỉ quỹ đóng chỉ được phát hành cho nhà đầu tư hiện hữu của quỹ thông qua phát hành quyền mua chứng chỉ quỹ đóng được chuyển nhượng. Trường hợp nhà đầu tư hiện hữu không mua hết quyền mua thì được phát hành cho nhà đầu tư bên ngoài. Cần lưu ý rằng, kể từ ngày 1/1//2021, việc thay đổi thời hạn hoạt động của quỹ đóng phải được sự chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và đáp ứng các điều kiện sau đây: Việc thay đổi thời hạn hoạt động của quỹ đã được Đại hội nhà đầu tư thông qua; Trường hợp gia hạn thời hạn hoạt động, giá trị tài sản ròng của quỹ tại kỳ định giá gần nhất trước thời điểm nộp hồ sơ gia hạn không thấp hơn 50 tỷ đồng. Liên quan đến các quy định của quỹ đóng, theo Điều 24, Thông tư số 98/2020/TT-BTC ngày 16/11/2020 của Bộ Tài chính hướng dẫn hoạt động và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thì danh mục đầu tư của quỹ phải phù hợp với mục tiêu và chính sách đầu tư đã được quy định tại Điều lệ quỹ và công bố tại Bản cáo bạch. Quỹ được phép đầu tư vào các loại tài sản sau đây: Tiền gửi các ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật ngân hàng; Công cụ thị trường tiền tệ bao gồm giấy tờ có giá, công cụ chuyển nhượng theo quy định của pháp luật; Công cụ nợ của Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương; Cổ phiếu niêm yết, cổ phiếu đăng ký giao dịch, trái phiếu niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán, chứng chỉ quỹ đại chúng; Trái phiếu chưa niêm yết của các tổ chức phát hành hoạt động theo pháp luật Việt Nam; cổ phiếu của công ty cổ phần, phần vốn góp tại công ty trách nhiệm hữu hạn; Quyền phát sinh gắn liền với chứng khoán mà quỹ đang nắm giữ; Bất động sản đáp ứng điều kiện đưa vào kinh doanh theo quy định pháp luật về kinh doanh bất động sản. Bên cạnh đó, cơ cấu danh mục đầu tư của quỹ phải phù hợp với các quy định tại Điều lệ quỹ và phải bảo đảm: Không đầu tư vào chứng khoán của một tổ chức phát hành quá 10% tổng giá trị chứng khoán đang lưu hành của tổ chức đó, trừ công cụ nợ của Chính phủ; Không đầu tư quá 20% tổng giá trị tài sản của quỹ vào chứng khoán đang lưu hành và các tài sản (nếu có) quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 24 của một tổ chức phát hành, trừ công cụ nợ của Chính phủ; Không đầu tư quá 10% tổng giá trị tài sản của quỹ vào các tài sản quy định tại điểm đ và g khoản 2 Điều 24 Thông tư số 98/2020/TT-BTC. Đồng thời, không đầu tư quá 30% tổng giá trị tài sản của quỹ vào các tài sản quy định tại điểm a, b, d, đ khoản 2 Điều 24 Thông tư số 98/2020/TT-BTC phát hành bởi các công ty trong cùng một nhóm công ty có quan hệ sở hữu với nhau thuộc các trường hợp sau đây: công ty mẹ, công ty con; các công ty sở hữu trên 35% cổ phần, phần vốn góp của nhau; nhóm công ty con có cùng một công ty mẹ; Không đầu tư vào chứng chỉ của chính quỹ đó. Ngoài ra, chỉ được đầu tư vào chứng chỉ quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng do công ty quản lý quỹ khác quản lý và bảo đảm các hạn mức sau: Không đầu tư vào quá 10% tổng số chứng chỉ quỹ đang lưu hành của một quỹ đại chúng, cổ phiếu đang lưu hành của một công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; Không đầu tư quá 20% tổng giá trị tài sản của quỹ vào chứng chỉ quỹ của một quỹ đại chúng, cổ phiếu đang lưu hành của một công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; Không đầu tư quá 30% tổng giá trị tài sản của quỹ vào các chứng chỉ quỹ đại chúng, cổ phiếu công ty đầu tư chứng khoán đại chúng.

Tổ chức của Công giáo

 


 Giáo hội Công giáo có 3 cấp hành chính đạo gồm:

- Tòa thánh Vatican (còn gọi là Giáo hội hoàn vũ) là cơ quan điều hành Giáo hội toàn thế giới, do Giáo hoàng đứng đầu.

- Giáo phận (còn gọi là Giáo hội địa phương) do Giám mục cai quản.

- Giáo xứ (còn gọi là Giáo hội cơ sở) do Linh mục coi sóc.

- Ngoài ra, Giáo hội Công giáo còn có các tồ chức mang tính liên kết như: Giáo hội khu vực (Liên Hội đồng Giám mục châu Á, Liên Hội đồng Giám mục châu Âu, Liên Hội đồng Giám mục châu phi-

Giáo hội ở một quốc gia như Giáo hội Công giáo Việt Nam (Hội đồng Giám mục Việt Nam),

Giáo tỉnh (còn gọi là Tổng Giáo phận) liên kết các giáo phận gần nhau do Tổng Giám mục đứng đầu, Giáo hạt liên kết các giáo xứ ở cạnh nhau do Linh mục Hạt trưởng phụ trách.

- Giáo triều Vatican là một tổ chức đặc biệt, có vai trò kép: một quốc gia độc lập và trung tâm điều hành hoạt động của Công giáo toàn cầu. Giáo hoàng vừa là thủ lĩnh tối cao của Giáo hội Công giáo toàn cầu vừa là nguyên thủ quốc gia - Nhà nước Vatican.

+ Hệ thống tổ chức của Nhà nước Vatican gồm: Phủ Quốc vụ khanh với 2 bộ phận là Thường vụ và Ngoại vụ (ngoại giao), 11 bộ là cơ quan điều hành, 12 hội đồng Giáo hoàng, 3 tòa án là cơ quan tư pháp, 3 văn phòng là cơ quan chuyên môn (Quản lý Tông tòa, Quản trị Tài sản và Kinh tế Tòa Thánh). Nhà nước Vatican có quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, dân số khoảng 1.000 người; có quan hệ ngoại giao với 177 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

+ Ngoài những tổ chức mang tính chất hành chính, Giáo hội Công giáo còn có rất nhiều dòng tu và hội đoàn.

- Hệ thống giáo phẩm:

+ Giáo sĩ Công giáo gồm: Giám mục (còn gọi là Đức Cha), Linh mục (còn gọi là    tòa, Giám quản tông tòa, Linh mục chính xứ, Linh mục phó xứ, Bề trên tổng quyền, Bề trên giám tỉnh các dòng Tòa Thánh. Công giáo áp dụng luật độc thân đối với hàng giáo phẩm.

Cảnh báo hình thức lừa đảo mời vay vốn

Thời gian gần đây một số đối tượng đã mạo danh Công ty tài chính Bưu điện PTF mời khách hàng vay vốn và sử dụng ứng dụng Auto Cash để giải ngân khoản tiền ảo với con dấu giả, chữ ký giả của người có thẩm quyền để dụ dỗ khách hàng chuyển khoản và chiếm đoạt. Bộ Công Thương cảnh báo chiêu trò lừa đảo trúng thưởng qua điện thoại, mạng xã hội Theo cảnh báo của Công ty tài chính Bưu điện PTF, thủ đoạn của đối tượng như sau: Bước 1: Đối tượng gọi điện tới khách hàng mời vay và hướng dẫn khách hàng cài đặt ứng dụng “Auto Cash” giải ngân nhanh. Bước 2: Tài khoản Zalo có tên “Phê duyệt PTF “ sẽ kết bạn với khách hàng để dụ dỗ, thuyết phục khách hàng vay vốn, chuyển tiền đặt cọc cho đối tượng. Bước 3: Sau khi cài đặt ứng dụng và nhập các thông tin cá nhân như: Số điện thoại, chứng minh nhân dân... khách hàng sẽ được ứng dụng Auto Cash giải ngân một khoản tiền ảo kèm theo một hợp đồng tín dụng với con dấu giả mạo Công Ty Tài chính Bưu điện PTF. Bước 4: Để nhận được số tiền giải ngân khách hàng phải gửi mật khẩu để xác nhận. Để có mật khẩu này khách hàng phải tạm ứng và chuyển khoản đặt cọc một số tiền. Sau khi khách hàng chuyển tiền cọc thì đối tượng lừa đảo cắt liên lạc hoàn toàn với khách hàng. “Đây là hành vi lừa đảo, vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho người dân và ảnh hưởng đến hình ảnh và thương hiệu của PTF”, đại diện lãnh đạo Công ty khẳng định. Do đó, Công ty Tài chính Bưu điện PTF khuyến cáo người dân lưu ý: Công ty PTF không áp dụng đăng ký khoản vay, giải ngân và yêu cầu đặt cọc, tạm ứng.… qua ứng dụng Auto Cash cũng như bất kỳ ứng dụng online nào khác. Với tất cả các khoản vay của PTF, khách hàng đều phải làm thủ tục và ký hồ sơ trực tiếp tại các điểm giao dịch của công ty. Người dân, khách hàng cần cảnh giác với các ứng dụng cho vay trực tuyến với điều kiện quá dễ dàng. Đồng thời, tuyệt đối không thực hiện chuyển tiền, đưa tiền mặt cũng như cung cấp thông tin cá nhân cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào có biểu hiện nghi ngờ cũng như có các dấu hiệu lừa đảo đã được nêu trên đây.