Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

Chống lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Đây cũng là lĩnh vực dễ bị lợi dụng vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thâm độc này là vấn đề cấp thiết.

Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều đó không chỉ gây khó khăn cho công tác tôn giáo mà còn là nguyên nhân và điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật để gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ, gây mất đoàn kết dân tộc và đe dọa ổn định chính trị - xã hội; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội.

Nhà nước ta bên cạnh việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng nghiêm cấm mọi hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Bất kỳ ai, nếu vi phạm pháp luật dù với bất cứ lý do gì đều sẽ bị xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật.

Có thể khẳng định, những luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là những đánh giá chủ quan, phiến diện của một số người thiếu thiện chí với Việt Nam. Những luận điệu sai trái này không thể làm khó Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh, mở rộng hợp tác, giao lưu trên trường quốc tế./. 

VÌ SAO ĐẾ QUỐC MỸ NÉM BOM Ở VIỆT NAM NHIỀU HƠN CẢ TRONG THẾ CHIẾN II?

     Với sự phát triển của khoa học công nghệ và những loại máy bay ném bom cồng kềnh, hiện đại, quân đội Mỹ đã thả xuống Việt Nam lượng bom khổng lồ, gấp nhiều lần lượng bom được Mỹ sử dụng khắp thế giới trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Theo tính toán được quân đội Mỹ công bố, số lượng bom được Mỹ ném xuống toàn Đông Dương trong suốt 9 năm tiến hành can thiệp quân sự trực tiếp vào khu vực này vào khoảng 7,6 triệu tấn.

Ba quốc gia ở Đông Dương bao gồm Việt Nam, Lào và Campuchia đều chịu một số lượng bom tương đương nhau, tuy nhiên Việt Nam là đất nước bị thiệt hại nặng nhất do Mỹ nhắm thẳng vào các thành phố lớn để tấn công.

Trong khi đó ở Lào và Campuchia, Mỹ chủ yếu ném bom ở khu vực rừng núi với nỗ lực cắt đứt tuyến đường vận tải chi viện vào Nam của ta.

Sở dĩ Mỹ có thể ném được một số lượng bom khổng lồ trong Chiến tranh Việt Nam là do sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật và công nghệ mà nước này áp dụng vào Chiến tranh Việt Nam so với thời Chiến tranh Thế giới thứ hai. 

Cụ thể, loại máy bay ném bom có khả năng mang theo nhiều bom nhất của Mỹ ở Việt Nam là pháo đài bay B-52, có khả năng mang theo tối đa tới 31 tấn bom. Trong khi đó ở Chiến tranh Thế giới thứ hai, số lượng bom tối đa một chiếc B-17 mang theo được chỉ là 1,8 tấn.

Về mặt lý thuyết, các tướng lĩnh quân sự Mỹ đã tin rằng số bom mà họ sử dụng ở Việt Nam có thể đưa đất nước ta về thời kỳ đồ đá.

Tuy nhiên trên thực tế, việc Mỹ ném bom ở Việt Nam tỏ ra kém hiệu quả, lãng phí và hoàn toàn không đủ để dập tắt được khát vọng thống nhất lãnh thổ của Việt Nam.

Cụ thể, mặc dù có thể mang nhiều bom hơn, tuy nhiên không quân Mỹ lại thường ném không hiệu quả, không gây ra được quá nhiều thiệt hại lớn về người và của cho phía ta.

Các phi công Mỹ khi gặp hoả lực phòng không quá rát của ta cũng thường lảng tránh, cơ động xa mục tiêu đã dự định trước đó và cố thả hết bom để quay về càng sớm càng tốt. 

Cuối cùng, thông tin tình báo kém hiệu quả, các chiến thuật sử dụng qua mỗi trận đánh không có nhiều thay đổi, tác chiến quá máy móc đã khiến không quân Mỹ không những không gây được nhiều thiệt hại cho ta mà còn phải hứng chịu nhiều thiệt hại ghê gớm./. (Kiến thức).

Nguồn ảnh: Pinterest./.












Yêu nước ST.


Giá trị bất diệt của khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 

  

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức và đề cao sức mạnh của đoàn kết, Người khẳng định như một chân lý, đoàn kết là cội nguồn của mọi sự thành công, đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - thành công, thành công, đại thành công. Theo Hồ Chí Minh,đoàn kết là một chiến lược của cách mạng đoàn kết dân tộc phải rộng rãi, chân thành, triệt để, lâu dài. Người chỉ rõ: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài...Không phải là một thủ đoạn chính trị ...Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

Đối với dân tộc Việt Nam, đoàn kết là truyền thống quý báu tạo nên sức mạnh to lớn để xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta phải luôn đương đầu với thiên tai khốc liệt và các thế lực xâm lược lớn mạnh hơn ta nhiều lần cả về kinh tế, quân sự. Quá trình đấu tranh đó đã tạo ra sự cố kết cộng đồng, làng, nước, trở thành một trong những giá trị bản sắc văn hoá Việt Nam, trở thành truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta. Sự đoàn kết, tính cộng đồng của dân tộc đã được các thế hệ người Việt Nam giữ gìn, phát huy trong mọi thời kỳ lịch sử.

Hiện nay các thế lực thù địch ra sức chống phá khối đoàn kết của dân tộc ta, bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác nhau, như lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, sai sót trong chỉ đạo, quản lý nhà nước của chính quyền các cấp để gây chia rẽ từ nội bộ Đảng, chính quyền và nhân dân; từ đó kích động, lôi kéo, mua chuộc nhân dân để nhân dân biểu tình, chống đối, đập phá, gây mất trật tự an ninh chính trị…Những hành vi đó là vi phạm pháp luật của Nhà nước, chúng ta cần phải đấu tranh quyết liệt, đấu tranh vô hiệu hóa với những tên đứng đầu./.              

Thứ Tư, 10 tháng 11, 2021

TRẬN CHIẾN HUYỀN THOẠI TRÊN ĐỒI KHÔNG TÊN (1967)!

      Đồi Không Tên (28-2-1967) như cái tên bình dị của mình vốn rất ít được nêu lên trong các cuốn sách về lịch sử chiến tranh nhưng ít người biết rằng đó là một trong những trận đánh tiêu biểu nhất minh chứng cho nghệ thuật lấy ít địch nhiều và ý chí bằng thép của những người lính bộ binh Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những nguồn cổ vũ lớn của phong trào thi đua diệt Mỹ trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam nước ta, cuội nguồn của bài hát “Ơi con suối La La” của nhạc sĩ Huy Thục về sau.


Trận đánh diễn ra từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều ngày 28-2-1967 trên một ngọn đồi dưới chân núi Cù Đinh (làng Chanh, xã Tân Kim, Cam Lộ, Quảng Trị) giữa 1 tiểu đội lính vận tải, bảo vệ kho [thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn pháo binh 84] và 200 lính biệt kích thủy quân lục chiến - lực lượng tinh nhuệ nhất của quân đội Hoa Kỳ.


Tiểu đội 10 người gồm Lương Văn Tầm, Nguyễn Hồng Kinh, Đặng Văn Hạ, Lê Văn Chính, Nguyễn Văn Tía, Nguyễn Nhân Nhe, Nguyễn Văn Niên, Nguyễn Văn Nhân, (?) do trung sĩ Bùi Ngọc Đủ chỉ huy có nhiệm vụ vận chuyển, xây dựng và bảo vệ kho chứa hơn 3.000 quả đạn pháo H6, H12, ĐKB dùng cho chiến dịch tấn công vào điểm cao 241 Quán Ngang, và Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ ở thị xã Đông Hà, Quảng Trị đầu năm 1967.


Nhận được tin thám báo, rạng sáng ngày 28-2-1967, chỉ huy quân đội Mỹ bất ngờ dùng trực thăng đổ 200 lính biệt kích thủy quân lục chiến lên khu vực Đồi Không Tên thuộc vùng Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị nhằm phá hủy kho đạn được mà theo đánh giá của họ là cực lớn của Quân Giải phóng. Một trận đánh không cân sức đã diễn ra quanh con suối La La ngay dưới chân đồi.


10 tay súng Việt Nam được trang bị nhẹ, vũ khí cá nhân gồm 6 khẩu AK47, 4 khẩu súng trường CKC, lựu đạn quần nhau quyết liệt từng mét đất gần 1 ngày với một lực lượng trội hơn mình 20 lần, được pháo binh, không quân (2 trực thăng, 4 cường kích mặt đất) của chúng yểm trợ. Dù bị tấn công bất ngờ nhưng các chiến sĩ quân Giải phóng không hề hoảng loạn, nhanh chóng bố trí đội hình chiến đấu, kiên nhẫn chờ cho địch đến thật gần (5 - 6m) mới đồng loạt nổ súng vừa tạo ra hiệu suất tác xạ rất cao vừa gây nên nổi khiếp đảm khủng khiếp cho đối phương. Hiểu rằng mình đang bị vây chặt, tất cả mọi ưu thế về quân số, hỏa lực, bố trí binh lực, tính bất ngờ... đều thuộc về địch, quân mình chỉ có một ý chí quyết tâm cao, thông thạo địa hình, Tiểu đội trưởng Bùi Ngọc Đủ chia quân thành 3 toán, mỗi toán 3 người phụ trách các hướng khác nhau. Sau những đợt tấn công đầu tiên thất bại, quân Mỹ có lẽ cho rằng quân Giải phóng khá đông trên đồi nên gọi pháo binh và không quân cường kích chi viện, dồn dập trút pháo, bom lên các vị trí nghi ngờ có vị trí đối phương ẩn nấp. Sau mỗi đợt bắn phá ác liệt, biệt kích địch lại lần lượt tấn công lên ngọn đồi. Cứ sau mỗi đợt tấn công của địch, tiểu đội Bùi Ngọc Đủ lại hao mòn dần, các chiến sĩ lần lượt hi sinh, một số người bị thương rất nặng. Mặc dù bốn mặt bị vây chặt, đồng đội nối tiếp nhau lần lượt hi sinh, bị thương nặng nhưng những người lính Việt Nam vẫn chiến đấu cực kỳ có kỷ luật. Nhiều chiến sĩ bị thương nặng nhưng họ không hề rên la, nhiều chiến sĩ không để đồng đội băng bó mà vẫn chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng. Có người ở trận đầu đã bị thương đến trận sau tiếp tục dính đạn nhưng vẫn kiên cường chiến đấu cho đến giờ phút hi sinh. Các chiến sĩ không có một phút nào được nghỉ ngơi, tất cả họ đều không ăn, không uống, nhịn đi vệ sinh suốt gần 1 ngày trời quần nhau quyết liệt cùng địch trên ngọn đồi Không Tên. Đến cuối buổi chiều hai bên đã gần như kiệt sức.


Lợi dụng địa hình địa vật, tận dụng các ụ đất, đá, con suối để ẩn nấp, bố trí hỏa lực một cách thông minh, tiểu đội Bùi Ngọc Đủ đã kiên cường bám trụ, bảo vệ kho đạn cho đến những người cuối cùng. Không hề có chi viện, đến 5 giờ chiều họ đã đẩy lui 15 đợt tấn công của hơn 200 lính biệt kích thủy quân lục chiến Mỹ được pháo binh và không quân chi viện. Kế hoạch tấn công chớp nhoáng bằng lực lượng biệt kích tinh nhuệ phá sản, bị tổn thất nặng, quân Mỹ buộc phải rút lui từ 5 giờ chiến sau khi đã để mất từ 131 - 200 tay súng, trước khi quân Việt Nam từ tuyến sau kịp lên hỗ trợ cho tiểu đội phòng thủ.


Chiến đấu trong một tình thế cực kỳ hiểm nghèo, trang bị kém, Tiểu đội Bùi Ngọc Đủ đã bảo vệ nguyên vẹn kho đạn gồm 3.000 quả đạn pháo và tên lửa (H6 & H12) - một kho báu khi đó. Trong 10 người lính chiến đấu trên ngọn đồi Không Tên, 7 chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ, 2 chiến sĩ bị thương nặng. Chiến công 1 diệt 20, Tiểu đội 10 người của Bùi Ngọc Đủ trở thành tấm gương cho toàn thể quân dân miền Nam thi đua tiêu diệt quân Mỹ xâm lược vào thời điểm đó./.


Yêu nước ST.

XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM NGÀY CÀNG TIÊN TIẾN…

 

Văn hóa Việt Nam là toàn bộ văn hóa các dân tộc Việt Nam cư trú trên mảnh đất Việt Nam.Văn hóa được coi là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Ngay sau khi giành được độc lập dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng vai trò của văn hóa, đặt văn hóa vào vị trí quan trọng ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng vai trò của văn hóa và xác định rõ tầm quan trọng của văn hóa đối với xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước. Chính vì vậy, Đảng đã đưa ra nhiều chủ trương, quyết sách quan trọng nhằm phát triển văn hóa, coi đây là nhiệm vụ quan trọng ngang hàng với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội.

Với tư tưởng: “lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đường lối, chủ trương, chính sách về văn hóa của Đảng ta được thể hiện thông qua các chỉ thị, nghị quyết, nhất là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”… góp phần bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống, nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Với nhận thức đúng đắn và quyết tâm chính trị cao, quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa sẽ được quán triệt, thực hiện nghiêm túc, vận dụng sáng tạo; qua đó, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN./.

CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN PHẢI LÀM TỐT TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH

 

CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN PHẢI LÀM TỐT TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH

Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là phương pháp để giáo dục, rèn luyện đảng viên, là vũ khí sắc bén để chống tả khuynh và hữu khuynh; uốn nắn những lệch lạc trong nhận thức; ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; khắc phục tư tưởng ngại khó, ngại khổ; tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí. Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc quan trọng góp phần xây dựng chỉnh đốn đảng.

Hiện nay các cấp ủy chi bộ, đảng bộ đang tiến hành tự phê bình và phê bình để kiểm điểm sau một năm học tập, công tác. Do đó, cần làm tốt công tác chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên để thấy được mục đích, ý nghĩa, tác dụng của tự phê bình và phê bình chính là để giúp nhau cùng tiến bộ, từ đó có giải pháp để thực hiện tự phê bình và phê bình đạt kết quả tốt, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiếu đấu của tổ chức đảng, giữ gìn phẩm chất, tư cách đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng và củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng.

Là người cán bộ đảng viên của Đảng trong quân đội hơn lúc nào hết chúng ta phải nhận thức đầy đủ và gương mẫu thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình trong đảng, góp phần xây dựng chỉnh đốn đảng trong tình hình mới./.

NHỮNG CÂU NÓI ĐI VÀO LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM!

      1. Tha thứ cho Mông Cổ là việc của phật tổ. Tiễn Mông Cổ đi gặp tiên tổ là của trẫm. (Phật Hoàng Trần Nhân Tông).

2. Nếu bệ hạ muốn hàng thì hãy chém đầu thần trước đã. (Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn).

3. Không được để mất một thước núi, một tấc sông. (Vua Lê Thánh Tông).

4. Nơi nào ta mang quân tới nơi đó sẽ bị đánh tan tành. (Vua quang Trung).

5. Xin quan gia cho đánh, cho giặc mượn đường là mất nước. (Trần Quốc Toản).

6. Người Việt Nam thà chết chứ không làm nô lệ. (Hồ Chí Minh).

7. Dù phải đốt cháy cả dãy trường sơn cũng quyết giành cho được độc lập. (Hồ Chí Minh).

8. Không có gì quý hơn độc lập tự do. (Hồ Chí Minh).

9. Tao chỉ biết đứng không biết quỳ. (Võ Thị Sáu).

10. Từ lo sợ không có trong tư duy quân sự của Việt Nam. (Đại tướng Võ Nguyên Giáp).

11. Lò đã nóng thì củi tươi cũng cháy. (Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng).

12. Nước Nam ta ai cũng có thể bơi lặn như cá ở dưới biển. Ta là kẻ kém nhất.(Thủy thần Yết Kiêu).

13. Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp nguồn sóng dữ, chém cá kình ở biển đông, lấy lại giang sơn dựng nền độc lập. (Triệu Thị Trinh).

14. Đầu tôi chưa rơi xuống đất thì Bệ hạ đừng lo gì hết.(Thái sư Trần Thủ Độ).

15. Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc. (Trần Bình Trọng).

16. Thần không sợ đánh chỉ sợ lòng dân không theo (Hồ Nguyên Trừng).

17. Bao giờ người tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh tây. (Nguyễn Trung Trực).

18. Người Mỹ có thể lên mặt trăng và trở về an toàn nhưng sang Việt Nam thì tôi không chắc. (Nguyễn Thị Bình).

Nguồn: Việt Nam ôi tổ quốc vinh quang./.



Yêu nước ST.

Nhận diện và loại bỏ căn bệnh sợ trách nhiệm.

 

Nhận diện và loại bỏ căn bệnh sợ trách nhiệm.

Vì nguyên nhân gì mà cán bộ, kể cả cán bộ giữ cương vị lãnh đạo đứng đầu, lại sợ trách nhiệm? Có những người khi thực hiện nhiệm vụ đúng căn cứ, đúng quy định pháp luật nhưng khi thực hiện lại luôn sợ và không quyết định những vấn đề, chỉ vì mục đích an toàn cho mình. Nỗi lo bị sợ kỷ luật, sợ xử lý bằng pháp luật vào một thời khắc nào đó đã trở thành một nỗi sợ phổ biến trong cán bộ, công chức.

Trong đợt phòng chống dịch Covid-19 vừa qua, nhiều địa phương có tâm lý ngại mua sắm thiết bị máy móc, thiết bị, vật tư y tế do sợ bị xử lý kỷ luật, sợ bị xử lý hành chính, hình sự. Nỗi sợ trách nhiệm này còn biểu hiện trong công tác phòng, chống dịch, điều hành, phòng, kiểm dịch tại nhiều địa phương.

Mặc dù Chính phủ đã ban hành nghị quyết 128 nhưng các địa phương vẫn áp dụng những biện pháp ngăn sông cấm chợ, áp dụng những biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn, hạn chế giao thông, giao lưu hàng hóa, nhằm tránh phát sinh F0, vì sợ rằng nếu để dịch bùng phát sẽ bị ảnh hưởng đến công tác và có thể bị phê bình, kỷ luật.

Lĩnh vực đầu tư công cũng bị ảnh hưởng rất lớn bởi căn bệnh này. Đa số các công trình trọng điểm đều bị chậm tiến độ, đội vốn, tốc độ giải ngân tại các địa phương, các bộ, ngành đạt tỷ lệ rất thấp, mặc dù Chính phủ đã phải áp dụng nhiều biện pháp để khắc phục vấn đề này.

Theo báo cáo của Chính phủ, năm nay có tới 36/50 bộ cơ quan trung ương, 20/63 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới 40%, trong đó có 20 bộ, ngành và 2 địa phương đạt dưới 20%.

Có thể thấy căn bệnh này xảy ra do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Theo tôi, một trong những nguyên nhân chính đó là sự chồng chéo, mâu thuẫn, bất cập trong các quy định của pháp luật đã đẩy cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ vào tâm trạng lo lắng, né tránh, sợ không dám quyết định.

Theo tờ trình số 423 của Chính phủ về cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021-2026, qua rà soát kiến nghị tại 36 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho thấy các quy định của pháp luật hiện hành chưa thống nhất, chưa phù hợp với thực tế, gây vướng mắc, khó khăn cho đầu tư sản xuất, kinh doanh có liên quan tới 79 luật, 3 nghị quyết của Quốc hội, 188 nghị định của Chính phủ, 20 quyết định của Thủ tướng, 153 thông tư của bộ, ngành. Đây là số liệu rất lớn.

Hệ quả của sự bất cập nêu trên dẫn đến tình trạng hạn chế năng động, sáng tạo vì lợi ích chung của cán bộ, công chức, chưa có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám vì lợi ích chung, cản trở sự phát triển chung của địa phương, cơ quan, đơn vị và sự phát triển chung của đất nước.

Tác động tiêu cực của hiện tượng này, đó là có một bộ phận không nhỏ cán bộ không năng động, sáng tạo, không vì lợi ích chung, dĩ hòa vi quý, thấy đúng không dám làm, thấy sai không dám đấu tranh, có biểu hiện vô cảm với nhân dân. Người năng động, sáng tạo, trung thực thấy đúng thì dám làm, thấy sai dám đấu tranh vì lợi ích chung, đôi khi lại bị xử lý trách nhiệm, không được bảo vệ.

Sớm luật hóa quy định của Đảng

Để kịp thời sửa chữa, khắc phục những hạn chế nêu trên, ngày 22/9, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14 về chủ trương khuyến khích bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Theo đó,  khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại, nếu thực hiện đúng chủ trương có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn giảm trách nhiệm.

Tham khảo thêm

Tinh thần này cũng được khẳng định tại quy định số 22 của Ban chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Tại khoản 3 điều 2 về nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng có quy định công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đột phá vì lợi ích chung.

Đây là một chủ trương mới, có hướng tới khuyến khích sự sáng tạo, năng động của cán bộ, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Để kịp thời đưa chủ trương đúng đắn của Đảng vào cuộc sống, cần sớm thể chế hóa các chủ trương này vào pháp luật, nếu không sẽ đi đến việc xử lý tùy tiện.

Luật hóa quy định cụ thể, quy định này sẽ không cho phép bất cứ ai được đưa ý kiến chủ quan và làm thay đổi sự thật, sự công bằng của pháp lý. Nếu không luật hóa thì sẽ không bảo vệ được người dám nghĩ, dám làm mà có thể dẫn đến bị trù dập, bị oan sai. Nếu không sớm luật hóa sẽ vô tình mở thêm thị trường cho tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực thanh tra, điều tra, xét xử, kiểm sát.

Thứ nhất, đề nghị Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo cơ quan chuyên môn khẩn trương rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến sản xuất, kinh doanh, đầu tư, xử lý vi phạm hành chính, hình sự, các quy định pháp luật khác có liên quan để đề xuất cơ quan có thẩm quyền xử lý, sửa đổi, bổ sung, khắc phục những mâu thuẫn, chồng chéo. 

Kịp thời thể chế hóa quy định bảo vệ cán bộ, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, coi đây là nhiệm vụ cần sớm phải thực hiện và đưa vào chương trình xây dựng luật pháp lệnh ngay.

Thứ hai, cần sớm nghiên cứu, sửa đổi các quy định pháp luật còn chung chung dẫn đến tùy tiện trong áp dụng trên thực tế, nhất là các quy định về hình sự, xử lý hành chính, kỷ luật.

Thứ ba, trong giai đoạn trước mắt, cần giao cơ quan có thẩm quyền giám sát, kiểm tra, rà soát lại các vụ việc đã và đang được xem xét, xử lý có liên quan đến nội dung nêu trên để có biện pháp tham mưu cho cấp có thẩm quyền trong việc xem xét áp dụng quy định này trên thực tế, nhằm củng cố lòng tin, tránh làm oan sai cho cán bộ.

 

PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG NHÌN TỪ GÓ ĐỘ NGƯỜI XƯA, CHUYỆN XƯA

 

Cách đây hơn một ngàn năm, nhà nước phong kiến triều Lý (1009-1225) đã đề ra những quy định khắt khe và rất cụ thể để ngăn ngừa và trừng trị hành vi tham ô, ăn trộm của công của quan lại. Đối với việc thu thuế, các quan nha, thư lại ở lĩnh vực này cùng với mười phần phải đóng vào kho triều đình, họ được thu riêng một phần gọi là “hoành đầu”. Kẻ nào thu quá số ấy thì bị khép vào tội ăn trộm. Đối với Khố ty thu thuế lụa, nếu “ăn lụa” của dân thì cứ mỗi thước lụa bị phạt 100 trượng; “ăn” một tấm lụa đến trên 10 tấm thì theo số tấm, thêm phối dịch 10 năm.

Triều Lý cũng là nhà nước quân chủ đầu tiên ban hành bộ luật thành văn với tên gọi Hình Thư (năm 1042, dưới thời vua Lý Thái Tông). Bộ luật này hiện không lưu giữ được, tuy nhiên, qua những chiếu chỉ còn lưu lại cho thấy, cùng với các tội về “thập ác”, thì tội tham nhũng được luật pháp đặc biệt quan tâm và có những chế tài nghiêm khắc.

Năm 1042, vua Lý Thái Tông ban chiếu: “Những người thu quá số thuế quy định sẽ bị ghép vào tội ăn trộm. Người dân tố cáo việc đó được miễn dịch 3 năm. Người ở kinh thành mà cáo giác nạn nhũng nhiễu, tham ô thì nhận thưởng bằng hiện vật thu được”. Ngoài hình phạt chính, các quan ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì bị phạt 50 quan tiền; từ 10 quan đến 19 quan, bị phạt từ 60 đến 100 quan; của hối lộ một phần trả lại chủ, một phần sung vào kho quỹ triều đình.

Đến triều Lê sơ, Lê Thánh Tông - một vị vua anh minh, tài giỏi, đã xây dựng và thực thi bộ luật Hồng Đức (Quốc triều Hình luật), bao quát nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau mà ngày nay ta gọi là Luật hình sự, Luật dân sự, Luật tố tụng, Luật hôn nhân và gia đình, Luật hành chính...

Bộ luật Hồng Đức có 722 điều, trong đó có trên 40 điều liên quan việc phòng, chống tham nhũng. Ở Điều 1, chương “Vi chế”, ghi rằng: các chức quan lại có số lượng nhất định, nếu tự ý bổ dụng hay tuyển chọn quá hạn định thì cứ thừa 1 người, phạt người đứng đầu cho 60 trượng, “biếm” 2 tư (hạ chức 2 bậc), hoặc bãi chức, thừa 2 người thì xử tội “đồ” (hình phạt lao dịch khổ sai ở nhiều mức độ).

Điều 42, chương “Vi chế” ghi rõ: “Làm trái pháp luật, ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan, xử tội “biếm” hoặc bãi chức; từ 10 đến 19 quan, xử tội “đồ”-“lưu” (“lưu” là hình phạt lao dịch khổ sai, bị đầy đi các châu xa…); từ 20 quan trở lên xử “lưu”; từ 50 quan trở lên xử “tử” (là hình phạt nặng nhất, phạt bằng cách chết thắt cổ, chém cổ, xử trảm bêu đầu…)”. “Các quan địa phương sách nhiễu lương dân, mua bán rẻ, đòi biếu xén thì hạ chức hoặc bãi chức… và phải bồi thường gấp đôi trả dân”.

Điều 138 của bộ luật này quy định: Ăn lễ từ 1 đến 9 quan phải phạt 50 quan; từ 10 đến 19 quan phạt từ 60 đến 100 quan; từ 20 quan trở lên phạt tội làm phu. Của hối lộ bỏ vào kho một phần, một phần trả lại chủ”.  Để ngăn chặn việc tư thù, ân oán, lợi dụng chức quyền, thu vén cá nhân, các điều 101, 128, 129, 130 của chương “Vi chế” quy định rõ: “Các quan liêm phóng, xét việc phải đúng sự thật, nếu sơ suất mà sai thì xử “biếm”; nếu vì tư thù ân oán, hoặc ăn hối lộ mà đổi trắng thay đen thì không kể việc lớn hay nhỏ, ăn nhiều hay ăn ít đều xử tội “lưu” (lao dịch khổ sai), tội “tử” (chết) không thể nương tay.

Các quan đi sứ nước ngoài mà chỉ lo việc mua bán thì xử tội “biếm” hay “đồ”, mang vật cấm xử tội “lưu” (lao dịch khổ sai)”. Bộ luật nghiêm khắc này quy định: “Những người quyền quý thế gia và các hoạn quan nội thần không được cầu cạnh nhờ cậy việc quân với các quan tướng hiệu, nếu trái thì quan nhất phẩm, nhị phẩm bị phạt hay biếm, quan tam phẩm, tứ phẩm thì bị cách chức hay bị đồ; quan ngũ phẩm, lục phẩm thì bị đồ hoặc lưu, quan thất phẩm trở xuống thì bị lưu hoặc tử hình. Quan tướng hiệu nhận lời thì bị tội đồ hoặc lưu, nếu không thiệt hại đến việc quân thì được giảm…”

Dưới triều Lê, việc chống tham nhũng được coi trọng, mặt khác, việc chiêu mộ, sử dụng bậc hiền tài, trong sạch được đề cao. Khi quan lại đã tham ô, thì việc định tội không phân biệt giàu nghèo, chức to hay chức nhỏ. Nhờ đó, người tốt có chỗ dựa, được tin dùng; bọn tham quan, kẻ xấu xa khó tìm đất sống; nạn tham nhũng bị đẩy lùi, muôn việc đều hanh thông, tươi tốt.

Luật này còn có một số quy định cần thiết và khá cụ thể như quan lại không được lấy vợ, kết làm thông gia với người ở nơi mình cai quản; không đưa quan lại về quê hương bản quán trị nhậm; không được tậu ruộng vườn, đất đai, nhà cửa tại nơi cai quản; không được đưa người cùng quê làm giúp việc; không cho những người có quan hệ thầy trò, bạn bè làm việc cùng một nơi.

Đến triều Nguyễn, bên cạnh những hạn chế nhất định do hoàn cảnh lịch sử, nhà Nguyễn cũng đạt được những thành tựu khá quan trọng về xây dựng bộ máy và tăng cường kỷ cương phép nước. Nổi bật là việc xây dựng và thực thi bộ luật Gia Long (ban hành năm 1815). Luật Gia Long có 17 quyển quy định riêng về Luật hình đối với tội nhận hối lộ (đút lót) và gần 20 điều khoản quy định cụ thể về vấn đề này.

Trong số 400 điều của bộ luật này, có 79 điều quy định về các tội liên quan đến tham nhũng, và có những điều rất hà khắc. Điều 31 quy định: quan lại nhận hối lộ phải chịu hình phạt thấp nhất 70 trượng, cao nhất là treo cổ. Điều 111 quy định: “Quan lại dùng chức vụ vô cớ bắt trói người và tra khảo họ nơi tư gia (không kể có thương tích hay không thương tích) thì tăng hơn người thường hai bậc tội. Nếu nạn nhân chết, người ấy bị xử treo cổ”.

Điều 392 quy định: “Người nào dùng các thủ đoạn biển thủ, lấy trộm tiền lương, vật tư ở kho, cũng như mạo phá vật liệu đem về nhà. Nếu tang vật lên đến 40 lượng thì bị chém”. Người phụ trách việc xây dựng, không được lợi dụng quyền để mượn vật tư, tiền công dù rất nhỏ, nếu bị phát giác sẽ bị quy tội nặng. Các quan cậy thế hoặc dùng sức ép để buộc người khác cho mình mượn hàng hoá, vật tư, tiền công thì tuỳ theo giá trị hiện vật để xử phạt, nhẹ thì mỗi thứ hàng hoá phạt 100 trượng, bị lưu 3.000 dặm, thu hồi hết tang vật, nếu nặng thì tử hình.

Trong số các vua triều Nguyễn, vua Minh Mạng (1820 - 1840) nổi tiếng nghiêm khắc và kiên quyết trừng trị nạm tham nhũng, bất kể là ai, giữ chức vụ gì, có quan hệ thế nào với nhà vua. Sách Đại Nam thực lục chép lại câu chuyện, năm 1823, viên lại Phủ Nội vụ tên là Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn một lạng vàng, bị phát giác. Theo luật quy định thì tội này sẽ bị chém đầu, nhưng xét thấy trước đây Diệm có một số công trạng nên Bộ Hình giảm xuống, bắt đi đày viễn xứ. Tuy nhiên, Minh Mạng không chấp nhận đề nghị của Bộ Hình, Vua ra lệnh chém đầu Diệm trước chợ Đông Ba, cho mọi người thấy mà khiếp hãi để sửa mình.

Một câu chuyện khác, cuối năm 1831, Tư vụ Nội vụ phủ Nguyễn Đức Tuyên ăn bớt nhựa thơm, rồi trộn mật thường vào, hòng che đậy hành vi gian dối. Sự việc bị phát hiện, theo luật hình, người này đương nhiên bị khép tội chết và bị chặt tay treo ở kho. Tuy nhiên, để răn đe nghiêm khắc, vua Minh Mạng ra chỉ dụ “chặt một bàn tay thủ phạm Nguyễn Đức Tuyên đem treo, xóa tên trong sổ làm quan, để lại cho nó cái đầu, khiến nó suốt đời hối hận”.

Cũng theo Đại Nam thực lục, năm 1822, vùng Quảng Đức và Quảng Trị bị thiên tai bão lụt, nhà cửa điêu linh, thóc gạo đắt đỏ và khan hiếm. Trước tình cảnh đó, triều đình cho phát 25.000 hộc thóc để bán và cấp cho dân. Người lính quản lý kho thóc ở Kinh thành là Đặng Văn Khuê phụ trách việc này, nhưng khi trợ cấp đến dân, mỗi hộc thóc lại thiếu một ít. Vụ việc bị phát giác, vua Minh Mạng giao bộ Hình tra xét. Án xong tâu lên, nhà vua liền ra lệnh chém đầu. 

Năm 1821, Phó Tổng trấn Gia Định là Huỳnh Công Lý, là nhạc phụ của nhà vua, tham nhũng 30.000 quan tiền, nhà vua gạt tình thâm, ban chỉ dụ tử hình bố vợ. Cùng với các bản án và hình phạt rất nghiêm khắc, các quan tham nhũng ở thời vua này đều bị tịch thu tài sản, đem chặt tay hoặc chém đầu nơi đông người để thị uy, đe nẹt.

Nhìn lại các bộ luật cũng như các văn bản pháp luật của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam trước đây, có thể thấy rõ những quy định khắt khe, thống nhất đối với giới quan lại, nghiêm cấm các hành vi mà quan lại không được làm. Đó là không được tham lam, vơ vét của cải của dân; không được nhận hối lộ, nếu nhận thì tuỳ theo số lượng tiền mà trị tội; không được ẩn lậu khi thu thuế; không được phép lợi dụng việc công để mưu lợi việc riêng; nghiêm cấm vì tình riêng, vì nhận hối lộ mà tiến cử người kém tài, kém đức; các quan xét xử phải giữ lẽ công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng.

Một trong những biện pháp rất được các triều đại tin dùng đó là luật (hoặc lệ) hồi ty. Theo đó, một viên quan đứng đầu một địa hạt không được phép nhậm chức tại quê hương mình, không được lấy vợ là người sở tại, không được phép có nhà cửa, ruộng vườn, ao đầm trên địa hạt mình cai quản, không được có người cấp phó là đồng hương, và điều quan trọng là các quan lại này đều được dịch chuyển địa hạt cai quản theo một chu trình nhất định.

Năm 1831, vua Minh Mạng cho ban hành Luật hồi tỵ, quy định các việc phải kiêng kỵ, tránh né, buộc bộ các chức sắc trong bộ máy từ triều đình đến nơi thôn dã phải triệt để chấp hành. Luật này quy định, khi sắp xếp, bố trí bộ máy quan lại, phải triệt để tránh (không bố trí) những nơi quê gốc (quê nội), vì ở đó có quan hệ họ tộc gần gũi từng sinh sống nhiều đời sinh sống…; không bố trí ở quê ngoại (bao gồm quê mẹ, quê vợ và cả những nơi trước đây đã từng theo học), dù chỉ ngắn ngày.

Đến đời vua Thiệu Trị, nhà vua bổ sung thêm một số điều của luật xử án trong đó có các quy định ngăn ngừa, loại bỏ các mối quan hệ thân tộc, gia đình, đồng hương, bè cánh, tránh tình trạng bao che, thông đồng để thực hiện những hành vi tham nhũng, hối lộ, trù dập, ức hiếp người tố cáo, làm sai lệch cán cân công lý.

Khi pháp luật được thực thi nghiêm minh, chính tắc, ắt xuất hiện những con người thẳng ngay, khí khái, dù máu chảy đầu rơi cũng kiên quyết gìn giữ cương thường xã tắc. Đó là nhà nho, người thầy mẫu mực “vạn thế sư biểu” Chu Văn An (1292 - 1370) thời Trần. Vì căm giận bọn nịnh thần, tham nhũng, ông đã dâng “Thất trảm sớ” xin Vua chém đầu 7 tên gian thần.

Đó là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) thời Mạc, đã dâng sớ xin Vua chém đầu 18 tên gian thần, lộng thần. Đó là Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1272 - 1346) với tri thức uyên thâm, luôn giữ khí tiết thanh liêm, chính trực; ông đã nhiều lần vạch mặt bọn tham quan trước Triều đình, can gián Nhà vua trước những việc làm chưa đúng.

Đó là Tiến sỹ Đặng Huy Trứ (1825 - 1874), một vị quan luôn lo lắng đến nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trước triều đình và trước muôn dân. Để phòng tham nhũng, ông viết cuốn “Từ thụ yếu quy” (những nguyên tắc chủ yếu của việc không nhận và có thể nhận), tổng kết từ những việc thật xảy ra trong cuộc sống, chỉ ra những thói hư tật xấu, cám dỗ, lợi dụng trong chốn quan trường. Ông từng nói “Mình thiệt, lợi dân, dân gắn bó/Đẽo dân, mình béo, dân căm hờn/Hờn căm, gắn bó tùy ta cả/Duy chữ “thanh thanh” đối thế nhân”.

 

      XÃ HỘI TƯ BẢN CÓ PHẢI LÀ ĐÍCH ĐẾN CỦA LOÀI NGƯỜI

Chỉ 2% tài sản của người giàu nhất thế giới có thể giải quyết nạn đói toàn cầu, theo Giám đốc Chương trình Lương thực Thế giới của Liên Hợp Quốc (WFP), nhóm người siêu giàu chỉ cần trích một phần nhỏ tài sản của họ là đã có thể giải quyết được nạn đói trên toàn cầu. "6 tỷ USD đã có thể giúp đỡ được 42 triệu người có nguy cơ chết đói theo đúng nghĩa đen nếu chúng tôi không thể tiếp cận được họ. Và điều này không hề phức tạp", ông David Beasley, Giám đốc WFP nhận định trong một cuộc phỏng vấn với CNN.

Theo  thống kê từ Bloomberg, tỷ phú Elon Musk, giám đốc điều hành của tập đoàn Tesla, hiện có giá trị tài sản ròng lên tới gần 289 tỷ USD. Điều này có nghĩa là dựa trên yêu cầu từ giám đốc WFP, ông Musk chỉ cần quyên góp khoảng 2% giá trị từ tổng tài sản của mình. Một thống kê từ các tổ chức Viện Nghiên cứu Chính sách và Người Mỹ vì Công bằng Thuế đã ước tính, giá trị tài sản ròng của các tỷ phú ở Mỹ đã tăng gần gấp đôi kể từ khi dịch Covid-19 bùng phát, đạt tổng cộng 5,04 nghìn tỷ USD vào tháng 10 năm nay. 

Ông Beasley cho rằng, một loạt khủng hoảng xảy ra đồng thời, như biến đổi khí hậu và dịch Covid-19, đang khiến nhiều quốc gia "cận kề nạn đói". Theo một báo cáo được WFP công bố hôm 25/10, 22,8 triệu người, tương đương 1 nửa dân số tại Afghanistan, đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng đói ăn cấp tính. Còn tại Ethiopia, WFP ước tính khoảng 5,2 triệu người đang cần sự hỗ trợ lương thực khẩn cấp ở vùng Tigray, nơi đang xảy ra giao tranh dữ dội giữa các lực lượng phiến quân và quân đội chính phủ. 

Một loạt báo cáo mới đây từ chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden cũng đã đưa ra một cảnh báo rõ ràng về việc tác động của biến đổi khí hậu sẽ ở phạm vi rộng và sẽ gây ra nhiều vấn đề đối với mọi chính phủ. Chính quyền ông Biden cũng lần đầu tiên nêu chi tiết mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu và các dòng người di cư từ những quốc gia chịu ảnh hưởng. WFP từng cảnh báo về vấn đề này, đặc biệt là làn sóng di cư từ khu vực Trung Mỹ.

"Chẳng hạn, ở các nước Trung Mỹ như Guatemala, Honduras, El Salvador và Nicaragua, chúng tôi đang phải giúp đỡ rất nhiều người do khí hậu ở đây đang liên tục thay đổi với các trận lốc xoáy và lũ quét. Tình cảnh hiện tại rất thảm khốc", ông David Beasley tiết lộ với CNN, đồng thời cho biết WFP đang phải vật lộn để có được nguồn cung lương thực cho những người có nhu cầu ở các khu vực trên.

Các nhà dân chủ “lởm”, những phần tử cơ hội vẫn liên tục rêu rao, phụ hoạ với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Nhưng những gì đang diễn ra thực tế trong thời gian qua và đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hoành hành hiện này đã minh chứng phủ nhận những luận điệu “lộng ngôn” đó.

Thực tế rõ ràng là các cuộc khủng hoảng ở các nước tư bản vẫn tiếp tục diễn ra ngày càng gay gắt, khốc liệt, cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch Covid-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc. Những tình huống "phát triển xấu", những nghịch lý "phản phát triển", từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội, và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. Sự thật cho thấy, bản thân thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản không thể giúp giải quyết được những khó khăn, và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo; làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư bản toàn cầu. Sự thật đó cũng làm phá sản những lý thuyết kinh tế hay mô hình phát triển vốn xưa nay được coi là thời thượng, được không ít các chính khách tư sản ca ngợi, được các chuyên gia của họ coi là tối ưu, hợp lý. Cùng với khủng hoảng kinh tế - tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,... đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại.

Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó. Theo nhiều nhà khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa.

Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào "99 chống lại 1" diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là "tự do", "dân chủ" dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản.

Những phân tích đã cho thấy bản chất của chế độ tư bản như thế nào, và chắc chắn chế độ đó không phải là mong muốn đích đến của loài người văn minh trong thế giới tương lai.

(Bài viết có trích dẫn bài "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng).