Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

Bản chất giai cấp công nhân của Đảng

 

     Trong học thuyết Mác - Lênin đã khẳng định vị trí vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản và cũng khẳng định bản chất giai cấp công nhân của đảng cộng sản là tất yếu và là yếu tố mang tính quy luật. Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn khẳng định đảng cộng sản là đội tiên phong, là lãnh tụ chính trị, là bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân, là tổ chức chặt chẽ nhất, giác ngộ nhất của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ rõ: đảng cộng sản là chính đảng của giai cấp công nhân, đảng mang bản chất của giai cấp công nhân, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân; lấy hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là hệ tư tưởng, vũ khí lý luận, giải quyết mọi vấn đề đều đứng trên lập trường, lợi ích của giai cấp công nhân. Sự ra đời của đảng cộng sản là sự kiện vĩ đại của phong trào công nhân, đó là thời điểm đánh dấu sự hiện diện của giai cấp công nhân thế giới bước lên vũ đài chính trị trong công cuộc đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản, giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thiết lập chuyên chính vô sản, xây dựng một xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Đảng cộng sản là đảng của giai cấp công nhân, mang bản chất của giai cấp công nhân nhưng đảng không phải là một đảng biệt lập, đảng lãnh đạo giai cấp công nhân và cả nhân dân lao động và giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, thâm nhập vào phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân để lãnh đạo phong trào, kết nạp vào đội ngũ của mình những thành phần ưu tú nhất để tổng hợp được sức mạnh to lớn ưu việt nhằm thực hiện thành công cách mạng xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn.

     Tuy nhiên, các nhà lý luận tư sản, các khuynh hướng cải lương, cơ hội, xét lại luôn tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận bản chất của giai cấp công nhân của đảng cộng sản nhằm tác động đến nhân dân sự hoài nghi, không tin tưởng về bản chất giai cấp công nhân của đảng cộng sản, về mục tiêu, lý tưởng của đảng, cô lập đảng với quần chúng nhân dân.

     Chính vì lẽ đó các đảng cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng vẫn luôn khẳng định rõ bản chất giai cấp công nhân của mình và kiên định giữ vững, củng cố và phát triển bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong suốt quá trình cách mạng từ khi ra đời cho đến nay. Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn khẳng định rõ bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "1. Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận của giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng. 2. Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo"[1]; "Đảng Lao động Việt Nam là người lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, trung thành của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của nhân dân Việt Nam, để đoàn kết và lãnh đạo dân tộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, để thực hiện dân chủ mới"[2] (tháng 2 năm 1951); "Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị"[3].

      Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam mà còn là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, bởi vì lợi ích của giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc. Điều này đã được chứng minh trong suốt chiều dài lịch sử hơn 90 năm qua của Đảng Cộng sản Việt Nam đồng hành với dân tộc ta. Khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam không những không phủ nhận, không xóa nhòa bản chất giai cấp công nhân của Đảng, không rơi vào quan điểm "Đảng toàn dân" mà còn khẳng định đúng bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền. Đây là vấn đề có vai trò quan trọng trong công tác xây dựng Đảng ở nước ta hiện nay, giúp cho chúng ta tránh được cả khuynh hướng xóa nhòa bản chất giai cấp công nhân của Đảng.

      Hiến pháp năm 2013 đã ghi: "Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội"[4]. Điều này vừa khẳng định tính phổ biến và tính đặc thù trong bản chất của Đảng ta: Là Đảng Cộng sản nên Đảng ta mang bản chất giai cấp công nhân (đây là tính phổ biến); theo sự phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời là của nhân dân lao động, của dân tộc, phù hợp với thực tế Việt Nam và đáp ứng được nguyện vọng, tình cảm của nhân dân. Như vậy có thể thấy rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bản chất của Đảng rất biện chứng, khoa học, phù hợp với dân tộc, khắc phục được hai khuynh hướng cực đoan: một là phủ nhận, xóa nhòa bản chất giai cấp công nhân của Đảng, hai là hiểu bản chất gia cấp công nhân của Đảng theo nghĩa hẹp hòi, tách rời giai cấp công nhân khỏi nhân dân lao động và dân tộc.

      

Nhận diện thêm về “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc hiện nay

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước XHCNtừ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự. Như vậy, “Diễn biến hòa bình” chỉ là sự thay hình, đổi dạng để che đậy bản chất của chủ nghĩa đế quốc, gây mơ hồ ảo tưởng, dao động về mục tiêu lý tưởng đối với cán bộ đảng viên và nhân dân lao động để tiến công chủ nghĩa xã hội.

Mục tiêu chiến lược của “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là làm cho các nước XHCN thực hiện đa nguyên chính trị, kinh tế tư nhân hóa; xã hội phương tây hóa; cuối cùng làm cho chế độ xã hội chủ nghĩa chuyển hóa thành chế độ tư bản chủ nghĩa. Phương thức tiến hành, thực hiện sự thẩm thấu hòa bình, làm cho chủ nghĩa xã hội mục rỗng từ bên trong, tự sụp đổ theo kiểu chiến thắng không cần chiến tranh. Chúng thực hiện bằng sự tiến công xâm nhập vào trong lòng các nước XHCN, nhấn mạnh các thủ đoạn phi quân sự như: Chính trị, tư tưởng, kinh tế, ngoại giao, tâm lý, lối sống... làm biến chất chế độ xã hội chủ nghĩa ngay trong lòng nhà nước XHCN. Các thế lực thù địch kết hợp chặt chẽ giữa “Diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ và răn đe quân sự.

Tính chất của “Diễn biến hòa bình” rất độc ác, nham hiểm, tinh vi và phức tạp. Chúng đánh thẳng vào trong lòng chủ nghĩa xã hội, thực hiện âm mưu “tự diễn biến” hòng tạo ra sự mất ổn định từ bên trong, trước hết về chính trị ngay từ nội bộ Đảng cộng sản. Đây là cuộc đấu tranh hết sức gay go và phức tạp giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, là cuộc đấu tranh không phân tuyến, kẻ thù vừa trực diện vừa giấu mặt, vừa công khai vừa bí mật, nó len lỏi vào mọi lực lượng, mọi lĩnh vực, ở mọi lúc mọi nơi đối với cả con người và tổ chức, kết hợp cả lực lượng bên trong và lực lượng bên ngoài.

Chính kẻ thù chỉ ra rằng: “Diễn biến hòa bình” có ưu điểm hơn hẳn thủ đoạn và phương thức tiến hành chiến tranh ở chỗ nó không khêu gợi tinh thần cảnh giác của đối phương mà nhiều khi còn ru ngủ tinh thần đấu tranh của đối phương. Theo họ, điều kiện cần thiết để thực hiện “Diễn biến hòa bình” là mở rộng tiếp xúc, giao lưu giữa hai hệ thống XHCN và tư bản chủ nghĩa.

Những cơ sở thúc đẩy chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá chủ nghĩa xã hội nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược xuyên suốt, nhất quán của chủ nghĩa đế quốc là tiêu diệt chủ nghĩa xã hội, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, bắt các nướcXHCN phải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa của chủ nghĩa đế quốc. Khôi phục một thế giới thống nhất tư bản chủ nghĩa theo một trật tự của chủ nghĩa tư bản. Đó là bản chất không thay đổi của chủ nghĩa đế quốc. Kể từ khi nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1917 và hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay, từng giây từng phút chủ nghĩa đế quốc chưa bao giờ lơi lỏng mục tiêu đó. “Diễn biến hòa bình” lúc đầu chỉ đóng vai trò thủ đoạn để hỗ trợ các chiến lược quân sự, đến đầu những năm 50 của thế kỷ XX đã trở thành một chiến lược quân sự và đến giữa thập kỷ 80, do tình hình thế giới có những biến động phức tạp, có lợi cho chủ nghĩa đế quốc, chúng đã đẩy mạnh và thực thi toàn diện “Diễn biến hòa bình” chống phá chủ nghĩa xã hội.

Trong một thời gian dài, chủ nghĩa đế quốc đã tiến hành nhiều chiến lược quân sự gây chiến tranh chống phá chủ nghĩa xã hội, nhưng đều thất bại. Việc chủ nghĩa đế quốc thực hiện ráo riết hơn “Diễn biến hòa bình” chính là nhằm khắc phục sự hạn chế của các thủ đoạn quân sự, che đậy bản chất xâm lược của chúng. Họ hy vọng rằng đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình” làm “ruỗng nát” chủ nghĩa xã hội từ bên trong mà đòn tác động tư tưởng tâm lý tạo nên sự chuyển hóa về lập trường chính trị là đòn trọng yếu nguy hiểm nhất tạo nên sức “hủy diệt” từ bên trong, đẩy đối phương đến suy yếu toàn diện, rối loạn nội bộ và sụp đổ nhanh hơn.

Mặt khác trong vài thập kỷ gần đây, chủ nghĩa tư bản đã ứng dụng thành công nhiều thành tựu khoa học và công nghệ vào lĩnh vực sản xuất, tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn. Trong khi đó các nước XHCN có những khó khăn nhất định. Đây là cơ hội để chúng sử dụng đòn kinh tế tiến công chủ nghĩa xã hội: Viện trợ kinh tế kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản nhằm làm vật mồi chài để xâm nhập, khống chế, nhượng bộ về chính trị, tiến tới can thiệp vào công việc nội bộ và lôi kéo các nước XHCN vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Họ xác định những khó khăn về kinh tế - xã hội của các nước XHCN là thời cơ có lợi để sử dụng đòn kinh tế trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”.

Lợi dụng xu thế hòa dịu trên thế giới và những sai lầm khuyết điểm trong cải cách, cải tổ của các nướcXHCN để thực hiện ráo riết hơn “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống chủ nghĩa xã hội. Cuối 1987 thế giới xuất hiện xu thế hòa hoãn, hòa dịu và đối thoại, đây là cơ hội cho sự xâm nhập của phương Tây vào các nước xã hội chủ nghĩa bằng các thủ đoạn phi quân sự. Mặt khác, bước vào những năm 1980, các nước XHCN đều thực hiện cải cách, cải tổ nhằm giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra cho phù hợp với quy luật khách quan. Cải cách, cải tổ là công việc đầy khó khăn phức tạp trên các bình diện xã hội, do đó không tránh khỏi những sai lầm vấp váp. Đây chính là cơ hội ngàn vàng cho chủ nghĩa đế quốc luồn lách, chui sâu, leo cao thực thi toàn diện “Diễn biến hòa bình”, kết hợp nội công, ngoại kích để triệt phá chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình” diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trên thế giới, trong đó Việt Nam là trọng điểm, trước hết chúng ra sức phá hoại về mặt chính trị tư tưởng. Mục tiêu “Diễn biến hòa bình”của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, chúng phá hoại làm cho Đảng cộng sản suy yếu mọi mặt, chia rẽ nội bộ Đảng, làm cho quần chúng xa rời Đảng, mất phương hướng, rời xa chủ nghĩa xã hội, theo con đường chủ nghĩa tư bản. Đồng thời các thế lực thù địch tìm mọi cách vô hiệu hoá lực lượng vũ trang, tách sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với Quân đội.

Bồi dưỡng và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội

           Bồi dưỡng và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội, thực chất là làm cho các đặc trưng của quân đội cách mạng, các mối quan hệ của Quân đội ta càng thêm sâu sắc và lan tỏa trong điều kiện mới. Đó là quá trình tiếp tục quán triệt nền tảng tư tưởng, đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức của Đảng, truyền thống cách mạng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phù hợp với đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Quân đội nhân dân Việt Nam, bảo đảm cho Quân đội ta luôn luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Trong đó, tập trung vào các nội dung cơ bản sau:

          Trước hếtnâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ Đội Cụ Hồ” luôn thấm sâu vào cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Nhờ làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, nên qua các giai đoạn cách mạng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn giữ vững phẩm chất chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, gắn bó mật thiết với nhân dân. Trong thời kỳ mới của đất nước, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần tăng cường hơn nữa, làm cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta tiếp tục kiên định mục tiêu, lý tưởng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; nhận thức đúng đắn hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, về đối tượng, đối tác, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế mà Đảng đã đề ra. Đồng thời, tăng cường đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; bác bỏ mọi luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Mang trong mình phẩm chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, cán bộ, chiến sĩ Quân đội không quản ngại gian khổ, hy sinh, luôn thực hiện tốt công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, diễn tập, xây dựng khu vực phòng thủ, v.v. Khi Đảng, Nhà nước và nhân dân yêu cầu, Quân đội sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ với ý chí quyết tâm cao và tinh thần quả cảm. Trên cơ sở nhận thức đúng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội xác định rõ trách nhiệm chính trị của mình, không ngừng trau dồi bản chất cách mạng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực rèn luyện, phấn đấu, học tập, công tác, lao động, sản xuất, xây dựng đơn vị vững mạnh về mọi mặt, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          Thứ haitiếp tục phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị văn hóa quân sự bền vững được hình thành và phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội. Nhờ phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, bộ đội ta đã vượt qua bao khó khăn, gian khổ, hy sinh để đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược; trở thành biểu tượng cao đẹp và có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với nhân dân và thanh niên Việt Nam, nhất là chiến sĩ trẻ. Việc tiếp tục phát huy phẩm chất cao quý đó trong tình hình hiện nay, sẽ tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội và trong Quân đội, góp phần xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, tăng cường bản chất cách mạng, xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trước hết là xây dựng vững mạnh về chính trị. Để làm được điều đó, các cấp ủy đảng trong Quân đội cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn làm tốt công tác giáo dục, quán triệt, rèn luyện, trau dồi cho cán bộ, chiến sĩ những phẩm chất tốt đẹp, giá trị nhân văn của “Bộ đội Cụ Hồ” đã được lưu giữ, kế thừa, không ngừng phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” gắn với phong trào Thi đua Quyết thắng và các cuộc vận động, các phong trào khác, tạo điều kiện để cán bộ, chiến sĩ được thử thách, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng. Cùng với đó, cần tích cực đưa bộ đội vào hoạt động thực tiễn, thông qua nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, giúp dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo. Trong quá trình thực hiện, đề cao vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ trì, với tinh thần: cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ làm gương cho chiến sĩ, tạo môi trường thuận lợi để phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” luôn phát huy và tỏa sáng.

          Thứ batăng cường đoàn kết, gắn bó giữa Quân đội với nhân dân, lấy phụng sự nhân dân làm mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, Quân đội ta không có mục tiêu chiến đấu nào khác ngoài mục tiêu bảo vệ quyền lợi của dân tộc và của nhân dân. Nhờ gắn bó máu thịt với nhân dân, Quân đội không ngừng lớn mạnh, cả về con người và vũ khí, trang bị, đủ sức chiến thắng mọi kẻ thù, cho dù chúng có sức mạnh quân sự và hung bạo đến mấy. Trong chiến đấu cũng như trong xây dựng, khi làm nhiệm vụ trong nước cũng như làm nghĩa vụ quốc tế, Quân đội ta luôn luôn đoàn kết, tôn trọng, đồng cam cộng khổ, vượt qua khó khăn, nguy hiểm, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân và thắng lợi  của cách mạng. Trước yêu cầu của tình hình mới, Đảng, Nhà nước tiếp tục giao cho Quân đội tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo, với phương thức chủ yếu là xây dựng các khu kinh tế mới, khu kinh tế - quốc phòng, phát triển những điểm dân cư xã hội dọc biên giới, vùng sâu, vùng xa; làm nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ biên giới và khẳng định chủ quyền của Tổ quốc. Quân đội tiếp tục làm tốt công tác dân vận, thông qua nhiều hình thức, mô hình mới, phong phú, sáng tạo, góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở những địa bàn trọng yếu vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Khi cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương có yêu cầu thì Quân đội sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ. Các cơ quan quân sự tỉnh, huyện chủ động phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể địa phương vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương; tham gia giải quyết tốt các vụ tranh chấp, khiếu kiện phức tạp ở cơ sở theo chức năng, nhiệm vụ được giao; xây dựng cơ sở chính trị, nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Thông qua hoạt động thực tiễn và tiến hành công tác dân vận mà bồi dưỡng, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”; giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, tác phong công tác; giữ nghiêm kỷ luật đoàn kết quân dân, làm cho hình ảnh người quân nhân cách mạng luôn tỏa sáng trong lòng nhân dân. Cùng với đó, cần tăng cường đấu tranh với những biểu hiện sai trái, thù địch, xuyên tạc bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ’, thúc đẩy “phi chính trị hóa” Quân đội, chia rẽ Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

         Thứ tưthực hiện tốt đoàn kết nội bộ, xây dựng các tổ chức trong Quân đội vững mạnh, tạo môi trường thuận lợi để cán bộ, chiến sĩ phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành. Các cơ quan, đơn vị cần thực hiện tốt Quy chế Dân chủ cơ sở; mọi người đều bình đẳng về chính trị, có môi trường phấn đấu, rèn luyện tốt, thương yêu nhau như ruột thịt; phát huy dân chủ về chính trị, quân sự, kinh tế, đi đôi với giữ vững và tăng cường kỷ luật tự giác, nghiêm minh; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, quân phiệt, vi phạm nhân cách quân nhân. Đồng thời, phát huy vai trò của công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, nhằm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực của người chỉ huy, vai trò của các tổ chức quần chúng và Hội đồng quân nhân. Các tổ chức đảng luôn giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, đi đôi với cá nhân phụ trách, thường xuyên đề cao tự phê bình và phê bình, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận trong tổ chức đảng và các cơ quan, đơn vị. Để làm được điều đó, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần tập trung xây dựng đội ngũ cấp ủy và cán bộ chủ trì thực sự tiền phong, gương mẫu, có tinh thần chủ động khắc phục khó khăn, ý thức trách nhiệm cao, năng lực hành động giỏi, đạo đức, lối sống trong sáng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Tập trung xây dựng đội ngũ đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực trí tuệ, phẩm chất tốt; chấp hành nghiêm kỷ luật, nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng; phát huy tinh thần đoàn kết, dân chủ, trách nhiệm, yên tâm gắn bó xây dựng đơn vị. Các tổ chức đảng thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên trong quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đường lối, nghị quyết, chấp hành nguyên tắc, chế độ... tạo sự chuyển biến vững chắc cả về lập trường, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ. Đồng thời, chăm lo xây dựng đội ngũ chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và cán bộ các cấp vững mạnh; phát huy hiệu lực của người chỉ huy; giải quyết hài hòa các mối quan hệ; tăng cường hiệu lực chế độ công tác đảng, công tác chính trị và các chế độ công tác khác theo quy định. Trong xây dựng đội ngũ cán bộ, phải chú ý chất lượng toàn diện; trong đó, cần quán triệt sâu sắc quan điểm, phương hướng giai cấp của Đảng trong lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đề bạt cán bộ.

77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành là 77 năm Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trước yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc thì phẩm chất đó càng được nâng cao và khẳng định trong thực tiễn, xứng đáng với tên gọi trìu mến “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của dân.

Bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội nhân dân Việt Nam

 

     Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Bởi vậy, Quân đội ta luôn mang trong mình bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, gắn bó mật thiết với nhân dân; coi đó là cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, quy định tính chất các mối quan hệ cơ bản của Quân đội; đồng thời, là nguồn gốc mọi thắng lợi của Quân đội trong các giai đoạn cách mạng trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

     Bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội ta được thể hiện tập trung trong lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi chiêu đãi mừng Quân đội ta tròn 20 tuổi: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, chia ngọt sẻ bùi. Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau. Quân đội ta có tinh thần yêu nước chân chính, lại có tinh thần quốc tế vô sản cao cả”.Từ lời khen của Bác thể hiện rõ mục tiêu chiến đấu của Quân đội là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; cán bộ, chiến sĩ giác ngộ sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, quân sự của Đảng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì hạnh phúc của nhân dân. Đối với Đảng và Nhà nước, Quân đội tuyệt đối trung thành, phục tùng và quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, chấp hành nghiêm điều lệnh, điều lệ và các chế độ quy định của Quân đội, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Với nhân dân: Quân đội ta luôn thể hiện sự đoàn kết, gắn bó keo sơn, “như cá với nước”, chia ngọt sẻ bùi, sẵn sàng giúp dân trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, dựa vào dân để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Với dân tộc, Quân đội tiếp thu và phát huy truyền thống, tinh hoa văn hóa của dân tộc, tinh thần yêu nước, lòng bao dung, ý chí quật cường, lòng tự trọng, tự tôn dân tộc; ngoài mục đích chiến đấu vì lợi ích của nhân dân và dân tộc, Quân đội ta không còn mục đích nào khác. Trong quan hệ nội bộ, trên cơ sở quan điểm, nguyên tắc của Đảng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội, cán bộ, chiến sĩ luôn có tình thương yêu, gắn bó keo sơn, tình đồng chí, đồng đội, đoàn kết, thống nhất, đồng tâm hiệp lực, trên dưới một lòng; phát huy dân chủ, đi đôi với giữ vững kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Trong quan hệ quốc tế, Quân đội ta luôn quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng, có tinh thần đoàn kết trong sáng, thủy chung, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, nâng cao vị thế của đất nước, Quân đội trên trường quốc tế.

     Gần 77 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã không quản ngại hy sinh, gian khổ, cùng toàn dân chiến đấu, chiến thắng các thế lực xâm lược, giành độc lập dân tộc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và ngày nay đang tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế. Mặc dù có nhiều khó khăn, thử thách trên con đường phát triển, nhưng Quân đội ta luôn một lòng sắt son với Đảng, tận trung với nước, tận hiếu với dân; không ngừng nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống. Cùng với đó, Quân đội thực hiện tốt nhiệm vụ hành quân dã ngoại làm công tác dân vận, tích cực tham gia giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng nông thôn mới; luôn đi đầu trong giúp dân khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; càng trong khó khăn, ác liệt, tình quân dân càng thêm gắn bó, thân thiết.

      Tuy nhiên, việc giữ vững bản chất cách mạng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội ta trong tình hình hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức mới. Sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch của chủ nghĩa xã hội càng điên cuồng chống phá, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận bản chất cách mạng, mưu toan “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội, làm cho Quân đội xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, phân rã về tư tưởng, tổ chức, chia rẽ Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hạ thấp vai trò của Quân đội trong đời sống xã hội, v.v. Thêm vào đó là mặt trái kinh tế thị trường, những tệ nạn, tiêu cực trong đời sống xã hội đang từng ngày, từng giờ tác động, chi phối đến việc phấn đấu, rèn luyện của cán bộ, chiến sĩ. Để khắc phục điều đó, vấn đề đầu tiên là phải hết sức chăm lo bồi dưỡng, tăng cường bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội ta.


Cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

Cuối năm 1991, chủ nghĩa đế quốc đã công khai cho rằng: chủ nghĩa xã hội trên thế giới đã bị tiêu diệt, chỉ còn ở Đông Nam Á, Việt Nam là chủ yếu, Trung Quốc là quan trọng. Như vậy, Việt Nam là một trọng điểm trong “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Lập trường của họ là dứt khoát, ý thức của họ đã rõ ràng, hành động của họ là kiên quyết.

Điểm phát triển mới trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề cập: “Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”. Vì vậy, chống “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu và phải được kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống khác. Mục tiêu của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta là xóa bỏ xã hội chủ nghĩa, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước mắt tập trung vào thúc đẩy tự do hóa chính trị, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, dân chủ không giới hạn; thúc đẩy tư nhân hóa nền kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang. Tư tưởng chỉ đạo, chủ động tiếp cận, chọn lọc và hành động, chú trọng kết hợp “Diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ. Hiện nay có sự phát triển mới là đánh mềm, đánh ngầm, đánh sâu, đánh hiểm.

Về chính trị, tư tưởng: nhằm làm suy yếu Đảng, chia rẽ Đảng, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho quần chúng xa Đảng, mất phương hướng, xa rời chủ nghĩa xã hội, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đánh vào lòng tin, ý chí, làm chuyển đổi nhận thức tư tưởng của cán bộ đảng viên, nhân dân, Quân đội. Chia rẽ nội bộ Đảng, nhân dân, Quân đội, phá hoại truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Nội dung tập trung xuyên tạc, chống phá, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, bôi nhọ hình ảnh cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lợi dụng và kích động vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền để chống chủ nghĩa xã hội. Vu cáo ta vi phạm nhân quyền, tự do dân chủ, trấn áp những người không cùng tư tưởng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Thủ đoạn của chúng rất xảo quyệt, tìm cách kích động vào tâm lý tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta để tạo nên tâm lý mơ hồ, hoài nghi, thiếu niềm tin, lôi kéo những người bất mãn, cơ hội, tạo ra những phần tử, những lực lượng đối lập bên trong, lợi dụng thông tin công khai về chống tham nhũng, buôn lậu, các tệ nạn xã hội, lợi dụng những khuyết điểm của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý để kích động tâm lý bực dọc chống đối, các thế lực thù địch chỉ ra rằng: tiền, quyền, chức và mơ hồ ảo tưởng là hai chất độc nguy hiểm nhất.

Về kinh tế, khoa học - kỹ thuật: nhằm làm cho kinh tế xã hội nước ta ngày càng khó khăn khủng hoảng. Hướng kinh tế nước ta phụ thuộc vào bên ngoài, kinh tế quốc doanh suy yếu, kinh tế tư nhân phát triển không theo định hướng XHCN.

Các thủ đoạn chủ yếu là dùng thủ đoạn kinh tế khuyến khích đổi mới đi theo hướng kinh tế thị trường tự do, thúc đẩy quá trình tư nhân hóa, cấm vận các kỹ thuật cao. Lợi dụng những thiếu sót, sơ hở của ta trong quản lý kinh tế để đả kích và kích động tâm lý bực dọc, bất bình. Gieo rắc truyền bá lối sống vì tiền, mua chuộc dụ dỗ khuyến khích tham nhũng, buôn lậu. Về an ninh xã hội, các thế lực thù địch phá hoại nhằm làm cho nước ta mất ổn định về an ninh chính trị xã hội, làm suy giảm khả năng phòng thủ đất nước và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thường xuyên xây dựng và phát triển lực lượng phản động trong nước và các toán vũ trang phản động lưu vong ở ngoài nước để xâm nhập, kết hợp hoạt động vũ trang với hoạt động chính trị, gây bạo loạn khi có thời cơ. Tăng cường hoạt động gián điệp tình báo trong điều kiện nước ta mở rộng quan hệ ngoại giao và kinh tế đối ngoại. Kích động gây mâu thuẫn tranh chấp đất đai, nhà cửa, gây ra những rối loạn chính trị - xã hội. Đồng thời với những thủ đoạn trên, chúng vẫn sử dụng sức mạnh quân sự để răn đe và có điều kiện, cấp bách thì tiến hành can thiệp vũ trang, chiến tranh xâm lược với quy mô và cường độ khác nhau. Các thế lực thù địch coi trọng sức mạnh tổng hợp, thực hiện kiểu chiến tranh ngầm không có chiến tuyến, không có khói súng để thực hiện mục tiêu chiến lược “Diễn biến hòa bình”.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

 

         Vấn đề “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trong Văn kiện Đại hội XIII rất phong phú và toàn diện, bổ sung nhiều điểm mới so với các kỳ đại hội trước, cần nhận thức đúng để thực hiện có hiệu quả.

Đại hội XIII đánh giá: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”1; nội dung, phương thức xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có mặt chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đất nước trong tình hình mới”2. Từ đó, Đại hội XIII khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Báo cáo Chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) dành dung lượng đáng kể đề cập đến nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời gian tới. Bên cạnh mục XIII của Báo cáo Chính trị và nội dung thứ 10, mục V của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tập trung đề cập nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Báo cáo Chính trị còn đề cập vấn đề này ngay từ chủ đề của Đại hội và trong các mục: Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII; Quan điểm chỉ đạo thứ 5; Định hướng phát triển đất nước thứ (10) và (12); Nhiệm vụ trọng tâm thứ nhất và thứ năm; Đột phá chiến lược thứ nhất. Điều đó cho thấy, sự quan tâm đặc biệt của Đảng đối với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thời gian tới.

        Từ đó, Đại hội XIII xác định vị trí của nhiệm vụ, đến các nội dung, biện pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện tư duy mới và những bước phát triển mới về chất so với các kỳ đại hội trước. Về vị trí của nhiệm vụ, Văn kiện xác định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”3. Đây là sự cụ thể hóa thành tố đầu tiên của chủ đề Đại hội “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Bởi, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một thành phần cơ bản của hệ thống chính trị Việt Nam, lực lượng chính trị có vai trò quyết định trong việc thể chế hóa chủ trương, quan điểm, nghị quyết của Đảng thành thực tiễn sinh động. Do vậy, bên cạnh nhiệm vụ xây dựng Đảng là then chốt, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được Đảng ta dành sự quan tâm đặc biệt, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Về nội dung, biện pháp xây dựng, được Đại hội XIII đề cập rất toàn diện, phong phú; không chỉ xây dựng Nhà nước có tính chuyên nghiệp, hiện đại, mà còn coi trọng việc xây dựng Nhà nước về bản chất chính trị; không chỉ quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp mà còn coi trọng khía cạnh chấp hành luật pháp; không chỉ quan tâm đến yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mà còn phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; không chỉ quan tâm đến việc xây dựng các thiết chế của bộ máy nhà nước: Quốc hội, Chính phủ, chính quyền địa phương và cơ quan tư pháp, mà còn coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của bộ máy nhà nước, v.v.


          Để tăng cường xây dựng bản chất chính trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đại hội XIII nhấn mạnh ngay từ thành tố đầu tiên của chủ đề Đại hội; đồng thời, khẳng định Nhà nước đó phải là nhà nước “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo”. Nhấn mạnh sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là phù hợp với Điều 4, Hiến pháp năm 2013, đảm bảo cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đúng với đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng; để Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Cụ thể hóa vấn đề xây dựng Nhà nước về bản chất chính trị, Văn kiện xác định việc ban hành luật pháp phải “lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo”; quy trình làm luật của Quốc hội phải “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”; phải tập trung “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân”; xây dựng nền tư pháp “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ: công lý, quyền con người, quyền công dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân”; “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước”.

          Điểm nổi bật trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII là sự nhất quán tư tưởng “thượng tôn pháp luật”. Đây là tư tưởng chỉ đạo khắc phục những hạn chế, yếu kém mà Đại hội chỉ ra: “Chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm; kỷ cương phép nước có nơi, có lúc còn bị xem nhẹ, xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe”4. Chính tinh thần “thượng tôn pháp luật” được đề cao cùng với một hệ thống pháp luật hoàn thiện, thống nhất sẽ là động lực mạnh mẽ để xây dựng xã hội lành mạnh, kỷ cương và mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mới được hiện thực hóa. Tinh thần “thượng tôn pháp luật” được Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh ở nhiều nội dung. Trong định hướng phát triển đất nước (thứ 12), so với Đại hội XII, Đại hội XIII đã bổ sung thêm mối quan hệ lớn thứ 10 cần nắm vững và xử lý tốt là “giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”5. Bên cạnh đó, tại mục XIII, Văn kiện nhấn mạnh đến “nguyên tắc pháp quyền” trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của các cơ quan nhà nước và trong xây dựng nền hành chính nhà nước.

           Đối với nội dung xây dựng các thiết chế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đại hội XIII nhấn mạnh việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo hướng: tăng tính chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, phát huy dân chủ, pháp quyền trong tổ chức và hoạt động, trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao; bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Điểm mới trong tổ chức Quốc hội là: “tăng hợp lý số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách; giảm số lượng đại biểu công tác ở các cơ quan hành pháp, tư pháp”6. Điều đó sẽ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội theo hướng chuyên nghiệp hơn, nhất là trong thực hiện quy trình lập pháp và giám sát việc thực hiện luật pháp. Đối với thực hiện chức năng lập pháp của Quốc hội, Văn kiện xác định việc tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng quy trình lập pháp, “xây dựng được hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, có sức cạnh tranh quốc tế”7. Đề cập đến “sức cạnh tranh quốc tế” của hệ thống pháp luật là một nét rất mới của Văn kiện lần này, phù hợp với bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng. Theo đó, cần xây dựng các văn bản pháp luật và các thiết chế bảo vệ nền kinh tế độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế; nội luật hóa những điều ước quốc tế, nhất là các hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên.

           Đại hội XIII chủ trương: tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, nhằm xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch; tập trung xây dựng Chính phủ “kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động”. Trong nhiệm kỳ này, cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương; khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; bảo đảm quản lý nhà nước là thống nhất. Đồng thời, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của từng cấp, từng ngành; nâng cao chất lượng dịch vụ công; tiếp tục sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh, gọn, bảo đảm chất lượng, hoạt động hiệu quả; đẩy mạnh xây dựng Chính phủ điện tử để đáp ứng xu hướng phát triển xã hội số, nền kinh tế số.

           Đối với cơ quan tư pháp, Đại hội XIII chủ trương: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; coi đó là nội dung rất quan trọng của nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. So với Nghị quyết số 49-NQ/TW, của Bộ Chính trị (khóa IX), Văn kiện đã có sự phát triển mới, nhất là nhấn mạnh yếu tố chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, liêm chính.

          Về chính quyền địa phương, Đại hội XIII bổ sung, làm rõ hơn nội dung: tiếp tục hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt theo luật định; thực hiện và tổng kết việc thí điểm chính quyền đô thị nhằm xây dựng và vận hành các mô hình quản trị chính quyền đô thị theo hướng tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cải cách phân cấp ngân sách nhà nước theo hướng phân định rõ ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, bảo đảm vai trò chủ động, tự chủ của ngân sách địa phương.

           Để có đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đại hội XIII nhấn mạnh việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển. Đồng thời, yêu cầu có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân.

            Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là quá trình nhận thức, phát triển tư duy của Đảng ta ngày càng hoàn thiện hơn; đồng thời, là một nhiệm vụ quan trọng. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần quán triệt, thực hiện hiệu quả quan điểm của Đại hội XIII là thiết thực góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bác Hồ với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí

 

Ngay từ thời dựng Đảng, mở lời cho cuốn “Đường Kách mệnh” (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đề cao “Tư cách một người cách mạng”. Người nhấn mạnh “phải cần, kiệm, nói thì phải làm, phải biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất”. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” (tỉnh Nghệ An, ngày 17/9/1945), Bác viết: “Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư…” .

Bác Hồ coi tham ô, lãng phí là tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội. Người chỉ rõ bản chất của hành vi tham ô là lấy của công làm của tư, là gian lận tham lam, là trộm cướp. Trong bài nói chuyện năm 1952 về “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu”, Hồ Chủ tịch nói rõ: “Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là ăn cắp của công làm của tư; đục khoét của nhân dân; ăn bớt của bộ đội; tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình…”… “Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”.

Theo Người, đặc trưng của hành vi tham ô là biến "của công" thành "của tư". Bất cứ hành vi lấy "của công" làm "của tư" nào cũng đều bị Hồ Chí Minh coi là hành vi tham ô. Hơn một tháng sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, Báo Cứu quốc (ngày 17/10/1945) đăng bức thư của Người gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng. Trong thư, Người nhắc nhở các cấp chính quyền ở một số nơi “cậy thế, tham ô, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo”... Người căn dặn: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh”.

Ngày 17/3/1952, Người viết bài về chống quan liêu, tham ô, lãng phí. Bài báo có đoạn: “Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần, kiệm, liêm, chính để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc”. Chúng ta từng biết, năm 1950, vào ngày 5/9, tại Chiến khu Việt Bắc diễn ra một phiên tòa đặc biệt gây chấn động dư luận xã hội lúc bấy giờ. Đó là vụ án Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ và làm nhiều điều bỉ ổi. Kết thúc phiên tòa, Trần Dụ Châu bị tuyên phạt với mức án cao nhất - tử hình. Sự việc được báo cáo lên Hồ Chủ tịch. Người đã cân nhắc kỹ và quyết định bác đơn xin giảm tội của Trần Dụ Châu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng”. Tác hại do tham nhũng gây ra cực kỳ to lớn về mọi mặt. Nó không những làm thiệt hại về kinh tế mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, với chế độ; làm rối loạn kỷ cương pháp luật, hư hỏng cán bộ... Trong khi “chiến sỹ thì hy sinh xương máu, đồng bào thì hy sinh mồ hôi nước mắt để đóng góp, mà những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội Việt gian mật thám”. Người nhắc nhở, chống loại kẻ địch này (tức nạn tham ô) khó khăn, phức tạp hơn ngay cả so với đánh giặc ngoại xâm. Điều này phải được xem là một đặc thù, chi phối toàn bộ cuộc đấu tranh chống tham nhũng.

Người căn dặn: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”. Nói chuyện với cán bộ và nhân dân Hà Bắc ngày 17/10/1963, Người kêu gọi: "... Phải chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Phải chấm dứt những tệ nạn xấu xa do xã hội cũ để lại, như lười biếng, cờ bạc, buôn gian bán lậu, tiêu sài xa xỉ, gả bán, cưỡng ép... Để sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, đồng bào các dân tộc phải nâng cao ý thức làm chủ và tinh thần cần kiệm xây dựng nước nhà.

Nhân kỷ niệm Ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/1969), Bác viết bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Bác chỉ rõ: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Bác căn dặn: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”… “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”.

Trách nhiệm và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên trước âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch

Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải có những hành động cụ thể để chống lại âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng to lớn mà các thế hệ đi trước đã cống hiến để có được hoà bình, độc lập như ngày hôm nay

Âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch, cơ hội, là muốn xoá bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng tăng cường sử dụng “diễn biến hoà bình”, gây ra những “điểm nóng” - một chiến lược nằm trong hệ thống chiến lược phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc.

Trong chiến lược “diễn biến hoà bình”, tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hoá được chúng coi là “mũi đột phá”, hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập cán bộ, đảng viên và nhân dân, từng bước chuyển hoá, xoá bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Chúng ra sức sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, đặc biệt là internet, các blog để chuyển tải thông tin, quan điểm sai trái, thù địch và móc nối, tổ chức lực lượng chống đối chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đáng lưu ý là, trong những năm gần đây, lợi dụng xu thế toàn cầu hoá kinh tế thế giới và cuộc cách mạng khoa học-công nghệ, nhất là tin học đang phát triển mạnh mẽ cùng với những khó khăn, thách thức nảy sinh do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu và những diễn biến phức tạp mới trong tranh chấp chủ quyền Biển Đông, các thế lực thù địch ngày càng ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Những phần tử cơ hội chính trị ở trong nước hùa theo những luận điểm sai trái của các thế lực thù địch, ra sức công kích Đảng và chế độ. Hàng ngày, chúng tung lên mạng, tán phát hàng chục, hàng trăm tài liệu, từ xuyên tạc về lý luận đến vu cáo trong thực tiễn nhằm làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa; ra sức bịa đặt, bôi nhọ, nói xấu cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước với mưu toan chia rẽ, kích động lật đổ chính quyền. 

Trước tình hình đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải có những hành động cụ thể để chống lại âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng to lớn mà các thế hệ đi trước đã cống hiến để có được hoà bình, độc lập như ngày hôm nay, đó là:

Tham gia nghiêm túc các lớp bồi dưỡng kiến thức về an ninh, quốc phòng, để nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, ảnh hưởng tác hại và tính chất phức tạp, quyết liệt của cuộc đấu tranh này trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. Từ đó luôn đề cao tính cảnh giác, xác định trách nhiệm của bản thân phải cùng toàn dân đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của chúng.

Tích cực chủ động tham gia phong trào bảo vệ trị an, góp phần làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn đó, giữ vững ổn định mọi mặt của cơ quan, đơn vị và khu dân cư mình sinh sống, tăng cường mối quan hệ giữa cán bộ, chiến sĩ với nhân dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn...

Mỗi cán bộ, đảng viên cần tích cực, chủ động tham gia công tác bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc, xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; phối hợp tăng cường công tác dân vận và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, gắn bó mật thiết, trao đổi thông tin với nhân dân liên quan đến công tác dân vận trên lĩnh vực an ninh trật tự... từ đó để chủ động tham mưu, đề xuất với cấp uỷ, chính quyền các cấp giải pháp xử lý dứt điểm các vụ việc phức tạp về an ninh trật tự, không để kẻ xấu lợi dụng kích động chống phá.

Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức việc học tập và nâng cao tri thức rất quan trọng, cho nên phải luôn trau dồi kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ, phấn đấu học tập, lao động theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; thường xuyên theo dõi và cập nhật các thông tin thời sự, chính trị và xã hội để có được sự nhận thức đúng đắn về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có ý thức tự giác, kỷ luật trong quá trình tiếp xúc thông tin; chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin, tham gia tích cực đấu tranh chống phao tin, đồn nhảm, lưu truyền thông tin xấu, thất thiệt.

Chúng ta xác định, đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta là nhiệm vụ cấp bách và lâu dài của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn mới; vì vậy, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên trong công tác này có vai trò đặc biệt quan trọng để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ chính cuộc sống yên bình của toàn dân tộc Việt Nam chúng ta.

Phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ - Bài học từ Mường Nhé

Vụ án phá rối an ninh xảy ra cách đây 10 năm tại bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé (Điện Biên) là vụ án phức tạp, ảnh hưởng xấu đến đời sống, sức khỏe của hàng nghìn hộ gia đình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền; sự đồng lòng, đồng sức của nhân dân, mảnh đất phên dậu phía Tây Bắc của Tổ quốc đang đổi thay từng ngày. Nhưng bài học về phòng, chống "diễn biến hòa bình" từ vụ án ở Mường Nhé 10 năm trước vẫn còn nóng hổi.

Khi mới thành lập (tháng 8-2002), huyện Mường Nhé chỉ có 05 đơn vị hành chính xã, với 25.000 nhân khẩu, chủ yếu là người Hà Nhì và người Thái, người Mông có 01 bản ở Nậm Nà gồm 30 hộ, gần 120 nhân khẩu. Do nạn di dân tự do ồ ạt trong suốt 8 năm nên đến năm 2010, huyện Mường Nhé đã tăng lên 16 xã, tất cả đều là các xã vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn, với 11 dân tộc: Thái, Mông, Kinh, Hà Nhì, Khơ Mú, Si La, Xạ Phang, Dao, Sán Chỉ, Cống, Kháng. Trong đó, người Mông trở thành cộng đồng có dân số đông nhất. Việc di cư mang đến nhiều hệ luỵ xấu như trẻ em không được đến trường, dân trí thấp, tỷ lệ dân đói nghèo của cả Huyện lên tới 78,87%... Đó là những nguyên nhân chính làm cho tình hình kinh tế - xã hội, an ninh trật tự ở Mường Nhé 10 năm trước ngày càng trở nên phức tạp. Tháng 5/2011, với mục đích “Xưng vua”, “lập vương quốc Mông” tự trị, nhóm đối tượng do Vàng A Ía cầm đầu đã loan tin "một thế lực siêu nhiên" sẽ đến Huổi Khon để đưa người Mông đến miền đất hứa, được ban cho sức khỏe, hạnh phúc và giàu sang. Tin lời lừa phỉnh đó, hàng ngàn đồng bào Mông từ khắp mọi nơi kéo về dựng lán trại tạm bợ ở đây. Chỉ chờ có vậy, một số phần tử cơ hội chính trị đã rêu rao những thông tin sai lệch, xuyên tạc như "bạo động tại Mường Nhé", vu cáo chính quyền dùng vũ lực để đàn áp dân chúng và những người Mông tham gia biểu tình đã bị bắt và có người chết... Một số hãng thông tấn và cơ quan truyền thông quốc tế liên tiếp đưa những tin sai sự thật này. Tuy nhiên, sau khi được Đảng, chính quyền giáo dục, nhân dân giúp đỡ, phần lớn người Mông lầm đường, lạc lối đã hiểu ra, trở về nhà, chí thú làm ăn để lập nghiệp trên chính mảnh đất của mình. Những kẻ vi phạm pháp luật trong vụ án đã bị khởi tố, xét xử.

          Mường Nhé hôm nay dù vẫn còn nhiều bộn bề, khó khăn nhưng vóc dáng một đô thị nơi ngã ba biên giới đã và đang được định hình ngày càng rõ nét. Trong 10 năm qua, với tinh thần đoàn kết, sáng tạo, khắc phục khó khăn, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Mường Nhé đã đạt được thành tựu đáng mừng trên tất cả các lĩnh vực. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỉ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ, giảm tỉ trọng ngành nông - lâm nghiệp và thủy sản. Tổng thu ngân sách giai đoạn 2016 – 2020 đạt 112,63 tỷ đồng, tăng bình quân 13,87%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 58,43%; tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2020 ước đạt 15.780 tấn. Các mặt văn hóa, xã hội có chuyển biến tích cực, chất lượng giáo dục, y tế được nâng lên. Nhằm khắc phục tình trạng di dân tự do, Huyện xây dựng Đề án và đã sắp xếp ổn định dân cư được 1.253/1.316 hộ. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được chú trọng. Hiện nay, tất cả các bản của Huyện đều đã có đảng viên...

          Nhìn lại vụ án phá rối an ninh cách đây 10 năm tại Mường Nhé, có thể thấy thủ đoạn của các thế lực thù địch sử dụng là thực hiện những hoạt động phi vũ trang, tạo thành những “cây cầu dẫn vào trận địa” để khoét sâu thêm mâu thuẫn giữa nhân dân và chính quyền, từ đó kích động nhân dân bạo loạn, chống chính quyền. Đây là những phương thức mới, rất tinh vi trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đã thực hiện để chống phá cách mạng Việt Nam. Hơn nữa, nhận thấy Mường Nhé là địa bàn trọng yếu về quốc phòng, an ninh nên các thế lực thù địch luôn nung nấu ý đồ thôn tín, lập quốc gia riêng. Chúng lợi dụng những vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để đẩy mạnh các hoạt động truyền đạo trái pháp luật, kích động tư tưởng ly khai, tự trị. Chúng ra sức lôi kéo các đối tượng có hận thù với cách mạng, tàn quân của các tổ chức phản động trước đây và các thành phần có tư tưởng bất mãn với thời cuộc để tạo dựng ngọn cờ chống đối, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Để chủ động đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cần thực hiện những giải pháp cơ bản sau:

          Một là, cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân các cấp phải không ngừng tuyên truyền, giáo dục, quán triệt quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nướcchú trọng phổ biến pháp luật và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân; đẩy mạnh giáo dục mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, ý chí vươn lên, tạo lập nền tảng tinh thần xã hội - thế trận lòng dân vững chắc.

          Hai là, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, bạo loạn lật đổ dưới mọi hình thức. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Chủ động, tích cực khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước để tránh cho các phần tử phản động, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá.

Ba là, làm tốt công tác dự báo tình hình để đấu tranh ngăn chặn từ sớm, từ xa những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “chủ động phòng ngừa là chính... Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa” (1).Để hoàn thành nhiệm vụ nêu trên, cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp phải nhạy bén chính trị, dự báo tình hình chính xác, kịp thời, trên cơ sở đó có dự kiến các tình huống, thống nhất cách thức, biện pháp ứng phó.

          Bốn là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, thắt chặt mối quan hệ Dân với Đảng. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, hỗ trợ nhân dân định canh, định cư; phát động phong trào thi đua làm giàu trong các tầng lớp nhân dân; tạo cơ chế, chính sách và môi trường thuận lợi để huy động các nguồn lực xã hội, nguồn vốn từ các chương trình, dự án quốc gia, quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc, vùng tôn giáo: Chương trình 135, Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo... Khi đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, đồng bào sẽ đoàn kết, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, đó cũng là điều kiện quan trọng để vô hiệu hoá sự lợi dụng của kẻ thù.

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” của tuổi trẻ Học viện Quốc Phòng

Để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, thực hiện “phi chính trị hoá quân đội”, các thế lực thù địch không ngừng gia tăng các biện pháp chống phá với nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó thế hệ trẻ là cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, hạ sĩ quan, binh sĩ ở các đơn vị, học viện, nhà trường quân đội - lực lượng trụ cột, tương lai của nước nhà, của quân đội nói chung, ở Học viện Quốc phòng nói riêng không phải là ngoại lệ. Bởi chúng cho rằng, thế hệ trẻ tuy là những người có nhiều ước mơ, hoài bão, khát khao được khẳng định, bứt phá, cống hiến và năng động, nhưng bản lĩnh và kinh nghiệm sống, kỹ năng mềm còn hạn chế, dễ cám dỗ, kích động, mua chuộc, lôi kéo.

         Nhận thức rõ tác hại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với thế hệ trẻ ở Học viện, những năm qua dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ Đảng uỷ, Ban Giám đốc Học viện, sự hướng dẫn, chỉ đạo của Cục chính trị, mọi hoạt động của các tổ chức quần chúng, của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, của đoàn viên, hội viên đã đi đúng hướng, mang lại kết quả tích cực, nhờ đó đã nâng cao nhận thức chính trị, phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của đoàn viên thanh niên trên các lĩnh vực công tác, góp phần vào hoàn thành nhiệm vụ chung của các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị và toàn Học viện.

         Song bên cạnh đó, mặc dù chưa có thống kê và kết quả cụ thể đánh giá về tác động của chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với tuổi trẻ ở Học viện Quốc phòng, những băn khoăn, lo lắng, suy tính thiệt hơn giữa việc công tác, học tập, rèn luyện ở Học viện, môi trường quân đội với môi trường bên ngoài, đến những biểu hiện không muốn, ngại, lười học tập, rèn luyện, thậm trí chấp hành không nghiêm nền nếp chính quy, kỷ luật quân đội, quy định của Học viện, đơn vị ở một số đoàn viên thanh niên, những vấn đề đó có thể do động cơ, nhận thức, giác ngộ chính trị chưa cao, nhưng cũng có thể do tác động tiêu cực, mặt trái cơ chế thị trường, bởi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với thế hệ trẻ.

         Phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục khuyết điểm, hạn chế, bất cập, những năm tới để tuổi trẻ Học viện Quốc phòng tiếp tục góp phần đấu tranh một cách chủ động, tích cực làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, cần tập trung thực hiện có hiệu quả một số nội dung biện pháp sau:

         Thứ nhất, thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ ở Học viện về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,  đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn, hành động chống phá của các thế lực thù địch, phản động thông qua “diễn biến hòa bình”   

         Nhận thức rõ vai trò của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những kiến thức nền tảng, lý luận khoa học, cách mạng nhất hiện nay có tác dụng rất lớn trong giáo dục, bồi dưỡng về mục tiêu, lý tưởng, lập trường bản lĩnh cách mạng cho thế hệ trẻ trong Học viện. Đặt ra cho các cấp uỷ, tổ chức Đảng, nhất là tổ chức đoàn thanh niên ở các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị học viên cần quan tâm lãnh đạo, triển khai thực hiện đa dạng nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng sao cho thật phong phú, hấp dẫn để nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ trong Học viện về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trên các lĩnh vực như chính trị, văn hoá xã hội, kinh tế, đối ngoại, quốc phòng an ninh; các phong trào thi đua, các cuộc vận động, nhất là tầm quan trọng của việc đẩy mạnh làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Cuộc vận động: Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”; nhận diện và phân biệt rõ đúng, sai âm mưu, thủ đoạn và hành động chống phá của các thế lực thù địch, phản động thông qua “diễn biến hòa bình”. Từ đó là cơ sở để thế hệ trẻ nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhạy bén, chủ động hơn trong đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình”, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Quân đội và Học viện vững mạnh.

         Thứ hai, xây dựng môi trường văn hoá quân sự trong sạch, lành mạnh ở các cơ quan, khoa giáo viên, hệ học viên để thế hệ trẻ trong Học viện học tập, tu dưỡng và rèn luyện tốt

         Môi trường văn hoá quân sự là yếu tố có vai trò, ảnh hưởng, tác động lớn tới nhận thức, quan điểm, lối sống, bản lĩnh, lập trường của thế hệ trẻ đang công tác, học tập, rèn luyện ở Học viện. Vì vậy các cơ quan, khoa giáo viên, hệ học viên cần quan tâm xây dựng môi trường văn hoá quân sự trong sạch, lành mạnh với những mối quan hệ tốt đẹp, thân thiện trên cơ sở của sự đoàn kết, thống nhất cao, bình đẳng, tôn trọng, đề cao tình yêu thương con người, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, xây dựng dư luận xã hội tích cực định hướng thế hệ trẻ trong nhận thức và hành động vì mục tiêu, lý tưởng trong sáng, phấn đấu học tập, rèn luyện, công tác tốt, hoàn thành xuất sắc chức trách và mọi nhiệm vụ được giao.

         Thứ ba, tăng cường vai trò, trách nhiệm của tổ chức đoàn trong tập hợp, tổ chức các phong trào hành động cách mạng cho thế hệ trẻ ở các cơ quan, khoa giáo viên, hệ học viên trong Học viện

         Tổ chức đoàn ở khối các phòng, khoa, đơn vị học viên là nơi tập hợp, giáo dục và rèn luyện đoàn viên thanh niên về nhận thức, mục tiêu, lý tưởng và hành động, định hướng cho đoàn viên thanh niên nhận thức rõ tính hiểm độc và những tác hại của chiến lược “diễn biến hòa bình”, từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực tham gia đấu tranh. Do vậy các tổ chức đoàn ở các cơ quan, khoa giáo viên, hệ học viên trong Học viện cần thường xuyên tổ chức các phong trào hành động cách mạng, tạo ra nhiều sân chơi bổ ích, thiết thực cho tuổi trẻ được tham gia, như duy trì và nâng cao chất lượng thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động, nhất là phong trào thi đua quyết thắng, “phát huy truyền thống, cống hiến tài năng xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, tập trung xây dựng đơn vị xanh, sạch, đẹp, có nếp sống chính quy, có đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh, phát huy có hiệu quả các thiết chế văn hoá; tổ chức chặt chẽ và có hiệu quả các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao tạo bầu không khí vui tươi, phấn khởi ở mỗi cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị.

         Thứ tư, mỗi đoàn viên, thanh niên trong Học viện là một tấm gương sáng đi đầu trong đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

         Hiệu quả tham gia đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch của tuổi trẻ Học viện phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó vai trò xung kích, tiền phong gương mẫu và ý thức trách nhiệm cao của mỗi đoàn viên, thanh niên ở các tổ chức đoàn giữ vai trò quan trọng.

         Vì vậy mỗi đoàn viên thanh niên phải nhận thức đầy đủ về vai trò, trách nhiệm của mình trong tham gia đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, từ đó xây dựng cho mình lập trường bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, lòng trung thành, tinh thần cảnh giác cách mạng cao, tích cực, tự giác học tập, nghiên cứu để có kiến thức toàn diện, trình độ chuyên môn, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ công tác, giảng dạy, thực hiện nhiệm vụ. Tự giác thực hiện nền nếp chính quy, chấp hành nghiêm pháp luật, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội và mọi quy định của đơn vị, xung kích thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị, nói không với thuốc lá, không sử dụng rượu, bia sai quy định, chấp hành nghiêm Luật giao thông đường bộ, sử dụng điện thoại, mạng internet, các tài liệu mật đúng quy định, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong phòng, chống bệnh nCov.    

         Thế hệ trẻ ở Học viện Quốc phòng nói riêng, trong quân đội nói chung là lực lượng quan trọng góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, việc giáo dục, bồi dưỡng, phát huy vai trò, ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ trong các lĩnh vực công tác ở các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị học viên là những biện pháp thiết thực, tích cực đấu tranh có hiệu quả làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch./.