Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

THƯA BÀ NATALIYA ZHYNKINA!

         Đại biện lâm thời Ukraine tại Việt Nam!

Những ngày vừa qua, chúng tôi - những người dân Việt Nam thực sự đau xót trước những đau thương mất mát mà nhân dân Ukraine phải gánh chịu do hậu quả của cuộc chiến tranh giữa 2 nước Nga - Ukraine. Đó không những là viên đạn bắn vào trái tim người dân Việt Nam và cả những người có lương tri, yêu chuộng hoà bình trên thế giới.

Là những người đã trải qua trong 2 cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ suốt 30 năm và trong 2 cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và Tây Nam Tổ quốc năm 1977-1979, chúng tôi thấu hiểu nỗi đau của chiến tranh và cái giá của hoà bình. Hàng triệu đồng bào tôi đã phải hy sinh để đất nước tôi mới có được độc lập tự do đến ngày hôm nay. Hàng triệu người lớn, trẻ em Việt Nam đến nay vẫn mang trên mình hậu quả của chiến tranh để lại.


Thưa bà!

Người Việt Nam chúng tôi có câu: “Có qua cơn hoạn nạn mới biết đâu biển cạn, đâu là dòng sông sâu”. Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô và các nước XHCN trong đó có nhân dân Ukraine. Trong bất cứ hoàn cảnh nào các bạn cũng đứng về phía chúng tôi bảo vệ cuộc chiến tranh chính nghĩa. Những năm 1979 - 1980 trong thời điểm khó khăn nhất khi Mỹ mượn bàn tay LHQ cấm vận Việt Nam khi Việt Nam phải tiến hành một cuộc chiến tranh bắt buộc tiêu diệt Khmer Đỏ, cứu nhân dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng thì chỉ có một số ít nước trong đó có nhân dân Ukraine các bạn ủng hộ chúng tôi. Các thế hệ Việt Nam không quên điều đó.


Thưa bà!

Đối với Việt Nam, Liên bang Nga và Cu Ba luôn là người bạn chí tình, chí cốt. Vì Việt Nam họ sẵn sàng hy sinh xương máu của mình. Đó là điều bà dễ hiểu vì sao nhân dân Việt Nam luôn trân quý và dành tình cảm đặc biệt cho 2 nước này đến như vậy!

Từ ngày Liên bang Xô Viết tan rã, những người Việt Nam chúng tôi thực sự buồn khi thấy những gì đang xảy ra trên đất nước Ukraina. Chúng tôi thất vọng khi Ukraine bỏ phiếu trắng trước sự kêu gọi của Liên Hiệp quốc đòi xoá bỏ cấm vận đất nước Cu Ba anh em. Chúng tôi thực sự khó hiểu khi Ukraina cùng với Mỹ bỏ phiếu chống lại Liên Hiệp quốc lên án chủ nghĩa phát xít mới đang manh nha hình thành ở các nước Châu Âu? 

Thưa bà!

Chúng tôi thấu hiểu sự trăn trở của bà trước lá phiếu trắng của Việt Nam ngày 01/3/2022 tại Liên Hiệp quốc. Thiết nghĩ người làm chính trị dày dặn kinh nghiệm như bà chắc bà thừa hiểu trong bối cảnh quan hệ đan chéo hiện nay thì Việt Nam bỏ phiếu trắng cũng là sự ủng hộ đối với Ukraine rồi. Nhân dân Việt Nam không ủng hộ chiến tranh, mong muốn cuộc chiến tranh giữa Nga -Ukraina sớm chấm dứt. Hoà bình, ổn định sớm đến với nhân dân Ukraine.

Chúc bà sức khoẻ!

Chúc quan hệ Việt Nam - Ukraine bền vững./




ПAHI НАТАЛІЯ ЖИНКІНА

 Тимчасовий повірений у справах України у В'єтнамі!

 Останніми днями ми, в’єтнамці, дуже засмучені болем і втратами, які доводиться пережити українському народу внаслідок війни між Росією та Україною. Це не тільки постріл в серця в'єтнамського народу, а й у серця совісті та миролюбних людей у ​​всьому світі.

 Як люди, які протягом 30 років пережили 2 війни проти французьких колонізаторів та Американської імперії та 2 війни за захист північних і південно-західних кордонів країни в 1977-1979 роках, ми розуміємо біль війни та ціну миру. . Мільйони моїх співвітчизників до сьогодні змушені були пожертвувати за те, щоб моя країна була незалежною і вільною. Мільйони дорослих і дітей у В’єтнамі досі несуть на собі наслідки війни.


 Шановна пані!

 У нас, в’єтнамців, є вислів: «Тільки через страждання ми можемо знати, де море сухе, а де глибока річка». В'єтнамський народ ніколи не забуває про велику допомогу Радянського Союзу та інших соціалістичних країн, у тому числі й народу України. У будь-якому випадку ви будете на нашому боці, щоб захистити справедливу війну. У 1979 - 1980 роки, у найважчий час, коли США позичили руку ООН, щоб ембарго В'єтнаму, коли В'єтнам був змушений вести війну, щоб знищити червоних кхмерів і врятувати камбоджійський народ від геноциду, лише одна кілька країн, включаючи людей України, підтримайте нас. В'єтнамські покоління не забули цього.

 Шановна пані!

 Для В'єтнаму Російська Федерація і Куба завжди були вірними і вірними друзями. Заради В'єтнаму вони готові пожертвувати своєю кров'ю і кістками. Легко зрозуміти, чому в’єтнамський народ завжди дорожить цими двома країнами і має таку особливу прихильність!

 Після розпаду Радянського Союзу нам, в’єтнамцям, дуже сумно дивитися на те, що відбувається в Україні. Ми розчаровані, коли Україна утрималася від заклику Організації Об’єднаних Націй скасувати ембарго щодо нашого брата Куби. Чи ми справді спантеличені, коли Україна приєднується до США у голосуванні проти ООН, яка засуджує неофашизм, що формується в європейських країнах?

 Шановна пані!

 Ми розуміємо її стурбованість утриманням В’єтнаму 1 березня 2022 року в Організації Об’єднаних Націй. Я думаю, що такий досвідчений політичний працівник, як вона, напевно зрозуміла, що в контексті нинішніх взаємовідносин утримання В’єтнаму – це також підтримка України. В'єтнамський народ не підтримує війну і сподівається, що війна між Росією та Україною скоро закінчиться. Незабаром до народу України настане мир і стабільність.

 Бажаю міцного здоров’я!

 Бажаю в'єтнамсько-українським відносинам міцних./.
Yêu nước ST.

NẾU THẾ GIỚI NÀY KHÔNG CÓ NƯỚC NGA!

         Người việt có câu vui, nói phải củ cải cũng nghe, thực tế thì trong nhiều lĩnh vực lẽ phải luôn thuộc về kẻ mạnh, và kẻ mạnh trên thế giới lúc này là Mỹ và NATO. Người phương tây do tài giỏi, thông minh đã phát triển về khoa học kt kinh tế vượt bậc so với các dân tộc khác và họ dùng tiến bộ đó gây ra bao cuộc chiến tranh nhưng khi họ tiến về phía đông họ đều thua trận với nước Nga. Họ phải đổi hướng và với kỹ thuật hàng hải tiên tiến vũ khí tốt họ đã chiếm hầu hết mọi lãnh thổ trên thế giới và gây ra bao tội ác với loài người, họ tiêu diệt cả chục triệu dân da đỏ giết và bắt hàng triệu thổ dân Châu Phi làm nô lệ, thủ tiêu nhiều nền văn minh trên thế giới, với sự cướp bóc các nước phương tây trở nên giầu có, và chiếm làm thuộc địa hầu hêt các nước trên toàn thế giới câu (mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Anh ra đời trong thời kì này). Nhưng khi hướng về đông nước Nga là trở ngại mà họ cần tiêu diệt. Chiến tranh thế giới thứ 2 cũng do họ gây ra, lúc đó Đức và Ý phát triển sau khá hùng mạnh và cũng muốn có thuộc địa để cướp bóc nhưng sờ vào đâu cũng của Anh, Mỹ, Pháp, Tây, Bồ, Hà lan. Các nước đó khuyến khích, giúp đỡ Đức, Ý phát triển quân sự, kinh tế và hướng họ về phía đông... rộng lắm tha hồ mà cướp nhằm diệt nước Nga. Thậm chí còn nhường cho Đức cả Tiệp Khắc và Ba Lan, cuối cùng Đức chiếm hầu hết Châu Âu, chiếm luôn Pháp trong 2 tuần, nếu Đức không đánh Nga mà dồn tổng lực sang Anh thì giờ nước anh đâu còn. Liên Xô thắng trận góp phần tiêu diệt phát xít giải phóng thêm nhiều nước lập ra phe CNXH cùng lúc phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới nổi lên phá tan hệ thống thuộc địa của Mỹ và Phương Tây, cả trăm nước đã giành được độc lập trong đó có 9 nước Đông nam á, Ấn Độ, các nước châu phi, Mỹ la tinh. Phải biết rằng Mỹ và các nước Phương Tây căm Nga đến thế nào, họ liền gây ra cuộc chiến tranh lạnh, nên nhớ khối NATO thành lập trước, Vacsava lập sau. Tiếc rằng sai lầm do hoạch định kế hoạch kinh tế tập trung bao cấp nên nền kinh tế phe XHCN kém phát triển + với sự chống phá của Phương Tây. Liên Xô và phe XHCN đã sụp đổ. khỏi nói Mỹ và Pt sung sướng thế nào họ tha hồ làm mưa làm gió, mở rộng NATO kết bè đảng, gây chiến tranh đánh phá bất cứ nước nào trái ý họ. Và bây giờ họ không từ một thủ đoạn nào, dùng mọi mưu hèn kế bẩn để tiêu diệt nước Nga . Nếu nước Nga tan rã Mỹ và NATO sẽ chỉ hươu bảo ngựa liệu có đất nước nào, dân tộc nào dám chống lại nữa không?



Yêu nước ST.

LIÊN ĐOÀN BÓNG ĐÁ NGA CÓ ĐỘNG THÁI CỨNG RẮN ĐỂ CHỐNG LẠI NHỮNG ÁN PHẠT NẶNG TỪ FIFA VÀ UEFA!

     Theo Sky Sports, Liên đoàn Bóng đá Nga (RFU) cho biết họ đã gửi đơn kiện lên Tòa án Trọng tài Thể thao (CAS) để chống lại quyết định của FIFA, UEFA về việc cấm các đội tuyển nước này tham dự các giải đấu quốc tế.

"RFU yêu cầu khôi phục lại quyền tham dự mọi giải đấu bóng đá của cả đội tuyển nam và nữ, bao gồm cả vòng loại World Cup 2022, cũng như bồi thường thiệt hại", một đoạn đơn kiện có nói.

RFU khẳng định hành động tước quyền thi đấu của các đội tuyển Nga đã vi phạm nghiêm trọng các quyền, nguyên tắc cơ bản trong thể thao và đi ngược lại với tinh thần fair-play.Bên cạnh đó, RFU còn tố cáo FIFA đã thiếu công bằng khi đã nghe theo sức ép từ tuyển Ba Lan, Thụy Điển, CH Czech để cấm Nga dự vòng play-off World Cup 2022.

Trước đó, tuyển Nga đã bị gạch tên khỏi vòng play-off tranh vé dự World Cup 2022 do cả Ba Lan và Thụy Điển tuyên bố sẽ không đến Nga để thi đấu. Lệnh cấm từ UEFA còn khiến tuyển nữ Nga không được dự Euro 2022 tại Anh vào hè năm nay. Cùng với FIFA, UEFA Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) cũng đình chỉ vô thời hạn sự tham gia của Nga vào các giải đấu quốc tế như Europa League./.
Môi Trường ST.

BÀN TAY KHÔNG CHE NỔI MẶT TRỜI!

         Hãy xem Mỹ và ρɦươnց Ƭâу đã ủng hộ chính sách bài Nga và cɦủ nցɦĩɑ phát xít mới ở Ukraine như thế nào?

1. Mỹ và phương Tây đã nhúng tay vào Uƙɾɑine bằnց 2 cuộc “Cácɦ mạnց cɑm” năm 2004 và 2014 hậu thuẫn cho các thế lực phát xít mới, dân tộc cực hữu bài Nga.

2. Ngay sau cɦínɦ biến EᴜɾomɑiԀɑn 2014, Chính quyền thân Mỹ Ukraine tuyên bố bỏ Nցàу lễ cấρ qᴜốc ցiɑ kỷ niệm Cɦiến tɦắnց chiến tranh Vệ quốc vĩ đại 09/5/1945 đổi tɦànɦ “Nցàу tưởnց niệm các nạn nhân của quân Liên Xô xâm lược”.

3. Ngày 09/4/2015, Qᴜốc ɦội Ukraine tɦônց qᴜɑ lᴜật ʋề ʋiệc lên án ʋà cấm tᴜуên tɾᴜуền qᴜảnց bá tư tưởnց ʋà các biểᴜ tượnց củɑ cɦủ nցɦĩɑ Cộnց ѕản, tᴜуên bố cɦế độ Cộnց ѕản tồn tại ở Uƙɾɑine đến năm 1991 là tội ρɦạm khủng bố nɦà nước. Đẩy mạnh phong tɾào ρɦá bỏ nɦữnց “tàn Ԁư củɑ Liên Xô” nɦư tượnց đài Lenin, tượnց cɦiến ѕĩ Hồnց qᴜân Liên Xô. Trong 1 năm từ ƙɦi cᴜộc cɦínɦ biến tɾên qᴜảnց tɾườnց MɑiԀɑn hơn 500 tượnց đài Lê Nin và Hồng quân Liên Xô bị ρɦá bỏ tɾonց tiếnց ɦô ʋɑnց “Vinɦ qᴜɑnց Uƙɾɑine”.

4. Cùnց nցàу 09/4/2015, Qᴜốc ɦội Uƙɾɑine bɑn ɦànɦ lᴜật 2538-1 ʋề qᴜу cɦế ρɦáρ lý ʋà tôn ʋinɦ nɦữnց nցười đã tɦɑm ցiɑ các tổ cɦức cɦốnց cɦínɦ qᴜуền Xô Viết từnց tồn tại tɾên lãnɦ tɦổ Uƙɾɑine là “cɦiến ѕỹ đấᴜ tɾɑnɦ ʋì độc lậρ củɑ Uƙɾɑine” tɾonց tɦế ƙỷ 20, có nɦiềᴜ tổ cɦức là đồnց minɦ củɑ Đức Qᴜốc хã.

5. Tháng 04/2015, Bộ Giáo Ԁục ʋà Khoa ɦọc Uƙɾɑine cɦo ѕácɦ ցiáo ƙɦoɑ lịcɦ ѕử lớρ 11 Ԁạу tɾẻ em “qᴜân хâm lược Nցɑ” ʋà “bè lũ tɑу ѕɑi củɑ Nցɑ” đɑnց xâm lược Ƭổ qᴜốc, ρɦá ɦoại đất nước, ցiết ɦại tɦườnց Ԁân Uƙɾɑine, buộc qᴜân đội Ukraine phải tiến ɦànɦ “cᴜộc cɦiến tɾαnɦ nɦân Ԁân cɦốnց lại nước Nցɑ хâm lược”.

6. Ngày 23/5/2017, Nցɦị Viện Uƙɾɑine tɦônց qᴜɑ đạo lᴜật loại bỏ tiếnց Nցɑ ƙɦỏi các ƙênɦ tɾᴜуền ɦìnɦ ʋà ρɦát tɦɑnɦ Ԁù 30% nցười Uƙɾɑine coi tiếnց Nցɑ là nցôn nցữ mẹ đẻ ʋà ɦànց tɾiệᴜ nցười ѕử Ԁụnց tiếnց Nցɑ nɦư nցôn nցữ tɦứ ɦɑi. Ƭừ tɦánց 9/2020, tiếnց Nցɑ bị cấm ցiảnց Ԁạу ở tất cả các tɾườnց ɦọc.

Chúng ta không ủng hộ chiến tranh nhưng phải tìm hiểu nguyên nhân để có giải pháp hợp lý chấm dứt chiến tranh xung đột giữa Nga và Ukraine. Những nguyên nhân trên phần nào lý giải tuyên bố của Tổng thống Nga Putin: “Mục tiêu của Nga không phải để xâm lược Ukraine mà là tiêu diệt chủ nghĩa phát xít mới và trung lập hoá Ukraine” không những để bảo vệ lợi ích, an ninh của Nga mà cũng chính là bảo vệ lâu dài hoà bình cho thế giới trước hiểm hoạ phục hồi của chủ nghĩa phát xít mới./.
Môi Trường ST.

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2022

HÃY LÀ NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM TRONG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI

     Khi đề cập tới việc truy cập sử dụng các trang mạng xã hội, nhiều người nghĩ đơn giản chỉ cần biết chữ biết các biểu tượng là có thể sử dụng được. Tuy nhiên đây chỉ là ý nghĩ đơn thuần trong sử dụng mạng xã hội, chúng ta thấy nhiều cháu bé thậm trí chỉ vài 3 tuổi mặc dù chưa biết chữ nhưng khi cầm điện thoại hoặc máy tính, các thiết bị hiện đại có nối mạng là có thể vào trang mình yêu thích (đây là hành động bắt chước mà các cháu nhìn được khi người lớn mở cho xem nhiều lần thành quen). Tuy nhiên các cháu chưa hiểu gì về mạng và các quy định trong sử dụng mạng Internet.

     Vậy người lớn chúng ta thì sao?, hiện nay đa số mọi người sử dụng vào các trang mạng đều là người có hiểu biết, nắm được các quy định, những điều đã được luật An ninh mạng quy định cho phép và hiểu những điều không được phép, họ sử dụng mạng có trách nhiệm và có văn hóa. Song cũng có một số do cố tình không biết hoặc biết nhưng cố tình làm những điều cấm khi sử dụng mạng. Ví dụ như chia sẻ, bình luận những thông tin, hình ảnh có nội dung xấu độc, thậm trí cổ vũ cho những hành động phản cảm... Đây thực sự là điều nguy hại cho xã hội, cao hơn nữa là tiếp tay cho những kẻ có dụng ý xấu. Mong mọi người nên cân nhắc khi sử dụng mạng xã hội, nên biết những điều gì được làm và không được làm để tránh bị vi phạm pháp luật và bị kẻ xấu lợi dụng tuyên truyền không công cho chúng.

 

'TỐT ĐẠO, ĐẸP ĐỜI', XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 

Cụm thi đua lĩnh vực Pháp luật và Tôn giáo gồm 5 tổ chức thành viên: Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Trung ương Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội Thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc).

Trong năm 2021, trên cơ sở nội dung giao ước thi đua, mỗi đơn vị thành viên trong Cụm thi đua Pháp luật và Tôn giáo đã có nhiều đổi mới trong thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm để thực hiện thắng lợi chương trình phối hợp và thống nhất hành động của MTTQ Việt Nam.

Điểm nhấn nổi bật là các tổ chức thành viên trong cụm đã chung sức đồng lòng cùng Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam trong công tác phòng chống dịch Covid-19. Với những cách làm sáng tạo, các tổ chức thành viên đã tuyên truyền vận động toàn dân phát huy mọi tiềm năng, sức mạnh để góp phần cả nước ngăn chặn và đẩy lùi đại dịch.

Trong công tác phòng chống dịch, các tổ chức tôn giáo dừng mọi hoạt động tập trung đông người, tổ chức sinh hoạt tôn giáo trực tuyến; tuyên truyền vận động đồng bào các tôn giáo hưởng ứng thực hiện nghiêm thông điệp “5K” phòng chống dịch.

Đặc biệt các tổ chức tôn giáo đã tích cực tham gia đóng góp nguồn lực ủng hộ cho công tác phòng chống dịch, ủng hộ quỹ vaccine, tổ chức các hoạt động nhân đạo, từ thiện giúp đỡ người nghèo, người khó khăn trong tâm dịch đã tạo sự lan tỏa rất sâu sắc trong nhân dân.

Tiêu biểu như, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã ủng hộ cho công tác phòng chống Covid-19 với tổng số tiền hơn 420 tỷ đồng. Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) cùng với việc ủng hộ cho công tác phòng chống dịch Covid-19 đã có nhiều hoạt động thiết thực hỗ trợ các gia đình khó khăn do dịch bệnh với số tiền 765 triệu đồng…

Cũng trong năm 2021, các tổ chức thành viên trong cụm cũng tham gia tích cực vào công tác bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; tiếp tục nhiều hoạt động thiết thực hưởng ứng các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước do Mặt trận phát động, các hoạt động an sinh xã hội, giúp đỡ người nghèo…

Ghi nhận và đánh giá cao những kết quả mà Cụm thi đua lĩnh vực pháp luật và tôn giáo đạt được trong năm 2021, Phó Chủ tịch Ngô Sách Thực khẳng định, trong bối cảnh rất nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần đoàn kết, sáng tạo, hoạt động của Cụm đã đạt được những kết quả nổi bật.

Trên tinh thần bám sát 5 nội dung chương trình phối hợp và thống nhất hành động của MTTQ Việt Nam, các thành viên trong Cụm thi đua Pháp luật và Tôn giáo đã có những hoạt động “tốt đạo, đẹp đời” qua đó góp phần tích cực vào kết quả của công tác Mặt trận nói chung, khẳng định được vai trò vị thế của từng tổ chức. 

Về nhiệm vụ trong thời gian tới, Phó Chủ tịch Ngô Sách Thực đề nghị, các thành viên trong Cụm thi đua Pháp luật và Tôn giáo tiếp tục có những giải pháp đổi mới để thúc đẩy có hiệu quả 5 nội dung chương trình phối hợp và thống nhất hành động của MTTQ Việt Nam.

Trong năm 2022, mỗi tổ chức thành viên cần phát huy thế mạnh của từng tổ chức để xây dựng phương hướng công tác có trọng tâm, thiết thực đi vào những vấn đề tác động trực tiếp đến đời sống của nhân dân.

            Theo Phó Chủ tịch Ngô Sách Thực trên cơ sở các nội dung của Giao ước thi đua 2022, các thành viên trong Cụm thi đua Pháp luật và Tôn giáo cần tiếp tục động viên hội viên, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành thực hiện hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, nhất là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; phát huy tinh thần dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của các thành viên, hội viên, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành; giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh; mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động đối ngoại nhân dân; hoàn thiện cơ chế, nâng cao năng lực hoạt động của mỗi tổ chức thành viên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển, hội nhập quốc tế.

 

 

Thực hiện tốt công tác dân tộc góp phần xây dựng

khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 

Công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách, là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của hệ thống chính trị. Thời gian qua, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc luôn nhận được sự quan tâm sâu sát của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự phối hợp hiệu quả của các bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương; sự ủng hộ, hợp tác tích cực của các tỉnh, thành cũng như sự giám sát của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội. Ban Dân tộc, cơ quan công tác dân tộc các tỉnh, thành phố đã chủ động, tích cực tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thực hiện chính sách dân tộc, quan tâm chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, kịp thời hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng do thiên tai, dịch bệnh… qua đó, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước.

Để công tác dân tộc có hiệu quả, trước hết xây dựng các đề án, chính sách dân tộc, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của chính sách giai đoạn 2021-2025; đẩy mạnh công tác dân tộc trong tình hình mới, tăng cường theo dõi, nắm tình hình trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, kịp thời cung cấp thông tin, báo cáo về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, đặc biệt là các điểm nóng về an ninh trật tự, tình hình thiên tai, dịch bệnh, môi trường… giải quyết những vấn đề phát sinh.

 Thứ hai, tiếp tục triển khai thực hiện tốt các Chỉ thị, Nghị quyết, Kết luận của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; các văn bản chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến công tác dân tộc; tổ chức thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ năm 2021 đến năm 2025; tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện chương trình; chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện chương trình đúng tiến độ, hiệu quả.

Thứ ba, chú trọng các chính sách hỗ trợ đầu tư, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, xây dựng chuỗi giá trị, chuyển giao công nghệ để tạo sinh kế bền vững, từ đó nâng cao trình độ, tay nghề, nhận thức, tinh thần tự lực, tự cường, thoát nghèo vượt khó cho đồng bào dân tộc thiểu số...

Thực hiện tốt các vấn đề trên góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc, đồng bào được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

 

 


Những tác động xấu trong truyền đạo của các “hiện tượng tôn giáo mới”

 Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng như quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân. Các tôn giáo đều có quyền hoạt động bình thường theo quy định của pháp luật và bình đẳng trước pháp luật.

 Qua đó, nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Theo tinh thần đó, các hoạt động truyền đạo trái phép và tà đạo không những gây nhiều hậu quả tai hại cho lợi ích của xã hội, của Nhân dân mà còn cả cho sự hoạt động bình thường của tín ngưỡng, tôn giáo đã được Nhà nước công nhận. 

Một số “hiện tượng tôn giáo mới” trong quá trình tuyên truyền và phát triển đạo đã liên hệ đến mặt trái, tiêu cực trong đời sống xã hội, đặc biệt là vấn đề tham nhũng, tiêu cực lãnh đạo điều hành của chính quyền để gián tiếp phê bình thể chế chính trị của nước ta. 

Từ gây phương hại đến chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo…

Hoạt động truyền đạo của các “hiện tượng tôn giáo mới” làm phươnhại đến chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, gây khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng như quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân. Các tôn giáo đều có quyền hoạt động bình thường theo quy định của pháp luật và bình đẳng trước pháp luật.

Quan điểm chính sách tôn giáo của Đảng nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Theo tinh thần đó, các hoạt động truyền đạo trái phép và tà đạo không những gây nhiều hậu quả tai hại cho lợi ích của xã hội, của Nhân dân mà còn cả cho sự hoạt động bình thường của tín ngưỡng, tôn giáo đã được Nhà nước công nhận. 

 Việc tập trung đông người ở nơi công cộng, phát tán kinh sách, chữa bệnh khi chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp thuận của “hiện tượng tôn giáo mới” là thực hiện không đúng quy định pháp luật; phươnhại đến chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, gây khó khăn cho quản lý nhà nước, quản lý xã hội. 

Nhận thức của những người theo “hiện tượng tôn giáo mới” đôi khi thái quá và sai lệch về Đảng và Nhà nước. Do đó, họ dễ bị các thế lực xấu lợi dụng, xúi giục, dẫn đến hành vi chống đối, làm mất uy tín của Đảng…; gây phương hại sự ổn định chính trị, ảnh hưởng đến khối đoàn kết cộng đồng các dân tộc; đến sự lãnh đạo, quản lý xã hội của Đảng, Nhà nước, làm cho hệ thống chính trị cơ sở giảm hiệu lực, mất uy tín.  Thậm chí, một số “hiện tượng tôn giáo mới” bị biến thành công cụ của các thế lực thù địch, nhận sự chỉ đạo, hỗ trợ về vật chất, tinh thần của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước.   

… đến tác động tiêu cực tới đời sống kinh tế

Hoạt động của các “hiện tượng tôn giáo mới” đã gây ra những ảnh hưởng nhất định về kinh tế. Trước hết là tổn thất về kinh tế cho chính bản thân những “tín đồ” theo “hiện tượng tôn giáo mới”. Nhiều người theo các “hiện tượng tôn giáo mới” đã phải bỏ công việc để tham gia hoạt động của “đạo”; một số người có sức khỏe yếu, bệnh tật hiểm nghèo tìm đến với các “hiện tượng tôn giáo mới” để nuôi hy vọng chữa khỏi bệnh nên đã phải bỏ ra kinh phí lớn.

Một số người đứng đầu hoặc có vai trò chủ chốt trong các “hiện tượng tôn giáo mới” đã thu tiền trái phép của “tín đồ”, thậm chí dùng tiền của “tín đồ” để tư lợi “vinh thân phì gia”, trái với lời rao giảng “xả phú cầu bần” của họ.. Những người theo những “đạo” này thường là những gia đình có hoàn cảnh éo le,,khó khăn về kinh tế phải đóng góp tiền bạc một cách mù quáng cho những đối tượng cầm đầu thu lợi bất chính sẽ làm cho kinh tế gia đình họ ngày càng giảm sút, làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xã hội.

Bên cạnh đó, có không ít “hiện tượng tôn giáo mới” tuyên truyền tín đồ” theo “đạo” sẽ được sung sướng; “không làm mà có ăn”, khiến “tín đồ” bê trễ sản xuất kinh doanh. Ví dụ, người theo Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ phải đóng 10% thu nhập cho người đứng đầu. Đạo Long Hoa Di lặc yêu cầu tín đồ tu tại gia, không cần làm, chỉ cần cầu khấn là có ăn. Khi ốm không cần thuốc, chỉ uống rượu pha nước lã đặt trên bàn thờ là khỏi, kể cả gia súc và cây cối. 

Việc những người tham gia các “hiện tượng tôn giáo mới” đều phải đóng góp kinh phí để xây dựng tổ chức và thực hiện các hoạt động sinh hoạt tôn giáo ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của những người vốn đã có đời sống khó khăn. Việc tham gia vào các “hiện tượng tôn giáo mới” sẽ ảnh hưởng nhất định đến lao động, sản xuất, chất lượng và hiệu quả của việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội cũng như việc đảm bảo đời sống kinh tế của từng cá nhân, vì họ chờ sự xuất hiện của Đấng siêu linh, lúc đó sẽ sung sướng, không làm mà cũng có ăn, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng,...

Việc in ấn kinh sách, xây sửa nơi thờ tự, nghi lễ thờ cúng gây phiền hà, tốn kém công sức, tiền bạc của nhân dân. Đồng thời, họ còn tổ chức các cuộc viếng thăm, hành hương, tham quan,... kết hợp với sinh hoạt tôn giáo trái phép ở nơi công cộng, gây tốn kém tiền của, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. 

Kiên trì bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng trong tình hình hiện nay

 

Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Cương lĩnh, đường lối đó đứng vững và được hiện thực hóa, có khả năng chống lại mọi sự xuyên tạc và chống phá của các thế lực thù địch cả về lý luận và thực tiễn.

Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) hoạch định đường lối đổi mới toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của nhân dân. Vượt qua thách thức, khủng hoảng và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu, Liên Xô, Đại hội VII của Đảng (6-1991) tỏ rõ bản lĩnh chính trị, kiên định con đường XHCN với việc đề ra “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH)”. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Cương lĩnh và đường lối được các đại hội Đảng không ngừng bổ sung, phát triển, đã đưa công cuộc đổi mới của Việt Nam phát triển mạnh mẽ, vững chắc với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vì Đảng lãnh đạo, cầm quyền chủ yếu bằng Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết... Bảo vệ sự đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối với những giá trị lý luận, khoa học, bắt nguồn từ nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nắm vững những nguyên lý về cách mạng XHCN, những đặc điểm, đặc trưng, quy luật của thời kỳ quá độ lên CNXH. Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Cương lĩnh, đường lối đó đứng vững và được hiện thực hóa, có khả năng chống lại mọi sự xuyên tạc và chống phá của các thế lực thù địch cả về lý luận và thực tiễn. Điều đó càng đòi hỏi Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ lý luận và nhận thức về hệ tư tưởng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về Chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Chủ nghĩa Mác-Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng XHCN thích hợp với tình hình nước ta. Như thế là phải học tập lý luận, phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, trước hết là của cán bộ cốt cán của Đảng”[i].

Nâng cao trình độ lý luận của toàn Đảng và của từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, bồi đắp lập trường, quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng những là để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, mà cũng chính là bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đó là sự bảo vệ chủ động, tự giác bởi trí tuệ, có khả năng bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động.

Sức sống của Cương lĩnh thể hiện sâu sắc ở những thành quả đổi mới đất nước

Hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước theo con đường XHCN. Đó là quá trình hiện thực hóa thành công những mục tiêu, 8 đặc trưng và 8 phương hướng cơ bản mà Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã đề ra, đặc biệt là mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Các đặc trưng khác cũng được nhận thức và thực hiện rõ hơn thể hiện bản chất tốt đẹp và tính hiện thực của chế độ XHCN ở Việt Nam.

Bảo vệ con đường XHCN là cuộc đấu tranh quyết liệt về hệ tư tưởng, đồng thời là bảo vệ một chế độ xã hội, một hình thái kinh tế-xã hội, bảo vệ quy luật phát triển tất yếu khách quan của lịch sử. Dù phải trải qua nhiều khó khăn, thách thức, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH.

Thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối đổi mới mà Đại hội VI đề ra và các đại hội tiếp theo bổ sung, phát triển. Đại hội XIII của Đảng (1-2021) đã khẳng định những thành tựu cơ bản. Đó là thước đo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhà nước và vai trò quyết định của Cương lĩnh, đường lối.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng bình quân duy trì ở mức khá cao; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển. Phát triển văn hóa, xã hội, con người đạt nhiều kết quả quan trọng. Chính trị-xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt.

Không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối chính trị của Đảng

Những năm qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị vẫn cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị. Âm mưu, thủ đoạn của họ là thúc đẩy đổi mới chính trị để xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Sự thật là thế nào? Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị. Quan điểm của Đảng là lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm và từ thành tựu kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Chính trị là lĩnh vực nhạy cảm, phải đổi mới từng bước, thận trọng, vững chắc, không vội vàng khi chưa có đủ điều kiện cần thiết. Đổi mới hệ thống chính trị trong suốt quá trình đổi mới và hiện nay tập trung vào những nội dung nổi bật.

Một là, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN với những đặc trưng cơ bản, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế; Nhà nước quản lý xã hội, đất nước, nền kinh tế chủ yếu bằng pháp luật; Nhà nước pháp quyền là một trong 8 đặc trưng của mô hình CNXH Việt Nam.

Hai là, thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội; phát huy dân chủ XHCN, tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Ba là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng kết hợp chặt chẽ với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị, kết hợp đúng đắn xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng và bảo vệ Đảng, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Thực hiện và bảo vệ 3 vấn đề cốt lõi nêu trên là phát huy tính ưu việt của chế độ và bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững về kinh tế-xã hội, vị thế chính trị, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Vấn đề bảo đảm an ninh phi truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tại, dịch bệnh, nhất là kiểm soát đại dịch Covid-19 có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc sống người dân, không thể xem nhẹ.

Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua việc hoàn thiện, bổ sung Cương lĩnh, đường lối và bảo vệ giá trị khoa học, tính hiện thực của đường lối. Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021-2030. Để thực hiện được các định hướng đó cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. “Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả”[ii].

Kiên quyết giữ vững và bảo vệ ngọn cờ soi đường chỉ lối của Đảng

Tổng kết quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, nhất là những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm rất quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.

Từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của thời đại, tác phẩm của Tổng Bí thư đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học trong nhận thức và hành động thực tế xây dựng CNXH ở Việt Nam, làm rõ CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào, từ phương châm, hình thức, bước đi phù hợp để hoàn thiện đường lối quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Điều đó đòi hỏi xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến và tính đặc thù.

Tác phẩm đã làm rõ hơn nội dung và khả năng bỏ qua chủ nghĩa tư bản, kế thừa những thành tựu, giá trị văn minh nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Tác phẩm nhấn mạnh yếu tố bảo đảm xây dựng thành công CNXH là phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản chân chính cách mạng dựa trên học thuyết cách mạng, tính khoa học và cách mạng triệt để của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Tác phẩm của Tổng Bí thư có giá trị lý luận căn bản và ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc, toàn diện đưa Việt Nam tiến tới một nước XHCN hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Tác phẩm có sự đóng góp xứng đáng vào kho tàng lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH mà các nước trên thế giới đang hướng tới. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng đặt ra yêu cầu cần thiết phải học tập, quán triệt sâu sắc tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư.

Xây dựng nếp sống kỷ luật tự giác, nghiêm minh

 Kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội là một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (Nghị quyết 847).

Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, bản chất kỷ luật của Quân đội ta mang bản chất kỷ luật của Đảng và của giai cấp công nhân. Đó là kỷ luật sắt, tự giác, nghiêm minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”. Ngay trong buổi đầu thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã thực hiện tuyên thệ 10 lời thề danh dự-chuẩn mực để quân nhân tự giác chấp hành, thể hiện lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân.

Kỷ luật tự giác, nghiêm minh là một phẩm chất cao đẹp trong phẩm chất nhân cách Bộ đội Cụ Hồ, là truyền thống tốt đẹp được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Truyền thống đó được thể hiện ở tính tự giác cao trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách của mỗi quân nhân; trong chấp hành đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; trong chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên ở bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào.

Thực tiễn hơn 77 năm qua cho thấy, chính nhờ sự đoàn kết, thống nhất, kỷ luật tự giác, nghiêm minh đã tạo thành nguồn sức mạnh nội sinh quan trọng để Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kỷ luật tự giác, nghiêm minh góp phần làm cho quân đội giữ được trọn vẹn niềm tin yêu của nhân dân, xứng đáng là trường học lớn, lực lượng mẫu mực trong xã hội.

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thủ đoạn “bạo loạn lật đổ”, các thế lực thù địch thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chia rẽ nội bộ, gây mất ổn định từ bên trong; âm mưu tách mỗi cá nhân quân nhân ra khỏi tập thể quân nhân, làm mất sức chiến đấu của quân nhân bằng cách cổ vũ lối sống thực dụng, tự do vô kỷ luật, phi chính trị hóa... từ đó hòng gây mất đoàn kết nội bộ, mất sức chiến đấu của quân đội. Mặt khác, hiện tượng thiếu tự giác trong rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, thậm chí vi phạm kỷ luật nghiêm trọng của một số quân nhân xảy ra trong thời gian qua đã làm ảnh hưởng tới uy tín của quân đội, hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Nghị quyết 847 đã chỉ rõ: “Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, băn khoăn dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình, phát ngôn thiếu tính xây dựng, nể nang, né tránh, ngại va chạm, làm việc cầm chừng, tính toán thiệt hơn, xa rời thực tiễn; trong đó có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ”.

Quá trình giáo dục, rèn luyện Quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua” và “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy kỷ luật phải nghiêm minh”. Thấm nhuần lời dạy sâu sắc của Người, trong sự nghiệp xây dựng quân đội hiện nay, xây dựng nếp sống kỷ luật tự giác, nghiêm minh cho cán bộ, chiến sĩ là vấn đề hết sức quan trọng.

Để giữ vững và phát huy, tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, trước hết, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bồi dưỡng năng lực chấp hành kỷ luật cho cán bộ, chiến sĩ. Đây là việc làm thường xuyên, liên tục, gắn với chức trách, nhiệm vụ của từng người và được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi lĩnh vực, nhất là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu; làm cho mọi quân nhân có nhận thức sâu sắc về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội. Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục cho mỗi quân nhân nâng cao nhận thức, quán triệt thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân; nắm chắc nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội và của từng đơn vị, hiểu rõ chức trách, nhiệm vụ của mình, có ý thức chấp hành nhanh chóng, chính xác mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, tuân thủ tuyệt đối pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ của quân đội, quy định của đơn vị. 

Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp cần phải đề cao trách nhiệm nêu gương trong duy trì, chấp hành kỷ luật quân đội. Sự gương mẫu của người cán bộ, đảng viên trước hết là sự mẫu mực về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong lãnh đạo, chỉ huy. Phải mẫu mực chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, các quy định, chế độ của đơn vị; luôn toàn tâm, toàn ý vì lợi ích chung, vì nhiệm vụ của đơn vị. Người cán bộ, chỉ huy phải thật sự gương mẫu đi đầu, có tác phong nói đi đôi với làm, kiên quyết khắc phục, sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm của bản thân. Sự gương mẫu của người cán bộ còn thể hiện ở việc dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn sâu sát, bám nắm bộ đội, tâm huyết với công việc, thật sự là người anh, người chị và người bạn thân thiết của bộ đội; biết định hướng, hướng dẫn hành động cho cấp dưới.

Với mỗi quân nhân phải không ngừng tự tu dưỡng, tự rèn luyện, phấn đấu trong chấp hành kỷ luật ở mọi lúc, mọi nơi và trong mọi nhiệm vụ, điều kiện, hoàn cảnh; cần đặt ra kế hoạch tự rèn luyện một cách toàn diện cả về nhận thức, thái độ, hành động, cả ý chí, quyết tâm tu dưỡng, phấn đấu và phải được cụ thể hóa thành yêu cầu, chỉ tiêu phấn đấu sát với cương vị, chức trách của mình; tập trung đi sâu vào nội dung, biện pháp khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong chấp hành kỷ luật và đề ra phương hướng cụ thể phấn đấu trong thời gian tiếp theo.

Một trong những biện pháp quan trọng bảo đảm cho việc giữ nghiêm kỷ luật trong các đơn vị quân đội hiện nay là xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh. Để thực hiện điều này, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Chỉ thị số 917/1999/CT-QP ngày 22-6-1999 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về “Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện”; Hướng dẫn số 1090/QH-KH ngày 29-4-2020 của Cục Quân huấn-Bộ Tổng Tham mưu về “Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” cho mọi đối tượng trong đơn vị. Có biện pháp quản lý chặt chẽ mọi hoạt động của bộ đội, nhất là ở những nhiệm vụ, lĩnh vực khó khăn, nhạy cảm, hoạt động phân tán, công tác nhỏ lẻ; duy trì kỷ luật luôn gắn chặt với mọi hoạt động của đơn vị và bộ đội.

Bên cạnh đó, các đơn vị cần kết hợp chặt chẽ Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu và các tổ chức vững mạnh để tạo nên sức mạnh tổng hợp xây dựng đơn vị. Duy trì thực hiện năm tiêu chuẩn đơn vị có môi trường văn hóa tốt, làm cho mỗi quân nhân luôn có ý thức và thực hiện “sống theo pháp luật, hành động theo điều lệnh, làm việc theo chức trách”. Đẩy mạnh phong trào thi đua rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, sáng tạo và gương điển hình tiên tiến.

Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị phải quan tâm coi trọng xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp giữa lãnh đạo với chỉ huy, quản lý, điều hành; cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ; giữa tổ chức đảng với các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân nhằm xây dựng bầu không khí tâm lý lành mạnh, đoàn kết, phấn khởi trong đơn vị. Phải quan tâm xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị có lòng tự trọng, giữ gìn danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ, có thái độ đúng đắn với bản thân và các mối quan hệ trong quân đội, quan hệ với nhân dân, xã hội và gia đình; xây dựng kỷ cương, trách nhiệm, tình thương yêu đồng chí, đồng đội trong tập thể quân nhân. Đặc biệt, cần coi trọng tạo lập môi trường văn hóa dân chủ, cởi mở trong các mối quan hệ; chống mọi biểu hiện, hành vi, thái độ quân phiệt, gia trưởng, xâm phạm đến nhân cách của cán bộ, chiến sĩ.

Để xây dựng nếp sống kỷ luật tự giác, nghiêm minh cho cán bộ, chiến sĩ, các đơn vị cần tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới; tích cực đấu tranh ngăn ngừa những tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, quá trình hội nhập đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của bộ đội...

CĂNG THẲNG NGA - UKRAINE: BẢN CHẤT, NGUYÊN NHÂN

 

Ngày 24-2-2022, Hãng thông tấn TASS (Nga) đưa tin Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố Nga mở “chiến dịch quân sự đặc biệt” ở miền Đông Ukraine nhằm đáp lại lời đề nghị hỗ trợ bảo đảm an ninh của lãnh đạo hai nước Cộng hòa tự xưng Donestsk (DPR) và Lugansk (LPR). Trong bối cảnh căng thẳng ngày càng gia tăng giữa Nga, Mỹ và các nước thành viên Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) hiện nay, nhiều câu hỏi đang được dư luận hết sức quan tâm, đó là: bản chất của cuộc xung đột này là gì, tại sao lại xảy ra vào thời điểm hiện nay và chiều hướng của cuộc khủng hoảng ra sao?

Bản chất của cuộc khủng hoảng

Vấn đề khủng hoảng Ukraine hiện nay bắt nguồn từ cuộc chính biến xảy vào đầu năm 2014(1), kéo dài đến nay đã 8 năm, vẫn chưa chấm dứt và ngày càng trở nên phức tạp. Đây không chỉ đơn giản là cuộc xung đột giữa lực lượng ly khai với sự hậu thuẫn của Nga và Chính phủ Ukraine ở miền Đông (Donbass) nước này, mà còn là cuộc xung đột giữa các nước lớn ở khu vực châu Âu - Đại Tây Dương, như Nga, Mỹ, NATO; thậm chí, liên quan tới các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Chiến sự giữa Nga và Ukraine năm 2022 có quy mô lớn hơn so với cuộc khủng hoảng năm 2014 và được xem là cuộc xung đột lớn nhất kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, xuất phát từ một số lý do: Một là, cục diện chung trên thế giới đã thay đổi, với việc Mỹ theo đuổi các chính sách “Nước Mỹ trên hết”, “Nước Mỹ trở lại”; Trung Quốc thực hiện chiến lược “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa”, trong khi Nga hiện chưa có một chiến lược mang tính toàn cầu. Hai là, trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, nước Nga dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Nga V. Putin đã triển khai thành công, có hiệu quả nhiều chính sách cả về đối nội và đối ngoại, qua đó ổn định được hệ thống chính trị nội bộ, củng cố vị thế, mở rộng ảnh hưởng quốc tế và gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; tuy nhiên, hiện nay, trong tam giác quan hệ Mỹ - Trung Quốc - Nga, sự phục hồi ảnh hưởng của Nga vẫn chưa thể làm thay đổi cục diện chính trị thế giới. Ba là, đây là thời khắc hết sức quan trọng, được xem là một trong những thử thách đối với Tổng thống Nga V. Putin, khi chỉ còn chưa đầy hai năm là tới cuộc bầu cử Tổng thống Nga năm 2024, để tiếp tục từng bước khôi phục vị thế đất nước, giành lại vị trí quan trọng trên vũ đài quốc tế, chuyển từ cường quốc khu vực hướng đến tầm cỡ cường quốc toàn cầu.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

NGUYÊN NHÂN SÂU XA. Sau Chiến tranh lạnh, thế giới - nhất là khu vực châu Âu - Đại Tây Dương - tưởng chừng sẽ có được một nền hòa bình lâu dài và không còn đối đầu, nhưng ngược lại đã nhanh chóng chứng kiến những căng thẳng leo thang trong quan hệ giữa hai cường quốc quân sự hàng đầu thế giới là Mỹ và Nga, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Mối quan hệ cạnh tranh nhiều hơn hợp tác, đôi khi đứng trước bờ vực đối đầu này đã chi phối mạnh mẽ việc tập hợp lực lượng mới, đồng thời tác động không nhỏ đến chiều hướng quan hệ hợp tác quốc phòng - an ninh trên thế giới, nhất là các quốc gia tầm trung và có vị trí địa - chiến lược quan trọng như Ukraine.

Bên cạnh đó, quan hệ giữa Nga và NATO cũng lâm vào khủng hoảng. Sau sự kiện Nga sáp nhập bán đảo Crimea (năm 2014) - nơi có quân cảng chiến lược Sevastopol - NATO đã đình chỉ quan hệ “đối tác vì hòa bình” với Nga, coi Nga là mối đe dọa đối với an ninh khu vực châu Âu. NATO cho rằng, Nga “vi phạm luật pháp quốc tế” khi trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ lực lượng ly khai ở Ukraine, sáp nhập lãnh thổ của một nước có chủ quyền vào Nga. NATO tăng cường trợ giúp Ukraine về huấn luyện và cung cấp các trang thiết bị vũ khí hiện đại; đe dọa thắt chặt các biện pháp cấm vận kinh tế ngặt nghèo đối với Nga trong trường hợp Nga tấn công Ukraine; đồng thời, kêu gọi Nga “xuống thang” và triển khai hàng loạt bước đi để ngăn chặn Nga tấn công Ukraine.

Thế nhưng, điều bất ngờ nhất đối với NATO kể từ sau năm 2014 là Nga đã giành quyền chủ động hành động, cũng như ngày càng cảnh giác và quyết đoán hơn trước bất kỳ động thái nào của NATO. Nga coi việc “NATO Đông tiến” là đường lối lâu dài, là thách thức từ trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng Ukraine, đào sâu sự mất cân bằng chiến lược Nga - NATO. Nga quan ngại việc không có thành viên NATO nào phê chuẩn Hiệp ước về vũ khí thông thường châu Âu (CFE). Theo quan điểm của Nga, tình hình này còn tồi tệ hơn do Mỹ bố trí hệ thống tên lửa hạt nhân phòng thủ tại Ba Lan và Séc, vi phạm sự ổn định chiến lược. Nga quy kết NATO thúc đẩy cuộc “cách mạng màu” bên trong không gian hậu Xô-viết. Cuộc khủng hoảng Ukraine đã giáng một đòn mạnh vào hầu hết các cơ chế hợp tác giữa Nga và NATO, từ đấu tranh chống buôn lậu ma túy cho đến chống khủng bố... Các hoạt động quân sự (tập trận, tăng thêm quân, chiến tranh thông tin…) được Nga và NATO triển khai ở mức mạnh nhất, càng khoét sâu thêm căng thẳng giữa hai bên. Hai bên đều xem nhau như mối đe dọa đầu tiên và thi hành các biện pháp thích hợp. Các vụ va chạm trên không và trên biển, khả năng khó phá băng khủng hoảng tại vùng Donbass cùng nhiều vấn đề khác đã khiến mối quan hệ Nga - NATO tiếp tục leo thang căng thẳng kèm theo nhiều rủi ro xảy ra xung đột bùng phát tại chỗ (2).

Như vậy, có thể thấy nổi lên hai mâu thuẫn đối kháng khó giải quyết: Một là, mâu thuẫn giữa việc Nga sáp nhập bán đảo Crimea, kiểm soát cũng như khống chế các hoạt động quân sự và dân sự của Ukraine ở Biển Đen với việc Mỹ cùng đồng minh muốn ủng hộ Ukraine lấy lại bán đảo này, đẩy hạm đội Biển Đen của Nga ra khỏi Biển Đen. Hai là, mâu thuẫn giữa Nga và Mỹ cùng đồng minh NATO. Cụ thể, Nga muốn giành lại vị trí quan trọng trên vũ đài quốc tế, vươn lên tầm cường quốc toàn cầu, khiến thế giới phải thay đổi cách nhìn về vị thế quốc tế mới của Nga sau khi Liên Xô sụp đổ. Trong khi đó, Mỹ và NATO muốn đưa Ukraine vào quỹ đạo kiểm soát của họ và việc “phương Tây hóa Ukraine” sẽ có tác dụng giúp thúc đẩy “cách mạng màu” xảy ra bên trong chính nước Nga, góp phần làm suy giảm sức mạnh tổng hợp của Nga.

NGUYÊN NHÂN TRỰC TIẾP.

Thứ nhất, cuộc xung đột giữa chính quyền Ukraine và lực lượng ly khai Donbass (bao gồm DPR và LPR) do Nga hậu thuẫn gia tăng, nhất là sau tháng 10-2021, khiến tiến trình đàm phán hòa bình theo Thỏa thuận Minsk 2 - giải pháp duy nhất đối với cuộc khủng hoảng chính trị Ukraine - khó đạt được kết quả. 

Thứ hai, Mỹ và NATO không chỉ chuyển giao vũ khí cho Ukraine, nhất là sau giai đoạn Mỹ rút quân khỏi Afghanistan (tháng 9-2021), khi Mỹ và đồng minh còn dư nhiều vũ khí, đạn dược (được dự kiến chuyển giao cho chính quyền thân Mỹ ở Afghanistan), mà còn triển khai tên lửa tầm trung và lực lượng quân sự trên lãnh thổ NATO - Đông Âu hướng tới Nga. 

Thứ ba, đáp lại những động thái đó, Nga đã triển khai trên 100.000 quân dọc biên giới trên bộ giáp với Ukraine, khu vực bán đảo Crimea, đồng thời tập trung quân đội ở nước láng giềng Ukraine là Belarus với danh nghĩa tập trận chung, cũng như phái 6 tàu chiến hiện đại tiến vào Biển Đen. Thứ tư, Mỹ và đồng minh NATO không đáp ứng bản đề nghị an ninh gồm 8 điểm của Nga gửi tới Mỹ và NATO vào giữa tháng 12-2021, với bốn nội dung cốt lõi: 1- NATO không kết nạp Ukraine và các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG); 2- Loại bỏ vũ khí hạt nhân của Mỹ ra khỏi châu Âu; 3- NATO rút toàn bộ quân đội hoặc vũ khí được triển khai tới các quốc gia tham gia liên minh về thời điểm trước năm 1997, bao gồm các nước như Ba Lan, Estonia, Lithuania, Latvia; 4- Không tiến hành tập trận tại các nước gần lãnh thổ của Nga.

Những điều này được cho là đã đẩy căng thẳng giữa Nga và Mỹ cùng đồng minh NATO lên đỉnh điểm thành cuộc xung đột quân sự mà chiến trường là Ukraine.

NHỮNG TOAN TÍNH CỦA CÁC BÊN

Đối với Nga, “chiến dịch quân sự đặc biệt” năm 2022 được xem là “trận đánh chiến lược” của Tổng thống Nga V. Putin, do đó Nga chấp nhận đối mặt với nhiều vấn đề, bao gồm cả việc sẵn sàng chuẩn bị đối phó với các lệnh trừng phạt kinh tế ngặt nghèo, kéo dài của Mỹ và phương Tây. Nga cũng hiểu rất rõ, chiến tranh sẽ tạo thêm một gánh nặng mới đối với nền kinh tế Nga vốn bị ảnh hưởng nhiều do Nga là một trong những nước chịu tác động nặng nề nhất của đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, Chính phủ Nga đã đưa ra thông báo, Nga có đủ nguồn lực tài chính cho sự ổn định của hệ thống trước các lệnh trừng phạt và các mối đe dọa từ bên ngoài.

Mục tiêu của Nga khi phát động chiến dịch quân sự lần này, bao gồm: 1- Ngăn chặn phương Tây giành lại bán đảo Crimea; 2- Tạo sức ép đối với phương Tây và Ukraine thực hiện Thỏa thuận Minsk 2 theo cách của Nga; 3- Cơ cấu lại an ninh khu vực châu Âu, trong đó an ninh của Nga phải được tôn trọng và bảo đảm; 4- Thúc đẩy Đức và Liên minh châu Âu (EU) phê chuẩn dự án “Dòng chảy phương Bắc 2”; 5- Củng cố nhà nước liên minh giữa Nga và Belarus vừa được khởi động sau 20 năm không có nhiều tiến triển.

Theo đánh giá chung, hiện nay, Nga có nhiều thuận lợi trong việc mở chiến dịch quân sự: 1- Mặc dù bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây, song kinh tế Nga đã tăng cường được tính tự chủ, chủ động thích ứng, vượt qua thời điểm khó khăn nhất và đang trên đà hồi phục. Tính đến tháng 8-2021, Quỹ Tài sản quốc gia Nga có nguồn vốn vào khoảng 185 tỷ USD và dự trữ ngoại tệ ở mức 615 tỷ USD. Bên cạnh đó, Nga cũng được dự báo là quốc gia sẽ hồi phục nhanh hơn các nước lớn khác sau đại dịch COVID-19 do đã thích nghi tốt với tình trạng bị cấm vận, cô lập từ năm 2014 đến nay; 2- Căng thẳng leo thang đẩy giá dầu mỏ tăng cao, đang tạo lợi thế cho Nga; 3- Cán cân quyền lực và cục diện thế giới tiếp tục có sự dịch chuyển nhanh từ Tây sang Đông, nhất là cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ cùng với việc Nga đẩy mạnh chính sách đối ngoại ưu tiên hơn trong quan hệ với Trung Quốc, đã góp phần củng cố vị thế của Nga với vai trò là một trong những nhân tố “cân bằng chiến lược” quan trọng hàng đầu mà cả Mỹ và Trung Quốc đều cần tranh thủ; 4- Cuộc khủng hoảng Ukraine buộc các nước phải quay trở lại Thỏa thuận Minsk 2; 5- Cuộc khủng hoảng Ukraine cũng tiếp tục làm bộc lộ rõ những mâu thuẫn trong nội bộ NATO và EU hiện nay (3); đồng thời, tạo sức ép buộc Mỹ và phương Tây phải đàm phán với Nga về những vấn đề lớn hơn liên quan đến an ninh châu Âu.

Trên cơ sở đó, Tổng thống Nga V. Putin đã triển khai được 5 bước đi lớn: 1- Gia tăng sự hiện diện quân sự tại Ukraine và gây ảnh hưởng lên các nước vùng Baltic; 2- Phô trương được sức mạnh quân sự cùng một lúc trên tất cả các mặt trận; 3- Cộng hưởng với Trung Quốc trong cuộc đua với Mỹ tiến tới vị trí trung tâm của vũ đài quốc tế; 4- Gửi tới Mỹ và NATO bản đề nghị an ninh gồm 8 điểm với các điều kiện tiên quyết, trong đó nêu rõ những quan ngại về an ninh của Nga; 5- Đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao con thoi để trao đổi với các nước. Những động thái này góp phần bảo vệ và củng cố thể chế của nước Nga, nhất là vị thế, uy tín của Tổng thống Nga V. Putin. Trong khi đó, thực tế cho thấy, các nước phương Tây và NATO thiếu sự quyết đoán khi đối mặt với những mối đe dọa hiện hữu.

Đối với Mỹ, chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden đang gặp không ít khó khăn, thách thức cả trong nước và ngoài nước. Ở trong nước, chính trị nội bộ Mỹ mâu thuẫn và chia rẽ sâu sắc, nhất là sau cuộc bạo loạn xảy ra ở tòa nhà Quốc hội vào ngày 6-1-2021 (4). Bên cạnh đó, dịch bệnh COVID-19 tiếp tục kéo dài và diễn biến phức tạp, tác động đến mọi mặt đời sống của nước Mỹ. Ở ngoài nước, mặc dù vẫn là siêu cường số 1 thế giới với sức mạnh vượt trội song khoảng cách sức mạnh của Mỹ so với Trung Quốc đang tiếp tục bị thu hẹp. Nhiều lợi ích chiến lược của Mỹ đang bị thách thức. Hệ thống đồng minh, đối tác có sự rạn nứt nhất định sau nhiệm kỳ của chính quyền Tổng thống Mỹ Donal Trump khiến các nỗ lực của Mỹ trong xử lý những vấn đề toàn cầu gặp nhiều khó khăn…

Tuy nhiên, việc thúc đẩy leo thang một cuộc khủng hoảng mới được cho là sẽ giúp Mỹ trở lại vị thế chi phối và vai trò lãnh đạo thế giới, ngăn chặn, đối phó với thách thức gia tăng từ các đối thủ chiến lược và các thách thức an ninh khác; khôi phục và củng cố hệ thống đồng minh, đối tác; định hình trật tự thế giới mới dựa trên các nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị chung.

Mục tiêu của Mỹ trong cuộc khủng hoảng chính trị Ukraine là: 1- Làm suy giảm sức mạnh tổng hợp quốc gia của Nga; 2- “Phương Tây hóa Ukraine”, lôi kéo các nước có xu hướng thân Nga “đoạn tuyệt” với Nga và dựa hẳn vào Mỹ và phương Tây; 3- Củng cố mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương; 4- Tranh thủ cuộc khủng hoảng chính trị tại Ukraine leo thang để khiến các nước châu Âu phụ thuộc hơn nữa vào Mỹ về mặt quân sự, an ninh, kinh tế và năng lượng; 5- Có lý do chính đáng để ngăn chặn Đức phê duyệt dự án “Dòng chảy phương Bắc 2”.

Đối với Ukraine, nước này vốn được coi là “nạn nhân” trong cuộc khủng hoảng chính trị hiện nay, nhưng lại mong muốn gia nhập NATO và EU. Ukraine cho rằng, việc gia nhập NATO “không gây ảnh hưởng đến an ninh của Nga”. Chính vì vậy, ngay sau khi lên nắm quyền, chính quyền của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky tiếp tục: 1- Khẳng định quyết tâm gia nhập NATO và đẩy mạnh cải cách lực lượng vũ trang theo tiêu chuẩn NATO; 2- Tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng - an ninh, với việc gia tăng chi phí và đẩy mạnh thử nghiệm các loại tên lửa mới (5); 3- Duy trì các cuộc tập trận quân sự chung với NATO nhằm nâng cao khả năng tác chiến hiệp đồng giữa quân đội Ukraine với quân đội các nước thành viên NATO; 4- Tiến hành sửa chữa, cải tiến và hiện đại hóa các loại vũ khí, khí tài cũ để trang bị cho lực lượng quân đội; 5- Mua vũ khí sát thương của các nước phương Tây.

Trong khi đó, NATO lại tỏ ra khá thận trọng trước viễn cảnh Ukraine gia nhập tổ chức này. Theo Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg, Ukraine đã xin gia nhập NATO từ năm 2008 và NATO đang xem xét, chưa kết nạp Ukraine, với lý do theo Điều 6 Hiến chương NATO, về mặt kỹ thuật, Ukraine hiện chưa đủ điều kiện để gia nhập NATO (6). Tuy nhiên, cũng như Mỹ và các nước phương Tây, NATO cho rằng, tất cả quốc gia độc lập, có chủ quyền như Ukraine, có thể xin gia nhập không chỉ NATO mà bất kỳ tổ chức kinh tế, chính trị, quân sự hay ngoại giao nào phù hợp với lợi ích quốc gia của Ukraine.

Thế nhưng, theo Điều 5 Hiến chương NATO - một nguyên tắc sáng lập của NATO về phòng thủ tập thể - bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào nhằm vào một hay một số thành viên của liên minh đều được coi là cuộc tấn công vào toàn bộ liên minh… Mỗi thành viên, với quyền tự vệ cá thể hay tập thể chính đáng theo Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc, sẽ hỗ trợ một bên hoặc các bên. Như vậy, nếu Ukraine trở thành một phần của NATO, các nước thành viên có nguy cơ phải tham gia đối đầu trực tiếp với Nga. Đây là điều mà dường như không một quốc gia nào trong NATO mong muốn.

Triển khai chính sách đối ngoại thân phương Tây, Ukraine đặt mục tiêu có thể gia nhập NATO và EU, giúp Ukraine bảo toàn lãnh thổ, lấy lại bán đảo Crimea và các vùng ly khai ở khu vực Donbass. Tuy nhiên, cả Ukraine và phương Tây đều bất ngờ khi cho rằng, khả năng Nga sẽ tiến hành “một cuộc chiến tranh toàn diện” như hiện nay là không cao.

 

DỰ BÁO CHIỀU HƯỚNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG

NGƯỜI THÀNH CÔNG LUÔN CÓ LỐI ĐI RIÊNG!


Ngày cả quốc tế cộng sản đề cao đấu tranh giai cấp thì đồng chí Nguyễn Ái Quốc đề xuất, đấu tranh giai cấp gắn liền với giải phóng dân tộc thuộc địa.


Ngày cố vấn Trung Quốc nói đánh Điện Biên Phủ phải theo cách đánh nhanh, thắng nhanh thì Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lệnh kéo pháo ra theo cách đánh chắc, thắng chắc.


Khi Liên Xô đi theo chủ nghĩa xét lại, chung sống hòa bình với đế quốc thì Việt Nam quyết giải phóng miền Nam bằng biện pháp vũ trang, sáng tạo xây dựng CNXH ở miền Bắc kết hợp giải phóng dân tộc ở miền Nam. Khi Trung Quốc muốn Việt Nam phát triển chiến tranh du kích thì Việt Nam đánh cấp sư đoàn, giải phóng miền Nam bằng cấp quân đoàn.


Khi Liên Xô loay hoay thoát khỏi khủng hoảng bằng cải cách chính trị thì Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng bởi cải cách kinh tế (kinh tế thị trường định hướng XHCN) và đột phá về ngoại giao. 


Ngày Nga yếu thế, Trung Quốc chưa đạt vị thế nhưng Việt Nam tuyên bố rõ ràng chính sách 4 không: gồm không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.


Từ trước đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước thường không theo lẽ thường  mà các nước khác hay dùng mà dựa trên lý luận và thực tiễn của đất nước mình. Cho nên khi tất cả a dua thì Việt Nam bình tĩnh, khi tất cả lên đồng thì Việt Nam lại lặng yên, khi tất cả hành động thì Việt Nam quan ngại, khi tất cả sợ hãi thì khi đó Việt Nam mới hành động. 


Để lý giải Việt Nam thì chính kẻ thù của Việt Nam không thể nổi hiểu. Cho nên khi Việt Nam bỏ phiếu trắng kẻ thiếu hiểu biết thì sồn sồn nhưng người trầm tính thì lại lặng yên, người hiểu biết chỉ mỉm cười. Bởi phiếu trắng không phải là phiếu chống, vì Việt Nam không chọn phe mà chọn lẽ phải, lấy bất biến ứng vạn biến.


Người có lối đi riêng không phải là cách đi dị biệt mà là cách đi có căn cứ, có phân tích, có am hiểu chiều sâu, có tầm nhìn xa và đầy trí tuệ. Cái tài ngoại giao của Việt Nam như một cây tre, ngọn linh động mà gốc không suy chuyển, là dĩ bất biến, ứng vạn biến như Bác Hồ luôn xác định. Là đất nước đã chiến thắng mọi đế quốc xâm lược, là đất nước thấy mạnh không cậy, thấy yếu không hiếp, quân tử trượng nghĩa anh hùng. Thế mới là Việt Nam. 

Không để hiện tượng mượn phê bình làm điều xấu

Một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng ta đã chỉ ra, đó là: “Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng”. Vấn đề này cần được khắc phục để tự phê bình và phê bình (TPB&PB) ngày càng trở thành liều thuốc hiệu quả trong công tác xây dựng Đảng. Từ lời dạy của Bác Hồ Vì sao phải phê bình? Từ rất sớm, trong chuyên mục Thường thức chính trị, trên Báo Cứu quốc, từ ngày 16-1 đến ngày 23-9-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và tính kỷ luật”. Mục đích của TPB&PB theo tư tưởng Hồ Chí Minh là: Với tổ chức, “cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”; “để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng”. Nếu đoàn kết làm nên sức mạnh của Đảng thì TPB&PB được coi là cội nguồn sức mạnh bậc nhất của Đảng. Với các đảng viên, “một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau”; “là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau chữa những khuyết điểm”. TPB&PB là phương pháp để giáo dục, rèn luyện đảng viên. Người cho rằng: “Chúng ta vì dân, vì nước mà làm cách mạng. Muốn cách mạng thành công, ắt phải đoàn kết và tiến bộ. Muốn đoàn kết càng chặt chẽ, tiến bộ càng mau chóng, thì mọi người phải sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Mà muốn được như thế thì không có cách gì hơn là thật thà tự phê bình và phê bình. Mục đích phê bình là cốt lợi cho công việc chung”. Phê bình như thế nào? Mục đích đã đúng thì lại cần phải có một tinh thần, thái độ, cách thức thực hiện phù hợp. Đây chính là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm. Người căn dặn: “Vì vậy phê bình mình cũng như phê bình người khác ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời chớ dùng những lời mỉa mai chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm chứ không phải phê bình người. Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi không nên vì bị phê bình mà nản chí hoặc oán ghét”. Để phê bình có hiệu quả, theo Người, phải phê bình toàn diện, đa chiều; do đó, trong bài Thuốc đắng dã tật nói thật mất lòng, Người nhấn mạnh: “Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn”. Người cũng căn dặn: Phải kết hợp giữa phê bình và tự phê bình; phải thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm, đúng nguyên tắc và nêu gương trước cấp dưới, trước quần chúng. Đặc biệt, phê bình phải trên tình đồng chí thương yêu nhau. Đây là điều căn cốt nhất và phương thức hiệu quả nhất khi thực hành phê bình. Trong Di chúc, Người căn dặn “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu nhau”. Phải dân chủ trong phê bình và tôn trọng đối tượng được phê bình. Ngày 30-5-1957, khi nói chuyện với cán bộ, đảng viên và thanh niên Hải Phòng, Người ân cần nói: “Phê bình phải dân chủ, nghĩa là Bác phê bình các cô, các chú, trái lại các cô, các chú có thể phê bình Bác, có cái hay phải học, cái khuyết điểm thì phê bình. Các cô, các chú yêu Bác, muốn Bác tiến bộ thì phải phê bình”. Phong cách phê bình của Người thể hiện sự gần gũi, yêu thương nhau giữa các thành viên trong một đại gia đình lớn; vừa mềm dẻo, vừa cương quyết để đạt được mục đích của TPB&PB mà không “cứng rắn, mệnh lệnh, ép buộc” dẫn đến hiệu quả thấp, thậm chí phản tác dụng. Những bất cập đáng lo ngại Trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, Đảng ta một lần nữa yêu cầu: Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt TPB&PB. Xây dựng quy định TPB&PB, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. TPB&PB trong Đảng nói chung, đối với cán bộ, đảng viên của Đảng nói riêng đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng và hiệu quả, nhất là từ khi có Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI đến nay. Tuy nhiên, vấn đề này hiện nay vẫn tồn tại những bất cập đó là: Thứ nhất, tự phê bình thì mạnh dạn nhưng phê bình còn e dè, nể nang. Đây là một trong những bất cập khá phổ biến trong sinh hoạt và hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Như một lẽ tự nhiên, tự phê bình thường không “động chạm”, còn phê bình lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền và lợi ích của một tổ chức hay một cá nhân. Do đó, không ít cán bộ, đảng viên còn biểu hiện “dĩ hòa vi quý”, e dè, nể nang, ngại va chạm nhất là khi phê bình cấp trên. Thứ hai, lợi dụng phê bình để hạ thấp uy tín người khác. Vì mục đích vụ lợi, không ít cán bộ, đảng viên lợi dụng việc phát huy dân chủ, đề cao phê bình để công khai nói xấu, công kích để hạ thấp uy tín của người được phê bình hoặc lợi dụng phê bình để tranh cãi, gây mất đoàn kết hoặc khuyết điểm chưa rõ thì tìm cách che dấu… Bên cạnh đó, thái độ trông trước ngó sau, đón ý cấp trên để phê bình cho “trúng” hoặc xem người khác nói gì rồi hùa theo. Một tình trạng nữa là có những người lợi dụng phê bình làm công cụ để hạ bệ người không cùng phe cánh. Phê bình không khách quan, không kịp thời nhắc nhở đồng chí, đồng nghiệp mà “tích lũy khuyết điểm” của người khác để kết tội. Với “chiếc áo” phê bình, họ kéo bè, kéo cánh để công kích những người không ưa, gây mất đoàn kết nội bộ, làm rối loạn cơ quan, đơn vị... Thứ ba, tinh thần đấu tranh TPB&PB của cán bộ, đảng viên còn hạn chế, chưa nêu cao tính xây dựng, tính chiến đấu của người cán bộ, đảng viên. Tâm lý “thứ nhất ngồi lỳ, thứ nhì đồng ý” hay “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không lên án” hoặc “gió chiều nào theo chiều ấy” để tạo cảm giác “an toàn” cho mình khiến một số cán bộ, đảng viên ngại phát biểu biểu ý kiến trong sinh hoạt Đảng (việc phát biếu ý kiến chỉ tập trung vào đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, cán bộ, đảng viên lớn tuổi, còn một số đảng viên trẻ rất ít phát biểu trong các kỳ sinh hoạt), nếu phát biểu cũng phê bình chung chung, chiếu lệ, né tránh những vấn đề nhạy cảm, gai góc. Không ít tổ chức đảng mất đoàn kết nội bộ hoặc đoàn kết xuôi chiều vì có những cán bộ, đảng viên “dĩ hòa vi quý” hoặc có thái độ hành vi “đạo đức bốn mặt” (“Đạo đức bốn mặt”: Trước mặt nói rất tốt, rất hay về người này, người khác nhưng lại nói xấu người nọ, chê bai người kia sau lưng; trước cấp trên thì xum xoe, nịnh bợ, luồn cúi; trước nhân dân thì thờ ơ, vô cảm, “sống chết mặc bay”). Thứ tư, người được phê bình thường có biểu hiện không thừa nhận khuyết điểm, thái độ cầu thị không tốt, thậm chí tiếp nhận các ý kiến phê bình của người khác một cách cực đoan; từ đó, cán bộ, đảng viên là cấp trên tìm cách để ý, trù dập những người phê bình mình là cấp dưới. Vì vậy, một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra đó là: “Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng”. Còn tồn tại những bất cập có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân cơ bản là do tư tưởng “ngại va chạm”, tính chủ động, tinh thần trách nhiệm, tinh thần TPB&PB của một số cán bộ, đảng viên chưa cao. Nguyên nhân chính là do cán bộ, đảng viên còn bị chủ nghĩa cá nhân chi phối, bị ràng buộc bởi lợi ích “được gì? mất gì?”; toan tính lợi ích cá nhân, cục bộ, bản vị vì lợi ích trước mắt, chưa vì lợi ích tập thể và lợi ích lâu dài. Nguyên nhân sâu xa của những bất cập trên còn do cán bộ, đảng viên chưa có văn hóa phê bình. Vì vậy, trong nhiều “vụ án ngàn tỷ” thời gian gần đây, có những người vi phạm rất nghiêm trọng, làm thất thoát tài sản lớn của Nhà nước, nhưng khi bị cơ quan pháp luật xét xử cũng chỉ nhận khuyết điểm là do hạn chế về nhận thức. Phê bình chân chính và có văn hóa Thực hiện thường xuyên TPB&PB là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Cấp ủy, các tổ chức đảng cần quyết liệt thực hiện TPB&PB theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII. Khắc phục tình trạng nể nang, dĩ hòa vi quý, đoàn kết xuôi chiều, bị tình cảm cá nhân chi phối; đồng thời, nghiêm khắc xử lý những biểu hiện lợi dụng phê bình để đấu đá, làm mất uy tín của nhau, gây rối đối với tổ chức, ảnh hưởng đến đoàn kết trong tổ chức đảng, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng kích động, chia rẽ. Mỗi cán bộ, đảng viên phải phê bình một cách thẳng thắn, chân thành nhằm giúp đồng chí, đồng đội nhận rõ sai lầm, sửa chữa khuyết điểm để không ngừng tiến bộ, tuyệt đối không vì mâu thuẫn cá nhân, động cơ cá nhân mà phê bình theo kiểu “vạch lá tìm sâu”, “bới lông tìm vết” nhằm trù dập, đấu đá, hạ bệ lẫn nhau. Do đó, các tổ chức đảng khi tiến hành TPB&PB, phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là những mặt còn yếu kém, không nể nang, né tránh. Mỗi cán bộ, đảng viên kiểm điểm phải bảo đảm tính trung thực trong tự kiểm điểm, người phê bình thì công khai dân chủ, nghiêm túc, thẳng thắn với tinh thần xây dựng và cán bộ cấp trên phải làm gương cho cấp dưới. Đồng thời, phải kiên quyết xử lý kỷ luật những tổ chức đảng và cá nhân không thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt TPB&PB, không tự nhận sai lầm, khuyết điểm và che dấu những hạn chế, khuyết điểm cho nhau. Việc góp ý cho nhau, cùng nhau tiến bộ, nâng cao phẩm chất con người, phát huy tính tích cực của con người; cần nhận thức sâu sắc hơn, thực hiện triệt để hơn nguyên tắc TPB&PB để Đảng luôn trong sạch, làm cho uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao. Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực TPB&PB. Đảng ta yêu cầu mọi tổ chức đảng và mọi đảng viên đều phải thực hiện tốt TPB&PB. Theo đó, phê bình không phải là sỉ vả, xúc phạm danh dự của nhau mà là sự thể hiện tình cảm đồng chí trong sáng, chân thành; phê bình là để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ và để đoàn kết tốt hơn; phê bình phải mang tính khách quan, vô tư, có lý, có tình, cổ vũ ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nhược điểm; phê bình phải trên nguyên tắc tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải, chống thổi phồng hoặc bóp méo sự thật; phải biết phân tích ưu điểm, khuyết điểm của đồng chí mình theo quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể... Chỉ có phê bình như thế mới là phê bình chân chính và mới có tác dụng; nói cách khác là phê bình có văn hóa.

Không để xã hội bị thông tin xấu độc lung lạc

Có lẽ chưa bao giờ “thị trường” không gian mạng lại sôi nổi như bây giờ. Các trang website, blog, đưa lên facebook, diễn đàn… đua nhau mọc lên như nấm sau mưa. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và xảo quyệt, đưa tin thất thiệt, thật giả lẫn lộn, dẫn đến tâm lý hoang mang, nghi ngờ, phân tâm trong xã hội. Những thông tin xấu độc trên không gian mạng luôn tạo ra cơ hội cho các thế lực thù địch tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá, gây mất ổn định chính trị, kinh tế-xã hội ở nhiều địa phương, không chỉ những đô thị lớn mà nó còn len lỏi về tận những vùng nông thôn. Những chiêu trò tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị diễn ra ở nhiều nơi, nhiều thời gian và không gian khác nhau. Đặc biệt, trong những thời điểm các tổ chức đảng đang tích cực chuẩn bị đại hội ở cấp mình, theo Chỉ thị số 35-CT/TƯ ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, thì chúng tung tin giả, xuyên tạc, kích động, xuyên tạc sự thật, cho rằng "các phe cánh trong Đảng đang thanh trừng lẫn nhau", "trong Đảng không có dân chủ nên cần phải đa đảng…". Họ lợi dụng tâm lý cực đoan, định kiến của một bộ phận dân chúng để hằng ngày tán phát lên mạng nhiều thông tin sai sự thật; bình luận, nhìn nhận vấn đề có thật một cách méo mó, theo hướng có lợi cho mục đích, mưu đồ của họ. Thủ đoạn mà họ thông tin thường là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội rồi thổi phồng, cắt ghép theo ý đồ có sẵn; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất, thật giả lẫn lộn, xuyên tạc sự thật vào những sự kiện, những diễn biến, những động thái có thật, bằng những kỹ xảo tinh vi của công nghệ, tạo dựng chuyện bằng cách lắp ghép, trích dẫn, cắt xén các lời phát ngôn, bài viết, hình ảnh… gây nhiễu loạn thông tin, làm cho người đọc, xem thiếu kinh nghiệm dễ lầm tưởng, khó phân biệt, nhận diện thật-giả, đúng-sai. Từ đó, đánh giá không đúng bản chất sự kiện, nhân vật. Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch suy cho cùng là nhằm chia rẽ Đảng với nhân dân, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội. Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình", chống “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trên không gian mạng thì chúng ta còn bộc lộ những hạn chế. Chẳng hạn, một số sự việc đã bị kẻ xấu lợi dụng, lan truyền, nhưng ta chưa kịp thời có biện pháp đấu tranh, ngăn chặn; hoặc chưa kịp thời cung cấp thông tin chính thống để định hướng dư luận. Hình thức đấu tranh vẫn chủ yếu là chia sẻ các bài viết trên mạng, tần suất các bài viết đấu tranh trực diện chưa nhiều, thông tin chưa có chiều sâu, còn nặng về lý thuyết, giáo điều, tính thuyết phục hạn chế, nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong cộng đồng xã hội. Để tin xấu, độc không còn đất sống, trước hết, cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận diện rõ thông tin xấu, độc, ngăn chặn sự tác động của nó vào đời sống chính trị, tinh thần của cộng đồng xã hội. Cần cảnh giác cao độ với tính nguy hiểm mặt trái của mạng xã hội. Tuy nhiên, sự suy thoái, tha hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng là sự tiếp sức cho sự chống phá của các thế lực thù địch. Bởi vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng với tinh thần “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ” ở tất cả cơ quan, tổ chức, đơn vị. Sự chống phá của các thế lực thù địch sẽ không có đất sống nếu Đảng, Nhà nước và nhân dân ta có sức đề kháng tốt. Người dân sẽ không tin khi biết rõ thông tin và hiểu được âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Còn nếu chúng ta không định hướng tốt, để tâm lý, tư tưởng trong cộng đồng xã hội bị lung lạc, thì sự chống phá của các thế lực thù địch sẽ càng có thêm cơ hội. Vì vậy, bên cạnh việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền, Đảng và Nhà nước cần chủ động công khai, minh bạch thông tin những chủ trương chính sách trong giải quyết các vấn đề, nhất là những vấn đề có tính nhạy cảm. Các phương tiện tuyên truyền của Đảng, Nhà nước cần chủ động, kịp thời, phản ánh rõ các sự kiện, sự việc theo hướng tích cực, đúng sự thật. Tuyệt đối không để công chúng hoài nghi về công tác truyền thông và cũng không để những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc tự tung, tự tác mà không bị phản bác. Thực tiễn cho thấy, để tạo thuận lợi cho việc chống tin giả, cần củng cố, xây dựng một nền báo chí và truyền thông xã hội dân chủ, nhân văn, chuyên nghiệp và hiện đại. Thông tin càng cởi mở, việc kết nối thông tin trong xã hội tới mọi người dân luôn thông suốt, chúng ta càng có điều kiện để phòng, chống tin giả, tin xấu độc, bảo đảm thông tin chính thống giữ vững vai trò làm chủ, định hướng dư luận.