Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2022

“Bắt đúng bệnh, tìm đúng thuốc”


Bắt đúng những căn bệnh mà cán bộ, công chức, đảng viên thường mắc phải để có phương thuốc phòng ngừa, chữa trị kịp thời, không để biến chứng, lây lan là công việc hết sức quan trọng nhằm tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

NHỮNG CĂN BỆNH DỄ MẮC

Cần thẳng thắn thừa nhận thực tế là từ khi nước nhà thống nhất cho đến nay có thời gian, có nơi công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa được coi trọng đúng mức. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”(1)

Từ đánh giá đó, Đảng ta đã đi vào “mổ xẻ từng ung nhọt trên cơ thể mình”. Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta đã chỉ rõ các căn bệnh chính của cán bộ, công chức, đảng viên đó là: Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực, bè phái cục bộ, mất đoàn kết, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân.v.v... Các căn bệnh như đã nêu được Đảng ta quy thành hai nhóm, đó là những hành vi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và nhóm những việc làm sai trái trong công tác cán bộ mà cụ thể là tình trạng chạy chức, chạy quyền.

Nguyên nhân cơ bản của những căn bệnh trong Đảng và hệ thống chính trị dù ở nhóm nào cũng từ chủ nghĩa cá nhân (CNCN) mà ra. Đảng ta coi CNCN như một thứ vi trùng vô cùng độc hại gây ra đủ các thứ bệnh rất nguy hiểm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”. Từ chỗ coi CNCN là “kẻ thù của cách mạng”, Đảng ta xác định, đấu tranh chống CNCN là một nội dung trọng tâm và cũng là một giải pháp rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Có thể nói Đảng ta đã “bắt đúng bệnh”, vấn đề còn lại là tìm “đúng thuốc” để phòng ngừa, chữa trị.

Những căn bệnh mà cán bộ, công chức, đảng viên dễ mắc phải không khó để nhìn thấy, nhận thấy nhưng khi đi vào mổ xẻ, phân tích để công khai, chỉ tên từng con người cụ thể là việc không hề đơn giản. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra: “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là công tác con người, rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con người, đòi hỏi mỗi chúng ta phải tự phê bình, phân tích, mổ xẻ những ưu, khuyết điểm của chính bản thân mình; phải nhận xét, đánh giá về người khác...”(2). Mục đích của tự phê bình và phê bình theo đúng nghĩa rất nhân văn và hữu ích. Nhưng với không ít người sau khi đối mặt với phê bình, chỉ trích, danh dự, uy tín bị ảnh hưởng đã sa sút ý chí phấn đấu, giảm sút tinh thần, thậm chí có người tìm cách trả đũa người đã phê bình mình... Nói như thế để thấy cuộc đấu tranh phòng ngừa, điều trị những căn bệnh trong Đảng rất khó khăn, phức tạp.

Dân gian có câu "Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng". Những lời chỉ trích mạnh mẽ, những hình thức xử lý kỷ luật dù khó chấp nhận, nhưng lại góp phần rất quan trọng vào sự phát triển, thành công của mỗi cán bộ, công chức, đảng viên cũng như từng tập thể, tổ chức trong Đảng và hệ thống chính trị. Trong 5 năm (2016 - 2020), hơn 25.000 cán bộ, đảng viên suy thoái, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" bị kỷ luật, trong đó hơn 8.200 đảng viên bị xử lý kỷ luật do suy thoái về tư tưởng chính trị, hơn 15.000 cán bộ, đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống; hơn 110 cán bộ diện Trung ương quản lý bị kỷ luật và xử lý hình sự, trong đó có 27 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương và 4 Ủy viên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị… Những con số biết nói ấy đã phần nào thể hiện rõ tinh thần quyết tâm, tính chất quyết liệt của Đảng ta trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Sự dũng cảm, mổ sẻ và kiên quyết chặt bỏ những “cành sâu mọt” ấy không làm Đảng ta yếu đi mà thực sự đã và đang làm cho Đảng ta ngày càng mạnh lên. Nhiều mặt hạn chế, yếu kém mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra đã được khắc phục. Bước đầu chúng ta đã ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những kết quả đã đạt được trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã khẳng định trong xã hội ta công tội rõ ràng, tốt xấu phân minh, trắng đen không thể lẫn lộn. Đảng và Nhà nước ta không thể để những người suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tự tung tự tác làm tổn hại tới thanh danh của Đảng và hệ thống chính trị.

Có thể khẳng định, những kết quả bước đầu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã góp phần cảnh báo, răn đe, giáo dục với đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên trong Đảng và hệ thống chính trị; làm cho xã hội trong sạch, lành mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ được củng cố và tăng cường. Đây là nguồn động lực to lớn để Đảng ta tiếp tục nêu cao quyết tâm chính trị, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ hơn trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG GẮN VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

Thực tiễn hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, đặc biệt những nhiệm kỳ gần đây của Đảng đã khẳng định: Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng góp phần rất quan trọng có tính quyết định vào thành tựu chung của đất nước. Nhờ những kết quả đạt được trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Đảng ta đoàn kết, thống nhất hơn; TSVM hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ được củng cố, nâng cao hơn. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là bài học quý báu, là vấn đề then chốt quyết định đến sức mạnh, uy tín của Đảng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta và chế độ ta. Nhận thức cho đúng đắn, sâu sắc về vị trí, ý nghĩa và nội dung của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là hết sức quan trọng.

Tạo bước chuyển mới trong nhận thức không chỉ là cơ sở nền tảng mà còn là chìa khóa phát huy tinh thần trách nhiệm, nêu cao ý chí, quyết tâm, kiên quyết, kiên trì, linh hoạt, sáng tạo, đoàn kết vượt khó trong quá trình thực hiện các Nghị quyết, Kết luận, Quy định của Đảng ta. Bước chuyển trong nhận thức chính cũng là cơ sở để nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức, thái độ nghiêm túc tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên. Chính vì thế trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của các tổ chức đảng cũng như cá nhân các đảng viên, yêu cầu đầu tiên đặt ra là phải nâng cao nhận thức.

Một trong những kinh nghiệm mà Đảng ta rút ra qua thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII là tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng và nội dung của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Muốn tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đưa công tác này lên tầm cao mới, gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM thì trước hết đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên của Đảng phải có nhận thức đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng và những nội dung của nhiệm vụ “then chốt” này. Mới đây, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu: “Phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của kết luận và quy định, nắm vững những tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm, trên cơ sở đó có sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm, thấy đầy đủ trách nhiệm của mình để gương mẫu, tự giác thực hiện và chỉ đạo, tổ chức thực hiện”(3).

Ý thức rõ sự cần thiết phải tạo được bước chuyển biến mới về nhận thức nên thời gian qua các tổ chức đảng đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền giáo dục, phổ biến, quán triệt các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, chủ trương, giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, nhận thức về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vẫn còn những khoảng trống. Những biểu hiện nhận thức lệch lạc, thiếu đúng đắn, chưa sâu sắc về nhiệm vụ “then chốt” vẫn tồn tại ở một số cấp ủy và cán bộ, đảng viên. Tồn tại đầu tiên trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ ra là: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”(4).

Thực tế tại nhiều địa phương, không phải cán bộ, công chức, đảng viên nào cũng hiểu rõ tính chất quan trọng, cấp bách, cần thiết của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Một nguyên nhân dẫn đến hơn 25.000 đảng viên suy thoái hoặc có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" bị xử lý kỷ luật trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đó là nhận thức về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn hời hợt, nên tổ chức thực hiện chưa tốt, có biểu hiện xem nhẹ, hình thức.

Chủ trương tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM mà Đại hội XIII của Đảng đề ra là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết. Vậy mà trong một số ít cán bộ, đảng viên xuất hiện những suy nghĩ, tư tưởng, quan điểm sai trái khi cho rằng xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị là hai công việc khác nhau. Xây dựng hệ thống chính trị là công việc của chính quyền. Đảng gắn hai công việc đó là lạm quyền, khiên cưỡng, không phù hợp. Việc Đảng ta ban hành các quy định cũng có ý kiến cho là chồng chéo, không cần thiết bởi các nội dung ấy điều lệ, pháp luật đã quy định rồi...

Đây là khoảng trống rất nguy hiểm trong nhận thức của cán bộ, công chức và đảng viên. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng khoảng trống này bóp méo, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng ta.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta xác định công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đặc biệt coi trọng và nâng lên một tầm cao mới, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị TSVM. Mấu chốt để thực hiện có hiệu quả công tác “then chốt” này là phải khắc phục cho được những hạn chế trong nhận thức.

Để làm được điều này, chúng ta cần tiến hành đồng bộ và toàn diện nhiều biện pháp. Trước hết, phải tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục làm cho mọi cán bộ, công chức, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ vai trò chủ trì, chủ chốt, đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị nhận thức đúng đắn, sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Thông qua tuyên truyền giáo dục, làm cho mọi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ về sự phát triển mới của Đảng ta.

Thực tiễn cho thời gian qua cho thấy năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của nhiều tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Hệ thống chính trị ở nước ta chưa thực sự TSVM như mong muốn; không ít cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền, làm việc ở những ngành, lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực vẫn thiếu tu dưỡng và rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bị xử lý kỷ luật và xử lý hình sự;... Tại Đại hội XII, Đảng ta xác định: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” nhưng trước thực trạng trên, tại Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Như vậy, không chỉ đề cập đến công tác xây dựng Đảng mà song hành Đảng ta xác định phải thường xuyên chỉnh đốn Đảng; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM. Sự phát triển này là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và rất quan trọng, đòi hỏi các cấp ủy, từng cán bộ, đảng viên phải nhận thức cho rõ ràng và sâu sắc.

Mặt khác, công tác tuyên truyền giáo dục cần làm cho cán bộ, công chức, đảng viên hiểu rõ Hiến pháp 2013 và Điều lệ Đảng đã quy định Đảng ta là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Do đó, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng chi phối tính chất, mục tiêu, nhiệm vụ, hiệu quả xây dựng hệ thống chính trị. Hay nói cách khác, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị chính là thước đo năng lực lãnh đạo, địa vị cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng ta. Cán bộ, công chức, đảng viên cần hiểu rõ những quan điểm, tư tưởng trái chiều như đã nêu là do nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ hoặc kẻ xấu lợi dụng bóp méo, xuyên tạc nhằm động cơ chống phá.

Do đó cùng với công tác tuyên truyền giáo dục, quán triệt, phổ biến nâng cao nhận thức, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên, nhất là lực lượng chuyên trách phải dũng cảm, kiên quyết đấu tranh với những nhận thức sai lệch, những tư tưởng, quan điểm sai trái nhằm phá hoại công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị TSVM của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG

Thực tiễn đã khẳng định, chính sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với Dân là cội nguồn sức mạnh để Việt Nam có được cơ đồ, vị thế như ngày nay. Thấu hiểu rất rõ điều ấy nên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị của Đảng ta “được nhân dân đặt nhiều kỳ vọng, hưởng ứng, đồng tình ủng hộ,…”(5)

Thực tế đã cho thấy sự tin tưởng, mong mỏi và kỳ vọng của nhân dân ở Đảng và Nhà nước ta là rất lớn. Kết quả điều tra xã hội học của Viện Dư luận xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương cho thấy: Tuyệt đại đa số nhân dân khẳng định quyết tâm đi theo Đảng, ủng hộ Đảng đến cùng vì mục tiêu cao cả chăm lo, bảo vệ lợi ích tối cao và toàn diện của nhân dân, của quốc gia, dân tộc. Thực trạng hàng chục nghìn cán bộ, công chức, đảng viên vi phạm kỷ luật, vướng vào vòng lao lý đã thể hiện rõ sự dũng cảm, tinh thần quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn, gột rửa mọi dơ bẩn bấy lâu nay và nhìn nhận đó là việc cần làm, phải làm để Đảng và hệ thống chính trị của ta thực sự TSVM, thực sự vì dân, vì nước. Nhân dân mong muốn và kỳ vọng Đảng ta trong công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Nếu Đảng ta không nhận thức đúng, trúng vấn đề và hành động một cách quyết liệt thì những căn bệnh của Đảng sẽ không được chữa trị kịp thời, giống như những “cục máu đông” làm cho cơ thể Đảng yếu kém, suy sụp.

Đảng ta cũng xác định phải đặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong tổng thể thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị, Quy định khác của Trung ương, của Quốc hội, của Chính phủ... Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị phải đặt trong mối quan hệ với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị thường xuyên của cả nước, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm thúc đẩy việc hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng ta và chế độ XHCN ở Việt Nam. Quyết tâm, quyết liệt nhưng Đảng ta cũng xác định rõ không được nóng vội, chủ quan mà phải thận trọng, từng bước đi đúng đắn, phù hợp. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo: “Nhận thức của chúng ta phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và phương pháp phải đúng”(6).

Để triển khai nhiệm vụ đặc biệt quan trọng ấy, Đảng ta xác định phải triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả nhiều giải pháp như: Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện của các cấp ủy đảng, chính quyền; đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, nhất là giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng cho cán bộ, công chức, đảng viên; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là cơ chế kiểm soát quyền lực; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm; phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội;…

Tuy nhiên, yếu tố quyết định vẫn là phát huy tính tích cực, chủ động tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của cán bộ, công chức, đảng viên. Từng cán bộ, đảng viên phải biết tự nhìn nhận, soi xét lại mình, tự chỉnh sửa mình cả trong công tác và cuộc sống. Sự chuyển biến tiến bộ thực sự chính là thước đo nhận thức, ý thức trách nhiệm, hiệu quả quá trình rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống và chất lượng, hiệu quả công tác của mỗi cán bộ, công chức, đảng viên.

Trước yêu cầu mới của cách mạng, trước thực trạng tình hình, tuyệt đại đa số nhân dân cho rằng việc Đảng ta xác định tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị là đúng, trúng và rất cần thiết. Cán bộ, công chức, đảng viên và nhân dân ta tin tưởng rằng, với truyền thống và bản chất tốt đẹp, với quyết tâm chính trị rất cao, được nhân dân tin tưởng, đặt nhiều kỳ vọng, đồng tình ủng hộ, nhất định Đảng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII mà trực tiếp nhất là các Kết luận, Chỉ thị, Quy định của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII, tạo bước chuyển biến mới trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng TSVM, thật sự xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc; hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh toàn diện, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự là “công bộc của dân”./.

Phùng Kim Lân

 --------------------

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2012, tr. 21.

(2) (3) (4) (5) Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận, Chỉ thị, Quy định của Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

(6) Phát biểu bế mạc của đồng chí Tổng Bí thư tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Tuyengiao.vn

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng không phải là “sự chuyên quyền”

 

Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ - nguyên tắc cơ bản nhất trong tổ chức và hoạt động của Đảng, để Đảng luôn là một tổ chức thống nhất về ý chí và hành động; đồng thời, phát huy được sức mạnh của mỗi cá nhân và của tập thể vì lợi ích chung của sự nghiệp cách mạng. Trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, giữ vững và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc này là yêu cầu cấp bách, thường xuyên, lâu dài để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng.

TẬP TRUNG DÂN CHỦ LÀ MỘT NGUYÊN TẮC CĂN BẢN CỦA MỘT ĐẢNG CÁCH MẠNG CHÂN CHÍNH

Khi nói về cách tổ chức của Liên đoàn những người cộng sản - chính đảng cách mạng đầu tiên của giai cấp công nhân, Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Bản thân tổ chức cũng hoàn toàn dân chủ, với những người lãnh đạo được bầu ra và luôn luôn có thể bị bãi miễn”(1). Sau này, V.I.Lênin cũng nhấn mạnh, “chế độ tập trung dân chủ, một mặt, thật khác xa chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa, và, mặt khác, thật khác xa chủ nghĩa vô chính phủ”(2). Điều đó cũng có nghĩa là, “không có gì sai lầm bằng việc lẫn lộn chế độ tập trung dân chủ với chủ nghĩa quan liêu và với lối rập khuôn máy móc”(3). Thực tế, lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng cho thấy, là liên minh tự nguyện của những người cùng chung chí hướng, cùng đồng chí, đồng lòng đấu tranh để xây dựng chủ nghĩa xã hội/một chế độ xã hội tự do, dân chủ, công bằng vì con người và cho con người, tất yếu Đảng Cộng sản - bộ phận tiên phong của giai cấp công nhân phải được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật và thống nhất, sinh hoạt và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng Cộng sản phải là một tổ chức thống nhất về ý chí và hành động, không dung thứ sự tồn tại của các phe nhóm, bè phái; lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển của Đảng.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ được hiểu giản dị là, "tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung"(4); và theo đó, “lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”(5). Cho nên, tập trung dân chủ là nguyên tắc rường cột chỉ đạo toàn bộ, xuyên suốt quá trình xây dựng, tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của một Đảng Cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng; đồng thời, chi phối các nguyên tắc khác, để xây dựng Đảng thành một tổ chức thống nhất, chặt chẽ, kỷ luật; bảo đảm Đảng luôn thống nhất trong tư tưởng và hành động chứ không phải là một câu lạc bộ.

Thực tế cũng cho thấy, tập trung dân chủ là một nguyên tắc căn bản (trong tổ chức và hoạt động) của Đảng, để phân biệt một chính Đảng Mácxít Lêninnit với một đảng phái chính trị khác. Tập trung và dân chủ là hai mặt không mâu thuẫn với nhau mà luôn thống nhất biện chứng, không thể tách rời, vì tập trung không trên cơ sở dân chủ sẽ thành tập trung quan liêu, độc tài; còn dân chủ đúng đắn phải dựa trên cơ sở tập trung, dân chủ mà tách rời tập trung sẽ thành vô chính phủ. Tập trung được thực hiện trên cơ sở dân chủ, hỗ trợ, bảo đảm để dân chủ được kiểm soát trong khuôn khổ, chứ không phải là tập trung độc đoán, chuyên quyền. Tập trung là để toàn thể đảng viên tư tưởng và hành động đều thống nhất, tránh tình trạng "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". Còn dân chủ được thực hiện và là bảo đảm của tập trung, giúp cho tập trung được thực hiện linh hoạt, hiệu quả, để tránh dân chủ theo kiểu tùy tiện, phân tán, vô tổ chức, hình thức. Dân chủ nghĩa là mọi cán bộ, đảng viên đều có quyền tham gia vào việc quyết định công việc của Đảng (được bày tỏ chính kiến, thông tin, thảo luận, tranh luận, bảo lưu ý kiến trong tổ chức) để bàn bạc và đi đến thống nhất về quan điểm, chủ trương… không chỉ trong xây dựng nghị quyết, đưa nghị quyết vào cuộc sống mà còn thể hiện rõ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, khi tổ chức đảng đã có nghị quyết thì tất cả đảng viên đều phải nói và làm theo nghị quyết.

Được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc một Đảng Mácxít Lêninnit chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản; trong đó, thiểu số phục tùng đa số (nội dung cốt lõi, đặc trưng của dân chủ trong Đảng), cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức; các tổ chức đảng trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc, Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Trên thực tế, xuất phát từ bản chất giai cấp công nhân của Đảng; từ yêu cầu, nhiệm vụ lịch sử của Đảng; từ kinh nghiệm của các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế, suốt quá trình xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định và kiên trì thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ - coi đó là nguyên tắc số một, bất di bất dịch. Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn, Đảng "luôn luôn nắm vững lãnh đạo tập thể là nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng thời kết hợp với phân công phụ trách. Đảng chống mọi hiện tượng phân tán, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tự do vô kỷ luật cũng như chống mọi hiện tượng tập trung quan liêu, sự vụ, gia trưởng, độc đoán, coi thường tập thể, coi thường cấp dưới”(6) để thống nhất trong tư tưởng và hành động; để “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”(7) như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn.

Theo đó, các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương đều "thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo đi đôi với phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu”(8); đồng thời, luôn có cơ chế để nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện nghiêm trên tinh thần "thực hiện triệt để nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong cấp uỷ. Tạo mọi điều kiện cần thiết để mỗi cấp uỷ viên có thể tham gia đầy đủ vào việc bàn bạc, quyết định các chủ trương; định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của từng người”(9), nhằm "tránh lối cá nhân độc đoán chuyên quyền" hoặc "tránh lối ỷ lại vào tập thể, sợ trách nhiệm" mà không dám quyết đoán khi cần phải ra quyết định. Đồng thời, việc phát triển và mở rộng dân chủ trong Đảng luôn đi đôi với tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng và giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật Đảng.

Dân chủ càng phát triển thì tập trung càng vững chắc, sức mạnh của Đảng càng được khẳng định và vì thế, nguyên tắc tập trung dân chủ cũng chính là biểu hiện của tính tiền phong, chiến đấu của Đảng. Vì thế, bất cứ quan điểm/luận điệu nào cho rằng tập trung và dân chủ là hai mặt đối lập; cho rằng, nếu thực hiện tập trung sẽ tất yếu dẫn đến thu hẹp dân chủ, triệt tiêu dân chủ và ngược lại, nếu muốn thực hiện dân chủ, ắt phải từ bỏ tập trung thì đều là trái với nguyên tắc tập trung dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin, đều là phản động. Chính vì thế, việc xuyên tạc bản chất nguyên tắc tập trung dân chủ nói chung, việc cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ nói riêng là sự "chuyên quyền của một nhóm quyền lực trong Đảng" là một trong các thủ đoạn chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nhằm từng bước hạ thấp vị thế, uy tín, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị như đã hiến định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

THỰC HIỆN TẬP TRUNG DÂN CHỦ KHÔNG PHẢI LÀ SỰ ĐỘC QUYỀN CỦA "NHÓM QUYỀN LỰC"

Đảng Cộng sản Việt Nam "là một khối thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện lãnh đạo tập thể và cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, thực hiện dân chủ đầy đủ và kỷ luật chặt chẽ trong sinh hoạt đảng”(10). Sức mạnh tổ chức to lớn của Đảng là ở sự thực hiện đầy đủ nguyên tắc này. Tình trạng tập trung quan liêu, gia trưởng độc đoán, không tôn trọng ý kiến cấp dưới hay không phát huy trí tuệ tập thể dễ dẫn đến những quyết định sai lầm hoặc tình trạng cục bộ, vô kỷ luật gây hậu quả tai hại… đều làm suy yếu sự đoàn kết trong Đảng, đều làm cho sự lãnh đạo của Đảng kém hiệu lực. Vì thế, mọi cán bộ, đảng viên đều phải nêu cao tinh thần gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.

Song trên thực tế, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn là mục tiêu công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội, xét lại và nhũng người nhân danh dân chủ, mượn danh dân chủ để xuyên tạc, công kích, hòng phá hoại các Đảng Cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Các nhà "ảo dân chủ", "ngộ dân chủ" còn suy diễn rằng, trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thì nếu đặt tập trung ở phía trước và dân chủ ở phía sau, thì có nghĩa là tập trung chính là mục đích, còn dân chủ chỉ là phương tiện. Vì thế, dân chủ chỉ là hình thức, nửa vời, là "bánh vẽ"… Đây chính là kiểu lập luận có chủ đích của những người nhân danh dân chủ, khoác áo dân chủ để quy chụp, xuyên tạc.

Dù nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động cuả một Đảng Mácxít Lêninnit, nhưng thực tế cũng cho thấy, nguyên tắc này không phải lúc nào và ở nơi đâu cũng được thực hiện một cách nghiêm túc. Lịch sử đã chứng kiến nguyên tắc này bị vô hiệu hóa trong quá trình tiến hành cải cách, cải tổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản ở các nước Đông Âu những thập niên trước. Việc từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những sai lầm "không thể cứu vãn" khiến cho các Đảng này tan rã, mất vai trò lãnh đạo xã hội. Việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô M.Goócbachốp vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ khi quyết định giải tán Ban Chấp hành Trung ương Đảng… làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô tan vỡ là một bài học xương máu.

Rút kinh nghiệm sâu sắc bài học của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam nghiêm ngặt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động; gắn mở rộng dân chủ đi đôi với củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.

Trong toàn Đảng, những vấn đề cơ bản, quan trọng (chủ trương, nghị quyết của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị về thực hiện nhiệm vụ chính trị; công tác cán bộ, công tác nhân sự cấp ủy, cơ quan…) đều phải được dân chủ thảo luận trong tập thể cấp ủy/lãnh đạo cơ quan/tổ chức đảng từ cao đến thấp theo phạm vi, quyền hạn được xác định. Quyết định của cấp ủy được quyết định theo đa số và ý kiến thiểu số vẫn được bảo lưu để trình cấp trên xem xét, nhưng khi nghị quyết đã ban hành, thì mọi đảng viên đều phải đồng lòng nói và làm theo nghị quyết. Trong toàn Đảng, mọi cấp uỷ đều thực hiện sự lãnh đạo tập thể (được bàn bạc và quyết định tập thể) đi đôi với tăng cường trách nhiệm cá nhân; "mọi cấp uỷ viên có quyền và có trách nhiệm phát biểu ý kiến, tranh luận thẳng thắn, tham gia các quyết định của cấp uỷ. Chống mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, áp đặt ý kiến cá nhân, hoặc nể nang, né tránh”(11).

Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện, Đảng xác định tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; trong đó, "tập thể lãnh đạo không phủ nhận trách nhiệm cá nhân, trái lại phải trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm cá nhân. Mọi cá nhân trên cương vị của mình phải chủ động đóng góp ý kiến với tập thể để tập thể có được quyết định chính xác, và dám chịu trách nhiệm trong việc chấp hành các nghị quyết của tập thể, dám tự phê bình và thành khẩn nhận khuyết điểm của mình trong việc chấp hành các nghị quyết ấy”(12). Đồng thời, mọi cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đều quán triệt sâu sắc rằng, bất cứ người đứng đầu nào cũng không được lợi dụng/lạm dụng quyền lực của mình (được bầu/ được trao) để mưu cầu lợi ích cá nhân/nhóm lợi ích và "bất cứ người lãnh đạo nào cũng không được tự đặt mình ra ngoài tổ chức, tự cho mình quyền nói và làm khác quyết định của tập thể. Cấp dưới, dù cho người đứng đầu là ủy viên Trung ương, cũng không thể tự cho mình quyền không thi hành hoặc làm trái chỉ thị của cấp trên. Tăng cường sự lãnh đạo tập thể, mở rộng sinh hoạt dân chủ”(13).

Vì vậy, mọi hiện tượng, biểu hiện “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, "nói một đằng nhưng làm một nẻo", "nói trong hội nghị khác nhưng phản ánh lên cấp trên khác" hoặc lợi dụng tập trung dân chủ vì mục đích không chính đáng… đều là những hạn chế cần phải khắc phục trong quá trình thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; đều là trái với nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Những hạn chế này vừa không khuyến khích người đứng đầu nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, lại vừa tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân; đồng thời, cũng dễ tạo kẽ hở cho các phần tử phản động, cơ hội xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng.

Thực tế ở Việt Nam, việc mở rộng sinh hoạt dân chủ trong Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt của các cấp ủy, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát gắn liền với việc không ngừng hoàn thiện, thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc tập trung dân chủ; tiếp tục xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung và phát huy dân chủ, bảo đảm để nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ được thực hiện nghiêm trong Đảng mà đã và đang trở thành nguyên tắc quản lý của một xã hội văn minh, hiện đại, nhằm xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, phát triển bền vững.

Trong những năm qua, dân chủ xã hội chủ nghĩa đã ngày càng trở thành hiện thực sinh động, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực thi; nhân dân là người làm chủ xã hội, được thụ hưởng những thành quả của mình tạo ra đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(14)…

Cùng với thời gian, chế độ dân chủ, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn gắn với kỷ luật, kỷ cương; được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm và được phổ biến sâu rộng đến mọi người dân. Việc thực hành dân chủ trong Đảng có ý nghĩa quyết định đối với phát triển dân chủ trong tổ chức, hoạt động của cả hệ thống chính trị gắn với dân chủ hóa đời sống xã hội, bởi dân chủ tạo sự đồng thuận xã hội và đồng thuận xã hội tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục nhất quán mục tiêu xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Gần đây nhất, bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 16/5/2021 cũng đã tiếp tục khẳng định và làm rõ: Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung, ở Việt Nam nói riêng. Dân chủ vừa là bản chất vừa là động lực; đồng thời, cũng chính là mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân kiên định xây dựng trong suốt 9 thập niên qua. Đó là sự thật đã được kiểm chứng bởi lịch sử Việt Nam hiện đại; bởi sự tin tưởng, ủng hộ, đi theo của các tầng lớp nhân dân; bởi sự ghi nhận của các tổ chức quốc tế. Lịch sử cách mạng Việt Nam là minh chứng khẳng định rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, “nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ. Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung. Từ hội đồng nhân dân và ủy ban kháng chiến hành chính xã đến Quốc hội và Chính phủ Trung ương, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung”(15).

Vì thế, có thể khẳng định chắc chắn rằng: Nghiêm ngặt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động; đảm bảo lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Nguyên tắc tập trung dân chủ chắc chắn không phải là sự chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ như các thế lực thù địch xuyên tạc, thêu dệt, cho nên, bất cứ sự buông lỏng nào trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ cũng sẽ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, tạo ra phe phái, lực lượng đối lập với Đảng, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng! Vì thế, những luận điệu phản động cho rằng thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhằm mục đích "bảo vệ vị trí độc tài" của Đảng và "thao túng quyền lực" của một nhóm người trong Đảng; việc Đảng thực hành tập trung dân chủ trong Đảng và trong xã hội chỉ là sự "ảo tưởng" "mị dân"… đều là sự xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động của Đảng nói riêng, cần phải bác bỏ!.

TS. Văn Thị Thanh Mai 
ThS. Văn Thị Thanh Hương

------

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyển tập, Nxb. Sự thật, H, 1984, t.6, tr.339.

(2) (3) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.36, tr.185, 186

(4) (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.5, tr.620, 620

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2002, t.21, tr.781

(7) (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.17, 232.

(8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2016, tr.191

(9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2004, t.37, tr.629

(10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2007, t.51, tr.254

(11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2007, t.50, tr.507

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2004, t.37, tr.839

(13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.470

(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.263-264.

Tuyengiao.vn

Mưu đồ phía sau cái gọi là bản phúc trình “Nhốt chúng tôi ở trong nhà”


Mới đây, ngày 17-2-2022, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW - Human Rights Watch) đã công bố cái gọi là bản phúc trình với tiêu đề “Nhốt chúng tôi ở trong nhà: Hạn chế tự do đi lại của các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam”. Đây là luận điểm vô căn cứ, đổi trắng thay đen về tình hình tại Việt Nam.

Hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng nhiều phương thức thủ đoạn chống phá nhân dân, Đảng, Nhà nước ta với mức độ ngày càng quyết liệt. Trong đó, chúng luôn mượn danh vấn đề nhân quyền để xuyên tạc tình hình đất nước, hòng làm mất đi hình ảnh Việt Nam hòa bình, ổn định và phát triển trên trường quốc tế.

Mới đây, ngày 17-2-2022, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW - Human Rights Watch) đã công bố cái gọi là bản phúc trình với tiêu đề “Nhốt chúng tôi ở trong nhà: Hạn chế tự do đi lại của các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam”. Đây là luận điểm vô căn cứ, đổi trắng thay đen về tình hình tại Việt Nam.

Hồ đồ bản phúc trình “Nhốt chúng tôi ở trong nhà”

Cái gọi là bản phúc trình “Nhốt chúng tôi ở trong nhà: Hạn chế tự do đi lại của các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam” thực chất là tổng hợp các nội dung mà HRW xuyên tạc về tình hình Việt Nam trong thời gian năm 2004 đến năm 2022.

Trong đó, tập trung vào việc vu cáo, xuyên tạc rằng Việt Nam đang hạn chế quyền tự do đi lại và các quyền cơ bản khác của các "nhà hoạt động", những người bất đồng chính kiến, người "bảo vệ nhân quyền".

Bản phúc trình dài 66 trang, được công bố cùng với những phát biểu hồ đồ và áp đặt của ông Phil Robertson, Phó giám đốc Ban Á châu của HRW: “Chính quyền Việt Nam đàn áp một cách có hệ thống các quyền dân sự và chính trị, khiến các nhà hoạt động và các nhà bất đồng chính kiến luôn phải đối mặt với rủi ro thường trực... “Nhà cầm quyền áp dụng các chiến thuật lạm dụng nhân quyền như quản chế các nhà hoạt động tại gia vô thời hạn, câu lưu khi họ rời khỏi nhà, và cấm xuất cảnh trên cơ sở các lý do an ninh quốc gia ngụy tạo.”

Bản phúc trình còn xuyên tạc trắng trợn: “Nhà cầm quyền đã áp dụng nhiều phương pháp để kiềm tỏa người dân tại gia, như cử các nhân viên an ninh mặc thường phục đóng chốt ngoài tư gia, khóa cửa ra vào của người bất đồng chính kiến bằng khóa ổ, thậm chí đổ keo đa năng vào các ổ khóa, dựng rào chắn và các chướng ngại vật, và huy động côn đồ địa phương đe dọa người dân.”

Để chứng minh cho những luận điệu vớ vẩn, áp đặt trên, HRW nêu lại các sự kiện quấy rối của các tay sai đắc lực trong quá trình chống phá đất nước ta như:  Phạm Chí Thành, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Thúy Hạnh, Phạm Văn Điệp, Nguyễn Tường Thụy.

Đây là những đối tượng thường xuyên làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các đối tượng này đã bị bắt và đang phải ngồi tù vì nhiều tội danh liên quan đến việc chống lại lợi ích dân tộc Việt Nam. HRW tuyên bố có hơn 170 nhà hoạt động, blogger và nhà bất đồng chính kiến, cùng với người thân của họ được đưa vào bản phúc trình. 

Nhận diện mưu đồ chống phá đằng sau “bản phúc trình”

Thực tế, lâu nay, các thế lực thù địch “khoác áo” nhân quyền để chống phá đất nước ta bằng nhiều hình thức khác nhau như: Kêu gọi trả tự do cho các “tù nhân lương tâm”; phản đối việc bắt các tay sai mà chúng gọi là “nhà hoạt động”; phản đối, kêu gọi tẩy chay các bản án xét xử các đối tượng mà chúng đã lôi kéo thành công...

Các hình thức chống phá này được “nhai đi nhai lại” với mưu đồ là nói mãi điều sai sẽ thành điều đúng. Tuy nhiên, những năm gần đây, quần chúng nhân dân đã nâng cao cảnh giác, không nghe theo các luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, các tay sai phản động lần lượt bị cơ quan chức năng kiên quyết đấu tranh, vô hiệu hóa nên các “chân rết" của chúng bị chặt đứt dần dần.

Vì vậy, bản phúc trình nói trên thể hiện sự bế tắc của các thế lực thù địch khi mà không còn nhiều người trong nước bị lôi kéo, mua chuộc. Cực chẳng đã, chúng đành phải “chuyển hướng” xuyên tạc, bôi nhọ về quyền tự do đi lại của những kẻ phản bội. Bản phúc trình cũng thể hiện một “hướng” chống phá mới của các thế lực thù địch.

Đó là, khi chưa có những “quân tốt thế mạng” (như Phạm Chí Thành, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Thúy Hạnh, Phạm Văn Điệp, Nguyễn Tường Thụy) thì triệt để tìm những chuyện “bên lề” để hạ thấp hình ảnh Việt Nam.

Cách thức này như một chiếc áo được chúng “khoác” lên các tổ chức nhân quyền mà HRW là điển hình. Từ đó, chúng hướng các tổ chức nhân quyền khác làm theo và lập nên cái gọi là “hồ sơ nhân về quyền thông thường” ở Việt Nam và nhiều nước khác.

Công bố cái gọi là bản phúc trình, HRW đã “lòi đuôi cáo” khi Phil Robertson nói: “Các nhà tài trợ và đối tác thương mại của Việt Nam cần nhận thức được sự cản trở đối với quyền tự do đi lại đang diễn ra hằng ngày và gây sức ép để chính quyền Việt Nam chấm dứt cách hành xử gây tê liệt người dân như thế.”

Rõ ràng, mục đích chính của chúng là làm méo mó hình ảnh của đất nước ta trên trường quốc tế. Từ đó, kêu gọi các tổ chức, cá nhân, các đối tác thương mại tẩy chay Việt Nam. Về lâu dài, sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội; từ đó, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Thực chất, HRW không vì nhân quyền ở Việt Nam.

Tất nhiên, với các tổ chức nhân quyền như HRW, ngoài việc tài trợ của các thế lực thù địch thì việc tuyên bố các bản phúc trình như trên cũng không ngoài mục đích kêu gọi tài trợ.

Vì thế mà trên website của tổ chức này luôn hiện từ “donate now” (ủng hộ ngay bây giờ); và, sau mỗi bài viết đều có một biểu mẫu kêu gọi: “Món quà được khấu trừ thuế của bạn có thể giúp ngăn chặn vi phạm nhân quyền và cứu sống khắp nơi trên thế giới. Ủng hộ ngay: 50$, 100$, 250$...”.

Và tất nhiên, số tiền tài trợ, ủng hộ cho tổ chức này sẽ không được sử dụng để bảo vệ nhân quyền mà chỉ nhằm chống phá những đất nước không cùng “phe” với chúng.

Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW - Human Rights Watch) là một tổ chức phi chính phủ thành lập năm 1978, có trụ sở tại thành phố New York, Hoa Kỳ cùng văn phòng ở thủ đô và thành phố lớn nhiều nước như Hà Lan, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Anh, Nga, Pháp, Nhật, Canada...

HRW dưới danh nghĩa “nhân quyền” để thành lập các tổ chức hoạt động chống chủ nghĩa xã hội. Từ đó, tạo cớ để Mỹ, các nước phương Tây tăng cường hoạt động tác động về tư tưởng, văn hóa, dân chủ, nhân quyền rồi tiến hành xoá bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu, Liên Xô trước đây.

HRW bị nhiều quốc gia phản đối vì không bảo vệ quyền con người theo đúng nghĩa mà ngược lại, thường tìm cách can thiệp vào việc xử lý của các cơ quan chức năng một số nước. 

Đối với Việt Nam, HRW cổ súy, tán dương với những nhân vật hoạt động chống đối Nhà nước, vi phạm pháp luật. Tổ chức này thường xuyên phác thảo ra những bản báo cáo, phúc trình xuyên tạc tình hình nhân quyền và can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam.

TRẦN LÂM

Qdnd.vn

Gia đình F0 tái nhiễm sau chưa đầy 2 tháng, chuyên gia lý giải nguyên nhân

 

Gia đình F0 tái nhiễm sau chưa đầy 2 tháng, chuyên gia lý giải nguyên nhân

Bệnh nhân đã mắc chủng virus SARS-CoV-2 này có thể nhiễm thêm một chủng khác do giữa các chủng không có miễn dịch chéo.

Cuối tháng 12/2021, anh P.Đ. (30 tuổi, Hoàng Mai, Hà Nội) được xác định mắc Covid-19 sau khi tiếp xúc với đồng nghiệp là F0. Khoảng 3-4 ngày tiếp theo, vợ anh và con trai 2 tuổi cũng nhận kết quả dương tính.

Chị P.T.T. (26 tuổi), vợ anh Đ.chia sẻ, chị có triệu chứng ho, tức ngực, hụt hơi, đau đầu. Người chồng ho, rát họng và ngạt mũi; con trai sốt, ho, chảy nước mũi. Những triệu chứng này chỉ diễn ra một vài ngày đầu, sau đó hết hẳn. Giữa tháng 1/2022, cả gia đình đủ điều kiện khỏi bệnh, được kết thúc cách ly.

Tuy nhiên, đến nửa cuối tháng 2, chị T rất bất ngờ khi biết gia đình mình một lần nữa mắc Covid-19. “Ngày 12/2, nhà tôi có ăn cơm cùng 1 F0. Đến ngày 20/2 thì chồng tôi bắt đầu biểu hiện rát họng, test nhanh dương tính SARS-CoV-2. Hôm sau, tôi và con cũng dương tính. Biểu hiện lần này nhẹ hơn lần trước, chồng tôi chỉ rát họng, con trai sổ mũi, còn tôi xuất hiện mệt, mỏi cơ, hụt hơi”, chị nói.

Dù các triệu chứng có nhẹ hơn so với đợt đầu, nhưng chị T. cho biết vợ chồng chị rất lo lắng, không ngờ tới việc tái nhiễm Covid-19 chỉ sau chưa đầy 2 tháng.

Giống với chị T., chị P.V.A. (29 tuổi, quận 1, TP.HCM) cũng vừa bị tái nhiễm Covid-19. Chị V.A. kể, đợt mắc bệnh đầu tiên là khoảng tháng 8/2021.

”Lần ấy, tôi từ TP.HCM về quê ở Bình Định, đi cùng chuyến bay với 1 F0. Sau đó, tôi vào khu cách ly tập trung 14 ngày, đúng ngày thứ 14 thì xét nghiệm PCR dương tính, phải chuyển tới bệnh viện điều trị”, chị nói. Suốt quá trình nằm viện, người phụ nữ không có triệu chứng, qua hơn 10 ngày điều trị thì được công bố khỏi bệnh, xuất viện về nhà.

Ngày 18/2, sau 6 tháng khỏi bệnh, chị V.A. đột ngột xuất hiện đau họng, sốt nhiều ngày không dứt. Tới 21/2, chị xét nghiệm dương tính SARS-CoV-2, giá trị CT là 18,15. “Đợt đầu, tôi không có triệu chứng nhưng tới đợt mới này thì bị ho, tức ngực mỗi lần ho và ngứa cổ. Tôi rất bất ngờ vì mới khỏi bệnh, tới nay đã mắc lại rồi”, chị nói.

Theo ThS.BS Phạm Văn Phúc, Phó trưởng Khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương, trong số các bệnh nhân bác sĩ từng điều trị, trường hợp có hiện tượng tái nhiễm sớm nhất là 3 tuần sau khỏi bệnh. "Các bệnh nhân tái nhiễm đa phần đều có triệu chứng nhẹ", bác sĩ cho hay.

Trao đổi với VietNamNet, GS.TS Nguyễn Văn Kính, Nguyên Chủ tịch Hội truyền nhiễm Việt Nam cho biết, tình trạng tái nhiễm Covid-19 (tức đã mắc bệnh và khỏi, sau đó mắc lại) có thể xảy ra do một số nguyên nhân.

GS Kính phân tích, theo thời gian, kháng thể do SARS-CoV-2 tạo ra sau lần mắc đầu tiên sẽ bị giảm xuống. Điều này tương tự với việc tiêm vắc xin Covid-19. Sau tiêm vài ba tháng, kháng thể sẽ dần giảm. Đó là lý do ngành y tế khuyến cáo tiêm các mũi bổ sung.

Thứ hai, virus SARS-CoV-2 có nhiều chủng, ngoài các chủng cũ như chủng gốc, Alpha, Delta thì mới đây đã xuất hiện các chủng mới như Omicron. Bệnh nhân đã mắc chủng này có thể nhiễm thêm một chủng khác do giữa các chủng virus không có miễn dịch chéo cho nhau, miễn dịch tạo ra bởi chủng trước không “ngăn chặn nổi” chủng sau.

Như vậy, một người đã nhiễm Delta và khỏi bệnh thì sau đó vẫn có thể nhiễm Omicron. “Cũng giống như bệnh sốt xuất huyết có 4 chủng virus gây bệnh. Nếu ở vùng dịch tễ, bệnh nhân có thể mắc cả 4 chủng đó vì không có miễn dịch chéo”, GS Kính thông tin.

Theo GS, hiện nay, các nghiên cứu chưa thể khẳng định được cơ chế cơ thể sẽ phản ứng mạnh hơn hay yếu hơn ở lần nhiễm sau. “Ví dụ, dịch sốt xuất huyết qua nhiều năm nghiên cứu, người ta thấy rằng tái nhiễm chủng thứ hai nguy cơ dễ dẫn tới sốc sốt xuất huyết hơn. Nhưng Covid-19 rất mới, chưa nghiên cứu được đầy đủ nên chưa thể khẳng định người bệnh có diễn tiến nặng hơn khi tái nhiễm hay không”, GS Kính nói.

Ông cho biết thêm, riêng với chủng Omicron, theo dõi bước đầu trên thế giới ở một số nghiên cứu, người ta thấy Omicron xuất hiện ở những người đã nhiễm hoặc đã tiêm vắc xin sẽ nhẹ hơn nhóm còn lại. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn đang được theo dõi, chưa có khẳng định chính thức.

GS.TS Kính khuyến cáo những người từng nhiễm Covid-19 và khỏi bệnh không nên chủ quan, vẫn cần tuân thủ tốt nguyên tắc 5K của Bộ Y tế: Khẩu trang - Khử khuẩn - Khoảng cách - Không tập trung - Khai báo y tế để tránh nguy cơ tái nhiễm.

 

Tổng thống Ukraine: Tôi muốn hòa bình

 

Tổng thống Ukraine: Tôi muốn hòa bình

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky hôm 5.3 cho biết, ông không muốn Ukraine trở thành “huyền thoại 300 chiến binh Sparta”.

“Tôi không muốn lịch sử Ukraine trở thành một huyền thoại về 300 chiến binh Sparta”, ông Zelensky nói trong cuộc họp báo hôm 5.3, đồng thời kêu gọi các bên nhanh chóng tìm giải pháp chấm dứt xung đột Nga – Ukraine.

Phát biểu của ông Zelensky dường như đề cập đến câu chuyện huyền thoại về cuộc chiến của 300 người lính xứ Sparta (Hy Lạp) trước hàng trăm nghìn quân xâm lược Ba Tư. Câu chuyện này thậm chí còn được dựng thành phim và rất ăn khách. Theo đó, 300 người lính Sparta do một vị vua dẫn đầu đã chiến đấu ngoan cường trước quân Ba Tư đông hơn gấp nhiều lần và tất cả đều hy sinh anh dũng.

“Tôi rất tự hào về quân đội và người dân Ukraine. Đất nước của tôi rất đặc biệt và có những công dân đặc biệt. Tôi không muốn tất cả bị phá hủy. Tôi muốn giữ tất cả lại”, ông Zelensky nói.

Kể từ khi xảy ra giao tranh, Nga và Ukraine đã tiến hành 2 vòng đàm phán ở Belarus để tìm kiếm giải pháp hòa bình. Tuy nhiên, giới quan sát cho rằng, phải mất nhiều thời gian nữa Moscow và Kiev mới có thể tìm được tiếng nói chung do điều kiện mỗi bên đưa ra là rất khác biệt.

“Tôi muốn hòa bình. Tôi muốn hòa bình cho đất nước mình”, ông Zelensky nhấn mạnh.

Trong một bài viết khác đăng trên Telegram hôm 5.3, Tổng thống Ukraine Zelensky để ngỏ khả năng tổ chức một vòng đàm phán thứ 3 với Nga, sau khi dân thường được sơ tán khỏi Mariupol và Volnovakha nhờ thỏa thuận ngừng bắn tạm thời. Tuy nhiên, ở Mariupol, chính quyền cho biết họ phải hoãn sơ tán người dân do “Nga vi phạm lệnh ngừng bắn”. Nga cáo buộc “những người theo chủ nghĩa dân tộc ở Ukraine” cản trở hành lang nhân đạo.

 “Chúng tôi đang cố hết sức để lệnh ngừng bắn hoạt động. Đó là nhiệm vụ quan trọng. Hãy xem liệu chúng ta có thể tiến xa hơn trong quá trình đàm phán hay không”, ông Zelensky nói.

Trước đó, hôm 4.3, ông Zelensky đã chỉ trích NATO “yếu đuối” vì không đồng ý thiết lập vùng cấm bay ở Ukraine. Sau tuyên bố của ông Zelensky, Ngoại trưởng Ukraine Dmitry Kuleba cũng bày tỏ thất vọng với quyết định của NATO.

“Trước khi xảy ra xung đột với Nga, người dân Ukraine tin rằng NATO rất mạnh còn EU thì thiếu quyết đoán. Giờ tình hình cho thấy điều ngược lại”, ông Kuleba phát biểu trên sóng truyền hình.

“Đó là điểm yếu mà NATO sẽ phải trả giá trong tương lai, còn hiện tại, nó khiến người dân Ukraine khổ sở”, ông Kuleba nói.

Theo người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov, các nước NATO nhận thức được rằng, không thể trực tiếp can thiệp vào xung đột Nga – Ukraine.

 

BỔN PHẬN CÔNG BỘC TRONG GIỮ GÌN "PHƯƠNG DIỆN QUỐC GIA"

 

          Trong thời đại ngày nay, mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị đều có một phần “phương diện quốc gia” trên cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, mọi việc làm, hành vi ứng xử của cán bộ, nhất là trong môi trường có yếu tố nước ngoài, đều có ảnh hưởng nhất định đến hình ảnh đất nước, vị thế quốc gia, dân tộc. Cán bộ giữ cương vị càng cao, sự ảnh hưởng càng lớn. Cán bộ tốt thì dân được nhờ, đất nước được tiếng thơm. Cán bộ tiêu cực, không biết giữ mình thì đất nước mang tiếng xấu. Sự lợi dụng của các thế lực thù địch, phần tử phản động nhằm mưu đồ chống phá Đảng, chống phá đất nước cũng từ những hành vi tiêu cực đó mà ra.

          Chính vì vậy, để giữ “phương diện quốc gia”, mỗi cán bộ, đảng viên phải có sự thống nhất cao về mặt nhận thức, có thái độ đấu tranh kiên quyết, bài trừ những thông tin tiêu cực về tình hình đất nước trên không gian mạng, nêu gương và dẫn dắt quần chúng. Cần nhận thức một cách thấu đáo và khách quan, việc đấu tranh phát hiện, xử lý những vụ việc tiêu cực vừa qua là sự thể hiện thái độ kiên trì, kiên quyết, không có vùng cấm của Đảng, Nhà nước ta đối với tham nhũng, tiêu cực.

          Việc các cơ quan chức năng điều tra, khám phá thành công những vụ án, vụ việc tiêu cực trong nội bộ, chính là kết quả, thành công của cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lấy những vụ việc, biểu hiện tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên để quy kết, quy chụp, lên án cả hệ thống chính trị, bôi nhọ đất nước... là thủ đoạn võ đoán, quy chụp, thể hiện rõ ý đồ thù địch.

          Để giữ “phương diện quốc gia”, bên cạnh tập trung các giải pháp đấu tranh phản bác, phủ nhận, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, cần đặc biệt coi trọng việc củng cố trận địa từ bên trong. Đó chính là ý thức trách nhiệm, bổn phận của đội ngũ công bộc trước lợi ích quốc gia, dân tộc. Phát biểu tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh...; xây dựng văn hóa trong Đảng và trong hệ thống chính trị; xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đặc biệt là đạo đức công vụ, chú trọng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên...”.

          Như vậy, văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ... chính là những nhân tố cốt lõi để cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện, xứng đáng là công bộc của dân, là đại diện cho vị thế quốc gia. Trong có ấm thì ngoài mới êm. Nếu mỗi công bộc của dân có ý thức, bổn phận giữ “phương diện quốc gia” đúng mực thì chúng ta sẽ hạn chế đến mức thấp nhất những tiêu cực trong bộ máy công quyền, các thế lực thù địch khó tìm cớ để chống phá Đảng, chống phá đất nước. Đó cũng là phương châm lấy xây để chống trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

          Xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ phải gắn liền với xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp. Đó chính là phương châm của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp trong môi trường hội nhập quốc tế, nhất là cán bộ, doanh nhân trong các ngành liên quan đến ngoại giao, du lịch, thương mại... Trong từng môi trường, hoàn cảnh có yếu tố quốc tế, chính họ là cầu nối, là “sứ giả” của văn hóa dân tộc, thể hiện phong cách, thái độ, trình độ văn hóa, văn minh của đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè. Hiệu quả thu hút đầu tư, phát triển kinh tế cũng đến từ những ấn tượng về đất nước, con người Việt Nam thông qua những hình ảnh thân thiện ấy.

          Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nền văn hóa và con người Việt Nam,... kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất".

          Quan điểm của Đại hội XIII của Đảng và thông điệp từ Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 phải được thể hiện, tạo chuyển biến rõ nét trong đời sống xã hội. Chúng ta xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh gắn liền với đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa; bảo vệ những giá trị chân-thiện-mỹ của văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam. Đó là cách thiết thực để giữ “phương diện quốc gia” trong ý thức, hành vi của mỗi cán bộ, đảng viên, để khi “quan trên trông xuống người ta trông vào” không hổ thẹn với lương tâm./.