Trong những năm qua, mặc dù nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao
của Đảng và cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện chủ trương dựa vào dân
để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tuy nhiên việc thực hiện trong thực tế vẫn còn có
nhiều vấn đề khó khăn, hạn chế. Hội nghị Trung ương 4 nhận định: “Một bộ phận
cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý
nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây
dựng, chỉnh đốn Đảng… Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu
dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả”.
Chính vì vậy, để thực hiện tốt và hiệu quả hơn chủ trương dựa vào dân để xây
dựng, chỉnh đốn đảng, cần thực hiện một số nội dung cơ bản như sau:
Một là, thực hiện dân chủ rộng rãi, trước hết là dân chủ trong Đảng.
Phát huy dân chủ được coi là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nhân
dân có thể tham gia hiệu quả trong việc xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính
trị, cũng là cơ sở quan trọng để Đảng có thể dựa vào dân thực hiện xây dựng,
chỉnh đốn Đảng. Điều 2, Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân… Tất cả
quyền lực của nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Điều đó khẳng định bản
chất của chế độ ta, chế độ do nhân dân lao động làm chủ. Trong việc
thực hiện quyền làm chủ của nhân dân cần chú trọng thực hiện một cách nền nếp,
thực chất, tránh hình thức. Dân chủ phải được thực hành rộng rãi, từ dân chủ
trong Đảng đến dân chủ trong toàn xã hội, dân chủ ở các cấp, các địa phương đến
các lĩnh vực của đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Do
vậy, cần tiếp tục khẳng định vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của quần chúng
nhân dân trong quá trình xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước; trong quá trình
xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.
Các cấp bộ đảng, chính quyền cần tuyên truyền, vận động mỗi người
dân nhận thức rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của mình trong việc tham gia xây
dựng, chỉnh đốn Đảng, hệ thống chính trị: "Công việc đổi mới, xây dựng là trách
nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công
việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung
ương do dân cử ra. Đoàn thể từ
Trung ương đến xã do dân tổ chức nên". Mỗi
người dân cũng cần nhận thức rõ rằng thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng
giúp Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, cũng là để bảo
vệ quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân, dân tộc và đất nước. Khi đã nhận
thức rõ và đầy đủ, mỗi người dân sẽ tự giác hoặc các tổ chức đảng, chính quyền
các cấp có thể vận động nhân dân tham gia đóng góp, xây dựng đảng, xây dựng và
bảo vệ các thiết chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân một cách
thuận lợi và hiệu quả hơn. Cùng với đó, cần chủ động rà soát, bổ sung, cụ thể
hóa những nội dung phát huy dân chủ được quy định trong hiến pháp, pháp luật,
các văn bản của Đảng và trong hệ thống chính trị. Các biểu hiện coi thường nhân
dân, hạn chế quyền làm chủ của nhân dân dưới mọi hình thức đều sẽ dẫn đến những
hậu quả khôn lường, làm giảm uy tín, niềm tin của nhân dân về Đảng; do vậy cần
kiên quyết đấu tranh, không để tình trạng này xuất hiện và lan rộng.
Hai là, xây dựng cơ chế phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân
tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định dân là gốc,
luôn tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế,
đồng thời luôn kiên trì thực hiện đúng phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trước hết Đảng, Nhà nước cần đổi
mới cơ chế và quy trình trong việc xây dựng, triển khai thực hiện nhiệm vụ lãnh
đạo, quản lý các cấp, nhất là trong công tác cán bộ và thực hiện những chủ
trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước theo hướng phát huy dân chủ, phát huy
vai trò của nhân dân. Nhân dân có thể tham gia đóng góp ý kiến ở những khâu
quan trọng trong quá trình xây dựng, ban hành, thực hiện các chính sách liên
quan đến quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Từng bước hoàn
thiện và đẩy mạnh thực hiện các quy chế dân chủ ở cơ sở, quy chế về giám sát và
phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các
văn bản pháp luật liên quan đến quyền làm chủ của nhân dân, dân chủ ở cơ sở…
Cần phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân trong việc đánh giá, giám sát đội ngũ
cán bộ về thực hiện chức trách, nhiệm vụ, các vấn đề liên quan đến phẩm chất,
đạo đức, lối sống…
Để nhân dân thuận lợi tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì việc
tạo điều kiện cần thiết để nhân dân có thể tiếp cận với các thông tin chính
thống từ phía các cơ quan của Đảng, Nhà nước là điều hết sức cần thiết. Đảng,
Nhà nước cần quy định đầy đủ, thực hiện nghiêm túc chế độ cung cấp thông tin
kịp thời, chính xác cho quần chúng nhân dân bằng những hình thức phù hợp. Cần
tăng cường công khai, minh bạch trong thông tin trong công tác cán bộ, các vấn
đề nhạy cảm, dễ nảy sinh sai phạm.
Ba là, tiếp tục chăm lo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
nhân dân. Muốn phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, dựa vào dân để xây dựng,
chỉnh đốn Đảng thì trước hết Đảng, Nhà nước phải tiếp tục triển khai thực hiện
tốt những chủ trương, chính sách đảm bảo quyền lợi ích chính đáng, hợp pháp của
nhân dân; nâng cao chất lượng đời sống mọi mặt cho người dân, thu hẹp khoảng
cách giàu nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, giải quyết những vấn đề bức xúc hiện
nay. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện sẽ góp phần
nâng cao hơn nữa niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, từ
đó vai trò của nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
sẽ ngày càng được khẳng định và hiệu quả, chất lượng đóng góp của nhân dân cũng
được nâng cao hơn.
Bốn là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc
và các tổ chức chính trị - xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
chính trị xã hội phải thực sự gần dân, sát dân, là cầu nối giữa nhân dân với
Đảng, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, chăm lo, bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia đóng góp,
xây dựng phát triển đất nước. Các cấp bộ đảng cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo
để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có thể chủ động,
tích cực, sáng tạo trong việc phát huy vai trò của nhân dân, phát huy dân chủ,
tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia đóng góp xây dựng Đảng, xây dựng
hệ thống chính trị, đặc biệt là việc nhân dân tham gia giám sát các cơ quan, tổ
chức đảng, hệ thống chính trị thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình; trong việc
giám sát cán bộ, đảng viên nhất là những cán bộ đảng viên có chức có quyền. Cần
tập trung giám sát, phản biện trong quá trình xây dựng chủ trương, nghị quyết,
đường lối lớn của Đảng; ban hành các chính sách, quy hoạch phát triển kinh tế
xã hội của các địa phương, đơn vị, đảm bảo bám sát thực tiễn, hợp ý Đảng - lòng
Dân, tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội.
Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó đặc biệt chú trọng đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ năng lực, phẩm chất, thực sự hết lòng hết sức
phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh có căn dặn: Muôn việc
thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Thực tiễn đã chứng minh,
chủ trương đường lối cho dù có rất đúng đắn và sáng suốt đến đâu nhưng nếu cán
bộ kém về năng lực, yếu về phẩm chất, thiếu trách nhiệm, triển khai thực hiện
không tốt thì chủ trương đó khó đi vào cuộc sống: “Khi có chính sách đúng, thì
sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc,
nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách
đúng mấy cũng vô ích”. Do vậy, năng lực, phẩm chất của mỗi cán bộ đảng viên,
nhất là cán bộ cấp chiến lược sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện nhiệm
vụ, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tin, danh dự của Đảng, đến mối quan hệ Đảng –
Dân và niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Vì vậy cần chú trọng xây dựng đội
ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, thực sự trọng dân, gần dân, hiểu
dân, có trách nhiệm và biết phát huy vai trò, quyền làm chủ của nhân dân. Mỗi
cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng cần phải kiên quyết đấu tranh, đẩy lùi
những biểu hiện thoái hóa, biến chất trong tổ chức, đơn vị mình, cùng nhân dân
xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh./.
HAIVAN
Chủ trương dựa vào dân để xây dựng chỉnh đốn Đảng là chủ trương
xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta ngay từ khi mới thành lập và được nhấn mạnh
và cụ thể hóa hơn nữa trong bối cảnh hiện nay. Từ Nghị quyết Trung ương 4 khóa
XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; đến Nghị quyết Trung
ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đặc biệt là Kết luận Hội nghị lần thứ 4
khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên
quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự
chuyển hoá và Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII đều khẳng định đầy đủ, rõ ràng
chủ trương này. Trong các nhiệm vụ, giải pháp được trình bày trong Báo cáo của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và
thi hành Điều lệ Đảng (tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng)
cũng khẳng định: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân
dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận
thức, hành động của các cấp uỷ đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận.
Tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng,
nhà nước và cả hệ thống chính trị; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây
dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh
trong tình hình mới”. Trong các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của Kết luận
Hội nghị lần thứ 4 khóa XIII có nêu: “Phát huy vai trò, trách nhiệm của
các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính
trị - xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và
hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”.
Như vậy, có thể thấy, kế thừa quan điểm xuyên suốt trong lịch sử
cách mạng Việt Nam, qua nội dung của Văn kiện Đại hội XIII và Hội nghị Trung
ương 4 khóa XIII, chủ trương dựa và dân để xây dựng Đảng đã được thể hiện ngày
càng cụ thể, rõ ràng hơn. Theo tinh thần Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, chủ
trương dựa này được thể hiện ở hai khía cạnh cơ bản, đó là: Nhân dân trực tiếp
và gián tiếp tham gia xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Thứ nhất, Đảng dựa vào nhân dân trực tiếp tham gia
xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Theo đó, nhân dân trực tiếp phản ánh, góp ý với cấp
ủy đảng về công tác cán bộ, các chủ trương, đường lối lớn của Đảng. Nhân dân có
quyền góp ý kiến, kiến nghị đối với tổ chức Đảng và chính quyền, phát hiện
những yếu kém, khuyết điểm của tổ chức và cá nhân cán bộ, đảng viên, nhất là
phát hiện những tiêu cực như tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm” hoặc nhân dân
tham gia xây dựng chỉnh đốn đảng thông qua hoạt động đối thoại, tiếp công dân, tiếp
nhận và kịp thời chỉ đạo xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và giải quyết những
kiến nghị, phản ánh của nhân dân nhất là những vấn đề liên quan đến đạo đức,
lối sống của cán bộ, đảng viên . Ngoài ra, thông qua các tổ tự quản của nhân
dân ở cơ sở, hoạt động của ban thanh tra nhân dân, các tổ giám sát cộng đồng
cũng là hình thức quan trọng để nhân dân có thể tham gia xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, hiện nay. Để thực hiện nội dung này, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước
đã có nhiều chủ trương, biện pháp để ngày càng phát huy vai trò của nhân dân
trong việc tham gia xây dựng chỉnh đốn Đảng một cách trực tiếp, hiệu quả. Cùng
với Hiến pháp năm 2013, nhiều quy định đã được sửa đổi, bổ sung để phát huy
quyền làm chủ thực sự của nhân dân, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để thực hiện
nghiêm túc phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát,
dân thụ hưởng” như: Quy chế dân chủ ở cơ sở; quy định về việc đảng viên tham gia
sinh hoạt ở khu dân cư,… Những quy định này đã góp phần làm tăng thêm cơ hội để
nhân dân góp ý để xây dựng và hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước; giám sát đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức
về nhiều mặt; tham gia xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị
trong sạch, vững mạnh.
Thứ hai, ngoài việc tham gia trực tiếp, nhân dân cũng gián tiếp tham
gia xây dựng, chỉnh đốn đảng thông qua hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân
dân các cấp và các đại biểu do dân bầu; thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể chính trị xã hội. Nhân dân là người lựa chọn, bầu ra các đại biểu tham gia
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan dân cử. Thông qua hoạt động
của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân
đã đến nghị trường Quốc hội; những vấn đề nhân dân quan tâm, bức xúc, những nội
dung cần tháo gỡ về mặt cơ chế, chính sách, pháp luật… đã được bàn bạc, thảo
luận công khai, xử lý phù hợp. Qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
của Quốc hội nói riêng và các cơ quan dân cử nói chung. Thông qua hoạt động của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, mỗi cán bộ, đảng
viên và nhân dân có thể tham gia giám sát các cơ quan, tổ chức đảng trong việc
thực hiện các nhiệm vụ theo đúng chức năng, quyền hạn của cơ quan, đơn vị mình;
tham gia giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức có quyền,
những người làm ở những lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm… Qua đó góp phần nâng cao
chất lượng, hiệu quả nhiều mặt trong công tác xây dựng Đảng: công tác cán bộ,
kiểm tra, giám sát, việc chấp hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị
quyết của Đảng.
HAIVAN
Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam”, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhắc đến vấn đề
kiểm soát quyền lực chính trị ở nước ta hiện nay, nhất là trong điều kiện một
đảng duy nhất cầm quyền.
Thể chế chính trị ở nước ta có những nét đặc
thù: Đảng Cộng sản Việt Nam là lưc lượng duy nhất được nhân dân thừa nhận giữ
vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Nhà nước quản lý xã hội dưới sự lãnh đạo
của Đảng và phục vụ lợi ích của nhân dân; Nhân dân làm chủ thông qua các hình
thức dân chủ và đại diện. Các thành tố trong hệ thống chính trị đều thống nhất
về mục tiêu phấn đấu vì lợi ích của nhân dân. Đây là nét khác biệt với các thể
chế chính trị khác bởi họ bảo vệ trước hết cho lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Đồng chí Tổng Bí thư giải thích rõ bản chất
của chế độ chính trị của nước ta: “Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ
giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về
mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động
của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, là hạnh
phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận
hành tổng quan là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý
và Nhân dân làm chủ… Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền
lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng
Việt Nam. Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trên
cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời
là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện
quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã
hội, tham gia quản lý xã hội”. Nhân dân tin tưởng uỷ quyền, trao quyền lực
chính trị cho Đảng, cán bộ, công chức nhà nước trở thành công bộc của nhân dân.
Vì thế, Tổng Bí thư yêu cầu phải:“Đẩy mạnh phân
cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ
quyền lực”.
Kiểm soát quyền lực chính trị đương nhiên phải
bằng cơ chế và tổ chức thực thi cơ chế. Cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị là
hệ thống các thiết chế tổ chức thực hiện và phương thức vận hành để kiểm soát
quyền lực trong thể chế chính trị nhằm làm cho các quy định về quyền và thực
hiện quyền lực chính trị được thực hiện đầy đủ và đúng đắn. Nội dung của kiểm
soát quyền lực chính trị cũng chính là việc xây dựng cơ chế, thể chế và thực
thi cơ chế, thể chế đó trên thực tiễn.
Mặc
dù được đề cập trong các bài viết khác nhau, không có điều kiện để lý giải đầy
đủ hệ thống các thiết chế và phương thức vận hành để kiểm soát quyền lực trong
thể chế chính trị nhưng đồng chí Tổng Bí thư cũng đã tập trung đề cập khá đầy
đủ. Đó là các cơ chế tự kiểm soát quyền
lực (đối với từng chủ thể), kiểm soát lẫn nhau và
kiểm soát của nhân dân đối với nhà
nước; đề cập khá đầy đủ các chủ thể được giao quyền lực chính trị và thực thi
quyền lực chính trị:
Đối với Đảng, là lực lượng lãnh đạo Nhà
nước và xã hội bằng chủ trương, đường lối, quan điểm chỉ đạo để Nhà nước thể
chế hoá thành pháp luật nhưng khi đó có luật pháp, Đảng lại là lực lượng tiên
phong, gương mẫu trong thực hành pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp
và pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình. Đảng
kiểm soát quyền lực của nội bộ Đảng (theo Điều lệ Đảng) đồng thời kiểm soát
quyền lực nhà nước thông qua kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên trong
cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ (theo pháp luật).
Lịch
sử dân tộc hơn 92 năm qua đã minh chứng, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân
tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Với kinh nghiệm và quyết tâm
xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định:“Một
đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ
cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tuỵ, gắn bó mật thiết với nhân
dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào
ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”.
Đối với Nhà nước, với vị trí trung tâm của
quyền lực chính trị, Nhà nước được tổ chức quyền lực theo nguyên tắc “quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
Theo
đó, Quốc hội thực hiện giám sát tối cao
việc tuân theo pháp luật, nghị quyết của Quốc hội. Hội đồng nhân dân các cấp
giám sát việc tuân theo pháp luật và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Đồng chí Tổng Bí thư đề nghị Quốc hội: “Tiếp tục đổi mới, bổ sung các đạo luật
ở các lĩnh vực trọng điểm có ý nghĩa then chốt, có tính khả thi cao, rạo ra sự
bứt phá về phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động giám sát, nhất là giám sát chuyên đề… chú trọng giám sát
lĩnh việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát”.
Kiểm toán nhà nước kiểm soát việc chấp hành pháp
luật đối với cơ quan nhà nước về sử dụng tài chính, tài sản công. Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức
thanh tra, kiểm tra, xử lý theo pháp luật. Viện
Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân. Ngoài những yêu cầu về năng lực
quản lý đất nước về mọi mặt của Chính phủ để thực hiện thắng lợi các mục tiêu
kinh tế - xã hội do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đề ra, đồng chí Tổng Bí
thư nhấn mạnh công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức: “Kiên
quyết loại bỏ những phần tử hư hỏng, thoái hoá về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống; chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, cục bộ, ưu ái tuyển dụng
người nhà, người thân không đủ tiêu chuẩn. Phát huy dân chủ, nâng cao ý thức
trách nhiệm, nêu gương, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên
chức”.
Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các thành
viên của Mặt trận thực hiện giám sát và phản biện mang tính xã
hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Nhân dân cũng giám sát Đảng, (Đảng chịu sự
giám sát của Nhân dân - Hiến pháp), giám sát
cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước, góp ý
xây dựng Đảng, Nhà nước. Các phương tiện thông
tin đại chúng cũng có vai trò quan trọng trong giám sát việc thực thi
pháp luật đối với cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước. Đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính
trị - xã hội không chỉ làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực
hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, đoàn viên mà còn phải “Tiếp tục chú
trọng tham gia sâu hơn, toàn diện, hiệu quả hơn và động viên nhân dân tích cực
tham gia vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành
tiết kiệm, chống lãng phí. Phát huy vai trò tích cực trong tham gia kiểm soát
quyền lực, giám sát để quản lý xã hội công khai, minh bạch”.
HAIVAN
Có một điểm chung từ những vụ án, vụ việc tiêu cực bị đưa ra ánh sáng công lý thời gian qua, đó là đối tượng phạm tội, vi phạm kỷ luật, suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống... là người trẻ chiếm tỷ lệ cao.
Khi chưa bị điều tra, xử lý, không ít người trong số họ từng được đánh giá là cán bộ có năng lực, doanh nhân giỏi. Một trong những nguyên nhân khiến họ suy thoái, vi phạm pháp luật đó là tính hãnh tiến, hiếu thắng, muốn thành công bằng mọi giá...
Một trong những nguyên nhân gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ tổ chức đảng và trong nhân dân là do không ít quyết sách, chỉ thị, quy định, lời phát ngôn... của cán bộ hoặc cơ quan có thẩm quyền không phù hợp với thực tiễn, không “xứng tầm”, thậm chí là vô lý, gây cười.
Một là, luôn quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Trung ương, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư; phát huy tinh thần đoàn kết, đổi mới phương thức lãnh
đạo, chỉ đạo theo hướng khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn; thực hiện đúng
nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, trách nhiệm cá nhân,
bản lĩnh, quyết đoán, thận trọng nhưng cũng rất khẩn trương, linh hoạt, có
trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị;
tăng cường phân công, phân cấp, uỷ quyền, đề cao trách nhiệm của người
đứng đầu cấp ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo - coi đây là thước đo năng lực lãnh
đạo, chất lượng tổ chức đảng.
Hai là, cấp ủy, tổ chức
đảng các cấp chủ động xây dựng kế hoạch quán triệt Nghị quyết bảo đảm chặt
chẽ, khoa học và cụ thể; mặt khác, do diễn biến phức tạp của dịch COVID-19,
phải chủ động có những cách làm sáng tạo; ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin
để nghiên cứu học tập như: tổ chức hội nghị, hội thi, lớp học trực
tuyến, truyền hình trực tiếp, lồng ghép trong hoạt động của cấp ủy, chi bộ,
sinh hoạt của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị -
xã hội; cung cấp, hướng dẫn khai thác tài liệu trên các trang thông tin
điện tử, báo chí, video bài giảng để phát
huy tinh thần, ý thức tự học, tự nghiên cứu của cán bộ, đảng viên.
Ba là, việc triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị
quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết đại hội Đảng các cấp
phải gắn với nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành, từng địa
phương, đơn vị để khai thác được tiềm năng, lợi thế riêng, có các
giải pháp đột phá, sáng tạo, sát với yêu cầu thực tiễn.
Các địa phương, đơn vị cần tiếp thu những ý kiến đóng góp xác đáng
của các cán bộ quản lý, nhà khoa học và các tầng lớp nhân dân để đảm bảo hiện
thực hóa các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể của Nghị quyết. Tập trung tháo gỡ
khó khăn, vướng mắc cho cơ sở, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh
theo đúng quy định của pháp luật. Đối với những vấn đề phát sinh, chưa có tiền
lệ, cần giải quyết ngay thì vừa làm vừa rút kinh nghiệm, kịp thời điều chỉnh những
bất cập, vướng mắc.
Bốn là, phát huy dân chủ trong
quá trình học tập cũng như xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị
quyết, tạo sự thống nhất từ nhận thức, tư tưởng đến hành
động của cán bộ, đảng viên. Quyết liệt trong lãnh đạo để cụ thể hóa Nghị
quyết thành các chương trình công tác trọng tâm của địa phương, đơn vị và các
kế hoạch, đề án, nghị quyết chuyên đề. Thực hiện tốt việc lấy ý kiến góp
ý, phản biện của Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong
quá trình xây dựng Chương trình hành động, các chương trình, đề án, kế hoạch để
cụ thể hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết. Phát huy vai trò của cấp uỷ
các cấp và người đứng đầu, phân công, phân cấp các đồng chí Ủy viên
Ban Thường vụ, Uỷ viên Ban Chấp hành bám sát các địa bàn, kịp thời
chỉ đạo giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc tại cơ sở.
Năm là, trong tổ chức thực hiện nghị quyết, cần chủ động nhìn nhận, phân
tích, đánh giá tổng thể và quyết định chọn hướng đột phá từ những việc còn khó
khăn, vướng mắc, tồn tại để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện
mang lại kết quả cụ thể. Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát,
thường xuyên, kịp thời đôn đốc việc triển khai thực hiện; biểu
dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích tốt, đồng thời chấn
chỉnh, xử lý nghiêm vi phạm.
HAIVAN
Hoà bình có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc sống của chúng ta. Chỉ khi có được hòa bình, con người mới có thể sống trong điều kiện tốt nhất, không phải chịu nỗi đau mất mát, chia li như trong chiến tranh và thoải mái theo đuổi đam mê của riêng mình. Đó cũng chính là lí do tại sao trên thế giới hiện nay luôn có những tổ chức, cá nhân đấu tranh không ngừng nghỉ vì một nền hòa bình bền vững cho tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ. Kailash Satyarthi – nhà vận động chống nạn bóc
Đời sống của ta đẹp hơn nhờ những yêu thương. Và yêu thương lớn lao, trở nên ý nghĩa, thiêng liêng hơn khi “Biết quan sát để yêu thương nhiều hơn”. Quan sát ở đây là nhìn đời, nhìn người. Nhưng cái quan sát này sẽ không chỉ bó hẹp trong việc nhìn bằng mắt thông thường. Quan sát hơn
Để làm được điều này, đòi hỏi mỗi đảng viên dù ở bất cứ cấp nào, làm công việc gì, cũng phải nắm vững và thực hiện đúng những nguyên tắc xây dựng Đảng. Phải thường xuyên, nghiêm túc “tự phê bình và phê bình”, phải tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau, “phê bình việc chứ không phê bình người”. “Phải luôn luôn tự phê bình một cách thật thà, tự phê bình từ trên xuống dưới”.
Khi thế lực kim tiền liên kết với quyền lực
chính trị bị tha hóa
Một mình Vũ “nhôm”, 10 Út “trọc” hay 20
Phan Quốc Việt cũng không thể làm gì nếu không có sự tiếp tay, liên kết của
những cá nhân bị tha hóa.
Vụ án liên quan Việt Á sẽ là 1 trong 10 đại án được đưa ra xét
xử trong năm nay, nối dài danh sách những đại án mà ở đó, doanh nghiệp và quan
chức là những liên minh ma quỷ. Một doanh nghiệp có thể làm khuynh đảo, tha hóa
và kéo theo “một dây” cán bộ hầu tòa: Đó doanh nghiệp của Phan Văn Anh Vũ (Vũ
“nhôm”), Đinh Ngọc Hệ (“Út “trọc”), Bùi Quang Huy (ông chủ doanh nghiệp Nhật
Cường). Các đường dây đánh bạc trực tuyến, buôn lậu trên bộ, trên biển kéo theo
hàng loạt tướng lĩnh, sĩ quan công an, quân đội… bị kỷ luật Đảng và vướng vòng
lao lý. Các doanh nghiệp xây dựng, bất động sản ở Khánh Hòa, Bình Dương, Bình
Thuận và nhiều địa phương khác cũng khiến không ít quan chức thân bại, danh
liệt.
Giờ đây, một doanh nghiệp không mấy tiếng
tăm, bỗng “nổi lên như cồn” chỉ sau vài tháng vật lộn với đại dịch. Phan Quốc
Việt- ông chủ Công ty Việt Á đã khiến hàng trăm quan chức ở Trung ương và địa
phương lao đao, mất ăn, mất ngủ. Cho đến thời điểm này, hơn 20 cán bộ lãnh đạo
và những người liên quan đã bị khởi tố, trong đó có lãnh đạo cấp vụ thuộc Bộ Y
tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, giám đốc CDC 5 địa phương. Chắc chắn, con số chưa
dừng lại ở đó. Bộ Công an đã chỉ đạo công an 62 tỉnh, thành tiếp tục làm
sáng tỏ vụ việc. Cơ quan điều tra đã tiến hành phong toả, kê biên, thu hồi tài
sản bị can và các đối tượng liên quan với số tiền hơn 1.600 tỷ đồng. Theo
khai nhận của Phan Quốc Việt (Tổng giám đốc Công ty Việt Á), doanh nghiệp này
đã chi "hoa hồng" cho các đơn vị, cá nhân gần 800 tỷ đồng, thu lợi
bất chính trên 500 tỷ đồng.
Chủ trương chống dịch gấp gáp, quyết liệt
từ Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ đã bị những người thực thi làm biến dạng,
méo mó. Đau lòng thay, chỉ cách đó không lâu, cựu Giám đốc CDC Hà Nội Nguyễn
Nhật Cảm đã bị xử 10 năm tù giam do vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả
nghiêm trọng.
Đương nhiên, một mình Vũ “nhôm”, 10 Út
“trọc” hay 20 Phan Quốc Việt cũng không thể làm gì nếu không có sự tiếp tay của
những kẻ thoái hóa, biến chất. Những vụ việc nói trên là điển hình cho
việc cấu kết giữa quyền lực chính trị bị tha hóa và quyền lực kinh tế lũng
đoạn.
Tham nhũng luôn song hành cùng quyền lực.
Một cá nhân nắm quyền hành mà không bị giám rất dễ dẫn tới tha hóa và bị cám
dỗ. Chính vì thế, chỉ khi nào QUYỀN LỰC được gắn với TRÁCH NHIỆM BỊ
KIỂM TRA, bị giám sát một cách dân chủ và kỷ luật, thì khi đó mới hạn chế được
tha hóa quyền lực, mới không bị kẻ xấu - vốn dĩ luôn rình mò - để thừa cơ
dụ dỗ, lôi kéo.
Khi vướng vòng lao lý, doanh nghiệp sụp đổ,
còn quan chức không chỉ mất tiền, mất của, mất tự do, mà lớn hơn, mất danh
dự, mất niềm tin của nhân dân.
Khi thế lực kim tiền liên kết với quyền lực
chính trị bị tha hóa, thoái hóa thì tai họa khủng khiếp. Đó chính là sinh
tử của một chế độ, của cả dân tộc.
Không ít lần, người đứng đầu Đảng, Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng đã nói những lời gan ruột với đội ngũ cán bộ toàn quốc,
nhắc đến liêm chính, liêm sỉ và những việc làm ti tiện, đớn hèn, mang tai, mang
tiếng của một số cán bộ lãnh đạo. Trong mối quan hệ giữa tài và đức, ông luôn
coi đức là gốc bởi dù có là tướng lĩnh, sỹ quan, anh hùng hay nhà khoa học, dù
có tài bao nhiêu mà không giữ được danh dự, bản lĩnh thì nhân dân cũng không
cần những cán bộ như vậy. Tổng Bí thư cũng hơn một lần cảnh báo về chủ nghĩa cá
nhân, coi đó là kẻ thù hung ác, là thứ giặc nội xâm dù nó không mang gươm, mang
súng…
Những lời gan ruột đó chưa bao giờ là muộn.
Đại án Việt Á, dù biết chắc chắn rằng sẽ
tác động rất lớn đến niềm tin của nhân dân nhưng Ban chỉ đạo Trung ương về
phòng chống tham nhũng, tiêu cực do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đứng đầu vẫn
quyết liệt chỉ đạo, “đau” mấy cũng phải làm. Bộ Công an dưới sự chỉ đạo của Thủ
tướng Chính phủ đã làm việc “xuyên Tết, xuyên Covid” để sớm trả lời những băn
khoăn của dư luận./.
ST.
Tự do nói chung, tự do ngôn luận nói riêng đều cần được hiểu là tự do trong khuôn khổ pháp luật. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Công ước nhân quyền châu Âu năm 1953, Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 đều khẳng định quyền tự do ngôn luận, nhưng cũng nhấn mạnh tự do ngôn luận là tự do trong những giới hạn của đạo đức và pháp luật, chủ yếu là nhằm bảo vệ nhân phẩm, danh dự (đời tư) của người khác, bảo vệ bí mật kinh doanh, chống kỳ thị, phân biệt đối xử, chống kích động bạo lực, chiến tranh, chống chỉ trích, phê phán chính quyền, đặc biệt nếu đó là những kêu gọi bạo loạn, đe dọa đến trật tự công cộng và an ninh quốc gia. Bởi vậy, mỗi quốc gia có thể cân nhắc tình hình thực tế của mình để cụ thể hóa việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân.
Rõ ràng, trong bất cứ
chế độ chính trị nào cũng không thể có tự do ngôn luận tuyệt đối, các quốc gia
đều xử lý nghiêm khắc hành vi lợi dụng tự do ngôn luận; đề cao tự do ngôn luận
phải vì lợi ích chung, không phải là sự tuyệt đối hóa tự do cá nhân, không thể
lợi dụng tự do ngôn luận để viết, nói, xuyên tạc với ý đồ xấu, bất chấp luân lý
và luật pháp.
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà
nước luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền tự do
ngôn luận của công dân. Tự do ngôn luận được xem là quyền hiến định ngay trong
bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946: “Công dân
Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp,
tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài” (Điều 10).
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tiếp tục khẳng định:
“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp,
lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều
25). Bên cạnh đó, chúng ta còn có Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông
tin năm 2016. Khung pháp lý của nước ta về quyền tự do ngôn luận cơ bản đầy đủ,
đồng bộ, tương thích với luật pháp quốc tế về quyền con người. Cũng giống như
các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam có những quy định để hạn chế và ngăn
chặn những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận, xâm hại tới lợi ích quốc gia,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Nhận thức rõ tầm quan trọng,
lợi ích cũng như những hiểm họa từ mặt trái của internet và mạng xã hội, Đảng
và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách phù hợp nhằm phát triển
internet và mạng xã hội; đồng thời bảo vệ an ninh mạng và phòng, chống lợi dụng
internet, mạng xã hội để xuyên tạc, chống phá chính quyền, xâm hại quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân. Trong đó phải kể đến Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày
16-9-2013, của Ban Bí thư khóa XI, về “Tăng cường công tác bảo đảm an toàn
thông tin mạng”; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15-7-2013, của Chính phủ, về
“Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”; Chỉ thị
số 15/CT-TTg, ngày 17-6-2014, của Thủ tướng Chính phủ, về “Tăng cường công tác
bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới”. Văn kiện Đại
hội XII của Đảng nêu rõ: “Chú trọng công tác quản lý các loại hình thông tin
trên internet để định hướng tư tưởng và thẩm mỹ cho nhân dân, nhất là cho thanh
niên, thiếu niên”. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW,
ngày 22-1-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”,
Ban Tuyên giáo Trung ương đã tăng cường chỉ đạo công tác đấu tranh, phản bác
các thông tin và luận điệu sai trái, âm mưu, hoạt động lợi dụng internet, mạng
xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chủ động triển
khai công tác phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm các đối tượng lợi
dụng internet, mạng xã hội để vi phạm pháp luật. Bộ Tư lệnh Tác chiến không
gian mạng (Bộ Quốc phòng) được thành lập theo Quyết định số 1198/QĐ-TTg, ngày
15-8-2017, của Thủ tướng Chính phủ, đóng vai trò nòng cốt trong việc bảo đảm an
ninh, an toàn không gian mạng quốc gia, đấu tranh phòng, chống tội phạm công
nghệ cao và “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Luật Báo chí năm 2016,
Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Luật An ninh mạng năm 2018, đều quy định rõ
những hành vi như đăng tải, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, phỉ báng,
phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch
sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin
sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm
của cá nhân... đều bị pháp luật xử lý.
Các thế lực phản động,
thù địch trong và ngoài nước đã và đang lợi dụng tự do ngôn luận để xuyên tạc,
chống phá Đảng và Nhà nước ta, bôi nhọ, nói xấu chính quyền, gây kích động,
hoang mang trong nhân dân, đe dọa an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Chẳng hạn, liên quan đến việc thông qua Luật An ninh mạng, nhiều trang điện tử
và các phần tử phản động đã đưa tin bóp méo, xuyên tạc, cho rằng luật này “đặc
biệt xâm phạm không gian riêng tư”, “vi phạm tự do ngôn luận, báo chí,
internet”. Một số người không đủ thông tin, thiếu hiểu biết nên dễ dàng tin
theo và có những phát ngôn chống đối, cản trở việc thi hành Luật. Vụ việc Đồng
Tâm ngày 9-1-2020 gây chấn động và chia rẽ trong cộng đồng bởi quá nhiều luồng
tin trái chiều trên mạng xã hội. Các thế lực thù địch cũng nhân cơ hội này mà
tuyên truyền nhằm chống phá chế độ…
Hiện tượng tung tin giả
mạo, sai sự thật trên mạng cũng gây ra nhiều hệ lụy. Đơn cử, trong khi Nhà nước
nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát và đẩy lùi dịch bệnh COVID-19, có những kẻ lợi dụng
tình hình dịch bệnh để tuyên truyền thông tin sai trái, xuyên tạc chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước gây hoang mang dư luận xã hội.
Chúng ngụy tạo bức tranh sai lệch về tình hình dịch bệnh tại Việt Nam, phát tán
tin giả, dựng chuyện về số người mắc bệnh, số ca tử vong và loan tin tốc độ lây
lan dịch bệnh lớn hơn nhiều lần con số do Chính phủ công bố, tạo tâm lý sợ hãi
cho cộng đồng, làm xáo trộn đời sống xã hội, gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa nhân
dân với Đảng và Nhà nước. Qua các thông tin vô căn cứ, các thế lực thù địch cố
tình lờ đi những kết quả quan trọng chúng ta đã đạt được, hạ thấp vai trò lãnh
đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước trong xử lý dịch bệnh, vu khống Nhà
nước che giấu thông tin, không ngăn chặn dịch bệnh ngay từ đầu… Không những
vậy, rất nhiều đối tượng còn cố tình tung tin sai sự thật về tình hình dịch
bệnh nhằm trục lợi bất chính. Đó là những thông tin tiêu cực khiến người dân lo
sợ, đổ xô đi mua khẩu trang, lương thực tích trữ, dẫn đến tình trạng “găm”
hàng, “thổi” giá… Những hành vi như thế không thể dùng “tự do ngôn luận” để
biện hộ.
Khi chúng ta ngăn chặn
những thông tin xuyên tạc, sai trái trên, các thế lực thù địch rêu rao rằng,
đây là “một hình thức kiểm duyệt thông tin”, “vi phạm quyền tự do ngôn luận”.
Sự thật là, việc ngăn chặn trên là cần thiết, phù hợp với quy định của pháp
luật, các quốc gia trên thế giới đều phải thực hiện. Sau khi Bộ Thông tin và
Truyền thông đẩy mạnh các hoạt động trao đổi, làm việc với đại diện của
Facebook, Google đề nghị ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật
Việt Nam trên mạng xã hội thì hàng nghìn video, trong đó có những video có nội
dung kích động chống phá Đảng, Nhà nước đã được gỡ bỏ khỏi Youtube; hàng nghìn
đường link có nội dung vi phạm pháp luật, hàng trăm tài khoản giả mạo, tuyên
truyền chống phá Đảng, Nhà nước cũng đã được Facebook ngăn chặn./.
Tự do ngôn luận là quyền con người cơ bản, nhưng luôn phải có giới hạn trong khuôn khổ của pháp luật. Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Như vậy, quyền tự do ngôn luận không phải là tự do tuyệt đối. Trong một số trường hợp nhất định, tự do ngôn luận có thể xung đột với các giá trị hay quyền chính đáng khác.
Đặc biệt, trong bối cảnh
bùng nổ của internet và mạng xã hội, thông tin càng trở nên phức tạp và khó
kiểm soát. Thông qua các trang thông tin điện tử và mạng xã hội, người dùng có
thể tự do bày tỏ ý kiến, quan điểm, đăng tải hay lan truyền bất cứ thông tin gì
thông qua tài khoản cá nhân của mình mà không chịu bất kỳ giới hạn nào. Việc
thể hiện quyền tự do ngôn luận của mỗi người chưa bao giờ trở nên dễ dàng và có
sức lan truyền nhanh chóng đến thế. Nhưng chính điều này cũng mang đến những
nguy cơ khi quyền này bị lạm dụng, nhất là khi những người đăng tải thông tin
trên không gian mạng có quan điểm sai trái, thái độ cực đoan, nhận thức pháp
luật chưa đầy đủ…
Nhìn vào thực tiễn thực
thi pháp luật của nhiều nước trên thế giới, có thể thấy không hề tồn tại cái
được gọi là quyền tự do ngôn luận tuyệt đối. Mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều
kiện và bối cảnh cụ thể mà đưa ra những giới hạn nhất định đối với việc thực
hiện tự do ngôn luận của công dân. Ở Mỹ, giới hạn của tự do ngôn luận được thể
hiện chủ yếu qua án lệ của các tòa án, đặc biệt là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, cho
phép chính quyền ngăn chặn và trừng phạt các phát ngôn có tính chất khiêu dâm,
tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm và gây hấn, mà không bị xem là vi hiến.
Ở Pháp, pháp luật về tự
do ngôn luận đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc trừng trị hành vi lạm
dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người
khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ;
chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù (Luật
Tự do báo chí, năm 1881); chống lại việc xâm phạm đời tư (Bộ luật Dân sự); cấm
xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia (Luật Hình sự). Việc
bày tỏ quan điểm cá nhân trên mạng internet cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự
do báo chí.
Ngoài Pháp, nhiều nước
châu Âu khác cũng rất nghiêm khắc trong vấn đề này nhằm chống lại mọi hình thức
tuyên truyền kích động, tiến hành xử lý hình sự đối với những phát ngôn thù ghét
và kích động. Italia, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ cũng hình sự hóa các hành vi phỉ
báng, xúc phạm danh dự của tổng thống hay các thành viên hoàng gia. Bên cạnh
đó, trong nỗ lực chung nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng tự do ngôn luận để
phát ngôn thù địch, tiêu cực trên internet, Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành
Bộ Quy tắc ứng xử trên internet với sự cam kết hành động của bốn doanh nghiệp
mạng lớn nhất thế giới bao gồm Facebook, Twitter, Youtube và Microsoft. Những
động thái này nhằm “bảo đảm quyền tự do ngôn luận đúng nghĩa của người dân và
tạo cơ sở để xây dựng một xã hội thực sự dân chủ, văn minh”.
Mới đây nhất, giữa “bão”
tin giả về tình hình dịch bệnh COVID-19, một loạt các quốc gia trên thế giới đã
tiến hành nhiều biện pháp xử phạt từ cảnh cáo, phạt tiền đến bỏ tù những kẻ
tung tin đồn thất thiệt. Ở Trung Quốc, hành vi tung tin sai sự thật về dịch
bệnh bị phạt tiền, giám sát công cộng hoặc phạt tù từ 3 năm đến 7 năm nếu gây
hậu quả nghiêm trọng. Ở Hàn Quốc, Tổng thống Moon Jae-in tuyên bố việc lan truyền
thông tin bịa đặt về dịch bệnh là “hành vi phạm tội nghiêm trọng”. Trong khi
đó, ở Malaysia, Chính phủ đã bắt giữ 6 người vì đăng tải thông tin sai lệch về
virus Corona. Cảnh sát Iran cũng bắt giữ một người vì đăng tải video giả mạo,
loan tin một bệnh nhân COVID-19 nhập viện lên mạng xã hội. Tại Anh, một “đơn vị
kiểm soát thông tin sai lệch” đã được thành lập nhằm tiến hành xác định tin giả
về COVID-19 và liên lạc với các doanh nghiệp truyền thông để loại bỏ nó.
Thời gian qua, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được những kết quả tích cực. Ban chỉ đạo 35 các cấp được thành lập, cùng với cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã hoạt động hiệu quả, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Tuy nhiên, trước âm mưu,
thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi,
nham hiểm, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng
của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong
tình hình mới.
Một là, chủ động nắm
tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các đối tượng để đấu tranh làm
thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đấu tranh
bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở
Việt Nam hiện nay cần có những nội dung, phương thức phù hợp với từng thời
điểm, giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang
ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng
của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những
hình thức đấu tranh mới, như: đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian
mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; xây dựng đội ngũ thông tin
viên rộng rãi, nhất là hội viên các đoàn thể nhân dân…
Hai là, tiếp tục tuyên truyền, làm
cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời
sống tinh thần ở nước ta. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW,
ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất
lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác tổng
kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới,
khó, còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận trong nhận thức xã hội. Bằng
các hình thức tuyên truyền phù hợp, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ và
nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của những luận điệu xuyên tạc, sai trái,
thù địch…
Ba là, kiên định, vận
dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh. V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là
một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý
luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần
phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với
cuộc sống”. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin nghĩa là phải nắm vững bản chất
khoa học và cách mạng, vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn
cách mạng nước ta, để những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin có
thêm sức sống mới, được hiện thực hóa, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.
Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, bằng các thủ đoạn, như: Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng...
Về kinh tế, chúng xuyên
tạc, chống phá đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa của nước ta. Các thế lực thù địch âm mưu làm cho nền kinh tế nước ta phát
triển chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng bóp méo các nguyên lý kinh tế cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập định hướng xã hội chủ nghĩa với phát
triển kinh tế thị trường…, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội hình thành nền
“chính trị dân chủ” và “xã hôi dân sự” kiểu tư bản chủ nghĩa.
Về văn hóa, chúng lợi
dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng
Việt Nam; gieo rắc tư tưởng sùng bái lối sống, văn hóa phương Tây; o bế các cây
viết, khuynh hướng, xu hướng văn hóa - văn nghệ cực đoan, phản động; phát tán
những tác phẩm cổ vũ sự chống đối, xúc phạm những giá trị văn hóa truyền thống,
đòi “giải thiêng thần tượng”, “hạ bệ thần tượng”. Các thế lực thù địch lợi dụng
các vấn đề dân chủ, nhân quyền để lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận quần chúng thực
hiện các hành vi chống đối chính quyền; tìm cách khoét sâu vào những yếu kém,
sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc, tạo ra sự hoài nghi, lung
lay trong tư tưởng của đảng viên và nhân dân ta.
Về ngoại giao, tìm cách
cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, lôi kéo, mua chuộc các đối
tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa
những vấn đề nội bộ của Việt Nam; xuyên tạc đường lối đối ngoại, độc lập, tự
chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa của
Việt Nam…
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”. Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Người, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, năm 2016, Đảng ta xác định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”
Dưới ánh sáng của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo
nhân dân tiến hành đấu tranh giành chính quyền, đập tan xiềng xích đô hộ hơn 80
năm của thực dân Pháp, khai sinh ra Nhà nước dân chủ công nông đầu tiên ở Đông
Nam châu Á, tiếp đến là hai cuộc kháng chiến trường kỳ để giành lại độc lập, tự
do cho dân tộc, đưa đất nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau 35 năm đổi
mới, nước ta luôn giữ vững ổn định chính trị, xã hội; đất nước ta chưa bao giờ
có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay… Từ điều kiện thực
tiễn của cách mạng, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đưa cách mạng Việt Nam giành được những thắng
lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đó là minh chứng sống động và thuyết phục,
khẳng định tính đúng đắn của cách mạng Việt Nam trong việc lựa chọn con đường
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên hiện nay, các
thế lực thù địch và phản động đang ra sức đẩy mạnh chống phá Đảng ta, đặc biệt
là trên mặt trận tư tưởng, chính trị; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái
về tư tưởng chính trị, nhận thức không đúng về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh càng khiến cho việc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù
địch gặp nhiều khó khăn, như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ
phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư
tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất
lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
đường lối đổi mới của Đảng”./.
"13
lính biên phòng Ukraine canh gác trên "Đảo Rắn" - một hòn đảo nhỏ ở
Biển Đen gần Romania - đã thiệt mạng hôm 24/2 sau khi đáp lại yêu cầu hạ vũ khí
từ tàu chiến Nga bằng câu nói "hãy biến đi". Đó là những thông tin
không kiểm chứng được đăng tràn lan trên mạng và báo chí chính thống ngày hôm
qua. Thậm chí, trên báo Pháp luật online (PLO) để thu hút người đọc đã giật
tít: Nga chiếm đảo nhỏ Zmiinyi sau khi giết toàn bộ 13 lính biên phòng
Ukraina".
Những
câu chuyện đẫm nước mắt đó hóa ra lại hoàn toàn là tin giả (fake news). 13 binh
sĩ mà báo chí phương Tây phong là "liệt sĩ" lại xuất hiện hoàn toàn
khỏe mạnh, lành lặn, và thực tế là họ đã đầu hàng và được quân đội Nga đối xử
nhân đạo. Không hề có cảnh bắn giết nào. Thậm chỉ, trên đảo không phải có 13
quân nhân, mà thực tế là 82 người. Không hiểu phía Ucraina nắm quân số thế nào
mà không biết mình có bao nhiêu quân ở một địa điểm chiến đấu.
Câu
chuyện giả tưởng "13 liệt sĩ" này vẫn đang được lan truyền trên mạng,
đặc biệt là ở phương Tây, cùng với đó là câu chuyện về phi công "Bóng ma
Kiev", người đã bắn hạ 5 máy bay Nga trong một ngày nhưng tên anh ấy là gì
và máy bay ở đâu thì không ai rõ. Chỉ biết là đây là một đoạn phim lấy từ một
trò game chiến đấu đang phát hành ngoài thị trường.
Những
câu chuyện hoàn toàn từ bộ máy truyền thông phương Tây, không hề có tý kiểm chứng
lại được báo chí trong nước dễ dàng đăng tải, không trích nguồn mà có điền luôn
bút danh của phóng viên. Thế mới thấy, trong bối cảnh cả thế giới quan tâm đến
cuộc chiến Nga - Ucraina, thay vì đưa cho độc giả một cái nhìn khách quan, nhiều
tờ báo lại bẻ cong ngòi bút, sẵn sàng biến mình thành công cụ tuyên truyền của
báo chí phương Tây.
Ái
ngại thật sự!
Thanh
Huyền