Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2022

UNWGAD TRẮNG TRỢN CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA VIỆT NAM

 


         Một “phán quyết” được cho là của Nhóm Công tác về Giam giữ Tùy tiện của Liên Hợp Quốc (UNWGAD) liên quan đến trường hợp Phạm Thị Đoan Trang xuất hiện trên BBC, VOA tiếng Việt và một vài cơ quan truyền thông thiếu thiện chí với Việt Nam trong mấy ngày gần đây.Theo đó, Nhóm này cho rằng việc Việt Nam bắt giữ Phạm Thị Đoan Trang là “tùy tiện”. Thêm nữa họ khoác cho Phạm Thị Đoan Trang cái áo “nhà báo tự do”, “nhà báo độc lập” rồi vu cáo rằng “Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí một cách trắng trợn” và kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho đối tượng ngay lập tức và vô điều kiện. Hành động của UNWGAD là vô lối, trắng trợn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

         Phạm Thị Đoan Trang sinh ra và lớn lên trong một gia đình có nền nếp. Mặc dù được học hành đến nơi, đến chốn, nhưng do sống buông thả, vô tổ chức, thiếu rèn luyện, tu dưỡng, thêm vào đó lại bị một số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong móc nối, tiêm nhiễm tư tưởng phản động, chống đối nên Phạm Thị Đoan Trang đã trượt dài trên con đường tội lỗi. Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân (KSND) TP Hà Nội, hành vi phạm tội của Phạm Thị Đoan Trang là không thể chối cãi. Từ tháng 11/2017 đến tháng 12/2018, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung bóp méo, xuyên tạc sai sự thật nhằm chống phá  Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phạm Thị Đoan Trang đã nhiều lần trả lời phỏng vấn đài báo nước ngoài có nội dung vi phạm pháp luật Việt Nam. Cụ thể hơn, Phạm Thị Đoan Trang cùng một số người đã lập ra trang tin điện tử “luatkhoa…”. Trang tin “luatkhoa…” đăng công khai trên mạng là bản tiếng Việt, trong đó chứa đựng nhiều nội dung thông tin bóp méo, xuyên tạc nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam. Kết quả điều tra của cơ quan an ninh cũng xác định rõ Phạm Thị Đoan Trang có 13 bài trả lời phỏng vấn có âm thanh, hình ảnh; 3 bài gồm ảnh chụp hoặc bài viết xuất bản trên các trang báo nước ngoài, với nhiều nội dung lệch lạc, bóp méo, xuyên tạc làm sai lệch bản chất các sự việc, vấn đề ở Việt Nam. Trước cơ quan chức năng, Phạm Thị Đoan Trang đã xác nhận mình là tác giả của “Báo cáo – nghiên cứu: Đánh giá luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và tình hình thực hiện quyền tín ngưỡng tôn giáo”. Phạm Thị Đoan Trang khai nhận “báo cáo” ấy do mình và một nhóm tác giả viết bằng tiếng Anh vào tháng 10/2017. Sau đó, Phạm Thị Đoan Trang dịch ra tiếng Việt và đăng tải trên trang “luatkhoa…” vào tháng 11/2017. Ngoài ra, Phạm Thị Đoan Trang còn tàng trữ các tài liệu như: “Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam”; “Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam”;… Kết luận của Viện KSND cho thấy, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền “luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Phạm Thị Đoan Trang còn có mối liên hệ mật thiết với nhiều tổ chức phản động lưu vong, đáng lưu ý như “Việt Tân”, “VOICE”…Trước những hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật rất rõ ràng của đối tượng, Cơ quan An ninh điều tra đã khởi tố, bắt tạm giam Phạm Thị Đoan Trang về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự 1999 và tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự 2015. Viện KSND TP. Hà Nội cũng đã ra Quyết định phê chuẩn các Quyết định của Cơ quan An ninh điều tra Công an TP. Hà Nội đối với bị can Phạm Thị Đoan Trang và tiếp tục thực hiện các bước tố tụng để đưa ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật.Đối tượng Phạm Đoan Trang nghe đọc lệnh bắt giữ.

     Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, nhằm điều chỉnh mọi hoạt động tự do ngôn luận, tự do báo chí, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung pháp luật cơ bản đầy đủ và đồng bộ. Trong quy trình xây dựng luật nói chung, Luật Báo chí, Luật An ninh mạng… nói riêng, Việt Nam đều nghiên cứu kỹ, nội luật hóa các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; tổ chức thảo luận và lấy ý kiến dân chủ trong nhân dân. Hai yêu cầu cơ bản mà hệ thống pháp luật của Việt Nam, trong đó có các văn bản luật về tự do ngôn luận, tự do báo chí,… luôn đáp ứng đó là: Phù hợp với thực tế lịch sử, văn hóa truyền thống dân tộc và tương thích với luật quốc tế. Nhìn tổng thể hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về tự do ngôn luận, tự do báo chí nói riêng đã đi vào cuộc sống góp phần rất quan trọng bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, giữ cho môi trường báo chí, không gian mạng của Việt Nam ngày càng an toàn, lành mạnh và hữu ích.

Mặt khác, cần phải hiểu và thống nhất nhận thức rằng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet… phải nằm trong khuôn khổ pháp luật chứ không phải tự do vô tổ chức, vô hạn độ. Không chỉ ở Việt Nam mà mọi quốc gia trên thế giới đều thiết lập hệ thống pháp luật để điều chỉnh hoạt động tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet…phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc. Hệ thống pháp luật của Việt Nam có sự gắn bó chặt chẽ giữa quyền lợi với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Pháp luật Việt Nam không cho phép bất cứ công dân nào lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet và mạng xã hội để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, gây phương hại đến đạo đức xã hội, trật tự công cộng và an ninh quốc gia.

        Kết quả điều tra của cơ quan chức năng cho thấy hành vi vi phạm pháp luật của Phạm Thị Đoan Trang là rất rõ ràng. Việc Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hà Nội ra Quyết định phê chuẩn các Quyết định của Cơ quan An ninh điều tra Công an TP. Hà Nội đối với Phạm Thị Đoan Trang là đúng pháp luật. Là công dân vi phạm pháp luật, Phạm Thị Đoan Trang phải chịu các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật là lẽ đương nhiên. Điều ấy không chỉ ở Việt Nam mà mọi quốc gia trên thế giới đều tiến hành để giữ gìn kỷ cương, phép nước. Việt Nam không bao giờ tùy tiện áp dụng các biện pháp xử lý với công dân khi chưa có đủ cơ sở pháp lý về hành vi vi phạm pháp luật. UNWGAD nói rằng Việt Nam bắt giữ Phạm Thị Đoan Trang một cách “tùy tiện” là hồ đồ, vô căn cứ.Tổ chức “Phóng viên không biên giới” tô vẽ Phạm Thị Đoan Trang như là nhà báo độc lập, đấu tranh với tiêu cực để từ đó quy kết Việt Nam không có tự do báo chí. Trước khi có các hành vi vi phạm pháp luật, Phạm Thị Đoan Trang là cộng tác viên, phóng viên của một số cơ quan báo chí nhưng đã bị xử lý kỷ luật và buộc thôi việc. Phạm Thị Đoan Trang không phải là nhà báo như UNWGAD nghĩ. Theo quy định của pháp luật, tại Việt Nam chỉ có phóng viên, nhà báo công tác tại các cơ quan báo chí, truyền thông và sinh hoạt trong Hội Nhà báo Việt Nam. Ở Việt Nam không có “nhà báo tự do”, “nhà báo độc lập” hay “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam” như một số tổ chức, cá nhân thù địch, phản động thường rêu rao. Mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật. Mọi công dân dù là ai, làm nghề gì, ở vị trí nào nếu vi phạm pháp luật thì đều phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet và mạng xã hội. Trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, mỗi người dân phải đặt lợi ích tập thể, lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu, thể hiện rõ tinh thần “Thượng tôn pháp luật”, vì sự trong sạch của môi trường báo chí, môi trường Internet và mạng xã hội; vì sự bình yên của xã hội và sự phát triển của đất nước. Việt Nam kiên quyết xử lý mọi hành vi đi ngược tinh thần đó, vi phạm các quy định của pháp luật về tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet và mạng xã hội. Tại Việt Nam không có bất kỳ công dân nào bị xử lý khi thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet và mạng xã hội theo đúng pháp luật. Việc UNWGAD và một số cơ quan truyền thông ở hải ngoại lu loa rằng, Việt Nam bắt giữ Phạm Thị Đoan Trang là “tùy tiện”, “vi phạm quyền tự do ngôn luận một cách trắng trợn”… thực chất là chiêu trò “lập lờ đánh lận con đen” để lấp liếm, bao che cho kẻ vi phạm pháp luật, chống phá Việt Nam. Hành vi kêu gọi chính quyền trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho Phạm Thị Đoan Trang của UNWGAD và một số cơ quan truyền thông thiếu thiện chí ở hải ngoại là vô lối, trắng trợn can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ; trái với Công ước quốc tế và vi phạm pháp luật Việt Nam./.

 

CHĂM LO BỒI ĐẮP, PHÁT TRIỂN KIỂU MẪU NHÂN CÁCH “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

Hình ảnh và tên gọi “Bộ đội Cụ Hồ” là hiện tượng rất độc đáo trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc Việt Nam nói chung và văn hóa quân sự Việt Nam nói riêng.
“Bộ đội Cụ Hồ” là cách gọi rất Việt Nam, thật gần gũi. “Bộ đội Cụ Hồ” không chỉ là tên gọi trìu mến nhân dân dành cho quân đội mà còn là một danh hiệu, một vinh dự lớn đối với những chiến sĩ của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.
Nhân dân ta gọi “Bộ đội Cụ Hồ”, vì Cụ Hồ-tên gọi trìu mến của nhân dân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh-là người tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân ta, là hiện thân của niềm tin sức mạnh, là hình ảnh tiêu biểu cho tất cả những giá trị cao đẹp của dân tộc Việt Nam, của văn hóa Việt Nam. Nhân dân ta gọi Quân đội của mình là bộ đội của Cụ Hồ, vì cảm nhận một cách sâu sắc quan hệ đặc biệt hiếm có giữa Bác và Quân đội, Bác và những người chiến sĩ. Nét đặc sắc trong đạo đức và tình cảm của Bác là vô cùng gần gũi, yêu thương bộ đội, tin tưởng ở tinh thần dũng cảm và sáng tạo của bộ đội, hiểu thấu và thông cảm những gian khổ, khó khăn, hy sinh của người chiến sĩ.
Có thể đi tìm nguồn gốc sâu xa của kiểu mẫu nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” từ các nhân tố mang ý nghĩa chính trị, văn hóa và lịch sử rất sâu sắc.
Nếu xét ở góc độ truyền thống dân tộc và truyền thống văn hóa dân tộc, kiểu mẫu “Bộ đội Cụ Hồ” còn có nguồn gốc sâu xa hơn, bởi vì nó không chỉ là sản phẩm của hơn 77 năm mà còn bắt nguồn, nối tiếp và phát triển của kiểu mẫu những nghĩa sĩ, nghĩa binh, nghĩa quân của cả nghìn năm lịch sử dân tộc Việt Nam.
Di sản quý báu nhất có từ trong khói lửa của các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta để lại cho thế hệ hôm nay là truyền thống bất khuất, ý chí quật cường của cha ông. Di sản, truyền thống ấy còn là tư tưởng quân sự “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn”, “Lấy chí nhân thay cường bạo” và tinh thần “Phụ tử chi binh” của thời Trần, “Huynh đệ chi binh” của thời Lê, thời Tây Sơn. Tinh thần đó làm cơ sở để sau này chúng ta xây dựng quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ.
Như vậy, kiểu mẫu nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử đấu tranh, trong truyền thống văn hóa lâu đời và độc đáo của dân tộc ta. Nó có sức sống bền vững, có khả năng củng cố, phát triển suốt chiều dài lịch sử.
Những đặc trưng cơ bản của danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” được đúc kết trong lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/1964): “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” chứa đựng một cách đầy đủ và tập trung nhất những phẩm chất tốt đẹp của Quân đội mà mỗi chiến sĩ đã thực hiện đúng những lời dạy của Người.
Trước hết họ từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Ngay từ khi mới thành lập, họ đã được nhân dân coi như con em. Họ luôn luôn gắn bó với dân, được dân tin, dân phục, dân yêu vì dám xả thân “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”. Nói Quân đội ta “hiếu với dân” là do vậy.
“Bộ đội Cụ Hồ” là những chiến sĩ có lòng trung thành tuyệt đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Trung thành với Đảng cũng là trung thành với Tổ quốc Việt Nam, bởi Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, của dân tộc, lợi ích của Đảng là lợi ích của dân tộc. Trung với nước, trung với Đảng được biểu hiện ở lòng yêu Tổ quốc thiết tha, căm ghét mọi kẻ thù xâm lược và các thế lực không tôn trọng độc lập, chủ quyền và sự nghiệp cách mạng của chúng ta, là tinh thần quyết chiến, quyết thắng, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Lòng trung thành của “Bộ đội Cụ Hồ” với Tổ quốc là sự kế thừa truyền thống “dẫu trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác ta bọc trong da ngựa cũng nguyện xin làm” của những người lính thời Trần.
Vì chung một lý tưởng, đều là con em nhân dân nên “Bộ đội Cụ Hồ” có phẩm chất rất đặc biệt, đó là sâu thẳm tình đồng đội. Đồng đội đồng thời cũng là đồng chí. Đây là nét rất đặc thù của quân đội cách mạng. Nếu như những người lính trước đây coi nhau như “huynh đệ” (anh em) thì đến giữa thế kỷ 20, những chiến sĩ trong QĐND Việt Nam đã nâng lên thành tinh thần đồng đội, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau lúc thường cũng như khi ra trận. “Nghĩa tình đồng đội”, “tình bạn chiến đấu”, “đi tìm đồng đội”, “tâm tình đồng đội”... từ lâu đã trở thành những nét đẹp trong đời sống quân đội và trong cộng đồng người Việt Nam.
“Bộ đội Cụ Hồ” không chỉ là những người cầm súng thuần túy. Từ khi mới ra đời, Quân đội ta đã được xác định nhiệm vụ là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Trong thời chiến, lúc hòa bình, 3 chức năng chiến đấu, công tác và sản xuất đều được coi trọng. Gan dạ và dũng cảm, mưu trí và sáng tạo, tự lực tự cường, kiên nhẫn và nhiệt tình luôn luôn là những truyền thống tốt đẹp của người chiến sĩ QĐND Việt Nam. Truyền thống này có nguồn gốc từ thời Lý-Trần với chính sách “ngụ binh ư nông”.
Một nét đặc trưng tiêu biểu khác của “Bộ đội Cụ Hồ”, đó là tinh thần kỷ luật, tự giác cao. Trước đây, trong lịch sử, những người lính Việt Nam đã có truyền thống “quân lệnh như sơn”; thời nay, “Bộ đội Cụ Hồ” luôn được rèn luyện bằng “12 điều kỷ luật”, bằng việc chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và mệnh lệnh của cấp chỉ huy.
“Bộ đội Cụ Hồ” còn là những người lính có tinh thần quốc tế cao cả. Từ truyền thống nhân ái của dân tộc “tắt lửa tối đèn có nhau”, “thương người như thể thương thân”, mấy mươi năm qua, với tinh thần “cứu bạn là tự cứu mình” đầy nhân văn, nhân ái, nhiều thế hệ chiến sĩ QĐND Việt Nam đã trở thành người chiến sĩ quốc tế, những “tình nguyện quân”, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, chiến đấu bên cạnh các chiến sĩ và nhân dân Lào, Campuchia trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, các cuộc chiến đấu chống lại các thế lực tay sai, phản động. Tinh thần quốc tế cao cả, vô tư của “Bộ đội Cụ Hồ” là một nét rất mới trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc Việt Nam.
Sự xuất hiện của “Bộ đội Cụ Hồ” trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc gần 80 năm, thời gian đó so với lịch sử dân tộc là không dài, nhưng chỉ bằng thời gian đó, hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” đã đi vào lịch sử, đời sống đất nước, cộng đồng một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn và trở thành một trong những giá trị văn hóa tiêu biểu của thời đại mới. Và cũng từ đó, “Bộ đội Cụ Hồ” trở thành nhân vật trung tâm của văn hóa, văn nghệ cách mạng.
Trong các quan hệ ấy, lịch sử gần tám thập niên qua đã xây đắp nên một quan hệ cực kỳ đặc biệt, đó là người mẹ và người chiến sĩ. Với các mẹ, thì chưa có nơi nào, thời nào, người lính lại được sống trong tình thương yêu lớn lao như thế, “mẹ chiến sĩ”, “mẹ bộ đội”, “mẹ anh hùng”, “mẹ Việt Nam”... là những hình tượng đã đi vào lịch sử, vào đời sống, đi vào thơ, nhạc, những ca khúc và những áng thơ văn bất hủ.
Những người mẹ Việt Nam tin tưởng quân đội là trường học lớn, ở đó, những người con của các mẹ không chỉ được học về kỹ thuật, chiến thuật để chiến đấu mà còn được giáo dục, rèn luyện về văn hóa, nếp sống, về lòng quả cảm, đức hy sinh và lòng nhân ái, vị tha. Ở đó, quân đội là “gia đình lớn” vì những người chiến sĩ coi nhau như anh em một nhà, bất kể quê hương, dân tộc, tôn giáo. Trong gia đình ấy, chỉ có tình thương và chữ “đồng”: Đồng chí, đồng đội, đồng hương. Chưa thời nào, chưa thấy ở đâu, tình thương yêu lại sâu nặng, gắn bó như tình đồng đội của “Bộ đội Cụ Hồ”.
“Bộ đội Cụ Hồ” với những biểu hiện đẹp đẽ đó đã là biểu tượng tiêu biểu và đáng tự hào của dân tộc Việt Nam anh hùng, đã được nhân dân ca tụng là “con người đẹp nhất”, được coi là khát vọng vươn tới của tuổi trẻ.
Nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”, tất nhiên, nó không phải là sản phẩm tự phát, mà đó là quá trình rèn luyện, phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân. Bởi vậy, việc tiếp tục nuôi dưỡng, tô thắm, xây dựng, phát triển kiểu mẫu nhân cách đó lúc này và trong tương lai là nhiệm vụ cực kỳ to lớn.
Để có thể làm tốt nhiệm vụ đó, điều cần thiết là phân tích đặc trưng nhân cách này, tìm ra những giá trị cốt lõi, bền vững, những giá trị mang tính đặc thù của một giai đoạn lịch sử; đồng thời phân tích sự tác động phức tạp của đời sống đương đại hiện nay đối với các giá trị đó, từ đó vừa củng cố các giá trị truyền thống, vừa bổ sung những giá trị mới cần có của nhân cách, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ cách mạng mới.
Nếu như đặc trưng lịch sử và văn hóa của “Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành một sức mạnh to lớn, sức hấp dẫn mãnh liệt đối với nhân dân và các thế hệ thanh thiếu niên trong 30 năm kháng chiến đã qua, thì hiện nay, nó đang bị thử thách một cách quyết liệt, từ cả hai góc độ: Thực tế và tâm lý. Nếu tạo ra trong cảm nhận của con người hôm nay, rằng kiểu mẫu ấy chỉ là sản phẩm đẹp của quá khứ, sẽ dẫn tới xuất hiện hai dạng tâm lý: Tâm lý chỉ có thể ngưỡng mộ (kính nhi viễn chi) hoặc tâm lý thất vọng và như vậy sẽ không thể tiếp tục phát triển được kiểu mẫu nhân cách đó trong hiện tại và tương lai với tư cách là một giá trị văn hóa quân sự bền vững.
Nếu chỉ làm thao tác đối chiếu ít nhiều máy móc giữa nhân cách, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong quá khứ với người chiến sĩ hôm nay, lấy chuẩn mực quá khứ, vốn rất đẹp nhưng là sản phẩm có tính đặc thù về mặt quân sự và văn hóa, làm thước đo tuyệt đối, sẽ khó có khả năng chủ động để tiếp tục nuôi dưỡng và xây dựng nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” trong giai đoạn mới. Công việc ở đây sẽ là, xác định những giá trị văn hóa cốt lõi và cơ bản trong nhân cách, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đã được hình thành trong lịch sử để củng cố, khẳng định, đồng thời bổ sung, phát triển những nhân tố mới, trước những đòi hỏi và đặc điểm rất mới của giai đoạn lịch sử hiện nay và sắp tới.
Ví dụ như giá trị cốt lõi và cao quý nhất trong nhân cách, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” bao giờ cũng là lòng trung thành vô hạn với mục tiêu và lý tưởng chiến đấu của Đảng và nhân dân, là ở sự sẵn sàng cống hiến cuộc đời mình cho lý tưởng đó. Giá trị đó nhất thiết phải được bảo vệ và phát triển. Nhưng con đường để tạo nên nó trong phẩm chất, nhân cách người chiến sĩ hôm nay lại hoàn toàn khác trước.
Phải đặt họ trong một tình thế lựa chọn mang tính hiện thực và rất gay gắt giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa sống và chết, giữa được và mất, giữa giá trị tinh thần và nhu cầu vật chất, giữa các xu hướng vận động đang diễn ra phức tạp hiện nay để giúp họ lựa chọn đúng nhất, tự tin nhất với sự mách bảo của tình cảm, của danh dự người chiến sĩ và cả sự sáng suốt của lý trí. Nối tiếp truyền thống quý báu, luôn luôn lấy tình cảm cách mạng làm cội nguồn sức mạnh của người lính, đồng thời cần nâng cao không ngừng tri thức, trí tuệ cách mạng.
Sự ra đời và phát triển của một kiểu mẫu nhân cách mới không bao giờ là một quá trình tự phát hay chờ có sẵn, tự nhiên mà có. Đó là cuộc đấu tranh không mệt mỏi, đầy trí tuệ, một công việc cực kỳ công phu, tinh tế và sâu sắc-sự nghiệp “trồng người” cần trăm năm nuôi dưỡng và chăm sóc như Bác Hồ đã dạy.
Hình ảnh cao đẹp với những giá trị văn hóa quân sự sâu sắc của nhân cách, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đã được yêu thương và quý trọng trong những năm qua chỉ có thể được tiếp tục khẳng định và phát triển thời gian tới trên cơ sở của một quá trình tô thắm, nuôi dưỡng và xây dựng bền bỉ, với một công phu to lớn và một trí tuệ khoa học, cách mạng./.
                                                                                        Theo GS, TS Đinh Xuân Dũng

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 07/3/1960

 “Phải đi đúng đường lối quần chúng, liên hệ mật thiết với quần chúng, dựa vào lực lượng quần chúng. Quần chúng thông suốt về phương châm, phương pháp của Đảng và Chính phủ thì nhất định sẽ làm được và làm tốt”.
Ngày 07 tháng 3 năm 1960, phát biểu tại Hội nghị Tổng kết công tác Thủy lợi năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “… phải đi đúng đường lối quần chúng, liên hệ mật thiết với quần chúng, dựa vào lực lượng quần chúng. Quần chúng thông suốt về phương châm, phương pháp của Đảng và Chính phủ thì nhất định sẽ làm được và làm tốt”.
Bài nói của Người được đăng tải trên báo Nhân dân, số 2182 ra ngày 9 tháng 3 năm 1960. Người đánh giá cao những kết quả về công tác thủy lợi mà cán bộ và nhân dân ta đạt được trong những năm đầu khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội sau chiến tranh. Người tin tưởng rằng nhân dân ta nếu có cố gắng sẽ nhất định cải tạo tự nhiên, “nhân định thắng thiên”; đồng thời căn dặn cán bộ phải đi đúng đường lối quần chúng, liên hệ mật thiết với quần chúng, dựa vào quần chúng để phát triển kinh tế. Lời của Bác tuy ngắn gọn nhưng mang giá trị tư tưởng cao, tính giáo dục lớn, không chỉ bó hẹp ở công tác thủy lợi mà trên mọi mặt công tác nói chung, phải biết lấy dân làm gốc, tin ở dân, gần gũi dân, biết dựa vào dân. Chính quần chúng nhân dân là lực lượng cách mạng đông đảo nhất, trực tiếp thực hiện đường lối cách mạng, biến đường lối cách mạng của Đảng thành hiện thực.
Vận dụng lời dạy của Bác trong quá trình đổi mới hiện nay, Đảng ta tiếp tục phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, biết dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh của nhân dân để vượt qua khó khăn, đưa đất nước đi vào ổn định và phát triển. Những thành tựu đất nước đạt được qua 30 năm đổi mới là minh chứng rõ ràng của sức mạnh quần chúng nhân dân. Quá trình đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có nhân dân tham gia, nhân dân đồng tình hưởng ứng để tạo thành một sức mạnh tổng hợp của sự đoàn kết toàn Đảng, toàn dân vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trong quân đội, từ thực tiễn xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng đã khẳng định đoàn kết quân dân là một trong những nguồn gốc quan trọng đối với việc củng cố, tăng cường sức mạnh của Quân đội, không chỉ có ý nghĩa, giá trị trong lịch sử, mà còn được vận dụng trong củng cố, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội trong điều kiện mới. Đòi hỏi phải không ngừng củng cố, tăng cường nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng, gắn bó với nhân dân. Mọi chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ huy phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ quan, đơn vị, nguyện vọng của quần chúng. Đẩy mạnh tuyên tuyền vận động quần chúng tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
   ST

KIÊN QUYẾT GIỮ VỮNG VÀ BẢO VỆ NGỌN CỜ SOI ĐƯỜNG CHỈ LỐI CỦA ĐẢNG

Tổng kết quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, nhất là những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm rất quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.
Từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của thời đại, tác phẩm của Tổng Bí thư đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học trong nhận thức và hành động thực tế xây dựng CNXH ở Việt Nam, làm rõ CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào, từ phương châm, hình thức, bước đi phù hợp để hoàn thiện đường lối quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Điều đó đòi hỏi xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến và tính đặc thù.
Tác phẩm đã làm rõ hơn nội dung và khả năng bỏ qua chủ nghĩa tư bản, kế thừa những thành tựu, giá trị văn minh nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Tác phẩm nhấn mạnh yếu tố bảo đảm xây dựng thành công CNXH là phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản chân chính cách mạng dựa trên học thuyết cách mạng, tính khoa học và cách mạng triệt để của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Tác phẩm của Tổng Bí thư có giá trị lý luận căn bản và ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc, toàn diện đưa Việt Nam tiến tới một nước XHCN hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.
Tác phẩm có sự đóng góp xứng đáng vào kho tàng lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH mà các nước trên thế giới đang hướng tới. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng đặt ra yêu cầu cần thiết phải học tập, quán triệt sâu sắc tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư.

MỘT BẢN ÁN XỨNG ĐÁNG CHO KẺ XÚC PHẠM QUỐC KỲ

 


Trong mấy ngày qua sau “Tết con Hổ” (Nhâm dần), trên mạng đăng tải thông tin về kẻ xúc phạm Quốc kỳ bị phạt tù. Nội dung thông tin này là: “Sau gần 3 năm được tạm hoãn thi hành án vì đang có thai và nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, bị cáo Huỳnh Thục Vy (HTV) nay buộc phải chấp hành thi hành án phạt tù 2 năm 9 tháng về tội “xúc phạm Quốc kỳ”. Mấy nhà “Dân chủ Nhân quyền” dởm thì cho rằng… bản án quá nặng và vô nhân đạo (khi người mang án lại là một người đang nuối con nhỏ…; Nên tha bổng mới phải). Tác giả thì cho rằng… đây là một bản án còn nhẹ… vì HTV đã có tiền án, không loại trừ HTV đang test xem chính quyền có dám đụng đến Y hay không và phương Tây sẽ phản ứng ra sao.

Theo thông tin này thì: Ngày 1/12, thông tin từ TAND thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk cho biết: ”Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thị xã Buôn Hồ tổ chức thi hành Quyết định thi hành án phạt tù đối với bị cáo HTV (36 tuổi, trú tại tổ dân phố Hợp Thành 2, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ)…

Trước đó vào chiều 30/11/2018, TAND thị xã Buôn Hồ đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên phạt HTV: 2 năm 9 tháng tù về tội “xúc phạm Quốc kỳ”- theo quy định tại Điều 276 (Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009) và theo Điều 276 (Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Theo cáo trạng: Do coi thường pháp luật, vào lúc 11h ngày 1/9/2017, tại tổ dân phố Tân Hà 2, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ, Huỳnh Thục Vy điều khiển xe máy mang BKS 59T1.226.00 lưu thông trên đường Hồ Chí Minh. Khi đến trước số nhà 1222 đường Hùng Vương, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ, HTV một tay cầm lá cờ Tổ quốc, một tay dùng bình sơn mini (màu trắng) xịt lên chính giữa ngôi sao của 2 lá cờ Tổ quốc do UBND phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ cắm trước số nhà 1222 và 1224 nhân Kỷ niệm 72 năm Ngày Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Sau khi xịt sơn, Vy lấy điện thoại di động chụp hình Vy cùng 2 lá cờ rồi điều khiển xe máy về nhà. Trên đường đi về, Vy đã vứt bỏ bình sơn vào thùng rác bên đường.

Đến khoảng 12h16 cùng ngày, Vy đăng hình ảnh chụp với 2 lá cờ Tổ quốc bị xịt sơn lên mạng xã hội Facebook và ghi nội dung “Phản đối lễ lạc bằng cờ đỏ sơn trắng”. Ngày 3/9/2017, Công an phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ phát hiện 2 lá cờ Tổ quốc cắm trước số nhà 1222 và 1224, đường Hùng Vương, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ bị dính nhiều chất màu trắng ở phần ngôi sao nên đã lập biên bản tạm giữ và bàn giao cho Công an thị xã Buôn Hồ điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Theo cáo trạng, HTV từng có một tiền sự, về hành vi “Cung cấp, trao đổi, tuyên truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số để chống Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”. Tuy nhiên, bị can vẫn chưa chịu chấp hành hình phạt này. Bình luận về thông tin trên nhiều tài khoản đã bức xúc viết:

1-Bản án cho HTV còn nhẹ… Lá cờ Tổ quốc là biểu tượng thiêng liêng,… đã có không biết bao nhiêu đồng bào chiến sỹ hy sinh cho Độc lập tự do của Tổ quốc- mà lá cờ đó là biểu tượng tập trung nhất;

2- Có người thì cho rằng: Lá cờ đó đã sánh vai với gần 200 lá cờ của các quốc gia tại Liên hợp quốc;

3- Tác giả bài viết này thì nhớ lại: Lá cờ đỏ sao vàng đã từng nhuốm máu chiến sỹ bảo vệ đảo Gạc Ma chống quân xâm lược Trung quốc, 1988… Và bản án cho HTV - kẻ ngu dốt, điên khùng,… là nhân văn. HTV bôi bẩn lá cờ không giống như trẻ nhỏ vô ý thức mà có ý thức rõ ràng... Bởi vậy có thể nói: Bản án giành cho HTV là cần thiết, nhân văn-để cho Y tỉnh lại, làm người, làm một công dân đất Việt. St

 

GIÂY PHÚT CẢM TỬ CỦA NHỮNG TƯỢNG ĐÀI BẤT TỬ!

 

Để góp phần vào sự thành công của chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) đã có nhiều tấm gương anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ, những người chiến sỹ mang trên mình một tình yêu Tổ quốc, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc như: Bế Văn Đàn lấy vai làm giá súng; Tô Vĩnh Diện dùng thân chèn pháo; Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai; Trần Can hiên ngang dẫn đầu tiểu đội vượt qua lô cốt tiền duyên để xông vào sở chỉ huy, rồi cắm cờ lên lô cốt Him Lan…

Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” mãi mãi là niềm tự hào, là biểu tượng sáng ngời của ý chí quyết tâm và sức mạnh Việt Nam. Chiến thắng ấy đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi “nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”.

Dù trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ dù phải hy sinh cả tính mạng khi còn ở tuổi thanh xuân các anh vẫn luôn nêu cao tinh thần bất khuất, chí khí anh hùng, lẫm liệt để gìn giữ lý tưởng sống mà họ đã chọn và truyền lại cho nhiều thế hệ thanh niên viết tiếp trang sử vàng của dân tộc Việt Nam. St

 

 

TRÒ LỐ "YÊU CHUỘNG HÒA BÌNH" CỦA ANH EM DÂN CHỦ!

         Từ ngày hôm qua, liên tục các đoàn đại diện cho các tổ chức xã hội dân sự (bản chất là mấy tay dân chủ cuội) đã liên tục kéo đến đại sứ quán Ucraina tại Hà Nội để trao "thư ủng hộ", tiền quyên góp cho chính phủ Ucraina. Từ anh võ sư thất trận Châu Đoàn đến mấy anh đảng viên biến chất như Nguyễn Đình Cống, Nguyễn Khắc Mai...

 Nhìn cách các anh gặp gỡ chị đại biện Ucraina, lôi chị ta ra chụp ảnh kèm theo mấy dòng chữ chuẩn bị sẵn mà tôi cứ cảm thấy lố lăng, kịch cỡm, ô hợp làm sao. Nếu thực tâm yêu chuộng hòa bình, lên án chiến tranh, sao trong các cuộc chiến của Mỹ xâm lược Lybia, Syria, Iraq,… chưa bao giờ thấy mặt các anh xuất hiện ủng hộ những người dân ở đây, vậy là khi xung đột Nga - Ucraina, anh lại mở miệng phản đối chiến tranh, lên án xâm lược. Hay chỉ là bắt trend phản đối của đài báo phương Tây mà thôi.

Tất nhiên, việc các anh tặng tiền, hiện vật là quyền của các anh nhưng việc các anh phóng đại lên thành các tổ chức, cá nhân thuộc xã hội dân sự ủng hộ Ucraina là điều vớ vẩn. Nói chính xác, việc quyên góp lần này nhằm hỗ trợ người dân Ucraina chỉ là vỏ bọc mà thực tế, chỉ nhằm tuyên truyền khuếch trương thanh thế của các tổ chức hội nhóm bất hợp pháp này dưới danh nghĩa các “tổ chức xã hội dân sự” của đám trí thức chống đối mà thôi.

Đó là chưa kể, lợi dụng việc kêu gọi quyên góp ủng hộ Ucraina, đám nhân sĩ chống đối như Châu Đoàn, Nguyễn Đình Cống còn xuyên tạc chủ trương, đường lối của Việt Nam, đả kích đường lối trung lập của Việt Nam trong vấn đề Nga-Ucraina, hòng làm xấu quan hệ ngoại giao của Việt Nam.Nhìn đi thì cũng phải nhìn lại, riêng về màn tấu hài lần này, anh em cũng hợp với chị đại biện Ucraina phết đấy, đúng là song kiếm hợp bích có khác./.



Yêu nước ST.

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU PHỤ NỮ TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII DIỄN RA TỪ 9 ĐẾN 11/3/2022

 


Về dự Đại hội có 1.000 đại biểu chính thức là những phụ nữ tiêu biểu, đại diện cho các lực lượng phụ nữ, các dân tộc, tôn giáo và các lĩnh vực hoạt động khác nhau trong cả nước và khoảng 200 đại biểu khách mời.

Sáng 1/3, tại Hà Nội, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức họp báo thông tin về Đai hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2022-2027.

Là nhiệm kỳ đầu tiên thực hiện Chiến lược phát triển Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035, với chủ đề: Phát huy truyền thống, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập; xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, vì hạnh phúc của phụ nữ, vì sự phồn vinh của đất nước, Đại hội sẽ đánh giá phong trào phụ nữ và hoạt động Hội 5 năm qua và đề ra phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ 2022-2027; Bầu Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa XIII.

Về dự Đại hội có 1.000 đại biểu chính thức, trong đó, đại biểu cao tuổi nhất là Trần Tố Nga, 80 tuổi thuộc đoàn đại biểu thành phố Hồ Chí Minh, đại biểu trẻ tuổi nhất là Lê Mỹ Quỳnh, 24 tuổi, Chuyên gia nghiên cứu bảo mật, Thủ khoa đầu ra Học viện Kỹ thuật Mật mã năm 2021 thuộc đoàn đại biểu Hội Nữ trí thức Việt Nam.

Trong khuôn khổ đại hội, sẽ diễn ra các hoạt động khác như: Khai mạc triển lãm “Phụ nữ Việt Nam viết tiếp những ước mơ” và phát động nhắn tin ủng hộ chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương” chung tay xây dựng ít nhất 130 mô hình sinh kế cho phụ nữ vùng biên giới; Chương trình Đối thoại 2030-Thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao quyền năng của phụ nữ; phát động “Tuần lễ áo dài”…

Phát biểu ý kiến tại buổi họp báo, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Minh Hương cho biết, mục tiêu chung của nhiệm kỳ 2022-2027 đó là phát huy truyền thống, tinh thần đoàn kết, sáng tạo, chủ động hội nhập, ý thức làm chủ của các tầng lớp phụ nữ; xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, tích cực xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ. Phấn đấu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, khẳng định vị thế tổ chức tiên phong hành động vì hạnh phúc của phụ nữ, có tầm ảnh hưởng trong khu vực và quốc tế; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước.

Về việc chuẩn bị dự thảo các văn kiện trình Đại hội, đồng chí nhấn mạnh, các văn kiện đã được tiến hành công phu, bài bản, có nhiều đổi mới quan trọng về nội dung và phương pháp. Báo cáo đã quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kế thừa và phát triển, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, kết tinh được trí tuệ, phản ánh nguyện vọng, nhu cầu thiết thân, khát vọng phát triển của các tầng lớp phụ nữ và tổ chức Hội. St

 

LỊCH SỬ LƯU DANH


CÁC VỊ TƯỚNG THAY NHAU TỔNG CHỈ HUY ĐỀU BẠI TRẬN TRƯỚC ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

    Pháp thực hiện Chiến tranh Đông Dương, trước nhất Chiến tranh Việt Nam gọi là Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Kể từ ngày 23/9/1945 đến 7/5/1954 rồi ký kết hiệp định Genève kết thúc chiến tranh, Pháp đã cử sang Chiến trường Đông Dương 7 vị tướng làm Tổng chỉ huy nhưng tất cả đều thất bại trước một tướng (Võ Nguyên Giáp). 7 tướng Pháp đó lần lượt là:

1. Philippe Leclerc de Hauteclocque: Giữ chức tháng 8/1945 - 7/1946; Hàm Trung tướng (sau truy phong là Thống chế, tương đương Nguyên soái): Thất bại trong chiến lược đánh nhanh thắng nhanh.

2. Jean Étienne Valluy: Giữ chức tháng 7/1946 - 2/1948; Hàm Trung tướng (sau là Đại tướng). Thất bại trong chiến dịch Thu Đông 1947, bị thay thế.

3. Raoul Salan: Giữ chức tạm quyền tháng 2/1948 - 4/1948; Hàm Thiếu tướng (sau là Đại tướng).

4. Roger Blaizot: Giữ chức tháng 4/1948 - 9/1949; Hàm Trung tướng. Không thực hiện được chiến lược “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt trị người Việt”, cũng bị thay thế.

5. Marcel Maurice Carpentier: Giữ chức tháng 9/1949 - 12/1950; Hàm Trung tướng (sau là Đại tướng). Thua đau tại Chiến dịch Biên giới bị thải hồi, Pháp đưa Tassigny sang thay.

6. Jean de Lattre de Tassigny: Giữ chức tháng 12/1950 - 12/1951: Hàm Đại tướng, kiêm Cao ủy. Năm 1951 con trai của ông là viên trung úy chết sau một cuộc tấn công của Việt Minh tại Ninh Bình, ông đưa xác con về Pháp mai táng rồi sang Việt Nam chọn Hòa Bình làm điểm quyết chiến mới. Vào thời điểm này, cái chết của con trai làm ông thêm suy sụp, bản thân lâm bệnh phải về nước và qua đời tại Pháp khi cuộc chiến còn dang dở.

7. Raoul Salan: Giữ chức tháng 1/1952 - 5/1953; Hàm Trung tướng (sau là Đại tướng). Năm 1948, ông là chỉ huy tất cả các lực lượng trên bộ của Pháp ở Đông Á, lên thay Tassigny. Tướng này lại bị thất bại trong 3 chiến dịch liên tiếp (Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào), tháng 5/1953, Pháp triệu hồi tướng Salan để thay thế.

8. Henri Navarre: Giữ chức tháng 5/1953 - 5/1954; Hàm Trung tướng. Navarre cử tướng dưới quyền là De Castriesi chỉ huy nằm tại chiến trường Điện Biên phủ. Song đây là tướng bị thua đậm nhất ở khắp các chiến trường Đông Dương. Trận thua đau nhất là ở chiến trường Điện Biên Phủ tháng 5/1954. St

 

 

UKRAINE QUÁ DẠI DỘT KHI TÌM CÁCH VƯỢT LẰN RANH ĐỎ CỦA NGA!

         Ứng xử của Ukraina lúc ngả Tây, lúc ngả Đông làm cho bản thân họ sống giữa cạnh tranh nước lớn mà không thể lựa chọn được môi trường hòa bình, hữu nghị, ổn định để hợp tác, phát triển.

Đại sứ Phạm Quang Vinh - Cố vấn cao cấp Trung tâm nghiên cứu chiến lược và phát triển quốc tế cùng Đại sứ Hoàng Anh Tuấn, nguyên Phó tổng thư ký ASEAN chia sẻ góc nhìn về xung đột Nga Ukraina.

Căn nguyên chiến sự

- Đại sứ Hoàng Anh Tuấn có thể điểm những diễn biến chính đang xảy ra hiện nay?

- Câu chuyện này bắt nguồn từ sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh đến nay, gần hơn là năm 2014 khi Nga sáp nhập Crimea, tiếp theo là một số xáo trộn ở khu vực Donbass, phía Đông của Ukraina, nơi có hai nước Cộng hoà tự xưng là Donetsk và Luhansk. Gần đây nhất là từ cuối năm 2021 đến nay, tình hình trở nên căng thẳng với một số diễn biến sau:

Tháng 12/2021, Nga gửi Mỹ và NATO bản đề nghị an ninh gồm 8 điểm, trong đó nêu rõ các quan ngại an ninh. Nga đưa ra các lằn ranh đỏ như Ukraina không trở thành thành viên của NATO, NATO không tiếp tục mở rộng sang phía Đông, NATO quay trở lại điểm xuất phát năm 1997 – nghĩa là trước khi mở rộng sang phía Đông, kết nạp các nước Đông Âu và 3 nước CH Baltic làm thành viên mới mà Nga cho là đe dọa nghiêm trọng đến an ninh và lợi ích chiến lược của Nga.

Khoảng 1 tháng rưỡi sau, Mỹ và NATO có gửi lại bản phản hồi đề nghị của Nga, trong đó các đề nghị không được đáp ứng thoả đáng. Mỹ và phương Tây cho rằng tất cả quốc gia có chủ quyền như Ukraina nếu có yêu cầu về an ninh, có thể làm đơn xin gia nhập không chỉ NATO mà bất kỳ tổ chức nào khác. Bản phản hồi cũng nhấn mạnh việc yêu cầu NATO quay trở lại điểm xuất phát năm 1997 là phi lý. Dĩ nhiên, trả lời của Mỹ và NATO khiến Nga cảm thấy bất bình vì các đề nghị chính đáng của mình “bị xem nhẹ”.

Tiếp theo là các thông tin Nga triển khai lực lượng quân sự lớn xung quanh Ukraina. Con số cụ thể không được Nga tiết lộ. Nhưng tin tình báo phương Tây cho rằng, lúc đầu Nga triển khai 110 ngàn quân, gần đây là 160-190 ngàn quân trên 4 hướng: ngoài biển (Biển Đen), Crimea, phía Bắc của Ukraina

 Ukraina (dọc biên giới với Belarus) và phía Đông Ukraina. Mỹ cũng đưa ra thông tin tình báo nói Nga sẽ tấn công Ukraina từ 16-22/2.

Ngày 22/2, trong bài diễn văn trên truyền hình, Tổng thống Putin tuyên bố công nhận nước CH Luhansk và Donetsk ở phía Đông Ukraina theo đề nghị của hai nước CH này và được Duma quốc gia phê chuẩn. Ông Putin cũng nói sẽ đưa quân vào hai nước CH này để giúp họ đảm bảo an ninh. Ngày 24/2, ông công bố một chiến dịch quân sự đặc biệt như chúng ta đã biết.

Trong khi đó, Ukraina cho rằng việc gia nhập NATO là câu chuyện của chính họ, không ảnh hưởng đến an ninh của Nga. Mỹ và NATO vẫn có lập trường nước đôi. Bối cảnh hiện tại là quan hệ Nga – Ukraina, Nga với Mỹ và phương Tây không còn thân thiện như những năm 1990 và nghi kỵ chiến lược ngày càng tăng cao. Trong khi NATO tiếp tục mở rộng sang phía Đông thì người Nga lại coi đây là mối đe doạ an ninh đối với sự sống còn của họ.


Thất bại chính trị và ngoại giao

- Chiến sự Nga - Ukraina đã bùng nổ, mọi nỗ lực ngăn chặn cuộc chiến bằng các hoạt động ngoại giao đã không thể cứu vãn hòa bình. Vì sao nỗ lực ngoại giao lại thất bại và giới hạn của chiến dịch sẽ đi đến đâu, thưa Đại sứ Phạm Quang Vinh?

- Đại sứ Phạm Quang Vinh: Nhìn lại một loạt hoạt động ngoại giao kể từ tháng 11/2021, đặc biệt là trong tháng 2/2022 thì thấy rất dồn dập, nhưng lập trường của hai bên rất khác biệt nhau. Thứ nhất như Đại sứ Hoàng Tuấn nói, là mở rộng NATO sang Ukraina hay không. Thứ hai là việc đảm bảo an ninh sườn phía Tây của Nga.

Trong những đề nghị của Nga đưa ra và hai bên trao đổi với nhau, Mỹ và phương Tây tuyên bố không thể đáp ứng được. Còn phía Nga thì coi đó là lằn ranh đỏ. Ukraina khẳng định có quyền tự do lựa chọn theo hướng nào. Những cuộc đối thoại giữa các bên đã không thấu hiểu lợi ích chiến lược của nhau.

Tôi rất chú ý tới quyết định thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt mà ông Putin tuyên bố. Nước Nga nói là theo yêu cầu của hai nước CH ở Donbass, tiếp đó là bảo vệ dân sự trong đó có người gốc Nga và cuối cùng là phi quân sự hóa quân đội Ukraina. Nhưng trên thực tế diễn biến chiến trường thì thấy, đương nhiên quân đội Nga vào hướng Donbass, cũng vào cả bằng đường không và từ Belarus xuống. Người ta đã nghe thấy tiếng rocket, tiếng nổ ở nhiều thành phố lớn khác nhau tại Ukraina.

Giới hạn của chiến dịch sẽ đi đến đâu? Chiến sự bùng nổ đặt ra nhiều vấn đề, đó là: An ninh nước Nga; Ý đồ phương Tây trong suốt thời gian không đáp ứng yêu cầu của Nga; Lựa chọn của nước nhỏ sống trong một địa bàn cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn; Rồi chuyện vượt qua biên giới, vào lãnh thổ quốc gia khác là thành viên LHQ…

Tất cả đòi hỏi người ta phải cân nhắc nhiều chiều và theo dõi từ nhiều góc độ khác nhau. Nhưng cái lớn nhất khi chiến sự nổ ra, đó là sự thất bại của chính trị, thất bại của ngoại giao và chắc chắn để lại nhiều hậu quả.

- Đại sứ Hoàng Anh Tuấn: Tôi chia sẻ ý kiến của Đại sứ Phạm Quang Vinh, tức là chiến tranh nổ ra, dù bất kỳ lý do gì, cũng là sự thất bại của ngoại giao. Tại sao có sự thất bại này thì rõ ràng đã có nhiều cuộc đối thoại nhưng lập trường của các bên quá xa nhau. Trong quan hệ giữa các nước, khác biệt tồn tại ở trong rất nhiều mối quan hệ, nhưng lập trường xa nhau đến mức xảy ra chiến tranh thì còn xuất phát từ vấn đề nghi kỵ chiến lược, dẫn tới những diễn biến như chúng ta đã thấy.

Tổng thống Putin dùng từ “đặc biệt”, trong đó nhấn mạnh, mục tiêu của Nga là không tìm cách chiếm Ukraina.

- Theo ông, lý do nào khiến Nga tiến hành “chiến dịch quân sự đặc biệt”?

- Nó xuất phát từ cách nhìn chiến lược khác nhau của các bên. Nga cho rằng, đã đưa ra các đề nghị an ninh từ cuối tháng 12/2021 tới nay, mà về thực chất đó là các tối hậu thư, rằng “nếu các yêu cầu của Nga không được đáp ứng thì Nga sẽ dùng các biện pháp quân sự”. Nhưng phương Tây và Ukraina không nhìn thấy hết và đáp ứng các quan ngại của Nga.

Ông Putin cho rằng, phương Tây đang giúp Ukraina ngày càng mạnh lên về mặt quân sự. Chưa kể Moskva coi Kiev ngày càng thân phương Tây và đối đầu với Nga. Ông Putin cũng nhìn thấy sự ràng buộc về năng lượng giữa Nga và phương Tây… Trong hệ thống chính trị phương Tây, để phát động một chiến dịch quân sự là rất khó. Nhưng trong hệ thống chính trị Nga lại khác, ông Putin nắm quyền lực tuyệt đối trong tay, tự mình ra quyết định nên việc ra quyết định diễn ra rất nhanh chóng.


Tất cả đều có lỗi

- Thưa Đại sứ Phạm Quang Vinh, quyết định của ông Putin có khiến các bên liên quan bất ngờ hay không?

- Những gì diễn ra có căn nguyên từ hiện tại, nhưng lại có cả hệ lụy trong quá khứ, cả quá khứ lịch sử xa xưa lẫn vài thập niên gần đây. Vấn đề an ninh, nhất là ở sườn phía Đông; Sự khuếch trương thắng lợi sau sụp đổ của Liên bang Xô Viết và hậu chiến tranh lạnh; Xu hướng tiến về phía Đông của NATO và Mỹ; rồi ứng xử của Ukraina…

Khi cuộc chiến xảy ra, người ta phải soi lại. Dường như tất cả các phía đều có lỗi. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, phương Tây đã không thể cùng Nga tạo dựng nên cấu trúc an ninh của toàn châu Âu, trong khi nước Nga chắc chắn phải có vai trò rất quan trọng ở châu lục.

Khi phát động chiến dịch quân sự, Moskva nói Kiev đã có những lựa chọn không thân thiện, hay vùng ly khai sâu xa trong lịch sử chưa chắc thuộc về Ukraina. Ứng xử của Ukraina lúc ngả Tây, lúc ngả Đông cũng làm cho bản thân họ sống giữa cạnh tranh nước lớn mà không thể lựa chọn được môi trường hòa bình, hữu nghị, ổn định để hợp tác, phát triển.

Nhưng nếu chúng ta nhìn lại những phản ứng sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự hiện đang diễn ra cũng có rất nhiều quan ngại. Thứ nhất là công nhận vùng ly khai. Thứ hai là vượt qua biên giới vào một quốc gia có độc lập, có chủ quyền và thứ ba là chiến tranh không mang lợi cho bất cứ ai, kể cả Nga hay Ukraina và châu Âu, dù thắng lợi trước mắt thuộc về ai.

Cả Mỹ và NATO đều nói rằng, một cuộc can thiệp quân sự sẽ để lại hậu quả rất lớn, nhưng họ sẽ không điều quân sang Ukraina để tránh đụng độ lớn hơn giữa phương Tây và Nga.

Vấn đề còn nằm ở sự chủ động, quyết đoán trong hệ thống chính trị nội bộ nước Nga và cá nhân Tổng thống Putin đã lựa chọn sự chủ động chiến lược. Tôi cho rằng sự lựa chọn của Nga và Ukraina là rất nhiều, nhưng lựa chọn chiến tranh mà không nỗ lực hết mức cho một giải pháp đối thoại, ngoại giao thì vẫn là sự thất bại chính trị.

- Vậy tính toán của của Nga trong bước đi mới nhất và lựa chọn của Ukraina ra sao, thưa ông?

- Chúng ta nên giả định một số kịch bản. Một là với Nga, an ninh bờ Tây là quan trọng. Nhưng chuyện vào Donbass và ở lại hay không lại song hành với câu chuyện công nhận độc lập.

Ở đây, với Donbass và hai nước CH kể trên có vài kịch bản: Nga vào và có thể rút quân hoặc tiếp tục hỗ trợ nhưng hai nước CH tự xưng đã tách khỏi Ukraina; Hai nước CH chưa hẳn toàn bộ vùng Donbass, liệu những đòi hỏi với toàn bộ vùng này còn hay không?; Khi chiến sự xảy ra, xuất hiện tiếng nổ ở nhiều thành phố khác nhau, chắc chắn sức ép rất lớn với chính phủ hiện tại của Ukraina, sự chống chọi của bản thân ông Zelensky và chính phủ của ông về trách nhiệm với người dân như thế nào?

Tôi đồng ý với ý kiến của Đại sứ Hoàng Anh Tuấn khi đề cập tới tuyên bố của Nga là không chiếm đóng Ukraina vì nguy cơ lan rộng, phức tạp và sa lầy. Nhưng chiến sự vẫn tiếp tục, liệu còn cơ hội cho một giải pháp chính trị hay không? Chắc vẫn còn, nhưng tới lúc này, người ta phải nhìn nhận lại mọi cơ hội đã bị bỏ lỡ trước khi chiến sự xảy ra mà lẽ ra từ phía Nga, Ukraina, Mỹ hay NATO vẫn còn nhiều khoảng trống để tìm ra giải pháp cho cuộc đối đầu này.

"Không muốn so sánh nhưng không thể không thấy sự khác biệt về cách hiểu về sự độc lập trong chính sách ngoại giao của Việt Nam và Ukraine.

Với Việt Nam, sự độc lập, tự chủ trong chính sách ngoại giao là đảm bảo rằng Việt Nam không thể bị thế lực nào lôi kéo, ép buộc vào một liên minh quân sự hay làm căn cứ quân sự cho một thế lực quốc tế này chống một thế lực quốc tế khác.

Với Ukraine hiện nay thì sự độc lập, tự chủ trong chính sách ngoại giao là việc họ có quyền tham gia vào NATO để chống lại Nga mà không bị ngăn cản.

Từ năm 1991 tới nay, chính sách ngoại giao của Việt Nam là nhất quán. Từ 1991 tới nay, chính sách ngoại giao của Ukraine là sự đổi chiều từ theo Nga sang chống Nga và ngược lại.

Kết quả về kinh tế, ổn định chính trị, toàn vẹn lãnh thổ của 2 chính sách thế nào thì ai cũng biết."

Yêu nước ST.

GIA ĐÌNH LÀ HẠT NHÂN CỦA XÃ HỘI


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vai trò của gia đình, bởi theo Bác nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình. Vậy nên, quan tâm đến gia đình nhỏ trước tiên là phải thực hiện nam - nữ bình quyền. Với quan điểm đó, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, vấn đề gia đình đã được Hiến pháp đầu tiên của nước ta thông qua với nhiều điểm tiến bộ. Trong quan hệ gia đình, nam - nữ bình đẳng như nhau, chế độ hôn nhân được pháp luật quy định là một vợ một chồng...

Trải qua các thời kỳ lịch sử, quan hệ gia đình ngày càng được củng cố và hoàn thiện góp phần thúc đẩy việc hình thành và từng bước hoàn thiện quyền dân chủ trong quan hệ gia đình ở Việt Nam, trở thành môi trường tốt để giáo dục nhân cách con người, là cơ sở để xây dựng đời sống mới của xã hội mới, trở thành hạt nhân của xã hội Việt Nam.

Nhận thức gia đình có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển của đất nước, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn quan tâm công tác chăm lo xây dựng gia đình bằng nhiều chủ trương, chính sách cụ thể: Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Chỉ thị 49-CT/TW ngày 21 tháng 02 năm 2005 về “Xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước”, ngày 29 tháng 5 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 629/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” với mục tiêu hướng tới là xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, XII Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội. Như vậy, gia đình không chỉ giữ vai trò nền tảng, tế bào của xã hội, mà còn là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành nên nhân cách con người. Gia đình giữ vai trò đặc biệt quan trọng tới số lượng, chất lượng dân số và cơ cấu dân cư của quốc gia. Gia đình không chỉ dừng lại ở việc duy trì nòi giống, mà quan trọng hơn, gia đình phải trở thành môi trường tốt, đầu tiên để giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách con người. St


 

BÀI NÓI CHUYỆN TẠI HỘI NGHỊ CHIẾN TRANH DU KÍCH


Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong: “Bài nói chuyện tại hội nghị chiến tranh du kích”, ngày 13 tháng 7 năm 1952. Đây là giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta chuẩn bị chuyển sang tổng phản công.

Trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân và lực lượng vũ trang có biểu hiện trông chờ vào sự giúp đỡ của các nước bạn. Mặt khác, lại xuất hiện tư tưởng nóng vội muốn đánh thắng ngay. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn chấn chỉnh nhận thức, củng cố niềm tin, phát huy nội lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tích cực tham gia thúc đẩy cuộc kháng chiến nhanh chóng giành thắng lợi.

Qua bài nói chuyện, Người nhấn mạnh, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta là trường kỳ gian khổ nhưng lại phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Lời dạy trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thực hiện lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nhận thức rõ chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đoàn kết, thống nhất, phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường trong thực hiện nhiệm vụ của từng cá nhân, đơn vị, từng địa phương và nhiệm vụ chung của cách mạng. Tinh thần tự lực, tự cường của cả dân tộc là nhân tố quan trọng để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử phát triển của dân tộc.

Ngày nay, xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhưng tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường vẫn là yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc. Do đó, trong khi mở rộng hợp tác quốc tế theo tinh thần Việt Nam là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Đảng ta phát huy cao độ tinh thần đại đoàn kết toàn dân, chủ động tự lực cánh sinh thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phải đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo; ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, luôn làm tốt công tác đối ngoại quốc phòng để mở rộng quan hệ quốc tế, tranh thủ sự hợp tác, ủng hộ của các đối tác góp phần xây dựng Quân đội nhân dân tiến lên chính quy, hiện đại. St

 

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM "ĐẢNG KHÔNG NÊN LÃNH ĐẠO KINH TẾ"

 


Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Vậy mà gần đây lại xuất hiện quan điểm cho rằng “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”.

Từ lúc chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng, lợi dụng việc góp ý văn kiện, một số người đã “phản biện” quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ nên tập trung lãnh đạo chính trị, không nên lãnh đạo kinh tế”; “Đảng chỉ nên tự khuôn mình trong phạm vi “chính trị”, còn kinh tế là địa hạt của giới kinh doanh”...

          Thực tế trong lĩnh vực kinh tế. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không làm thay các cơ quan Nhà nước. Đảng lãnh đạo kinh tế bằng cách tạo ra bảo đảm chính trị cho hoạt động kinh tế, xác định phương hướng chính trị cho hoạt động kinh tế đúng đắn và lành mạnh.

Do vậy, có thể khẳng định những luận điệu tuyên truyền “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế" là xuyên tạc, kích động. Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái này. St

 

 

 

GIẢI PHÁP BẢO VỆ CƯƠNG LĨNH, ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam là văn bản có giá trị cao nhất trong hệ thống các văn bản của Đảng Cộng sản Việt Nam, xác định nhiệm vụ và phương pháp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước sự chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận bảo vệ tính cách mạng, khoa học của nó là tất yếu, theo đó phải:

Không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối chính trị của Đảng

Những năm qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị vẫn cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị. Âm mưu, thủ đoạn của họ là thúc đẩy đổi mới chính trị để xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Sự thật là thế nào? Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị. Quan điểm của Đảng là lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm và từ thành tựu kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Chính trị là lĩnh vực nhạy cảm, phải đổi mới từng bước, thận trọng, vững chắc, không vội vàng khi chưa có đủ điều kiện cần thiết. Đổi mới hệ thống chính trị trong suốt quá trình đổi mới và hiện nay tập trung vào những nội dung nổi bật.

Một là, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN với những đặc trưng cơ bản, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế; Nhà nước quản lý xã hội, đất nước, nền kinh tế chủ yếu bằng pháp luật; Nhà nước pháp quyền là một trong 8 đặc trưng của mô hình CNXH Việt Nam.

Hai là, thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội; phát huy dân chủ XHCN, tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Ba là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng kết hợp chặt chẽ với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị, kết hợp đúng đắn xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng và bảo vệ Đảng, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Thực hiện và bảo vệ 3 vấn đề cốt lõi nêu trên là phát huy tính ưu việt của chế độ và bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững về kinh tế-xã hội, vị thế chính trị, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Vấn đề bảo đảm an ninh phi truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tại, dịch bệnh, nhất là kiểm soát đại dịch Covid-19 có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc sống người dân, không thể xem nhẹ.

Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua việc hoàn thiện, bổ sung Cương lĩnh, đường lối và bảo vệ giá trị khoa học, tính hiện thực của đường lối. Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021-2030. Để thực hiện được các định hướng đó cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. “Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả”.

Kiên quyết giữ vững và bảo vệ ngọn cờ soi đường chỉ lối của Đảng

Tổng kết quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, nhất là những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm rất quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.

Từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của thời đại, tác phẩm của Tổng Bí thư đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học trong nhận thức và hành động thực tế xây dựng CNXH ở Việt Nam, làm rõ CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào, từ phương châm, hình thức, bước đi phù hợp để hoàn thiện đường lối quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Điều đó đòi hỏi xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến và tính đặc thù.

Tác phẩm đã làm rõ hơn nội dung và khả năng bỏ qua chủ nghĩa tư bản, kế thừa những thành tựu, giá trị văn minh nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Tác phẩm nhấn mạnh yếu tố bảo đảm xây dựng thành công CNXH là phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản chân chính cách mạng dựa trên học thuyết cách mạng, tính khoa học và cách mạng triệt để của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Tác phẩm của Tổng Bí thư có giá trị lý luận căn bản và ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc, toàn diện đưa Việt Nam tiến tới một nước XHCN hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Tác phẩm có sự đóng góp xứng đáng vào kho tàng lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH mà các nước trên thế giới đang hướng tới. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng đặt ra yêu cầu cần thiết phải học tập, quán triệt sâu sắc tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư.

 

CÓ MỘT VIỆT NAM “NHỎ BÉ” MÀ KIÊN GAN!

         Mấy hôm trước, bà Nataliya Zhynkina - đại diện lâm thời của Ukraine tại Việt Nam có đăng đàn phát biểu, mong muốn Việt Nam đừng giữ trạng thái trung lập nữa mà hãy đứng ra lên tiếng lên án hành vi “xâm lược” của Nga với Ukraine. Rằng: “Việt Nam là nước nhỏ, cần dựa vào luật pháp quốc tế.”

Và khi LHQ ra nghị quyết yêu cầu Nga ngừng vũ lực ở Ukraine và rút quân. Có 141 quốc gia bỏ phiếu thuận, 5 quốc gia phản đối , 35 quốc gia bỏ phiếu trắng, trong đó có Việt Nam – bà cô này đã thất vọng ra mặt lên tiếng: “Việt Nam ơi, quê hương thứ 2 của tôi ơi, tôi rất thất vọng!”

Này Nataliya Zhynkina, nếu bà xem Việt Nam như quê hương thứ 2 của mình, sao lại không biết về lịch sử của dân tộc chúng tôi cơ chứ!

Việt Nam chúng tôi là nước “nhỏ”, cần phải dựa vào luật pháp quốc tế ư? Vậy tôi hỏi bà, luật pháp quốc tế đã ở đâu vào những năm 70-80 của thế kỷ trước, khi Khmer đỏ thực hiện chính sách diệt chủng tàn sát gần 2 triệu người dân Campuchia. Và khi quân đội nhân dân Việt Nam mở cuộc phản kích tự vệ cứu người dân Campuchia thoát nạn diệt chủng, giúp đất nước Chùa Tháp hồi sinh, thì Liên Hiệp Quốc đã làm gì?

Xin thưa, đó là tổ chúc bù nhìn này chẳng những nhắm mắt làm ngơ trước sự thật, không lên án tội ác tày trời của Khmer đỏ mà thậm chí lên án VN xâm lược Campuchia, hùa theo Mỹ và trung Quốc cấm vận Việt Nam.

Tòa án quốc tế ư? Hội đồng bảo an ư? Để tôi kể cho bà nghe một câu chuyện. Nhà báo kỳ cựu người Anh Max Hastings, viết trong cuốn 'Vietnam: An Epic Tragedy', đã từng tâm sự: “Tôi từng hỏi Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch rằng tại sao khi bị Khmer Đỏ tấn công biên giới Tây Nam vào cuối năm 1978, Việt Nam không tố cáo sự việc này ra Liên Hiệp Quốc mà lại tấn công Campuchia.

Nguyễn Cơ Thạch khi ấy đã nói rằng: 

- Vì chúng tôi không coi trọng Liên Hợp Quốc như các ngài.

- Tại sao thế?

- Vì trong 40 năm qua, chúng tôi đã bị 4 trong 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc xâm lược”.

Vâng, 4/5 thành viên thường trực của Hội đồng bảo an từng xâm lược Việt Nam chúng tôi, và đều bị chúng tôi đánh bại. Việt Nam chúng tôi “nhỏ bé” như vậy đấy, bà Nataliya Zhynkina ạ!

Thật ra, Việt Nam bỏ phiếu trắng trong nghị quyết vấn đề xung đột Nga - Ukraine, nó không đồng nghĩa với việc ủng hộ cuộc chiến của Nga, nhưng nó cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam chúng tôi - một nước XHCN lấy tư tưởng Marx-Lenin làm cương lĩnh sẽ không bao giờ sát cánh cùng một quốc gia tráo trở, dẫm đạp lên các giá trị cộng sản.

Chiến tranh luôn là mất mát, là thương đau, làm chai sạn tâm hồn, kết nên những thù hằn cay độc. Chỉ những tên lính đánh thuê lưu manh, vô học cùng lũ lái súng Tư Bản và đám sài lang Đế quốc mới mong mỏi chiến tranh mà thôi.

Nataliya Zhynkina ạ, chúng tôi không ủng hộ chiến tranh mà ngược lại. Chính vì từng trải qua thương đau bởi vết thương chiến tranh, nên Việt Nam chúng tôi thực sự xót thương với nỗi đau người Ukraine phải gánh chịu do các quyết định sai lầm và ngu ngốc từ chính phủ bù nhìn của Zelensky. Nói ra không phải là kể khổ, nhưng những gì mà người Ukraine đã từng phải hứng chịu chỉ bằng một góc nhỏ so với những gì mà Mỹ - đồng minh danh nghĩa của Ukraine từng gây ra cho đất nước Việt Nam chúng tôi.

Cứ cho Việt Nam là một nước nhỏ đi, nhưng quốc gia ấy chưa bao giờ khuất phục trước bất kỳ một thế lực nào. Trong khi nhiều dân tộc khác khom lưng quỳ gối, chịu làm công dân hạng 2 ngay trên đất nước mình, nhưng Việt Nam chúng tôi thì khác. Chúng tôi đã từng chịu cảnh bị đô hộ, dân chúng tôi từng sống cảnh nô lệ, nhưng sục sôi trong tâm can là ý chí quyết không bao giờ khuất phục.

“Đất nghèo nuôi những anh hùng – Từ trong gian khổ lại vùng đứng lên.” Thế nên đất nghèo nước nhỏ ấy tuy đã từng bị chà đạp, nhưng luôn quyết lau sạch vết nhơ, kể cả phải đổ máu, “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, như lời hiệu triệu non sông của Hồ Chủ Tịch vĩ đại.

Bao nhiêu máu xương đã đổ, thật nhiều nước mắt đã rơi, hàng triệu xác thân đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường nhưng nụ cười sẽ mãi là bất tử, bởi cha ông chúng tôi đã chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp, vì độc lập dân tộc.

Cứ cho Việt Nam là một nước nhỏ đi, ấy nhưng nhìn lại Ukraine đi. Trong khi nguyên thủ quốc gia Việt Nam chúng tôi hiên ngang sải bước cùng các lãnh đạo hàng đầu thế giới, thì Tổng thống Ukraine sang thăm Mỹ mà không kèn không trống, không người tiếp đón, không có lịch hẹn gặp J.Biden mà phải chờ triệu kiến.

Nataliya ơi, xin tặng bà một câu của chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của đất nước chúng tôi: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập.” Ukraine đang vỗ ngực tự xưng mình là đồng minh của Mỹ, nhận sự bảo kê và giúp đỡ từ Mỹ. Nhưng thực tế là đồng minh hay chư hầu đây?

Thực tế thì Mỹ nào có xem Ukraine vào mắt. Chưa kể kinh tế Ukraine đang như bong bóng xà phòng sắp tan vỡ đến nơi, thì những cường quốc kinh tế mang danh là “Đồng minh của Mỹ” như Nhật Bản, Hàn Quốc làm gì thực sự có chủ quyền. Nhìn sang Hàn Quốc xem, thử hỏi tại sao hội nghị thượng đỉnh liên Triều lại là gặp gỡ giữa cựu tổng thống Mỹ D.Trump và Chủ tịch Kim của Triều Tiên, mà tổng thống Hàn Quốc còn bận đi chơi? Bà nhìn sang Nhật Bản xem, thử hỏi tại sao người Nhật lại trở thành công dân hạng II ngay trên đất nước mình, rồi khi Nhật tranh chấp đảo Điếu Ngư với Trung Quốc lại phải xin ý kiến chỉ đạo từ Mỹ?

Bà là người Ukrane, lại là quan chức ngoại giao, chắc bà thừa hiểu suốt 8 năm sau đảo chính Maidan 2014, đất nước Ukraine của bà đã từng làm những gì, đúng không? Chính phủ ấy đã chối bỏ cội nguồn, phủ nhận văn hóa truyền thống, phá hủy di tích Xô viết, không biết trân trọng máu xương của cha ông đi trước - vậy thì nhà nước ấy không đáng để cho Việt Nam chúng tôi ủng hộ.

Bà luôn hô hào mình từng yêu Việt Nam, xem Việt Nam là quê hương thứ 2, nhưng có lẽ bà chỉ giỏi hô khẩu hiệu. Bà chưa từng tìm hiểu xem lịch sử Việt Nam chúng tôi ra sao.

Ừ, thì cứ cho là Việt Nam chúng tôi bé nhỏ, chúng tôi nghèo nàn lạc hậu đi. Nhưng bà đã bao giờ chịu tìm hiểu đất nước ấy dân tộc ấy đã trải qua những gì chưa. Bà đã bao giờ tìm hiểu xem, bầu trời lịch sử của Việt Nam có bao nhiêu những ánh sao, hàng ngàn năm phát triển có biết bao những anh hùng chưa?

Bà, sẽ không bao giờ hiểu nổi tại sao có những Trần Bình Trọng “thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”, chứ không như Tổng thống Zelensky của nước bà sẵn sàng khom lưng quỳ gối xin viện trợ. Vậy nên, Việt Nam chúng tôi mới có thể đánh đuổi được những gã đế quốc hùng mạnh nhất thế giới cút khỏi đất Việt, mới làm nên những “chiến thắng lừng lẫy năm châu chấn động Địa Cầu” khiến toàn thế giới sửng sốt về một Việt Nam nhỏ bé mà kiên gan.

Giữa bầu trời lịch sử muôn triệu ánh sao xa

Trong dân gian vạn thuở, ấy muôn triệu đóa hoa!

Trăm năm đêm trường nô lệ dưới ách cai trị của Thực dân Pháp, Việt Nam cởi bỏ xiềng gông vào một ngày thu tháng tám rực rỡ sao vàng. 9 năm gian khó làm nên một chiến thắng Điện Biên thần kỳ, “lừng lẫy năm châu chấn động Địa Cầu”. 30 năm trường chính gian khổ, nghẹn ngào tiếng nức nở và dậy đất tiếng hùng ca, đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào. Rồi kế đó là chặng hành trình bôn ba vất vả gian lao, Việt Nam chúng tôi đuổi bè lũ Trung Quốc cút về nước trong chiến tranh biến giới phía Bắc 1979, suốt bao năm làm nhiệm vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Polpot khi cả thế giới đã quay lưng. Gần 20 năm bị cấm vận, bị cả thế giới cô lập nhưng chỉ trong gần 30 năm mở cửa, Việt Nam đã bứt tốc thần kỳ, ngoạn mục như Phù Đổng vươn vai.

Giờ nhìn những tòa nhà chọc trời, nhìn về quy mô nền kinh tế, nhìn về các thành tựu đã, đang và sắp đạt được, chẳng mấy ai dám nghĩ chỉ mấy chục năm trước thôi, Việt Nam còn là một đất nước nghèo khó. Tất nhiên, quy mô nền kinh tế Việt Nam còn thua Nhật, Hàn … và nhiều cường quốc khác, song chúng tôi tự hào có một chế độ chính trị ổn định, thực sự có độc lập tự chủ.

Việt Nam chúng tôi đã hiên ngang ngẩng cao đầu trong nhiều thập kỷ. Chúng tôi đã chiến đấu, và chiến thắng, đối đầu và thách thức những kẻ thù hùng mạnh nhất trên trái đất. Chúng tôi đã xây dựng lại đất nước theo nghĩa đen từ đống tro tàn, và thực sự xây dựng được một Việt Nam ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Trong quá trình đó, hàng triệu sinh mạng đã mất, nhưng hàng triệu người trẻ khác lại tiếp tục tiến lên, đất nước này đã tìm cách đoàn kết và đang từng ngày đoàn kết; thế là Việt Nam đã trở nên mạnh mẽ như thép và chiến thắng mọi âm mưu chống phá của kẻ thù.

Việt Nam chúng tôi như thế đấy, Nataliya Zhynkina ạ!

Yêu nước ST.