Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

NHẬN DIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM

     Để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa là mũi đột phá nhằm gây chia rẽ, suy giảm niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận tư tưởng, tạo ra những khoảng trống để đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta phải nhận rõ bộ mặt thật của thủ đoạn thâm độc này để có biện pháp phòng, chống hiệu quả, điều này rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

    Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với nước ta trong những năm qua được thể hiện trên các thủ đoạn và nội dung chủ yếu như xuyên tạc bôi nhọ, đả kích bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là truyền thống văn hóa,văn nghệ cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa - những giá trị tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng ra sức truyền bá văn hóa, lối sống tư sản phương Tây vào nước ta, đây là lối sống thực dụng,vụ lợi, cá nhân sùng bái đồng tiền, dâm ô trụy lạc… kích thích sự phục hồi phát triển lối sống mê tín dị đoan, tôn thờ chủ nghĩa hữu thần, tìm hiểu, móc nối, mua chuộc, kích động trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội,... Qua đó, lôi kéo vào con đường chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan, tổ chức văn hóa, văn nghệ làm cho văn hóa, văn nghệ đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, chúng cũng ra sức phá vỡ, đẩy lùi lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, đời sống tinh thần của xã hội. Đồng thời, chúng tăng cường đả kích,xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Chúng cho rằng con đường đó không còn phù hợp với quy luật của lịch sử, làm cho đất nước không thể phát triển và đòi Việt Nam từ bỏ con đường đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Tác động của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa ở nước ta trong những năm qua thể hiện trên những phương diện chủ yếu như sau:

  Phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lợi dụng sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch đã tấn công quyết liệt vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đả kích đường lối cách mạng của Đảng, lái cách mạng Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

    Trong lĩnh vực văn hóa, kẻ thù tập trung phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa cách mạng, các chuẩn mực đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa. Chúng tìm mọi phương thức để các sản phẩm văn hóa độc hại xâm nhập sâu vào nước ta. Chúng sử dụng các sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động để đầu độc quần chúng nói chung, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên ở nước ta nói riêng, làm chuyển đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị xã hội theo chiều hướng xấu; âm mưu biến thế hệ trẻ thành công cụ và lực lượng xã hội chủ yếu trong thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chúng.

    Tóm lại, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với Việt Nam hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Điều đó đòi hỏi các cấp, các ngành tích cực, chủ động đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới một cách thường xuyên, liên tục và không khoan nhượng. Đây là yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách và là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.


CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” TRONG CỤC DIỆN MỚI HIỆN NAY

     “Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự(1). Nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của chiến lược “diễn biến hòa bình”, có thể thấy không những là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch, mà còn chịu sự chi phối, tác động trực tiếp của cục diện quan hệ quốc tế qua các thời kỳ. Ngay từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, khi trật tự thế giới hai cực đối đầu dần hình thành, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” đã ra đời để hỗ trợ cho các đòn tiến công quân sự là chủ yếu, nằm trong chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Theo thời gian, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” tiếp tục được điều chỉnh và đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi các nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, nội bộ phát sinh những vấn đề phức tạp, các thế lực thù địch nhận thấy “thời cơ lịch sử” đã đến và thời điểm này, “diễn biến hòa bình” được đẩy mạnh thực hiện, phát triển, chính thức trở thành một chiến lược - bộ phận quan trọng, chủ yếu trong chiến lược toàn cầu “vượt trên ngăn chặn”.

    Thứ nhất, chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị nước khác theo hướng có lợi cho mình. Với chủ thể được mở rộng, lực lượng tiến hành sẽ là “đại quân công chúng” ngay trong nội bộ đối phương.

    Thứ hai, đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế.

    Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.




CẢNH GIÁC TRƯỚC SỰ XUYÊN TẠC CỦA KẺ THÙ VỀ KẾT QUẢ CHỐNG DỊCH CỦA VIỆT NAM

 

Dịch COVID đã gây hậu quả nặng nề cả về kinh tế, đời sống, việc làm, sức khỏe, tính mạng con người. Thế giới đã và đang trải qua 4 làn sóng dịch, chưa có nhà khoa học nào khẳng định một cách chắc chắn đến bao giờ dịch COVID -19 hoàn toàn chấm dứt trên phạm vi toàn cầu. WHO và nhiều nhà khoa học nhận định COVID-19 nguy hiểm hơn một số dịch bệnh gây chết người đã từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại.

Dịch COVID -19 mới xuất hiện ở nước ta (tháng 01/2020), không ít người đã dự báo Việt Nam sẽ là quốc gia chịu hậu quả nặng nề thứ hai trên thế giới. Tuy nhiên, thực tế đã khẳng định, hơn 2 năm kể từ khi dịch COVID-19 xuất hiện, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã kịp thời, quyết liệt chỉ đạo công tác phòng, chống dịch. Cả hệ thống chính trị chủ động, tích cực vào cuộc chiến. Nhân dân đồng lòng, tin tưởng, ủng hộ và thực hiện theo chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, cấp ủy, chính quyền các cấp, khuyến cáo của ngành y tế. Với tinh thần “Chống dịch như chống giặc”, mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, gia đình là một pháo đài, mỗi người dân đã nêu cao tinh thần chủ động, thực sự là “một chiến sĩ” trong cuộc chiến này.

Việt Nam chưa phải là nước có nền kinh tế mạnh, chưa phải là nước có trang thiết bị y tế hiện đại, nhưng Việt Nam đã và đang trở thành điểm sáng toàn cầu trong phòng, chống COVID-19. Tổ chức y tế thế giới, nhiều nhà lãnh đạo các quốc gia, báo chí các nước ghi nhận và đánh giá cao kết quả phòng, chống dịch của Việt Nam. Có thể thấy, thành tựu bước đầu trong công tác phòng, chống dịch COVID -19 của Việt Nam rất đáng tự hào.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động đã có nhiều chiêu trò xuyên tạc, phủ nhận thành quả chống COVID-19 của Việt Nam. Các tổ chức phản động lưu vong như: Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, các đài phát thanh BBC, VOA, RFA, Chân trời mới media, Hội anh em dân chủ, “Voice”, “BPSOS”… câu kết các đối tượng phản động, bất mãn trong nước phủ nhận thành quả của Việt Nam trong phòng, chống dịch COVID-19. Họ đã lợi dụng mạng xã hội để đăng tải thông tin sai sự thật về dịch COVID-19 ở trong nước, xuyên tạc tình hình dịch bệnh, tung tin về số lượng người bị nhiễm, tử vong do dịch bệnh tại các địa phương, hướng dẫn cách tự điều trị, chẩn đoán tại nhà… Đây là những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu hoàn toàn sai trái không thể chấp nhận được. 

Thiết nghĩ, trước tình hình dịch bệnh COVID-19 trên thế giới và trong nước vẫn đang diễn biến phức tạp, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần hết sức tỉnh táo trước, phải luôn có cách nhìn khách quan, tìm kiếm, chia sẻ những thông tin chính thống, hãy là một chiến sĩ trong chống thông tin xấu độc, góp phần tích cực cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép”, vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa giữ vững và phát huy thành quả trong cuộc chiến  chống đại dịch COVID-19./.

Đề phòng bệnh hãnh tiến, hiếu thắng

 Từ những bài học nhãn tiền

    Vụ án tiêu cực xảy ra tại Công ty Việt Á liên quan đến hành vi móc nối, cấu kết “thổi” giá vật tư y tế để trục lợi trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn quốc, đang tiếp tục làm “nóng” dư luận. Việc cơ quan chức năng tiếp tục mở rộng điều tra vụ án, nhiều cán bộ ở một số ngành, địa phương liên quan bị khởi tố, đã cho thấy quyết tâm chống tham nhũng đến cùng, không có vùng cấm trong xử lý vi phạm của Đảng, Nhà nước ta. Trong một diễn biến khác, vụ việc Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Cô Tô (Quảng Ninh) Lê Hùng Sơn bị khai trừ ra khỏi Đảng vì vi phạm nghiêm trọng phẩm chất đạo đức, lối sống, cũng là đề tài bàn tán xôn xao của dư luận xã hội. Điểm đáng chú ý ở những vụ án, vụ việc được dư luận xã hội dành sự quan tâm đặc biệt này là những cán bộ, người đứng đầu bị xử lý thuộc diện cán bộ trẻ. Nhìn lại những vụ án, vụ việc tiêu cực bị cơ quan chức năng kiểm tra, điều tra, xử lý được công bố rộng rãi trên công luận thời gian qua, chúng ta thấy, tỷ lệ người trẻ “nhúng chàm” chiếm đa số. “Soi” hồ sơ, tiểu sử của những đối tượng này, nhiều người bày tỏ sự xót xa, tiếc nuối. Nhiều người trong số họ là cán bộ được đào tạo căn bản, có triển vọng, từng có thành tích xuất sắc trong lãnh đạo, quản lý, sản xuất kinh doanh, được trao tặng những phần thưởng danh giá. Một số trường hợp từng được kỳ vọng là “hạt giống đỏ” của ngành, địa phương, doanh nghiệp...

    Vậy, điều gì khiến họ sa ngã, suy thoái về chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng? Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ rõ, nguyên nhân sâu xa, chủ yếu là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất... Bên cạnh đó, Đảng ta cũng chỉ rõ vai trò, trách nhiệm của tổ chức Đảng: “Đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn nể nang, cục bộ. Một số cơ chế, chính sách trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa công bằng...”. Sự nể nang, cục bộ... trong công tác cán bộ diễn ra ở không ít tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương đã vô hình trung đưa vào bộ máy những nhân tố hãnh tiến, hiếu thắng, tư tưởng mang nặng chủ nghĩa cá nhân.

    Khi còn sống, ông Trần Trọng Tân, nguyên Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) có kể cho chúng tôi nghe câu chuyện nhỏ, đáng suy ngẫm. Chuyện là khi ông mới nghỉ hưu, một cán bộ tổ chức của địa phương đến nhà chúc Tết, có tham khảo ý kiến ông về một số nhân sự đang được quy hoạch nguồn cán bộ kế cận. Ông đã góp ý về một trường hợp cụ thể, rằng cậu ấy chưa đủ độ "chín" để giữ cương vị đó, cần thời gian rèn luyện, tu dưỡng thêm. Đưa một cán bộ trẻ có tư tưởng hãnh tiến, hiếu thắng, “ngựa non háu đá” vào vị trí quan trọng trong bộ máy công quyền, rất dễ gây họa. Mặc dù vậy, dự kiến của tổ chức vẫn không thay đổi. Vị cán bộ trẻ vẫn được bổ nhiệm theo quy trình. Mới đầu, anh ta gây chú ý bởi một số tuyên bố, hứa hẹn trong những lần đăng đàn hội nghị. Nhưng sau đó thì có biểu hiện lộng quyền, làm trái nguyên tắc, quyết định những vấn đề vượt thẩm quyền, kết bè kéo cánh, gây mất đoàn kết nội bộ và cuối cùng là bị xử lý kỷ luật, điều chuyển công tác.

    Dẫn một ví dụ như vậy để thấy, đưa cán bộ vào bộ máy thì dễ, nhưng khi cán bộ làm trái nguyên tắc, vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật, việc kiểm tra, điều tra, củng cố chứng cứ, hồ sơ để loại bỏ họ ra khỏi bộ máy lại vô cùng khó khăn, phức tạp. Khi đưa được họ ra khỏi bộ máy thì tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đó đã bị “ngấm đòn”, yếu kém, bết bát kéo dài, hậu quả để lại rất nặng nề.

    Phát biểu chỉ đạo Hội nghị cán bộ toàn quốc ngày 9-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở chỗ: Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân... Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ nhiều trường hợp còn nể nang, cục bộ...”.

Nhận diện, ứng xử với “ngựa non”

    Tính hãnh tiến, hiếu thắng thường xảy ra ở một bộ phận người trẻ, cán bộ trẻ. Nguyên nhân chính là do quá trình tu dưỡng, rèn luyện chưa đủ, non kém nhận thức, yếu bản lĩnh, cá nhân chủ nghĩa. Biểu hiện của những người này là thích thể hiện, thích được chú ý, muốn thành công bằng mọi giá, bất chấp thủ đoạn. Câu chuyện về anh thanh niên giả danh “thạc sĩ”, “bác sĩ” vào khu cách ly điều trị F0 ở TP Hồ Chí Minh đang gây xôn xao dư luận, cũng là một dạng biểu hiện của thói hãnh tiến, “ngựa non háu đá”...

    Trẻ hóa đội ngũ cán bộ, trọng dụng cán bộ trẻ là chủ trương lớn của Đảng. Đó vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhằm không ngừng nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, xây dựng đất nước hùng cường. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài...”.

    Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng, cần phải làm thật tốt công tác phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm, bố trí cán bộ. Đảng ta tin tưởng, kỳ vọng vào cán bộ trẻ, nhưng đó phải là những nhân tố hội tụ đủ cả đức lẫn tài. Chính đội ngũ cán bộ trẻ, nguồn nhân lực trẻ của Đảng trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là lực lượng chủ lực tạo bước phát triển mới của Đảng về trí tuệ, bản lĩnh chính trị. Để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh, gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ uy tín và năng lực lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi đội ngũ cán bộ trẻ phải thực sự là đạo đức, là văn minh từ tư duy, lời nói, việc làm. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Cán bộ dù ở vị trí nào cũng phải luôn luôn có ý thức đầy đủ về trách nhiệm của mình, làm "đúng vai, thuộc bài", thật sự có chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin yêu, quý trọng”.

    Đến Đại hội lần thứ XIII, hệ thống các quy định, hướng dẫn, nghị quyết... của Đảng về công tác cán bộ, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, bảo đảm chặt chẽ, khoa học. Thực hiện nghiêm các quy định, Điều lệ Đảng, sẽ không có chuyện bố trí sai người, sai việc. Tuy nhiên, mầm mống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện “lợi ích nhóm”, chạy chức, chạy quyền... trong hệ thống chính trị vẫn luôn là nguy cơ gây tổn hại đến uy tín, danh dự của Đảng. Bởi vậy, từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục, quán triệt, học tập nghị quyết của Đảng. Chỉ khi việc học tập trở thành nhu cầu tự thân, việc làm tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên thì chủ trương, chính sách, đặc biệt là trong công tác cán bộ, mới thực sự có hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

    Đảng khuyến khích và có chủ trương bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Đây là những đặc trưng, thế mạnh của cán bộ trẻ. Sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá... hoàn toàn đối lập với thói hãnh tiến, hiếu thắng, làm liều. Phân biệt những thuộc tính này đối với cán bộ trên thực tế không khó. Những cán bộ hội tụ đủ cả đức và tài, sự năng động, sáng tạo, đột phá của họ luôn hướng đến lợi ích chung, làm lợi cho tập thể, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Ngược lại, thói “ngựa non háu đá” của một bộ phận cán bộ hãnh tiến, hiếu thắng, thực chất là biểu hiện, hệ quả của tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. “Ngựa non háu đá” thì lực của những cú đá chỉ đủ lắc rung nhành cây, ngọn cỏ. Vấn đề là, khi đã biết đó là “ngựa non” thì tuyệt đối đừng để nó “sổng” vào khu hoa màu, tác hại khôn lường.


Người Mỹ đã nói gì về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên Tạp chí danh tiếng thế giới TIME.


          Số ra ngày 13/4/1998, Tạp chí danh tiếng thế giới của nước Mỹ có đưa danh sách 20 chính khách nổi tiếng của thế giới, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong 4 nhân vật châu Á trong tổng số 20 các nhà lãnh đạo và hoạt động cách mạng có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ XX. Trước đó, tạp chi này cũng đã 5 lần chọn ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh làm ảnh bìa trong những số ra dịp đặc biệt. “Một thân hình gầy yếu với chòm râu nhỏ, trong bộ đại cán cũ kỹ và đôi dép cao su đã mòn, Hồ Chí Minh thể hiện hình tượng về một Bác Hồ, khiêm tốn, hòa nhã. Nhưng ông là một nhà cách mạng dày dạn, một nhà dân tộc nhiệt thành luôn bị ám ảnh bởi mục đích duy nhất là độc lập cho tổ quốc mình. Chia sẻ nhiệt tình của ông, những người du kích nghèo khổ đã đào hầm, dựng chướng ngại vật, đập tan nỗ lực liều lĩnh của người Pháp hòng lập lại chế độ cai trị ở Đông Dương. Sau đó, kết hợp trong một quân đội rộng lớn, họ đã làm thất bại cố gắng to lớn của Mỹ hòng ngăn chặn người cộng sản đi theo Hồ Chí Minh kiểm soát Việt Nam. Đối với người Mỹ đây là cuộc chiến tranh dài nhất và là lần thất bại đầu tiên trong lịch sử của họ, nó còn làm thay đổi nghiêm trọng cách nhận thức về vai trò của họ trên thế giới.    Người Mỹ đã nói gì về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên Tạp chí danh tiếng thế giới TIME năm 1998?

          Trang bìa tạp chí TIME số ra ngày 22-11-1954, đây là lần đầu chân dung của chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trên trang bìa. Điều ông mang lại là linh hồn của những cuộc nổi dậy – trước hết là chống Pháp sau đó là chống Mỹ. Trong cuộc chiến tranh leo thang giữa những năm 1960, mối nguy đã trở lên rõ ràng đối với Lyndon rằng Việt Nam có thể gây nguy hiểm đến chức vụ Tổng thống của ông ta. Năm 1965, Johnson thử tiếp xúc ngoại giao. Quen thái độ ban phát kể cả với những nghị sĩ cứng đầu, ông ta tin rằng sách lược của Mỹ sẽ được thực thi. Johnson nói: “Già Hồ không thể từ chối tôi được”. Nhưng Hồ Chí Minh đã làm. Ông hiểu bất cứ thỏa thuận nào cũng có nghĩa rằng chấp nhận một sự chia cắt lâu dài và cướp đi giấc mơ của ông về việc thống nhất Việt Nam dưới một lá cờ. Không một sự thay đổi nào trong niềm tin của Hồ Chí Minh, không gì có thể lay chuyển được ý chí của ông. Ngay tất cả khi cuộc chiến tranh tàn phá đất nước khốc liệt nhất, ông vẫn tiếp tục tận tụy vì độc lập của Việt Nam. Và hàng triệu người Việt Nam chiến đã cùng chiến đấu anh dũng, hy sinh để đạt được mục đích ấy…”.

Phản bác quan điểm “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”

 Phản biện hay phản bội?

    Từ lúc chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng, lợi dụng việc góp ý văn kiện, một số người đã “phản biện” quan điểm của Đảng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ nên tập trung lãnh đạo chính trị, không nên lãnh đạo kinh tế”; “Đảng chỉ nên tự khuôn mình trong phạm vi “chính trị”, còn kinh tế là địa hạt của giới kinh doanh”...

    Hai năm gần đây, do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam chững lại, một số người lại đổ lỗi cho “Đảng Cộng sản Việt Nam không biết lãnh đạo kinh tế”, họ lại tiếp tục “phản biện” trên các mạng xã hội, trả lời báo chí nước ngoài rằng: “Đảng không nên “lấn sân” của Quốc hội, Chính phủ trong lĩnh vực kinh tế” và “khuyến nghị”: “Trong lĩnh vực kinh tế, đã có Quốc hội ban hành pháp luật và giám sát tối cao, đã có Chính phủ quản lý điều hành, không cần Đảng lãnh đạo”... Đó là những quan điểm sai lầm, lợi dụng phản biện để phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân.

    Thực tiễn đã khẳng định kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, quy định và chế ước lẫn nhau. Trên thế giới hiện nay, không có đảng phái chính trị nào không gắn kết với kinh tế. Lênin đã từng chỉ ra rằng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là kinh tế cô đọng lại.

    Kinh tế quyết định chính trị, chính trị phản ánh kinh tế, nhưng chính trị không thụ động trước kinh tế, mà có vai trò tác động trở lại với kinh tế hoặc tích cực, thúc đẩy kinh tế phát triển, nếu là chính trị đúng đắn, sáng suốt; hoặc tiêu cực, kìm hãm sự phát triển kinh tế và xã hội, nếu là chính trị sai lầm.  

    Các đảng lớn của các nước tư bản phát triển đều đưa ra đường lối chính trị, dẫn dắt sự phát triển xã hội theo lý tưởng, mục tiêu đã lựa chọn. Trong đường lối chính trị đó đều có đường lối phát triển kinh tế.

    Thực tiễn tại Việt Nam trong thế kỷ qua cho thấy, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Cũng có lúc Đảng ta có sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo kinh tế, nhưng trong suốt 92 năm qua, chưa bao giờ Đảng ta xem nhẹ, buông lỏng vấn đề lãnh đạo kinh tế.

    Nhờ chú trọng lãnh đạo kinh tế, bảo đảm sự đúng đắn và nhất quán về quan điểm chính trị trong lãnh đạo kinh tế mà Đảng ta đã nhanh chóng sửa chữa được khuyết điểm, giải quyết thành công nhiều nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế quan trọng, nhất là hơn 35 năm qua thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. 

Khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường

    Để “chứng minh” rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam không nên lãnh đạo kinh tế”, một số người xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta, họ cho rằng “không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”; “KTTT, các quy luật của KTTT và định hướng XHCN là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; ghép định hướng XHCN vào KTTT là sự gán ghép chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn”...

    Có lẽ những người nói trên đã không hiểu hoặc cố tình không hiểu bản chất của cơ chế thị trường và những khuyết tật của KTTT. Nguồn gốc và bản chất của KTTT là kinh tế hàng hóa; các phạm trù giá trị, giá cả, hàng hóa, tiền tệ, các quy luật cạnh tranh, quy luật cung-cầu, quy luật giá trị của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù và quy luật của KTTT.

    Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản (CNTB), được CNTB nắm lấy, sử dụng để phát triển thành KTTT tư bản chủ nghĩa. Trải qua thời gian, KTTT tư bản chủ nghĩa cũng có nhiều biến đổi. Thời kỳ đầu khi mới ra đời, KTTT tư bản chủ nghĩa là KTTT tự do cạnh tranh, chưa có sự can thiệp của nhà nước.

    Sự điều tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường đã đưa đến nhiều hệ quả tiêu cực, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ, nảy sinh ra nhiều khuyết tật của cơ chế thị trường, đòi hỏi phải có bàn tay quản lý của nhà nước.

    Ngày nay, nền KTTT hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền KTTT có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của thị trường, vừa có điều tiết bằng “bàn tay hữu hình” của nhà nước; trong đó, điều tiết của thị trường là cơ sở, nền tảng và điều tiết của nhà nước trên cơ sở tôn trọng điều tiết của thị trường (công cụ quản lý, điều tiết kinh tế của nhà nước là luật pháp, chính sách và các nguồn lực kinh tế của nhà nước).

    Thực tế cho thấy, KTTT có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới không phải hoàn toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào mức độ can thiệp và nội dung, định hướng can thiệp của nhà nước.

    Có mô hình KTTT tự do ở những nước mức độ can thiệp của nhà nước vào kinh tế thấp; nhà nước chỉ bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, tự do kinh doanh, bảo đảm trật tự, ổn định xã hội, còn để phạm vi điều tiết của thị trường lớn, điều tiết mọi hoạt động kinh tế.

    Có mô hình KTTT xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để tạo cơ hội như nhau cho mọi người tham gia phát triển và hưởng thành quả phát triển, chống lại độc quyền, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội (như ở Đức).

    Có mô hình KTTT phúc lợi xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để điều tiết thu nhập, phát triển các dịch vụ xã hội công, bảo đảm phúc lợi cho người dân, đặc biệt là những người cần được trợ giúp là trẻ em, người già, người thất nghiệp... (như ở các nước Bắc Âu). Có mô hình KTTT nhà nước phát triển, nhà nước không chỉ tạo thể chế, môi trường cho các chủ thể kinh tế hoạt động, mà còn có chiến lược, chính sách và sử dụng các nguồn lực kinh tế của nhà nước để định hướng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (như ở Nhật Bản, Hàn Quốc)...

    Phát triển KTTT định hướng XHCN là sự lựa chọn đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm hạn chế những khuyết tật của KTTT. Định hướng XHCN của nền KTTT được bảo đảm bởi vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được thể hiện ở hệ thống pháp luật, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để tạo ra môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững; gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế; thể hiện ở quan hệ phân phối để mọi người đều được hưởng thành quả phát triển đất nước.

    Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, mô hình kinh tế mà chúng ta xây dựng là mô hình KTTT định hướng XHCN. Đây là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay

    Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được hiến định trong Hiến pháp, văn bản pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp cũng hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

    Trong đó có lĩnh vực kinh tế. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không làm thay các cơ quan Nhà nước. Đảng lãnh đạo kinh tế bằng cách tạo ra bảo đảm chính trị cho hoạt động kinh tế, xác định phương hướng chính trị cho hoạt động kinh tế đúng đắn và lành mạnh .

    Chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, bảo đảm dân quyền để thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân là định hướng mục tiêu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng chủ trương “phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm”. Lãnh đạo kinh tế của Đảng đã trở thành mắt xích chủ yếu, quan trọng, thiết thực và quyết định nhất trong toàn bộ đường lối lãnh đạo, trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã vượt qua bao gian nan, thử thách, được cả thế giới ngưỡng mộ, đặc biệt là trong thời kỳ phải đối mặt với đại dịch Covid-19. Ngân hàng Standard Chartered mới đây đã đưa ra dự báo, nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2022, với tốc độ tăng trưởng 6,7%, tăng trưởng năm 2023 là 7% và Việt Nam tiếp tục có triển vọng tích cực trong trung hạn.

    Trong bản Cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 2, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh khởi đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. Fitch Ratings là một trong những tổ chức có cái nhìn lạc quan nhất về kinh tế Việt Nam với dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 7,9% trong năm nay và 6,5% vào năm 2023.

    Báo chí quốc tế trong thời gian gần đây đã có nhiều bài đánh giá tích cực triển vọng kinh tế Việt Nam nhờ chính sách ứng phó linh hoạt với Covid-19, hoạt động sản xuất, kinh tế đang ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ. Chuyên trang tư vấn đầu tư ở châu Á Vietnam Briefing của công ty Dezan Shira nhận định, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mới mà Việt Nam tham gia sẽ đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế khi Việt Nam mở cửa biên giới, tăng tốc phục hồi.

    Các FTA không chỉ giúp phát triển kinh tế, mạng lưới sản xuất, mà còn góp phần nâng cao các tiêu chuẩn lao động. Tờ Reuters cũng có bài viết khẳng định: Nhờ các chính sách linh hoạt của Chính phủ Việt Nam, các hoạt động kinh doanh đã được khôi phục, đặc biệt là từ quý IV năm trước, nhờ đó, ngành dệt may Việt Nam đã hạn chế đáng kể sự gián đoạn chuỗi cung ứng, kỳ vọng tăng mạnh xuất khẩu trong năm nay.

    Thực tiễn đã trả lời rõ ràng cho câu hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam có nên lãnh đạo kinh tế hay không. Thực tiễn cũng đã khẳng định những luận điệu tuyên truyền “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế" là xuyên tạc, kích động. Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái này.


NHỮNG ẢNH HƯỞNG XẤU CỦA CÁC “HIỆN TƯỢNG TÔN GIÁO MỚI”


          Những hoạt động của các "hiện tượng tôn giáo mới" không những gây phương hại đến chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tác động tiêu cực tới đời sống kinh tế mà còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống sinh hoạt của con người, làm thay đổi, xáo trộn về nếp sống, tập quán truyền thống của nhân dân, phá hoại thuần phong mỹ tục, văn hoá dân tộc...

          Một số “hiện tượng tôn giáo mới” tuyên truyền cách thức thực hành tín ngưỡng phản khoa học, phi đạo đức, thu lợi bất chính, như: Yêu cầu người đi theo phải đóng góp tiền của, công sức xây dựng mới hay tu sửa nơi thờ tự (thực chất là nhà riêng của những người cầm đầu, cốt cán), phục vụ những hoạt động nhằm duy trì và phát triển tổ chức của các đối tượng cầm đầu, cốt cán. Các “hiện tượng tôn giáo mới” còn tuyên truyền người tin theo không cần làm cũng có ăn, siêng năng cầu nguyện và trung thành với tổ chức sẽ được ban cho cuộc sống tốt đẹp, mọi nợ nần kể cả vay tiền ngân hàng hay cá nhân đều được xóa bỏ, không bị ốm đau bệnh tật và bất hạnh trong cuộc sống. Để giữ niềm tin cho những người tham gia, đồng thời ép những người khác trong gia đình phải đi theo, những người cầm đầu, cốt cán của các “hiện tượng tôn giáo mới” thường yêu cầu và buộc số người tin theo không được tiếp xúc và quan hệ với người khác niềm tin, tự tổ chức làm riêng và đổi công cho nhau trong nhóm, ăn riêng và sinh hoạt riêng, kể cả trong gia đình nếu vợ chồng, con cái có người theo và không theo cũng phải tách ra để làm ăn và sinh hoạt riêng, thậm chí li dị và phân chia tài sản, con cái. Đồng thời, không tham gia các chương trình, dự án, chính sách phát triển, hỗ trợ của chính quyền và tổ chức xã hội,... Do vậy, đời sống kinh tế cũng như sự hiểu biết về xã hội của những gia đình này đã thấp lại gặp nhiều khó khăn hơn.

          Phần lớn các “hiện tượng tôn giáo mới” đều tuyên truyền và thực hành những hoạt động có yếu tố mê tín dị đoan, đi ngược lại truyền thống văn hoá dân tộc, như: Xem tướng số, bói toán về số phận con người, không tham gia các lễ hội và sinh hoạt văn hóa chung của cộng đồng; không thực hiện phong tục tập quán và tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, đồng thời phủ nhận các tôn giáo chính thống, kể cả tôn giáo đó là nguồn gốc của mình,... Do đó, đời sống văn hóa của những người tin theo “hiện tượng tôn giáo mới” thường bị bó hẹp và góp phần làm mất đi các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong bộ phận dân cư này. . . Mặt khác, các “hiện tượng tôn giáo mới” còn tuyên truyền và thực hành chữa bệnh không cần dùng thuốc và thăm khám chữa trị ở các cơ sở y tế, mà chỉ cần tin vào đấng siêu linh được tôn thờ và thực tâm siêng năng cầu nguyện sẽ khỏi. Cùng với đó là việc thực hành những phương pháp chữa bệnh mang tính ma thuật, phản khoa học, như: viết lời cầu nguyện ra giấy để đọc sau đó đốt lấy tro hòa nước uống sẽ khỏi bệnh hay tập trung quanh người bệnh để cầu nguyện với niềm tin hết ốm đau. Và do tồn tại bất hợp pháp nên các buổi sinh hoạt chung của nhóm hay riêng trong nội bộ gia đình thường được tổ chức lén lút vào lúc nửa đêm về sáng, những nơi hoang vắng để tránh bị các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương quản lý, nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, đời sống sinh hoạt của những người tin theo, nhất là trẻ em và người già cũng như gây mất an ninh trật tự cộng đồng.

          Ngoài ra, một số hoạt động của “hiện tượng tôn giáo mới” còn gây ra sự hoang mang trong giáo dục học đường, thậm chí cả cho các bậc phụ huynh. Họ gửi thư tuyên truyền đến cho các em học sinh còn quá ít tuổi, khi mà họ vô tình hoặc cố ý biết tên, địa chỉ các em. Nhất là, trong nội dung thư có nội dung tuyên truyền về “ngày tận thế”, về “thời mạt pháp”, đe dọa nếu nhận được thư mà không viết thư hoặc tuyên truyền cho người khác thì sẽ bị rủi ro, tai nạn, có khi thiệt mạng,...

          Như vậy, những hoạt động của các “hiện tượng tôn giáo mới” tác động xấu đến sức khỏe, đời sống sinh hoạt của con người, có nhiều biểu hiện mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, chối bỏ văn minh, truyền thống văn hóa, đạo đức của người Việt, gây mất đoàn kết trong cộng đồng. Trong khi đất nước ta đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì những hoạt động đó đã và đang gây cản trở không nhỏ, khiến quần chúng nhân dân bất bình, phản đối.

 

“Bắt đúng bệnh, tìm đúng thuốc”

     Cần thẳng thắn thừa nhận thực tế là từ khi nước nhà thống nhất cho đến nay có thời gian, có nơi công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa được coi trọng đúng mức. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”(1)

    Từ đánh giá đó, Đảng ta đã đi vào “mổ xẻ từng ung nhọt trên cơ thể mình”. Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta đã chỉ rõ các căn bệnh chính của cán bộ, công chức, đảng viên đó là: Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực, bè phái cục bộ, mất đoàn kết, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân.v.v... Các căn bệnh như đã nêu được Đảng ta quy thành hai nhóm, đó là những hành vi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và nhóm những việc làm sai trái trong công tác cán bộ mà cụ thể là tình trạng chạy chức, chạy quyền.

    Nguyên nhân cơ bản của những căn bệnh trong Đảng và hệ thống chính trị dù ở nhóm nào cũng từ chủ nghĩa cá nhân (CNCN) mà ra. Đảng ta coi CNCN như một thứ vi trùng vô cùng độc hại gây ra đủ các thứ bệnh rất nguy hiểm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”. Từ chỗ coi CNCN là “kẻ thù của cách mạng”, Đảng ta xác định, đấu tranh chống CNCN là một nội dung trọng tâm và cũng là một giải pháp rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Có thể nói Đảng ta đã “bắt đúng bệnh”, vấn đề còn lại là tìm “đúng thuốc” để phòng ngừa, chữa trị.

    Những căn bệnh mà cán bộ, công chức, đảng viên dễ mắc phải không khó để nhìn thấy, nhận thấy nhưng khi đi vào mổ xẻ, phân tích để công khai, chỉ tên từng con người cụ thể là việc không hề đơn giản. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra: “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là công tác con người, rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con người, đòi hỏi mỗi chúng ta phải tự phê bình, phân tích, mổ xẻ những ưu, khuyết điểm của chính bản thân mình; phải nhận xét, đánh giá về người khác...”(2). Mục đích của tự phê bình và phê bình theo đúng nghĩa rất nhân văn và hữu ích. Nhưng với không ít người sau khi đối mặt với phê bình, chỉ trích, danh dự, uy tín bị ảnh hưởng đã sa sút ý chí phấn đấu, giảm sút tinh thần, thậm chí có người tìm cách trả đũa người đã phê bình mình... Nói như thế để thấy cuộc đấu tranh phòng ngừa, điều trị những căn bệnh trong Đảng rất khó khăn, phức tạp.

    Dân gian có câu "Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng". Những lời chỉ trích mạnh mẽ, những hình thức xử lý kỷ luật dù khó chấp nhận, nhưng lại góp phần rất quan trọng vào sự phát triển, thành công của mỗi cán bộ, công chức, đảng viên cũng như từng tập thể, tổ chức trong Đảng và hệ thống chính trị. Trong 5 năm (2016 - 2020), hơn 25.000 cán bộ, đảng viên suy thoái, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" bị kỷ luật, trong đó hơn 8.200 đảng viên bị xử lý kỷ luật do suy thoái về tư tưởng chính trị, hơn 15.000 cán bộ, đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống; hơn 110 cán bộ diện Trung ương quản lý bị kỷ luật và xử lý hình sự, trong đó có 27 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương và 4 Ủy viên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị… Những con số biết nói ấy đã phần nào thể hiện rõ tinh thần quyết tâm, tính chất quyết liệt của Đảng ta trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

    Sự dũng cảm, mổ sẻ và kiên quyết chặt bỏ những “cành sâu mọt” ấy không làm Đảng ta yếu đi mà thực sự đã và đang làm cho Đảng ta ngày càng mạnh lên. Nhiều mặt hạn chế, yếu kém mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra đã được khắc phục. Bước đầu chúng ta đã ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những kết quả đã đạt được trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã khẳng định trong xã hội ta công tội rõ ràng, tốt xấu phân minh, trắng đen không thể lẫn lộn. Đảng và Nhà nước ta không thể để những người suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tự tung tự tác làm tổn hại tới thanh danh của Đảng và hệ thống chính trị.

    Có thể khẳng định, những kết quả bước đầu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã góp phần cảnh báo, răn đe, giáo dục với đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên trong Đảng và hệ thống chính trị; làm cho xã hội trong sạch, lành mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ được củng cố và tăng cường. Đây là nguồn động lực to lớn để Đảng ta tiếp tục nêu cao quyết tâm chính trị, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ hơn trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.


Giữ vững bản lĩnh quân nhân cách mạng

 

          Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới thể hiện tư duy rất toàn diện và đặt ra yêu cầu cao về việc xây dựng, giữ vững bản lĩnh quân nhân cách mạng.

          Yêu cầu này cần được nhận thức đầy đủ và triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt ở tất cả các cấp. Chúng ta biết rằng, giá trị cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ là sự hội tụ và kết tinh nhiều phẩm chất cao quý. Trong đó, một phẩm chất rất đáng quý là phải có bản lĩnh chính trị vững vàng. Gần 8 thập niên xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã hun đúc, tôi luyện nên những cán bộ, chiến sĩ có "bản lĩnh sắt thép", luôn sẵn sàng “Đạp quân thù xuống đất đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”.

          Đức tính của mỗi con người được tạo nên bởi nhiều phẩm chất xã hội khác nhau. Trong đó “bản lĩnh” là phẩm chất cơ bản được hình thành qua quá trình rèn luyện bền bỉ, lâu dài. Trong ngôn ngữ, từ “bản” nghĩa là gốc, nền tảng; yếu tố “lĩnh” thường gắn với ý nghĩa là đứng đầu, chỉ huy như “thủ lĩnh”, “tướng lĩnh”. “Bản lĩnh” có thể hiểu là phẩm chất của người có năng lực, tự tin, dám đi đầu, dám xông pha, bứt phá, dám chịu trách nhiệm, không lùi bước trước mọi khó khăn, thử thách. Với mỗi quân nhân, được rèn luyện tổng hợp trong môi trường quân ngũ là điều kiện thuận lợi để hình thành nên bản lĩnh vững vàng. Đặc biệt, hoạt động quân sự có tính đặc thù cao, diễn ra trong điều kiện khó khăn, phức tạp, gian khổ, ác liệt, nếu không có bản lĩnh thì con người không thể vượt qua. Chính vì vậy, bản lĩnh được hình thành từ thực tiễn chiến đấu, lao động và công tác. Có bản lĩnh, bộ đội sẵn sàng thực hiện lời thề thiêng liêng “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam...”.

          Bản lĩnh của người quân nhân cách mạng được tôi rèn thì “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục”. “Bản lĩnh” là một phẩm chất chung gắn với nhiều yếu tố, như: “Bản lĩnh chính trị”, “bản lĩnh chiến đấu”, “bản lĩnh công tác”, “bản lĩnh khoa học”... Trong phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, bản lĩnh chính trị là yếu tố đầu tiên. Đó là khả năng nhận thức chính trị, lập trường, quan điểm, thái độ chính trị, là ý chí và niềm tin vào giai cấp và chế độ. Đó cũng là yếu tố để mỗi quân nhân tự trả lời câu hỏi phục vụ lợi ích của ai? Chiến đấu, hy sinh vì cái gì? Quân đội ta là đội quân trung thành tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và nhân dân, “sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội”. Trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, Quân ủy Trung ương chỉ rõ bản lĩnh chính trị là “tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Kiên định lập trường Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Bản lĩnh chính trị vững vàng giúp bộ đội kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, nhận thức rõ chức năng, nhiệm vụ được giao, giữ vững trận địa tư tưởng, tạo ra sức mạnh quân sự, có khả năng “miễn dịch” trước những luận điệu xuyên tạc và hành động chống phá của các thế lực thù địch.       Thực tế trong chiến đấu, trong những tình huống cam go, ác liệt nhất, bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ được phát huy trở thành biểu tượng sáng ngời về hình ảnh con người Việt Nam. Bác Hồ từng giáo dục, rèn luyện bản lĩnh cho bộ đội phải luôn kiên định, vững vàng “lúc có địch cũng trấn tĩnh như không có địch, xa địch cũng nghiêm ngặt như gần địch”. Thế nên nhờ có bản lĩnh tuyệt vời, phi công Phạm Tuân mới vững tay lái Mic-21 hạ gục cả "pháo đài bay" B-52 trong tích tắc, bản lĩnh làm nên kỳ tích “1 thắng 20” của Tiểu đội Bùi Ngọc Đủ, bản lĩnh giúp Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân dẫu bị thương nát đùi vẫn bám trụ trận địa động viên bộ đội “nhằm thẳng quân thù mà bắn”... Và hàng triệu người con ưu tú khác đứng trong hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam với bản lĩnh vững vàng đã làm nên lịch sử. Họ là những tượng đài bất tử được nhân dân ngợi ca: “Hoan hô anh Giải phóng quân/ Kính chào anh, con người đẹp nhất!/ Lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất/ Sống hiên ngang, bất khuất trên đời” (Tố Hữu).      Không chỉ trong chiến đấu, bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ còn được biểu hiện trong quá trình công tác. Quân đội ta đóng quân trên khắp mọi miền Tổ quốc, ở đâu cũng có bóng dáng cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm canh giữ biển trời, biên cương đất nước. Họ là những chiến sĩ biên phòng dầm sương giá rét tuần tra biên giới, phòng, chống tội phạm. Là chiến sĩ hải quân vượt trùng dương đóng quân trên các nhà giàn, các điểm đảo. Là những bác sĩ quân y lao vào tâm dịch cứu chữa người nhiễm Covid-19... Họ còn là những người lính công nghệ của Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội đã chung sức đưa tập đoàn trở thành đơn vị cung cấp viễn thông lớn nhất Việt Nam và đầu tư kinh doanh tại hàng chục quốc gia ở 3 châu lục. Những cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị khác nhau sẵn sàng làm việc trong những điều kiện đặc biệt, độc lập công tác, xa gia đình, người thân, đời sống thiếu thốn... Tất cả những trở ngại đó nếu không có bản lĩnh chắc chắn sẽ không thể vượt qua.

          Mỗi quân nhân không chỉ thực hiện nhiệm vụ tại đơn vị mà còn tham gia các hoạt động ngoài xã hội. Đó là điều kiện thuận lợi để bộ đội hòa nhập với môi trường xung quanh. Đất nước bước vào thời kỳ phát triển kinh tế, đời sống xã hội được nâng lên, điều kiện công tác của bộ đội cũng được cải thiện. Bên cạnh những thuận lợi cũng đặt ra những thách thức lớn, trước hết là về nhận thức. Lối sống thực dụng, ưa thụ hưởng, thích những nơi công tác thuận lợi, vị trí có điều kiện thăng tiến, ngại đi vùng sâu, vùng xa, ngại phấn đấu, rèn luyện đang tác động đến tâm tư, nguyện vọng của bộ đội.

          Những cám dỗ về vật chất, các tệ nạn xã hội, sản phẩm phi văn hóa, thông tin phản động đang từng ngày len lỏi vào trong suy nghĩ, lối sống của cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt, các chiến sĩ trẻ là thành phần dễ chịu ảnh hưởng, tác động của các yếu tố trên. Vậy điều gì có thể tạo ra “sức đề kháng” để vượt lên trên mọi cám dỗ, tệ nạn, thói hư tật xấu? Có thể khẳng định, đó chính là bản lĩnh. Bản lĩnh thời nay của Bộ đội Cụ Hồ là sức mạnh để tiếp nhận những yếu tố mới tiến bộ, tránh xa những tiêu cực, lạc hậu, thói hư tật xấu. Bản lĩnh giúp bộ đội tự tin dấn thân trong công tác và lao động, bản lĩnh để sáng tạo và cống hiến.

          Hiện nay, mục tiêu xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” đòi hỏi mỗi quân nhân không chỉ giữ vững bản lĩnh chính trị, bản lĩnh cách mạng mà cần phải có bản lĩnh trong xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, trong học tập, công tác, nghiên cứu khoa học mới có thể xây dựng quân đội vững mạnh, tinh nhuệ và hiện đại. Nét đẹp bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ trong chiến đấu phải được kế thừa và phát triển lên tầm cao mới, bản lĩnh để làm giàu thêm tri thức, để hội nhập và phát triển.

          Có thể khẳng định, bản lĩnh đã tạo nên nét đẹp văn hóa trong nhân cách Bộ đội Cụ Hồ. Bản lĩnh là thước đo phẩm chất, là yếu tố tiên khởi để đánh giá người quân nhân cách mạng. Chính vì vậy, việc rèn luyện bản lĩnh là yêu cầu tự thân của mỗi quân nhân. Bên cạnh đó, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị cần luôn quan tâm đến việc xây dựng, rèn luyện bản lĩnh cho bộ đội thông qua học tập, bồi dưỡng lý tưởng, kiến thức, truyền thụ kinh nghiệm, giao nhiệm vụ thực tế, đưa bộ đội vào từng hoàn cảnh cụ thể sát với yêu cầu nhiệm vụ. Có bản lĩnh, bộ đội sẽ vững vàng trong mọi điều kiện, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, từ đó, ngày càng trưởng thành và tiến bộ. Bản lĩnh vững vàng trong mọi hoàn cảnh sẽ mãi là phẩm chất cao quý của người quân nhân cách mạng, nét đẹp văn hóa ngời sáng Bộ đội Cụ Hồ.

Quyết tâm làm nên những điều kỳ diệu

 

Qua nhiều lần gặp và trò chuyện với Trung tướng, Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Tiến Bình, nguyên Giám đốc Học viện Quân y (HVQY), đọng lại trong chúng tôi là hình ảnh một vị tướng đa tài nhưng dung dị, gần gũi, rất ham học và đầy sáng tạo.

Tuổi trẻ và niềm tin phấn đấu

Nguyễn Tiến Bình sinh ra ở vùng quê nghèo của tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Nhà đông anh em nên mỗi khi đi học về, Bình lại tất tả ra đồng, cùng bố mẹ gặt hái, cày cấy. Đến đêm khi cả nhà đã yên giấc, cậu lại giở sách ra học dưới ánh đèn dầu leo lét. Trong những năm kháng chiến, có đến 15 năm Bình sống xa gia đình tự học tập, phấn đấu. Vất vả là thế nhưng cậu học trò nghèo Nguyễn Tiến Bình luôn có thành tích học tập xuất sắc. Chính vì vậy, Bình thường được chọn tham gia đoàn học sinh tiêu biểu của địa phương, được dự nhiều cuộc gặp, đón các vị lãnh đạo cao cấp, đặc biệt là những lần được đón Bác Hồ khiến ông nhớ mãi. Từ trải nghiệm chân thật của mình, sau này ông đã đưa vào bài thuyết trình và đoạt giải nhất Hội thi báo cáo viên toàn quân với chủ đề kể chuyện Bác Hồ vào đầu những năm 2000. Sau đó, khi dự thi cấp toàn quốc ông cũng đoạt thứ hạng cao. Năm ấy, ông mang quân hàm đại tá và đang công tác tại Bệnh viện Trung ương Quân đội (BVTƯQĐ) 108. 

Trung tướng Nguyễn Tiến Bình trò chuyện với phóng viên. Ảnh: TUẤN TÚ 

Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, GS, TS Nguyễn Tiến Bình là một trong số ít các chuyên gia y tế đầu ngành thông thạo hơn 3 ngoại ngữ. Bản thân ông sinh ra trong gia đình hết sức khó khăn, nhờ nỗ lực học tập đã giúp ông có trình độ, bản lĩnh vững vàng trong quá trình công tác, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Ngoài ra, ông còn được đồng đội gọi vui với biệt danh là “ngũ sĩ” (gồm chiến sĩ, bác sĩ, tiến sĩ, văn sĩ, họa sĩ) bởi ngoài việc chữa bệnh cứu người, có học vị cao, ông còn có khiếu văn chương và hội họa. Nhiều truyện ngắn của ông được đăng trên Báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ quân đội. Hàng trăm bức tranh sơn dầu của “họa sĩ tay ngang” Nguyễn Tiến Bình đã được trưng bày tại các cuộc triển lãm nghệ thuật. Đặc biệt, sau thành công của Triển lãm “Nguyễn Tiến Bình và chuỗi ký ức” được tổ chức tại HVQY tháng 10-2014, Trung tướng Nguyễn Tiến Bình đã thực hiện nghĩa cử cao đẹp là quyết định dành toàn bộ tiền bán tranh tặng lại học viện để gây “Quỹ khích lệ học viên giỏi” nhằm thúc đẩy động lực phấn đấu của những người thầy thuốc tương lai. Được biết, hiện nay, quỹ vẫn đang được HVQY duy trì hoạt động hiệu quả. Từ đây, nhiều học viên có hoàn cảnh khó khăn, học giỏi đã được hỗ trợ học bổng để có thêm kinh phí phục vụ việc học tập, nghiên cứu khoa học của mình.

Khát vọng mang tên “chiều cao”

Là người lính mang trên mình chiếc áo blouse trắng, tham gia công tác chữa bệnh, cứu người, thường xuyên đối diện với cuộc chiến sinh tử, GS Nguyễn Tiến Bình chưa bao giờ thôi khao khát tìm ra những phương pháp mới để đưa người bệnh vượt qua lưỡi hái của tử thần. Ông vẫn nhớ mãi khoảng thời gian sang công tác tại Campuchia khi cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam diễn ra ác liệt. Ngay khi có mặt ở chiến trường, bác sĩ trẻ Nguyễn Tiến Bình mạnh dạn sử dụng phương pháp cắt cụt theo Marcelin Duval kết hợp với việc rạch mổ hai bên vết thương để dịch thoát ra và đã khắc phục được tình trạng vết thương bị hoại tử do hiện tượng mìn phá. Nhờ vậy, nhiều thương binh đã được cứu sống. Bên cạnh đó, hai lần được tăng cường lên biên giới phía Bắc, bằng năng lực chuyên môn và sự nhạy bén, ông đã tham gia cứu chữa hàng trăm thương binh qua cơn hiểm nghèo với nhiều ca phẫu thuật khó.

Gần 40 năm gắn bó với y học và công tác chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân, Trung tướng Nguyễn Tiến Bình là tấm gương sáng về tinh thần ham học, luôn hướng tới những điều mới mẻ mang tính đột phá. Ông là một trong những chuyên viên đầu ngành chấn thương-chỉnh hình của quân đội và cũng là của cả nước với gần 100 đề tài, công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí chuyên ngành y học trong và ngoài nước. Cho đến nay, ít người biết, người đầu tiên thực hiện các ca phẫu thuật kéo dài chân ở BVTƯQĐ 108 là Chủ nhiệm khoa Chấn thương-Chỉnh hình Nguyễn Tiến Bình. Ông tâm sự: “Vẫn biết cơ sở hạ tầng, trang thiết bị ở ta còn khiêm tốn so với các nước tiên tiến. Nhưng một khi có quyết tâm, có kế hoạch khoa học, công tác tổ chức tốt, làm việc chăm chỉ với tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết tâm và quyết thắng thì chúng ta có thể làm nên những điều kỳ diệu”. 

 Trung tướng Nguyễn Tiến Bình giới thiệu tập tranh của mình ở triển lãm tổ chức tại Học viện Quân y năm 2014.  Ảnh: LÊ HUYỀN

Trung tướng Nguyễn Tiến Bình cho biết, phẫu thuật kéo dài chân có mặt ở Việt Nam từ những năm 60 của thế kỷ trước, song mục đích chủ yếu là điều trị bệnh lý. Còn ở BVTƯQĐ 108, từ năm 1986, kỹ thuật này được đưa vào điều trị cho thương binh, bệnh binh bị mất xương; trẻ em bị dị tật bẩm sinh như sai khớp háng, chân thấp chân cao... “Tôi luôn trăn trở tại sao không dùng kỹ thuật này để nâng chiều cao cho những người có tầm vóc thấp?”, GS Bình nhớ lại. Ông cho rằng mong muốn kéo dài chân của những người có tầm vóc thấp là rất chính đáng, xuất phát từ hai nhu cầu cơ bản là tâm lý và thẩm mỹ. Kéo dài chân có thể kéo ở hai nơi là cẳng chân và đùi. Cẳng chân có thể kéo dài được đến 8,5cm, còn đùi cũng là 8cm. Độ tuổi tốt nhất để một người tiến hành phẫu thuật kéo dài chân là từ 18 đến 35, bởi đây là giai đoạn xương đã hết tuổi phát triển và có khả năng phục hồi tốt. Tuy nhiên, việc có thể phẫu thuật hay khả năng kéo dài xương được bao nhiêu còn tùy thuộc vào các chỉ số đáp ứng của bệnh nhân cũng như nguyện vọng của họ. Những ca phẫu thuật như vậy cần có sự phối hợp đồng bộ của nhiều khâu. Trong đó, công việc chăm sóc sau mổ cũng rất khó khăn bởi các biến chứng có thể gặp phải... Vì vậy, sau thời gian nghiên cứu, hoàn thiện quy trình, đích thân ông trực tiếp đứng mổ ca đầu tiên và đã thành công tại BVTƯQĐ 108. Những năm sau này, ngoài BVTƯQĐ 108, kỹ thuật kéo dài chân cũng được thực hiện ở nhiều bệnh viện với hàng nghìn bệnh nhân được điều trị thành công. Khát vọng mang tên chiều cao của nhiều người đã trở thành hiện thực, giúp họ tự tin hòa nhập với cuộc sống.

Năm 2005, TS Nguyễn Tiến Bình rời BVTƯQĐ 108 về nhận nhiệm vụ mới là Phó giám đốc rồi Giám đốc HVQY. Ông đã cùng với Đảng ủy, Ban giám đốc học viện tạo ra những bước “đột phá” trong y học. Tiêu biểu là thành công của đề tài được Nhà nước giao là “Nghiên cứu và thực hiện ghép tim trên người từ người cho chết não” mà ông làm chủ nhiệm với ca phẫu thuật đầu tiên thành công ngày 17-6-2010 đã một lần nữa khẳng định, đội ngũ thầy thuốc Việt Nam nói chung và thầy thuốc quân đội nói riêng có thể làm được tất cả những gì mà các thầy thuốc trên thế giới đã làm. Hiện nay, dù đã nghỉ công tác nhiều năm, Trung tướng Nguyễn Tiến Bình vẫn tham gia thực hiện nhiều nghiên cứu khoa học, đồng thời là hướng dẫn, giúp đỡ nhiều nhà khoa học trẻ hoàn thiện các đề tài của mình.

 Nguồn báo Quân Đội Nhân Dân

Nét đẹp nữ quân nhân

 

Những năm qua, bằng tài năng, nghị lực, sức sáng tạo, các nữ quân nhân có mặt trên tất cả các lĩnh vực, chuyên ngành hoạt động, kể cả những lĩnh vực hết sức đặc thù. Dù khó khăn, vất vả, đối mặt với hiểm nguy nhưng các chị luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ, không ngừng sáng tạo và cống hiến.

Mỗi hành động, việc làm của các chị không chỉ thể hiện bản lĩnh, trí tuệ của phụ nữ Việt Nam mà còn góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước, tô thắm thêm hình ảnh phụ nữ Việt Nam, phụ nữ quân đội trên trường quốc tế.

Nét đẹp nữ quân nhân
Trung tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng động viên các nữ quân nhân Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 3 lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình tại phái bộ ở Nam Sudan, năm 2021. 
Nét đẹp nữ quân nhân
 Phụ nữ Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội với hoạt động "Gian hàng 0 đồng" giúp đỡ nhân dân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.
Nét đẹp nữ quân nhân
Các nữ quân nhân mạnh mẽ, rắn rỏi, không kém phần quyết liệt trong bộ môn võ chiến đấu tay không. 
Nét đẹp nữ quân nhân
Những "bông hồng thép" trong đội hình bắn tỉa. 
Nguồn Báo QĐND

Gắn bó máu thịt với nhân dân

 

Một trong những yếu tố thuộc về đặc trưng của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được xác định trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương là “gắn bó máu thịt với nhân dân”.

Đây là nét đẹp truyền thống, là cội nguồn sức mạnh của Quân đội ta, được hình thành ngay từ khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và ngày càng phát triển lên tầm cao mới theo bề dày thời gian.

Ngược dòng lịch sử, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập. Từ 34 chiến sĩ, trải qua hơn 77 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đùm bọc, che chở, giúp đỡ của nhân dân, đội quân ấy đã lớn mạnh không ngừng, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tiếp tục khẳng định, tô thắm truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân. Sự gắn bó đó là mối quan hệ bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa quân và dân. Nhân dân luôn là nguồn sức mạnh to lớn của quân đội, giúp cho quân đội chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù. Ngược lại, quân đội luôn “hiếu với dân”, sẵn sàng xả thân chiến đấu, hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân bất kể hiểm nguy, gian khổ.

Gắn bó máu thịt với nhân dân
Bộ đội giúp dân khắc phục hậu quả và dọn dẹp sau lũ. Ảnh: Tuấn Sơn.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: “Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân”. Người thường xuyên căn dặn cán bộ, chiến sĩ quân đội: “Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”. Với mục tiêu đánh đuổi phát xít, thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, mang lại cơm no, áo ấm cho nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ kính yêu, Quân đội ta đã anh dũng chiến đấu; cán bộ, chiến sĩ quân đội không tiếc máu xương để đổi lấy cuộc sống hạnh phúc, yên bình cho nhân dân. Khi Tổ quốc lâm nguy, cuộc sống của nhân dân bị đe dọa, hàng triệu cán bộ, chiến sĩ xung phong ra mặt trận, xông pha trong bom đạn chiến tranh, để lại gia đình, cha mẹ, vợ con nơi quê nhà để chiến đấu cho Tổ quốc trường tồn, cho nhân dân không còn cảnh đau thương, cơ cực. Trong số họ, không ít người đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường ở tuổi hai mươi.

Ngay cả khi đất nước đã hòa bình, thống nhất, bao người lính vẫn đằng đẵng xa nhà, chấp nhận mọi khó khăn, vất vả, kể cả hiểm nguy để canh giữ chủ quyền biên giới quốc gia, biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Hòa bình rồi nhưng máu của Bộ đội Cụ Hồ vẫn đổ trong lúc giúp dân chống thiên tai, lũ lụt. Hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ dầm mình cứu dân trong lũ dữ; đẫm mồ hôi mang lương thực, thực phẩm tiếp tế nhân dân bị cô lập bởi mưa bão, thiên tai... càng tỏa sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Mới đây nhất, đợt dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát mạnh ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, hàng chục vạn lượt cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang không quản ngại vất vả, nguy cơ lây nhiễm, dũng cảm lao vào “cuộc chiến” chống dịch, cứu dân. Bộ đội, bác sĩ quân y ở khắp các đơn vị toàn quân hừng hực khí thế “đi về phía nhân dân” với tinh thần “tính mạng của nhân dân trên hết, trước hết”. Lực lượng vũ trang Quân khu 7 phát động Phong trào thi đua đặc biệt “Chống dịch, cứu dân”; tổ chức các chương trình 5.000 phần quà hỗ trợ nhân dân, rồi 10.000, 20.000, 100.000 phần quà giúp dân chống đói, ổn định an sinh. Ở địa bàn biên giới, Bộ đội Biên phòng cắm chốt ngay từ đầu khi dịch xuất hiện, căng mình tuần tra đường mòn, lối mở để phòng ngừa, ngăn chặn dịch bệnh. Hàng trăm cán bộ, chiến sĩ có người thân qua đời vì ốm đau, dịch bệnh nhưng không thể về tiễn biệt lần cuối, phải nén đau thương bái vọng từ xa...

Cũng ở tuyến biên giới, địa bàn vùng sâu, vùng xa, nơi đất cằn sỏi đá, nước độc rừng thiêng, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ các đơn vị kinh tế-quốc phòng bám trụ, đồng hành với nhân dân; hằng ngày cầm tay, chỉ việc, hỗ trợ giống, vốn, hướng dẫn kỹ thuật để bà con biết trồng trọt, chăn nuôi, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ cao cả ấy, đã có bao mất mát, hy sinh giữa thời bình vì cuộc sống của nhân dân...

Tất cả những điều đó đã góp phần khẳng định, ở những nơi nguy hiểm nhất, gian khổ nhất, xa xôi nhất đều có mặt Bộ đội Cụ Hồ sát cánh cùng nhân dân vượt qua mọi chông gai, thử thách; tận tình bảo vệ và giúp đỡ nhân dân. Tình đoàn kết quân dân gắn bó máu thịt đã trở thành nét đẹp văn hóa, thẳm sâu trong con tim, khối óc của mỗi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, bởi họ luôn thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có dân thì không có bộ đội”, “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”. Cho nên, dẫu xông pha trong lửa đạn, oằn mình trong bão lũ, vất vả giữa trùng khơi hay nhọc nhằn nơi biên viễn..., mỗi cán bộ, chiến sĩ đều hiểu rõ trách nhiệm, vinh dự của mình-đó là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chính những người thân yêu của mình nơi quê hương yêu dấu. Bởi thế, họ sẵn sàng, tự nguyện chấp nhận hy sinh. Và sự hy sinh đó đã góp phần vun đắp thêm truyền thống đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, làm sáng đẹp phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ...

Đáp lại tình cảm sâu nặng của Bộ đội Cụ Hồ, hơn 77 năm qua, nhân dân luôn tin yêu, quý mến, đùm bọc, giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân. Thực tiễn lịch sử cho thấy, Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Cán bộ, chiến sĩ quân đội đều là con em của nhân dân, nên được dân yêu, dân mến, dân nuôi dưỡng, che chở. Trong những năm chiến tranh, nhân dân chính là hậu phương vững chắc, là căn cứ địa an toàn nhất cho bộ đội đánh giặc. Hình ảnh những bà mẹ, những người chị chắt chiu, gom góp cho đầy “hũ gạo kháng chiến”, gửi áo ấm, chăn màn cho chiến sĩ; đào hầm nuôi giấu bộ đội... mãi là những hình ảnh cao đẹp của tình quân dân, của lòng dân trời biển. Hẳn chúng ta không thể quên những khẩu hiệu, phong trào thi đua: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”, “Tất cả vì tiền tuyến”, “Ba đảm đang”, “Ba sẵn sàng”, “Tay cày, tay súng”... được triển khai sâu rộng để bộ đội “ăn no, đánh thắng”, hỗ trợ tiền tuyến, cổ vũ bộ đội vững tâm chiến đấu, đánh đuổi quân thù, thu non sông về một mối.

Đất nước hòa bình, thống nhất, sự gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân tiếp tục thêm khăng khít. Hàng loạt chương trình, mô hình nhân dân chung sức chăm lo cho bộ đội, chăm lo cho nhiệm vụ quốc phòng-an ninh ngày càng phát triển mạnh mẽ. Điển hình như các phong trào: “Góp đá xây Trường Sa”; “Thắp sáng nhà giàn DK1”, mô hình “Mái ấm cho chiến sĩ, người nghèo nơi biên giới”, “Nước ngọt vùng biên”, Quỹ “Vì biển đảo quê hương-Vì tuyến đầu Tổ quốc”... thể hiện sâu sắc ý Đảng, lòng dân và thấm nhuần bài học từ lịch sử: Trong thái bình vẫn phải lo giữ nước, dưỡng quân, quân có mạnh cơ đồ mới vững.

Có thể thấy rằng, những hành động, việc làm và nhiệt huyết đó chỉ có thể xuất phát từ sự tin tưởng, từ tình cảm thương yêu và tinh thần quân với dân một ý chí; đồng thời một lần nữa khẳng định sự gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Bộ đội Cụ Hồ...

Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới không chỉ khái quát đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mà còn chỉ ra những nhóm giải pháp cụ thể. Thấu triệt và cụ thể hóa những giải pháp ấy, để phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tăng cường sự gắn bó máu thịt với nhân dân, các cơ quan, đơn vị cần thực hiện tốt công tác dân vận, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Bằng chính tình cảm, sự chân thành và hành động cao đẹp của mình để thuyết phục nhân dân tin theo bộ đội; thường xuyên quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo; củng cố vững chắc “cái gốc”, cái cội nguồn sức mạnh của quân đội theo lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Nguồn Báo QĐND