Thứ Năm, 10 tháng 3, 2022

“Điểm mặt” thủ đoạn gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

 Để lôi kéo được nhiều người tham gia, những đối tượng cầm đầu, cốt cán ở trong và ngoài nước đã dùng mọi thủ đoạn từ tuyên truyền xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đến kích động người dân đấu tranh chống đối chính quyền.

Điển hình như lợi dụng các buổi sinh hoạt chung để mở băng cát sét hay gọi điện thoại để người tin theo trực tiếp nghe đồng tộc lưu vong ở nước ngoài kêu gọi tách ra thành lập các tổ chức tôn giáo riêng của người dân tộc thiểu số; tham gia biểu tình, bạo loạn thành lập “Nhà nước Đề ga”.

Thực tế cho thấy các đối tượng thường kích động, ép buộc người tin theo tẩy chay các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương (như: không đóng thuế, không thực hiện nghĩa vụ quân sự, không đồng ý cho xây dựng các công trình công cộng phục vụ dân sinh ở địa phương, không thực hiện kế hoạch hoá gia đình, không cho trẻ em uống vác xin phòng bệnh, ốm đau không cần đến các cơ sở y tế để khám và chữa trị mà chỉ cần tổ chức cầu nguyện và thực hiện các biện pháp ma thuật, không vay tiền ngân hàng, không nhận nhà tình nghĩa và kinh phí hỗ trợ xây dựng nhà ở,...). 

 Những hoạt động lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng trái phép của các “hiện tượng tôn giáo mới” đã góp phần gây tâm lý hoang mang, nghi kỵ, mất đoàn kết cục bộ trong một bộ phận quần chúng nhân dân của một số dân tộc và giữa các dân tộc, giữa người dân với hệ thống chính trị; hình thành và làm gia tăng các “điểm nóng” về an ninh chính trị, trật tự xã hội liên quan đến biểu tình, bạo loạn, vượt biên gắn với vấn đề ly khai, tự trị của một bộ phận người dân tộc thiểu số…

Một số “hiện tượng tôn giáo mới” còn gây tâm lý hoang mang trong môi trường giáo dục khi gửi thư, tờ rơi tuyên truyền cho học sinh, sinh viên về những nội dung có tính mê tín dị đoan, gây tâm lý lo sợ cho các em và phụ huynh. Nhiều  đối tượng cầm đầu cực đoan, quá khích còn lôi kéo, kích động người tin theo tham gia các hoạt động chống phá chính quyền, gây rối an ninh trật tự và tạo ra mâu thuẫn xã hội; khiếu kiện đòi khôi phục các tổ chức tôn giáo cũ và công nhận những tổ chức tôn giáo mới thành lập trái phép; đòi lại đất đai của tổ tiên và các cơ sở thờ tự cũ; kích động người dân vượt biên trái phép để gây rối nhằm quốc tế hóa và chính trị hóa vấn đề tôn giáo, dân tộc ở Việt Nam; tuyên truyền và phát tán các tài liệu tôn giáo trái phép, tài liệu phản động, tìm cách khống chế, làm mất uy tín cán bộ, đảng viên cốt cán ở địa phương; lợi dụng những biện pháp xử lý của các cơ quan chức năng đối với những hoạt động vi phạm pháp luật của một số “hiện tượng tôn giáo mới” và người tin theo, nhất là người dân tộc thiểu số để xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời vu cáo, bôi nhọ chế độ mà trực tiếp là hệ thống chính trị cơ sở và cán bộ địa phương vi phạm nhân quyền, quyền tự do tôn giáo tín ngưỡng nhằm gây nghi kỵ, mất đoàn kết và suy giảm niềm tin của nhân dân vào chế độ ta. 

Ngoài ra, các “hiện tượng tôn giáo mới” bên cạnh việc thành lập ban lãnh đạo của tổ chức các cấp, còn hình thành những hội, nhóm đoàn thể, như: phụ lão, phụ nữ, thanh niên, thiếu niên,... để tuyên truyền, sinh hoạt, liên kết, hỗ trợ nhau trong làm ăn, sinh sống cũng như tập hợp, chỉ đạo quần chúng đi theo phù hợp với từng nhóm; đứng ra hoặc tìm cách tham gia giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cộng đồng liên quan đến những đối tượng nói trên,...

Do đó, việc hình thành một hệ thống tổ chức của các “hiện tượng tôn giáo mới” ở buôn làng, nhất là ở khu vực Tây Nguyên vào những thời điểm phát triển, các nhóm, hội, đoàn thể này hoạt động khá hiệu quả so với các đoàn thể của hệ thống chính trị cơ sở và buôn làng trên một số lĩnh vực chung của cộng đồng. Điều đó đã tác động đến nhận thức của người dân về vai trò của hệ thống chính trị cơ sở và đội ngũ cán bộ ở những địa phương có các “hiện tượng tôn giáo mới” phát triển và nhiều người tin theo. Thực tiễn cho thấy, tại một số ít nơi đã nảy sinh hiện tượng vai trò và uy tín của già làng, trưởng thôn buôn, đoàn thể trong hệ thống chính trị cơ sở và buôn làng có sự suy giảm nhất định trong quần chúng ở những nơi “hiện tượng tôn giáo mới” phát triển, trong khi vai trò, uy tín và ảnh hưởng của các tổ chức và một số đối tượng cầm đầu, cốt cán một số “hiện tượng tôn giáo mới” lại tăng lên.

Trong quá trình hình thành và phát triển, các “hiện tôn giáo mới” cực đoan và những đối tượng cầm đầu thường tìm mọi cách làm suy yếu vai trò của hệ thống chính trị cơ sở bằng cách lôi kéo cán bộ, đảng viên, già làng, trưởng họ theo tổ chức, đồng thời tạo dựng ảnh hưởng của “hiện tượng tôn giáo mới” và số đối tượng cầm đầu, cốt cán tại địa phương đối với cộng đồng. Một số đối tượng cầm đầu còn có những hành động mang tính chính trị, gây mâu thuẫn xã hội, như: tuyên truyền các thành quả phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương cũng như những quyền lợi người dân đang được hưởng là do tổ chức của họ đem lại; thành lập các tổ chức hoạt động bất hợp pháp chống đối chính quyền; tổ chức cho người đi theo tập bắn vào bia tượng trưng là cán bộ, đảng viên chủ chốt của địa phương và ngấm ngầm đe dọa tính mạng, phá hoại tài sản gia đình họ... Những hoạt động này đã gây tâm lý hoang mang cho một bộ phận quần chúng và số ít cán bộ, đảng viên ở địa phương. 

Ở một số địa phương, người đứng đầu “hiện tượng tôn giáo mới” cực đoan còn vu cáo cán bộ và chính quyền địa phương vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tìm cách khoét sâu, phóng đại một số hạn chế của chính quyền và cán bộ địa phương trong thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo; vu cáo chính quyền vi phạm dân chủ, nhân quyền, ức hiếp, kỳ thị người dân tộc thiểu số, người có đạo; làm giảm lòng tin của quần chúng đối với chế độ ta, mà trước hết là hệ thống chính trị cơ sở; chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi; gây mâu thuẫn, xung đột cục bộ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo; kích động tư tưởng bất mãn của người dân tộc thiểu số với người Kinh, của người dân với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ; tạo cớ cho các thế lực thù địch lợi dụng vu cáo, can thiệp chống phá Nhà nước ta; gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội, cản trở việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ở địa phương

Cùng với đó, một trong những vấn đề nhạy cảm hiện nay ảnh hưởng đến quan hệ trong nội bộ từng dân tộc, giữa các tộc người với nhau và với quốc gia là sự gắn kết của hai vấn đề dân tộc và tôn giáo. Trong đó, việc chuyển đổi từ những tôn giáo chính thống hay tín ngưỡng truyền thống sang các “hiện tượng tôn giáo mới” đã có nhiều ảnh hưởng đa chiều, phức tạp đến xã hội, nhưng quan trọng nhất vẫn là góp phần hình thành các cộng đồng dân cư cùng theo một “hiện tượng tôn giáo mới”.

Tính cố kết của những cộng đồng này không chỉ chủ yếu diễn ra trong số những người tin theo trong một dân tộc và cùng cư trú trên địa bàn, mà một số tổ chức còn phát triển rộng hơn giữa các dân tộc, giữa một số vùng trong nước và các quốc gia khác. Những người theo một “hiện tượng tôn giáo mới” này đều có điểm chung là cùng đức tin, hầu như họ chỉ cố kết giữa những người trong tổ chức với nhau nên tạo ra xu hướng quan hệ bó hẹp trong nội bộ nhóm.

Các “hiện tượng tôn giáo mới” do muốn giữ những người đi theo nên luôn yêu cầu họ phải sống tách biệt với cộng đồng và gia đình, như: không được chào hỏi, tiếp xúc, đi cùng đường với người không cùng niềm tin, kể cả đó là bố mẹ, vợ chồng, con cái, nhất là đối với cán bộ và đoàn công tác địa phương đến tuyên truyền,vận động từ bỏ tổ chức; không được phép kết hôn, làm cùng, ăn cùng, ở cùng những người khác niềm tin; không được phép tham gia các cuộc hội họp và hoạt động chung của cộng đồng, nếu có mặt cũng phải tách thành nhóm riêng và không thể hiện thái độ, chính kiến; không thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương,...

Do không tham gia những hoạt động chung của cộng đồng và hưởng lợi từ các chính sách phát triển của Nhà nước, nên các mối quan hệ của họ chỉ diễn ra trong số những người cùng tin theo một “hiện tượng tôn giáo mới”, tính cố kết cộng đồng truyền thống theo dân tộc và tôn giáo tại địa bàn cư trú trước đây bị phá vỡ, đời sống gia đình tiếp tục gặp nhiều khó khăn hơn trước,... 

Đáng chú ý là hình thức cố kết này ở một vài địa phương của một số “hiện tượng tôn giáo mới” phát triển có biểu hiện lấn át các hình thức cố kết cộng đồng truyền thống theo dòng họ, theo cộng đồng cùng dân tộc trong địa bàn cư trú và trong nội bộ tôn giáo. Thậm chí, tại một vài địa phương có đông người tin theo “hiện tượng tôn giáo mới” thì vào những thời điểm tổ chức này phát triển, những người cầm đầu, cốt cán đôi khi còn có ảnh hưởng lớn hơn một số người có uy tín trong xã hội truyền thống, cán bộ cơ sở và buôn làng trên một số lĩnh vực chung của cộng đồng. Hiện tượng này dẫn đến hệ quả là một số ít chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo ở vùng có các “hiện tượng tôn giáo mới” hoạt động mạnh bị tác động trực tiếp hay gián tiếp bởi những tổ chức này. 

Sự ra đời của các “hiện tượng tôn giáo mới” thường có xu hướng phá vỡ khỏi sự ràng buộc trong một số luật lệ, những điều cấm kị của tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống nên ở góc độ nhất định nó sẽ có những tác động tiêu cực đến tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống.

Các “hiện tượng tôn giáo mới” đều ít nhiều bài xích các tôn giáo truyền thống, đả kích vào các vị giáo chủ của tôn giáo chính thống. Điều này đã gây bức xúc trong chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo chính thống, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, tiềm ẩn nguy cơ có sự xung đột về tôn giáo bởi những mâu thuẫn phát sinh trong việc lôi kéo, tranh giành tín đồ và bởi giữa sự cởi mở của các “hiện tượng tôn giáo mới” và chặt chẽ trong giáo lý, lễ nghi truyền thống. Hoạt động của các “hiện tượng tôn giáo mới” gây khó khăn trong xã hội về phân biệt mê tín dị đoan với tín ngưỡng, tôn giáo đã được Nhà nước công nhận dẫn đến một bộ phận nhân dân không phân biệt được đâu là tín ngưỡng, tôn giáo chính thống đâu là sự biến dạng, lợi dụng tôn giáo để trục lợi.

Căn nguyên của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, phai nhạt niềm tin, lý tưởng cách mạng

Bản lĩnh chính trị không vững vàng - căn nguyên của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một bộ phận cán bộ, đảng viên là hệ quả của bản lĩnh chính trị không vững vàng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đây là một thách thức to lớn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Bản lĩnh của mỗi người thể hiện ở ý chí quyết tâm phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức để đạt được mục tiêu đã định; tính quyết đoán, lòng dũng cảm, kiên cường, tự tin, trung thực, “thấy đúng thì bảo vệ, thấy sai dám đấu tranh”, v.v. Đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý chủ chốt thì yêu cầu không chỉ có bản lĩnh, mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng. Đó là sự kiên định, vững vàng trong nhận thức và hành động, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tích cực đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng của các thế lực thù địch, không dao động trước sự cám dỗ về vật chất; có trình độ, năng lực tốt; có tính đảng, tính chiến đấu cao, dám nhìn thẳng vào sự thật, dám thừa nhận và quyết tâm sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm, v.v. Đối lập với người có bản lĩnh chính trị vững vàng là những người thiếu ý chí quyết tâm, dễ dao động, lùi bước trước khó khăn, không có chính kiến rõ ràng, thậm chí là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, phai nhạt niềm tin, lý tưởng,… dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bản lĩnh chính trị là nhân tố tổng hợp của lập trường chính trị, trình độ chính trị, thái độ chính trị, kỹ năng chính trị, dũng khí chính trị của cán bộ, đảng viên. Nó không phải tự nhiên có được; tố chất của con người chỉ là điều kiện thuận lợi để xây dựng bản lĩnh, còn bản lĩnh chính trị chủ yếu do giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện mà nên. Thực tiễn cách mạng luôn đặt ra yêu cầu cao đối với mỗi cán bộ, đảng viên về bản lĩnh chính trị, nhất là khi họ giữ cương vị, trọng trách lớn. Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, mặc dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh, nhất là trước những thời điểm cam go, bước ngoặt của cách mạng, nhưng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng; kiên trung, bất khuất, một lòng, một dạ đi theo Đảng, sẵn sàng chấp nhận hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nhờ vậy, Đảng ta đã trưởng thành vượt bậc, lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua mọi chông gai, thử thách, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là từ khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy vậy, bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn tồn tại. Đặc biệt, trước tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và tệ tham nhũng, lãng phí vẫn chưa bị đẩy lùi, có mặt diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đẩy mạnh hoạt động chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, với những thủ đoạn mới, ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Trước thực tế đó, một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cấp cao đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, ngục ngã trước cám dỗ, “viên đạn bọc đường”. Thậm chí, một số cán bộ, đảng viên “tự diễn biến” tư tưởng chính trị và “tự chuyển hóa”, “trở cờ”, thay đổi lập trường, quan điểm chính trị, đi ngược lại mục tiêu, lý tưởng của Đảng, lợi ích của quốc gia, dân tộc, cổ súy, ủng hộ, tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động, chống phá đất nước. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, có nhiều cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý bị thi hành kỷ luật về đảng, thậm chí bị xử lý hình sự. Việc xử lý cán bộ vi phạm đảm bảo nghiêm minh, công khai, minh bạch, “không có vùng cấm”, bất kể người đó là ai, đang công tác hay đã nghỉ hưu, giữ cương vị gì,... cho thấy quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta trong việc làm trong sạch đội ngũ, vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Căn nguyên, hay nói cách khác nguyên nhân căn bản, khởi nguồn của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là do bản lĩnh chính trị của những cán bộ đó không vững vàng; họ không làm chủ được bản thân trước những cám dỗ về vật chất; không có đủ trình độ, lập trường chính trị để phân biệt đúng, sai, “miễn dịch” trước những luận điệu, thủ đoạn thâm hiểm của các thế lực thù địch. Từ chỗ ban đầu là mơ hồ ảo tưởng, hoang mang, dao động về tư tưởng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng dẫn đến hoài nghi, mất niền tin về sự lãnh đạo của Đảng, về mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, v.v. Các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó thực chất là quá trình biến đổi từ bên trong theo chiều hướng từ đúng sang sai, từ tốt sang xấu, từ tích cực sang tiêu cực. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, bởi lẽ: “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là điều kiện, là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch tận dụng, lôi kéo, tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng, đe dọa đến vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Phải chăng, về tiêu chuẩn ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong thời điểm hiện nay cần nhấn mạnh phải có bản lĩnh chính trị thật vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,…. Điều đó nói lên ý nghĩa quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng trong tình hình hiện nay. Thực hiện mục tiêu đó, trước hết, chúng ta cần tiếp tục thực hiện tốt công tác giáo dục về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cơ sở để xây dựng cho cán bộ, đảng viên có lập trường, quan điểm chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Theo đó, trong công tác giáo dục, đào tạo, cần đổi mới nội dung, hình thức giảng dạy lý luận chính trị trong các học viện, nhà trường, cơ sở đào tạo; đồng thời, duy trì nghiêm túc chế độ học tập, bồi dưỡng chính trị tại chức ở các cơ quan, đơn vị. Mặt khác, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác, tích cực học tập, nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ động, tự giác rèn luyện bản lĩnh chính trị, tránh biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Hằng năm, cấp ủy đảng các cấp có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, ngành, địa phương. Thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Thực tiễn cho thấy, vấn đề đặc biệt quan trọng cần triển khai thực hiện nghiêm túc, đó là đẩy mạnh đổi mới công tác cán bộ theo hướng công khai, minh bạch, nhất là trong công tác tạo nguồn, quy hoạch cán bộ, tạo ra môi trường thuận lợi để cán bộ, đảng viên phấn đấu, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị. Cấp ủy các cấp phải phát hiện, bồi dưỡng cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ đức, đủ tài để bố trí sử dụng, bảo đảm “đúng người, đúng việc”. Đồng thời, thực hiện tốt công tác luân chuyển cán bộ, tạo điều kiện để cán bộ, nhất là cán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch được rèn luyện trong thực tiễn. Qua đó, giúp họ bổ sung kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn, từng bước nâng cao bản lĩnh chính trị, đủ năng lực xử lý và đương đầu với mọi khó khăn, gian khổ, thách thức. Cần có cơ chế, tiêu chí trong phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có năng lực nổi trội và phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng để “quy hoạch đặc biệt” phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý chủ chốt. Phải lựa chọn những người có đủ phẩm chất, năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của Đảng và hệ thống chính trị. Muốn vậy, phải thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, khách quan; mỗi đảng viên phải nêu cao trách nhiệm chính trị, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất, năng lực tốt. Dứt khoát không đưa vào cơ quan lãnh đạo những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, hoặc sa sút về phẩm chất, đạo đức, tham nhũng, tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, chạy phiếu bầu, gia trưởng, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Thực tiễn các vụ việc cán bộ cấp cao của Đảng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cho thấy, một phần trách nhiệm là do cấp ủy và cơ quan chức năng đã buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát, không ngăn chặn kịp thời những sai phạm nhỏ, dẫn đến tái phạm, các sai phạm sau lớn hơn sai phạm trước và kết quả là “mất cán bộ”. Cơ quan chức năng thường “nể” cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của mình, né kiểm tra, giám sát, thậm chí biết sai mà không ngăn chặn. Vì thế, thời gian tới, các cấp cần quán triệt và thực hiện tốt Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”; chống các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Có cơ chế để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân tham gia giám sát, phát hiện những người “Kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc,...”. Gắn kiểm tra, giám sát với thi hành kỷ luật; kiên quyết xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về đạo đức, lối sống. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và chế độ. Với trách nhiệm chính trị của người cộng sản, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, làm cơ sở chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Người có chức vụ càng cao thì bản lĩnh chính trị càng phải vững vàng, gương mẫu, đó là yêu cầu, tiêu chí đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt hiện nay.

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

Đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái về bình đẳng giới và quyền cho lao động nữ ở Việt Nam

Ở Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và bảo vệ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật”. Trong đó, có quyền của phụ nữ nói chung, quyền cho lao động nữ nói riêng. Thế nhưng, có một số người lại rêu rao rằng, ở Việt Nam không có bình đẳng giới, quyền cho lao động nữ không được bảo đảm, vẫn có sự chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ ở cùng một vị trí công việc; cơ hội để phụ nữ tiếp cận những việc làm có thu nhập cao thấp hơn so với nam giới; lao động nữ chưa được đánh giá cao như lao động nam, v.v. Điều này không có cơ sở vì họ đã cố tình không nhận thấy bình đẳng giới và quyền cho lao động nữ ở Việt Nam. Thực tế cho thấy, phụ nữ ngoài việc có đầy đủ các quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền lao động và được bảo vệ, bảo đảm cuộc sống; khi tham gia quan hệ lao động thì lao động nữ còn được bảo đảm những quyền đặc thù riêng. Điều đó được bảo đảm cả trên phương diện luật pháp và trong thực tế. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền của phụ nữ nói chung, quyền của lao động nữ nói riêng. Pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo vệ lao động nữ với tư cách là bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực lao động. Điều này không chỉ nhằm bảo vệ sức lao động, quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của lao động nữ mà còn trên nhiều phương diện, như: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, nhu cầu nghỉ ngơi,... thể hiện trên một số nội dung sau: - Thứ nhất, lao động nữ được bảo đảm bình đẳng về cơ hội làm việc, thu nhập, tiền lương không bị phân biệt đối xử. Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 và trong Bộ luật Lao động năm 2019. Khoản 2, Điều 16, Hiếp pháp năm 2013, quy định: “Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”; khoản 1, Điều 26 quy định “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới”. Bộ luật Lao động quy định cụ thể về bình đẳng trong bảo đảm việc làm cho lao động nữ: Điều 5 quy định “Người lao động có các quyền sau đây: a) Làm việc; tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp; không bị phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc,…”. Theo quy định này thì người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng có quyền lựa chọn công việc hợp lý, tùy vào sức khỏe và trình độ chuyên môn. Nhà nước có các chính sách bảo đảm về việc làm cho lao động nữ: Điều 135 quy định “Bảo đảm quyền bình đẳng của lao động nữ, lao động nam, thực hiện các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc”. Trong Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định tại Điều 13 “Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm,…”. Như vậy, luật pháp Việt Nam quy định rõ ràng: nam, nữ được đối xử bình đẳng, không phân biệt khi tuyển dụng lao động và đều có cơ hội việc làm ngang nhau. Trên thực tế cũng đúng như vậy. Đó là điều hiển nhiên, ai cũng biết, không cần phải chứng minh. Bộ luật Lao động, quy định bình đẳng về tiền lương, không bị phân biệt đối xử của lao động nữ, bảo đảm, bảo vệ quyền cho lao động nữ: Điều 95 quy định “Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động căn cứ vào tiền lương đã thỏa thuận, năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc”. Như vậy, người sử dụng lao động trả lương bình đẳng giữa lao động nữ và lao động nam, trả lương căn cứ vào tiền lương đã thỏa thuận, năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc. Nhà nước “Khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ, lao động nam có việc làm thường xuyên…”, họ đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử; “Có biện pháp tạo việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hòa cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình” (Điều 135). Lao động nữ được bình đẳng về cơ hội đề bạt bổ nhiệm chức danh: Điều 13, Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định “Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh”. - Thứ hai, bảo đảm thời gian làm việc, nghỉ ngơi, quyền của lao động nữ khi mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ và bảo hiểm xã hội. Pháp luật hiện hành có nhiều quy định về thời gian nghỉ ngơi, quyền của lao động nữ khi mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ và bảo hiểm xã hội. Điều 137 của Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong một số trường hợp, như: mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được người lao động đồng ý. Để bảo đảm sức khỏe sinh sản và nuôi con nhỏ, Bộ luật Lao động quy định cụ thể ngành nghề, thời gian làm việc đối với lao động nữ, cụ thể: làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết thì được chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Pháp luật bảo vệ quyền làm việc của lao động nữ khi kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản và nuôi con nhỏ và ưu tiên ký kết hợp đồng trong thời gian mang thai, nuôi con nhỏ. Đồng thời, có quy định để đảm bảo sức khỏe lao động nữ, như: lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc nhưng vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. Lao động nữ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động để bảo đảm sức khỏe của thai nhi, nếu có xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi. Trong thời gian sinh con, lao động nữ được nghỉ theo quy định của Bộ luật Lao động: được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng. Trong thời gian nghỉ thai sản, được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương sau khi thỏa thuận với người sử dụng lao động. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền của lao động nữ, Bộ luật Lao động cũng quy định lao động nữ có thể trở lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, khi đã nghỉ ít nhất 04 tháng, nhưng phải báo trước, được người sử dụng lao động đồng ý và có xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Lao động nữ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, mang thai hộ và người lao động là người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. - Thứ ba, bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất ở nơi làm việc phù hợp và phòng, chống việc quấy rối tình dục đối với lao động nữ. Đây là một yếu tố quan trọng trong bảo đảm quyền cho lao động nữ. Điều kiện cơ sở vật chất nơi làm việc được quan tâm, bảo đảm không ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng lao động nữ. Khi điều kiện về cơ sở vật chất được bảo đảm, phù hợp, an toàn với sức khỏe, lao động nữ sẽ phát huy được sáng tạo, tăng năng suất lao động, yên tâm, tập trung vào công việc. Quy định của pháp luật hiện hành về cơ sở vật chất phù hợp với lao động nữ tại khoản 3, 4, Điều 136: “Bảo đảm có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc. Giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho người lao động”; được đảm bảo môi trường lao động an toàn, lành mạnh. Bộ luật Lao động năm 2019 quy định các hành vi bị cấm trong lĩnh vực lao động, khoản 3, Điều 8 quy định “Các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động: Phân biệt đối xử trong lao động. Ngược đãi người lao động, cưỡng bức lao động. Quấy rối tình dục tại nơi làm việc…”. Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, ngày 12/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động; phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định tại Điều 84, 85, 86. Nghị định cũng quy định rõ thế nào là quấy rối tình dục tại nơi làm việc; quy định của người sử dụng lao động về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc; trách nhiệm, nghĩa vụ phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Đồng thời, quy định trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách đối với lao động nữ và bình đẳng giới (Điều 87). Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật, chính sách từng bước được hoàn thiện theo hướng bảo đảm quyền cho lao động nữ, nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia và thụ hưởng bình đẳng vào lĩnh vực lao động. Nhiều chính sách được ban hành mang tính đột phá như quy định của Bộ luật Lao động năm 2019. Nội dung bảo đảm quyền cho lao động nữ đã được lồng ghép trong rất nhiều chiến lược, chương trình, chính sách đã được ban hành. Phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế ngày càng nhiều hơn và có nhiều cơ hội để nhận việc làm tốt, mang lại thu nhập cao hơn, góp phần quan trọng trong bảo đảm quyền cho lao động nữ ở Việt Nam. Sự thực trên là minh chứng khẳng định, Việt Nam luôn bảo đảm tốt nhân quyền, quyền con người, nhất là quyền cho lao động nữ; đồng thời, là cơ sở đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, lợi dụng vấn đề nhân quyền, quyền con người, quyền cho lao động nữ để chống phá cách mạng Việt Nam.

Tự hào Phụ nữ Quân đội

     Những năm qua, bằng tài năng, nghị lực, sức sáng tạo, phụ nữ quân đội đã có đóng góp tích cực, to lớn trên rất nhiều các nội dung, nhiệm vụ, lĩnh vực công tác như: Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, quân y, báo chí, phòng chống thiên tai, bão lũ, dịch bệnh, văn hóa nghệ thuật, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc... Càng ở những nơi khó khăn, gian khổ, càng có nhiều sự cống hiến, hy sinh của phụ nữ quân đội, những thành tích của Phụ nữ Quân đội đã góp phần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của quân đội là "Đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất...




Virus chống phá lại “biến màu”

     Việc Việt Nam tiếp tục đứng vững trong đợt dịch lần thứ 4 và đang dần dần ổn định tiến tới tiêm chủng toàn dân để sống chung với dịch COVID-19 khiến cho các thế lực thù địch tỏ ra “thất vọng” và tiếp tục tìm cách chống phá.

    Tại Thông báo số 256/TB-VPCP ngày 23/9/2021 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại cuộc họp với các nhà khoa học về phòng, chống dịch COVID-19 nêu rõ: Nhiều nhà khoa học thống nhất việc không thể kiểm soát dịch COVID-19 một cách tuyệt đối, vì vậy chúng ta thống nhất cần phải thích ứng an toàn, linh hoạt với dịch bệnh; cần có biện pháp, bước đi phù hợp để “thích ứng an toàn, linh hoạt” hoặc “sống chung” với dịch bệnh. Bộ Y tế cần tiếp thu các ý kiến và khẩn trương nghiên cứu, xác định rõ các tiêu chí thế nào là thích ứng an toàn, linh hoạt, thích ứng an toàn có kiểm soát; tiêu chí kiểm soát được dịch bệnh.

    Như vậy, quan điểm này sẽ định hướng các giải pháp phòng, chống dịch bệnh và phục hồi, phát triển kinh tế trong giai đoạn mới, sau thời gian nhiều địa phương phải quyết liệt áp dụng giãn cách xã hội, ngăn chặn với mục tiêu truy vết, không để F0 tồn tại trong cộng đồng.

Thủ đoạn mới, âm mưu cũ

    Trước sự quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân, các thế lực thù địch tiếp tục tìm cách chống phá, bóp méo, chỉ trích công tác phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước ta nhằm hướng lái dư luận và sự chú ý của quần chúng theo âm mưu, ý đồ của chúng, tiến tới kích động biểu tình, bạo loạn.

    Việc Việt Nam tiếp tục đứng vững trong đợt dịch lần thứ 4 và đang dần dần ổn định tiến tới tiêm chủng toàn dân để sống chung với dịch COVID-19 khiến cho các thế lực thù địch tỏ ra “thất vọng” và tiếp tục tìm cách chống phá.

    Để phủ nhận công sức của Đảng, Nhà nước ta trong phòng, chống dịch COVID-19 cũng như gây hoang mang cho người dân trước việc Việt Nam đang chuẩn bị từng bước cho việc mở cửa dần dần kinh tế - xã hội, các đối tượng bịa đặt, đưa thông tin sai trái, lợi dụng một số sai sót trong phòng, chống dịch của Việt Nam để xuyên tạc, thổi phồng. Đó là việc đưa thông tin trên mạng xã hội những số liệu không chính xác; cho rằng “nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam hoàn toàn bất lực trong chống dịch nên bắt dân phải sống chung với COVID-19”, vu cáo “chính quyền hoàn toàn không quan tâm gì đến người dân sống khổ sở trong thời đại dịch ra sao, chỉ nghĩ làm sao moi tiền dân bằng mọi cách”.

    Thậm chí, các thế lực thù địch và các tổ chức phản động còn trắng trợn bịa đặt: “Nhìn Việt Nam mà lo, chỉ thương cho đồng bào chưa chết vì dịch thì nhiều người đã có khả năng chết vì đói. Suốt mùa dịch người dân chả nhận được sự hỗ trợ nào của Nhà nước thì chớ, lại còn bị bóp họng bắt phải đóng góp tiền mua vaccine”! Từ đó, chúng hướng đến kích động “thương cho người Việt mình còn phải tiếp tục chịu đựng cái Đảng cầm quyền bất lực, tham lam này cho đến bao giờ”!

    Tráo trở hơn, các đối tượng còn cắt ghép nhiều hình ảnh xe bọc thép tung lên mạng để xuyên tạc về lực lượng Quân đội, Công an, cho rằng chính quyền huy động các lực lượng này để “đàn áp nếu dân đói xuống đường đòi quan chức mở kho lương”, vu cáo “Quân đội hiện diện khắp đường phố Sài Gòn là để o ép dân chứ không phải chống dịch”! Không chỉ tung thông tin xuyên tạc, bịa đặt trên các nền tảng mạng xã hội ở trong nước, các đối  tượng còn đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc trên các trang thông tin nước ngoài nhằm hạ uy tín của Việt Nam, khiến cho bè bạn quốc tế có cái nhìn không đúng về công tác phòng, chống dịch của nước ta. Đồng thời thông qua đó gián tiếp tác động đến hoạt động ngoại giao vaccine của Việt Nam.

    Điểm mới trong phương thức, thủ đoạn tuyên truyền phá hoại tư tưởng so với trước là: Các thế lực thù địch và các tổ chức phản động lưu vong triệt để lợi dụng những thành tựu tiên tiến của khoa học công nghệ, ứng dụng các loại hình dịch vụ mới trên không gian mạng để đăng tải, phát tán thông tin sai trái, thù địch trên diện rộng với nhiều bình luận phức tạp. Sử dụng ứng dụng thoại trên Internet, thư điện tử, phần mềm chuyên dụng, mạng xã hội để hoạt động chống phá. Chúng lập các nhóm kín trên mạng xã hội, phân chia theo khu vực địa lý để tập hợp lực lượng trong nước tham gia tổ chức, chỉ đạo chống phá. Các đối tượng chống đối, bất mãn, khiếu kiện, lợi dụng tôn giáo thường xuyên liên hệ, trao đổi qua mạng với các đối tượng phản động lưu vong để nhận sự giúp đỡ hoặc trả lời phỏng vấn, phát trực tiếp (livestream) trên mạng xã hội.

    Đặc điểm chung của hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc về sự chuẩn bị của Đảng, Nhà nước ta cho giai đoạn phòng, chống dịch trong tình hình mới và hướng tới mở cửa nền kinh tế, chung sống với dịch bệnh là bác bỏ, phủ nhận các chủ trương, chính sách chống dịch của Đảng, Nhà nước; đồng thời cố tình hướng lái sự hy sinh, vất vả, nguy hiểm mà các lực lượng đang ngày đêm quên mình chống dịch như lực lượng Y tế, Công an, Quân đội…, kích động người dân không thực hiện các quy định trong phòng, chống dịch. Trong đó phải kể đến một số thủ đoạn, âm mưu nguy hiểm sau:

    Thứ nhất, lợi dụng việc triển khai giãn cách xã hội theo Chỉ thị 15, 16 của Chính phủ tại các địa phương có diễn biến dịch phức tạp để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo về quyền tự do đi lại, vu cáo “ngăn sông cấm chợ”... gây khó khăn cho cuộc sống của người dân. Chúng phỏng vấn một số trường hợp người lao động tự do rồi cắt ghép nội dung, đổi trắng thay đen hòng “củng cố” cho những luận điệu xuyên tạc của mình.

    Thứ hai, xuyên tạc về công tác điều trị dịch bệnh, cho rằng chính quyền không chủ động trong ứng phó dịch bệnh mà nay lại tìm cách “sống chung với dịch” là bỏ mặc dân. Phỏng vấn trực tiếp, tạo hiệu ứng đám đông cho các đối tượng chống đối cộm cán trong nước với danh nghĩa “chuyên gia”, người “uy tín” và những đối tượng là người nước ngoài không có thiện cảm với Việt Nam, sau đó phát tán rộng rãi trên các nền tảng mạng xã hội, phương tiện truyền thông ngoài nước. Sử dụng video, clip bị cắt xén, lồng ghép những hình ảnh, âm thanh xuyên tạc về dịch COVID-19 gây hoang mang dư luận; đăng bài viết có tiêu đề giật gân nhưng nội dung thì xáo lại chuyện cũ nhằm tăng tỉ lệ tương tác, lượt like, câu “view”, tư lợi, “đánh bóng tên tuổi”…

Tỉnh táo trước thông tin độc hại

    Để chuẩn bị cho giải đoạn mới mở cửa nền kinh tế, tiến tới chung sống với dịch COVID-19, người dân cần phải làm gì trước thông tin xuyên tạc sai sự thật, kích động của kẻ xấu? Theo chúng tôi, cần lưu ý một số nội dung sau:

    Trước hết, khi tiếp cận những thông tin không rõ nguồn trên mạng Internet cần thận trọng; với thông tin xuyên tạc, sai sự thật, kích động của các thế lực thù địch và các tổ chức phản động, người dân cần hết sức bình tĩnh, chắt lọc, đối chiếu với thông tin chính thống để tìm ra những điểm bất hợp lý, điểm sai trái không đúng sự thật, tránh biến mình thành công cụ phát tán thông tin giả, gây hoang mang dư luận. Việc không share, like, comment những thông tin trên cũng góp phần kiểm soát dịch bệnh.

    Không nghe theo kẻ xấu kích động mà cần làm đúng theo hướng dẫn của chính quyền, hợp tác với chính quyền và cơ quan chức năng trong khai báo y tế, thực hiện nghiêm các quy định phòng, chống dịch bệnh, hạn chế tụ tập đông người, tham gia sàng lọc khi có yêu cầu và tiêm vaccine để đảm bảo an toàn cho chính bản thân và cộng đồng, góp phần sớm đưa Việt Nam bước vào giai đoạn sống chung với dịch COVID-19.

    Tỉnh táo, cảnh giác trước những lời lẽ kích động, xúi giục của số đối tượng chống phá. Đừng vì lợi ích viển vông mà tự hủy hoại tính mạng, sức khỏe, tự đạp đổ “chén cơm” của mình, khiến mình rơi vào vòng lao lý và làm ảnh hưởng đến cộng đồng. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, sự tự giác của bản thân, cùng sẻ chia khó khăn với đồng bào và đất nước. Với tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau”, Việt Nam chúng ta đã và đang đẩy lùi dịch bệnh, đảm bảo an sinh xã hội, từng bước phục hồi kinh tế.



"TIM ĐEN” CỦA CHIÊU TRÒ CHỐNG ĐẢNG

     Tại sao vào lúc “nước sôi lửa bỏng”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị đang “chung sức đồng lòng” chống Covid-19, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị lại đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng? 

    Không phải từ sau Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị mới đặt ra vấn đề xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bài xích, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng hệ tư tưởng của giai cấp công nhân; viện dẫn đủ loại lý do, luận điểm, luận cứ, luận chứng để giải thích sự "sai lầm" về thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin; vu khống, kết tội Đảng Cộng sản Việt Nam về việc “khu khư bám giữ một học thuyết đã lỗi thời là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” nên không thể thực hiện mục tiêu “kép” vừa chống Covid-19 hiệu quả, vừa phát triển kinh tế - xã hội, v.v.. Đặc biệt, trước những biến động dữ dội của dịch Covid-19 hiện nay; một số người đã dao động, giảm lòng tin vào bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; sức mạnh, hiệu quả đấu tranh phòng, chống đại dịch Covid-19 của Đảng, Chính phủ.

    Vin vào cái cơ đó và với cái gọi là "tâm thư", "kiến nghị tâm huyết" với Đảng, Nhà nước, một số người nhân danh "cấp tiến" đề xuất giải pháp nhằm "thay máu cho hệ tư tưởng", "phục sinh chủ nghĩa dân tộc" và "sửa lại chủ nghĩa Mác - Lênin" cho hợp thời và sát với thực tế Việt Nam hiện đại. Có người còn "sám hối" rằng, cả đời mình đã tin theo một học thuyết sai lầm, đi theo một con đường không đúng nên "rơi vào tình cảnh éo le, bế tắc", "cùng đường"; nay nhận thức lại "thấy chủ nghĩa tư bản là lời giải đáp đầy đủ cho mọi vấn đề đặt ra trong cuộc sống của loài người", coi nó là tương lai tốt đẹp của dân tộc. Vì vậy, họ ngạo mạn tuyên bố phải "giã từ chủ nghĩa xã hội" để đi theo chủ nghĩa tư bản, đi theo con đường của "các nước lớn" và đó là cái cách “tối ưu để chiến thắng đại dịch Covid-19”.

    Cùng với đó, lợi dụng internet, các trang mạng xã hội và một số cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học, một số người đã đưa ra nhiều lý lẽ để phê phán, bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã chọn; cố tình xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta. Điều hết sức nguy hiểm là các quan điểm lệch lạc, sai trái này bằng nhiều hình thức đã được tán phát, lan truyền rất nhanh, được đưa lên internet, các trang mạng xã hội, công bố trên các báo điện tử, đài phát thanh bằng tiếng Việt (BBC, RFA, RFI, Youtube, Facebook, za lô, viber...) do các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lập ra, nuôi dưỡng, sử dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Vì thế, chúng đã và đang gieo rắc sự đố kỵ, hoài nghi, hoang mang, dao động cho nhiều người, để lại những hậu quả không thể xem thường trong xã hội ta. Bằng cách này, chúng muốn "chuyển lửa về quê nhà", tạo nên các "điểm nóng", gây sự nhiễu loạn, "diễn biến bên trong" nội bộ Đảng, Nhà nước và xã hội ta, trước hết là tự diễn biến, tự chuyển hóa về nhận thức, tư tưởng; từ đó dẫn đến những diễn biến về các mặt khác.

    Chúng ta không hề ngạc nhiên trước những "điệp khúc" được tua đi tua lại nhiều lần với các quan điểm xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin, với thái độ hằn học chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa vì những "điệp khúc" này đã được "nhai đi nhai lại" nhiều lần kể từ khi chủ nghĩa Mác ra đời cho đến ngày nay; chỉ có điều nó được thể hiện rất khác nhau bởi các "ngữ điệu" rất đa dạng, rất khác nhau qua các kiểu loại kẻ thù "lớn nhỏ" của chủ nghĩa Mác - Lênin và nó được lồng ghép với các sự kiện chính trị, ví như phòng, chống Covid-19, “chiến lược tiêm vaccine” của Đảng, Nhà nước ta để chỉ trích, phá đám... Vì sao những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta lại lợi dụng chống Covid-19 để chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin một cách điên cuồng và quyết liệt như vậy? Hẳn là những người này ý thức rất rõ sức sống mãnh liệt cũng như sự nguy hiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với sự tồn tại, phát triển và lợi ích của họ, nhất là khi chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hệ tư tưởng thống trị trong phong trào công nhân, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Hẳn là những người này hiểu rằng, chừng nào còn chủ nghĩa Mác - Lênin thì chừng ấy còn có Đảng Cộng sản lãnh đạo, còn có phong trào cách mạng và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân tất yếu sẽ tiêu diệt chúng; và do đó, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản tất yếu sẽ được xây dựng thành công, sự nghiệp cách mạng sẽ thắng lợi. 

    Với cuồng vọng "mưa dầm thấm sâu", "nước chảy đá mòn" và lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống Covid-19, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị bằng mọi cách, nhiều lần đưa ra các luận điểm xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho một số người dân do thiếu thông tin, nhẹ dạ, cả tin hay bất mãn với chế độ đã "tán thưởng, hùa theo", nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, ca ngợi không công cho chủ nghĩa tư bản, hạ thấp uy tín, vị thế và sự ảnh hưởng của Đảng trong xã hội. Để những người này tỉnh ngộ, nhận thức ra những điều phải, trái, trong công tác tuyên truyền, giáo dục, học tập chính trị, chúng ta cần phân tích, làm rõ hơn nữa bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là biện chứng của quá trình hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và khi cần thiết, có thể sử dụng các biện pháp an ninh. Đây là phương cách hữu hiệu, một "liều thuốc đặc trị" có thể cắt đứt "căn bệnh hoang tưởng" của những người ảo tưởng về lòng tốt, đức tính "nhân từ", "bác ái" của chủ nghĩa tư bản, mơ ước không cần lao động mà có cuộc đời hạnh phúc và lợi dụng tình thế để “đục nước béo cò”, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ cho thỏa dục vọng cá nhân.

    Trong thực tiễn đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhất là trong hoạt động khoa học, văn hóa nghệ thuật, cần đấu tranh chống thái độ, hành vi lợi dụng các diễn đàn, internet, các trang mạng xã hội để xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận chủ nghĩa xã hội, chống phá Đảng, Nhà nước. Những việc làm vi phạm quy định của pháp luật trong tuyên truyền, tán phát thông tin, quan điểm cá nhân sai trái, lệnh lạc khi chưa được phép của cấp có thẩm quyền cần phải nghiêm trị bằng biện pháp mạnh, đủ sức răn đe.

     Với quyết tâm chính trị, sự tâm huyết, trách nhiệm và trí tuệ của mình, những người cầm súng và cầm bút trong cả nước hãy cùng với đồng chí, đồng nghiệp kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; chống lại mọi quan điểm, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch và những kẻ theo đuôi chúng đang phá rối cuộc đấu tranh phòng, chống Covid-19 của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta đang khẩn trương tiến hành; bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và nhân dân; đem lại cuộc sống hòa bình, độc lập, tựu do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; không cho phép bất cứ ai, kẻ nào lợi dụng việc chống đại dịch Covid-19 để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Đó là niềm vui, lẽ sống, trách nhiệm và hạnh phúc của chúng ta.

Cần nhìn nhận khách quan trong đánh giá của cơ quan ngoại giao nước ngoài

    Ngày 18/2, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng trước việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng tự do báo chí cho đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam là Phạm Thị Đoan Trang, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin.

Trò hề của việc kêu gọi thành lập Câu lạc bộ Phạm Đoan Trang

Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan, được triển khai thực hiện trong thực tế và được thể hiện rõ ràng qua sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam trong thời gian qua. Phạm Thị Đoan Trang bị bắt giữ và xét xử do có những hành động vi phạm pháp luật nhiều lần, nghiêm trọng, liên hệ với các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài, xuất bản các ấn phẩm trái phép có nội dung tuyên truyền, hướng dẫn, kích động các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. “Hành vi của Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội. Chúng tôi cho rằng, việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng cho một cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam là một hành động thiếu khách quan, không phù hợp và không có lợi cho việc phát triển quan hệ song phương với Việt Nam” - bà Phạm Thu Hằng nêu rõ.

    Liên quan việc Phạm Thị Đoan Trang bị xét xử theo pháp luật Việt Nam, hôm 14/12/2021, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price cũng ra “tuyên bố báo chí”, lên án và kêu gọi trả tự do cho Phạm Thị Đoan Trang. Trong tuyên bố còn cho rằng, hành vi phạm pháp của Trang thể hiện “nỗ lực thúc đẩy nhân quyền và quản trị tốt ở Việt Nam”.  Trong khi đó, một số tổ chức lấy mác “quốc tế” cũng đưa ra các “giải thưởng nhân quyền” và nhắm vào Phạm Thị Đoan Trang để tô vẽ hình tượng, trao giải.

    Ngày 19/1/2022, tại Genève, Thụy Sĩ, giải thưởng nhân quyền có tên Martin Ennals cũng ra thông cáo “xướng tên nhà báo Phạm Thị Đoan Trang - nhà báo, nhà hoạt động xã hội người Việt Nam, vừa bị kết án 9 năm tù hồi tháng 12/2021”! Trong thông cáo báo chí, tổ chức này mô tả: “Đoan Trang được vinh danh vì các nỗ lực từ hơn 10 năm nay trong việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin của người dân. Ban tổ chức giải thưởng nhấn mạnh các sáng kiến của cô, bao gồm việc lập ra trang mạng thông tin nhân quyền và luật pháp Luật Khoa tạp chí, Nhà xuất bản Tự Do”.

    Thực chất, dù tổ chức trao giải khác nhau nhưng đều có mẫu số chung khi cùng copy từ một khuôn mẫu như những gì mà Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) hay Tổ chức phóng viên không biên giới (RSF), tổ chức Bảo vệ ký giả (CPJ) đưa ra. Trước đó, các tổ chức này đưa ra các thông cáo báo chí vu cáo Việt Nam là một trong những nước giam giữ nhiều nhà báo nhất thế giới. Thông cáo của CPJ cho rằng, Việt Nam vi phạm tự do báo chí nghiêm trọng và nêu yêu sách đòi Việt Nam phải “trả tự do cho các nhà báo”! Những cái tên được CPJ xướng lên làm “ví dụ điển hình” cho các nhà báo bị giam giữ như Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thị Đoan Trang, Trương Duy Nhất… Thực ra đây là luận điệu tái lặp của CPJ, RSF… khi có những quy kết không đúng về tình hình nhân quyền của Việt Nam nói chung cũng như tự do báo chí nói riêng. Như thông cáo trên, chỉ cần nhìn vào những cái tên trên đủ để thấy rằng CPJ xuyên tạc, bóp méo vấn đề quyền con người ở Việt Nam như thế nào. Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thị Đoan Trang… dù trước đây từng có giai đoạn hoạt động tại một số cơ quan báo chí, song do vi phạm pháp luật, họ đã bị kỷ luật, thay đổi công việc, ở thời điểm bắt giữ thì họ không còn là những nhà báo hay phóngviên như CPJ công bố. Trái lại, đó đều là những đối tượng vi phạm pháp luật, bị bắt giữ và xét xử theo các quy định của pháp luật Việt Nam. 

    Trở lại việc Bộ Ngoại giao Canada và Vương quốc Anh ngày 10/2 đã trao “Giải thưởng Tự do Báo chí Canada - Vương quốc Anh năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang, lý do mà cơ quan này đưa ra là “để ghi nhận những đóng góp của bà cho việc thúc đẩy tự do báo chí tại Việt Nam”. Trong thông cáo báo chí, nêu: “Giải thưởng Tự do Báo chí của Canada - Vương quốc Anh ghi nhận công việc của những người đã bảo vệ các nhà báo hoặc đi đầu trong tự do báo chí ở cấp địa phương, tôn vinh các tổ chức, chiến dịch và cá nhân ít được biết đến trong cuộc đấu tranh với việc không trừng phạt những hành vi chống lại nhà báo. Ra mắt năm 2020, giải thưởng ghi nhận những người thúc đẩy tự do báo chí, bất kể trực tiếp hay gián tiếp. Bà Trang được biết đến với những cuốn sách về dân chủ và những bài viết về xã hội dân sự và những người bất đồng chính kiến ở Việt Nam. Là người thúc đẩy sự tiến bộ về quyền con người và tinh thần thượng tôn pháp luật, bà Trang viết về các vấn đề môi trường quan trọng. Tổ chức Phóng viên Không Biên giới đã trao Giải Tự do báo chí cho bà Trang năm 2019 để ghi nhận công lao này…”.

    Dẫn lại đoạn thông cáo trên thì thấy rằng, lời lẽ cũng giống như những gì mà RSF, CPJ hay HRW - những tổ chức thù địch chống phá Việt Nam đưa ra. Trong đó, chính thông cáo này còn dẫn lại ý của RSF về việc đã trao Giải Tự do báo chí cho Phạm Thị Đoan Trang năm 2019. “Ăn theo” vấn đề này, những cá nhân thuộc các tổ chức trên cũng đưa ra các lời lẽ, ý kiến nhằm cổ xuý việc trao giải thưởng nhân quyền cho Phạm Thị Đoan Trang, đối lập với việc tung hô “nữ ký giả” là sự chỉ trích, miệt thị Đảng, Nhà nước Việt Nam. Trên trang mạng xã hội của Việt Tân cũng không quên đưa ra “lời chúc mừng nhà báo Phạm Thị Đoan Trang”!


Như vậy, chúng ta thấy dù giải thưởng và thông cáo báo chí được đưa ra với danh nghĩa của cơ quan Nhà nước là Bộ Ngoại giao nhưng nội dung trong nhìn nhận, đánh giá cũng sai lệch, tương tự với sự “tôn vinh giải thưởng” và thông cáo báo chí mà các tổ chức như RSF, CPJ hay HRW đưa ra. Dễ nhận thấy, sự đánh giá về hành vi của Phạm Thị Đoan Trang với danh nghĩa nhà báo với vấn đề nhân quyền, sự chỉ trích phiên toà hay “nền dân chủ” trong các thông cáo này dường như vẫn là các bản copy của nhau. Đây là điều không nên. Bởi lẽ, những tổ chức như RSF, CPJ hay HRW đã được nhận diện rõ về động cơ, mục đích thù địch, chống phá Việt Nam, thường xuyên lấy các vụ việc phạm pháp ở Việt Nam để chụp mũ dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí, làm nguyên cớ để kích động chống phá. Dư luận không lạ gì những thủ đoạn đánh lận, nguỵ biện mà các tổ chức này đưa ra, ngay việc sử dụng các giải thưởng lấy tên nhân quyền cũng chỉ là cái cớ để thu hút và đánh lừa dư luận. Thế nhưng, với cơ quan Nhà nước, ngoại giao hay tổ chức quốc tế chính danh, khi đánh giá về một vấn đề, sự việc ở quốc gia khác mà dựa vào “phiên bản” như của RSF, CPJ hay HRW là điều không nên. Với sự trùng lặp nội dung và đánh giá như vậy, người ta có quyền nghi ngại những cá nhân của chính các tổ chức này can thiệp hay đứng sau các bản báo cáo, đánh giá của cơ quan ngoại giao nhà nước, làm ảnh hưởng đến tính khách quan, chính xác của báo cáo. Trong quan hệ quốc tế, đây là điều mà các cơ quan ngoại giao luôn cẩn trọng, bởi những đánh giá của họ với một quốc gia khác cần phải thể hiện được tính khách quan, đúng đắn, thể hiện bằng việc nhìn nhận toàn diện chứ không nên “theo ý” bởi một cá nhân hay tổ chức nào khác, vì động cơ nào khác. Bởi lẽ đó, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng trước việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng tự do báo chí cho đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam là Phạm Thị Đoan Trang, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nêu rõ: “Hành vi của Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội. Chúng tôi cho rằng, việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng cho một cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam là một hành động thiếu khách quan, không phù hợp và không có lợi cho việc phát triển quan hệ song phương với Việt Nam”. 


Ngày 14/12/2021, TAND Thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm và tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (sinh năm 1978, trú tại phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội) về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo quy định tại Điều 88, khoản 1, điểm a, b, c - Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo cáo trạng, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến ngày 5/12/2018, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước. Ngoài ra, bị cáo còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân.


Viện Kiểm sát xác định, các tài liệu có nội dung tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. HĐXX xác định hành vi của Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ XHCN và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân bị cáo là người có trình độ nhận thức nhất định, bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn quyết liệt thực hiện trong một thời gian dài, do vậy cần phải xử phạt nghiêm minh. Khi quyết định hình phạt, HĐXX đánh giá bị cáo khai báo không thành khẩn, phạm tội nhiều lần nên quyết định áp dụng hình phạt tù với thời hạn trên để giáo dục và phòng ngừa chung.


Lại tung hỏa mù sau phiên tòa xét xử Phạm Thị Đoan Trang Tuyên phạt Phạm Thị Đoan Trang 9 năm tù

Minh Đăng

 

 


Cuộc chiến Nga - Ucraine

     Nước Nga tiến hành “cuộc chiến đặc biệt” tại Ukraine vì những mục tiêu an ninh chiến lược của họ liên quan đến những hành vi của tổ chức quân sự NATO. Quan điểm từ phía Nga gọi đây là đề phòng từ xa. Trong khi đó báo chí phương Tây trước gọi đây là một cuộc chiến vô lý, xâm phạm chủ quyền. Tuy nhiên, nếu quan sát phản ứng của thế giới thì có nhiều quốc gia khá thận trọng theo dõi cuộc chiến trước khi đưa ra bất kỳ đánh giá cụ thể nào. Đơn cử như khi Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc muốn ra nghị quyết về việc lên án “cuộc tấn công của Nga vào Ukraine” thì có một số nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ và UAE bỏ phiếu trắng. Một nước lớn khác là Brazil thì tuyên bố không tham gia trừng phạt nước Nga.

    Ngày 25/2, người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam tuyên bố: “Việt Nam hết sức quan ngại trước tình hình xung đột vũ trang ở Ukraine. Chúng tôi kêu gọi các bên liên quan kiềm chế, tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, không sử dụng vũ lực, bảo vệ người dân, tiếp tục đối thoại tìm kiếm giải pháp hòa bình, góp phần bảo đảm hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác ở khu vực và trên toàn thế giới”. Điều này thể hiện Việt Nam cũng như các quốc gia kể trên muốn đứng ở vị thế khách quan và quan sát thận trọng cuộc chiến, nhìn nhận quan điểm của mỗi bên, đồng thời luôn kêu gọi vì hòa bình. Tuyên bố trên cũng khẳng định Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chính kiến, không có lý do gì phải vào hùa “theo nước này để chống lại nước kia”.

     Dù sao, Việt Nam vẫn là bạn bè thân thiết với cả hai quốc gia Nga và Ukraine, và mong hai nước có thể sớm đạt được thỏa thuận để đi đến hòa bình đích thực, dựa trên việc tôn trọng quan điểm về an ninh của nhau. Truyền thông phương Tây có thể tô vẽ cuộc chiến theo góc nhìn của mình, nhưng đừng cố “dọa nạt” hay lôi kéo Việt Nam bằng những luận điệu hời hợt mà xưa nay chuyên dùng để chống phá đất nước.



Sự sáng suốt của Đảng ta.

     Tình hình chiến sự giữa Nga và Ukraine đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng quốc tế. Cũng từ vấn đề này, một lần nữa chúng ta thấy được sự sáng suốt của Đảng ta trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước trong thời gian qua.

    Sự sáng suốt đó được minh chứng rõ nét nhất qua đường lối độc lập tự chủ, tự lực tự cường trong chính sách quốc phòng. Chính sách Quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

    Từ câu chuyện tại Ukraine, chúng ta cũng rút ra được không ít bài học. Trong những năm qua, không khó để chúng ta bắt gặp các luận điệu như: Việt Nam đầu tư cho quốc phòng, an ninh là “chạy đua vũ trang”, gây căng thẳng trong khu vực; Chính phủ Việt Nam chỉ giành ngân sách để đầu tư cho Quân đội và Công an mà không đầu tư cho giáo dục, y tế; Việt Nam đang sống trong hoà bình nên không cần thiết phải yêu cầu thanh niên tham gia nghĩa vụ quân sự vì như vậy là gây lãng phí sức lao động; Việt Nam phải tham gia vào các liên minh quân sự mới có thể bảo vệ đất nước, phải “chọn phe”…

    Rõ ràng đó là các luận điệu đánh lừa dư luận nhằm tấn công, làm suy yếu sức mạnh quốc phòng, an ninh của Việt Nam. Hiện nay, chúng ta phải đối mặt với sự gia tăng của nhiều mối đe doạ từ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tuý trong quan hệ quốc tế. Chúng ta luôn giữ vị trí trung lập trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia. Điều này đã được Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ: “Chúng ta không “chọn bên” mà chọn lẽ phải, xu hướng thời đại là hòa bình, hợp tác và phát triển”. Vậy nhưng muốn giữ được sự trung lập, muốn giữ được lợi ích quốc gia thì không còn cách nào khác là chúng ta phải thực sự mạnh trên tất cả các phương diện, từ kinh tế, chính trị cho đến quân sự, ngoại giao… Một lần nữa có thể thấy, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị cho hôm nay và mãi mai sau: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.


Bài học về sự tự lực tự cường và không được quên lãng chính bản thân mình

      Vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, sau khi Liên Xô tan rã, Ukraine được thành lập. Đây là quốc gia lớn thứ ba trong số 15 quốc gia kế thừa của Liên Xô (sau Nga và Kazakhstan). Ukraine được “thừa kế” một lực lượng quân đội cực mạnh từ Liên Xô gồm 3 quân khu thuộc tuyến chiến lược thứ hai, 3 tập đoàn quân không quân, cùng với cả kho vũ hạt nhân chiến lược lớn thứ 3 thế giới với hơn 1000 đầu đạn hạt nhân. Đồng thời, quốc gia này cũng thừa hưởng một phần lớn lĩnh vực công nghiệp quốc phòng Liên Xô và cả công nghệ dân dụng của nó.

    Đáng lẽ với xuất phát điểm như trên, Ukraine phải phát triển nhanh chóng, hùng mạnh và có vị thế quan trọng trên thấy giới. Vậy nhưng không. Sau hơn 30 năm, Ukraine không những không lớn mạnh mà có phần thụt lùi. Trong cuộc xung đột với Nga, Tổng thống Ukraine đã thốt lên: “Chúng ta bị bỏ lại một mình”. Trong khi đó, Đại sứ của Ukraine tại Vương quốc Anh Vadym Prystaiko cũng phát biểu: “Ukraine hiện đã không còn đủ thiết bị quân sự để tự vệ”.

     Dù có gào thét, kêu gào đến đâu thì câu trả lời của các nước khác cũng chỉ là những lời hứa, hoặc có sự giúp đỡ thì ít ỏi và quá muộn màng. Giờ đây, tuy cuộc chiến chưa đến hồi kết nhưng hậu quả mà người dân Ucraina phải gánh chịu đã nhìn thấy rõ, sự khổ sở của người dân trong chiến tranh, loạn lạc, chết chóc, đói rét, thiếu thốn chắc ai cũng dễ dàng nhìn thấy. Nhân dân Ucraina vì đâu nên nỗi, chính là vì lãnh đạo Ukraine đã đánh mất chính mình, không dẫn dắt đất nước theo đường lối độc lập tự chủ, tự lực tự cường. 

    Thay vì tự lực, tự cường, tự đi trên đôi chân của chính mình thì Ukraine lại chạy theo các nước phương Tây với mong muốn nhận được sự giúp đỡ khi “đối đầu” với Nga. Họ luôn trông chờ vào những lời hứa hẹn, sự giúp đỡ của bên ngoài vậy nhưng lại quên rằng nguyên tắc bất di bất dịch trong quan hệ quốc tế là có qua – có lại. Nói thẳng, nếu thời điểm hiện tại, Ukraine có nhận được sự giúp đỡ từ bên ngoài thì cái giá mà họ phải trải cũng không hề rẻ. Vì trên đời đâu ai cho không ai cái gì!



ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” TRONG QUÂN ĐỘI

 

Hiện nay, công nghệ thông tin, không gian mạng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi và xảo quyệt. Chúng thiết lập các trang website, blog, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ”, phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc để chống phá. Thủ đoạn chính của chúng là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết Quân đội với nhân dân. Quân đội là một trong những đối tượng chúng chống phá quyết liệt, vì đây là lực lượng chủ yếu, nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu của chúng là “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội đứng ngoài chính trị, Đảng Cộng sản mất công cụ bạo lực sắc bén, không còn giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội, dẫn tới mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội.

Nhận thức đúng tình hình đó, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Cấp ủy đảng các cấp trong toàn quân đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan, đơn vị đã chủ động xây dựng cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, chuyên sâu, tham gia đấu tranh và bảo đảm các điều kiện vật chất thực hiện công tác này ở từng cấp. Đồng thời, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Cùng với đó, toàn quân đã làm tốt công tác giáo dục, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng; huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng và thường xuyên đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện. Nhờ đó, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, an ninh mạng được bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Những kết quả quan trọng đó đã khẳng định Quân đội ta luôn xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Đối với quân đội trong thời gian tới cần củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng bằng một số giải pháp như sau: 

Trước hết, lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, phù hợp chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Quán triệt Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”; 

Thứ hai, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần xác định: đấu tranh trên mạng xã hội là một nội dung quan trọng nhằm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; phải kiên quyết, kiên trì và nhạy bén, linh hoạt. Cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp cần chú trọng quản lý hoạt động trên mạng xã hội của cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ khi sử dung internet, tham gia mạng xã hội và trong công tác đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng; kịp thời chấn chỉnh các trường hợp chưa chuẩn mực trên mạng xã hội, bảo đảm hoạt động đấu tranh luôn đúng định hướng.

Thứ ba, cần giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, thái độ chủ động, tích cực tham gia đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Muốn vậy, trước hết các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục thực hiện tốt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”, nâng cao nhận thức lý luận chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, kịp thời định hướng một cách thấu đáo, thuyết phục những vấn đề mới nảy sinh có ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm, tâm lý của bộ đội. Phải giáo dục cho quân nhân hiểu rõ “tính hai mặt” của không gian mạng cũng như âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; tạo khả năng “tự miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trước các thông tin xấu độc, cũng như tăng cường sức “đề kháng” để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu “Diễn biến hòa bình” trên không gian mạng.

Tóm lại, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt, gay gắt, lâu dài và vô cùng phức tạp. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, đi đầu, Lực lượng vũ trang nói chung, các đơn vị quân đội nói riêng cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đấu tranh hiệu quả, thiết thực, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay.

CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN GẮN VỚI TÊN TUỔI CỦA CỐ THƯỢNG TƯỚNG - GS . NGND HOÀNG MINH THẢO.

 

          “Mưu cao nhất là mưu lừa địch; Kế hay nhất là kế điều địch; Mưu sinh ra kế; Kế đẻ ra thời; Đánh bằng mưu kế - Thắng bằng thế thời” (Trích: Chiến đấu ở Tây Nguyên- Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, NXB QĐND, tr. 191).

          Với kế sách nghi binh, điệu hổ ly sơn, lừa một cách hệ thống, bài bản làm cho bộ máy Chiến tranh của Mỹ ngụy mất phương hướng phòng thủ Tây nguyên, buộc tướng Phạm Văn Phú - Tư lệnh Quân đoàn 2 của VNCH phải điều binh giữ Kon Tum và Pleiku; thực chất quân chủ lực của chúng ta dồn lực lượng bất ngờ mở cuộc tiến công vào Ban Ma Thuật, một đòn điểm huyệt làm rung chuyển Sài Gòn, chấn động Lầu Năm Góc. Với trận đánh này thì danh tướng Hoàng Minh Thảo sánh ngang với Hàn Tín với kế "minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương" diệt quân của tướng Chương Hàm. Chiến thắng này buộc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải ra lệnh triệt thoái khỏi Cao nguyên theo đường số 7, đây thực chất là quyết định khai tử Quân đoàn 2 - VNCH.

          Chiến thắng Buôn Ma Thuột 10/03/1975 đã đi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc; là một trong những chiến thắng oanh liệt nhất trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta, tạo tiền đề cho cuộc tổng tiến công nỗi dậy mùa Xuân năm 1975 giành thắng lợi to lớn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Tài năng là thế nhưng khi trả lời câu hỏi về các tướng giỏi nhất của Việt Nam hiện đại, tướng Hoàng Minh Thảo nói đại ý: “Đầu tiên tất nhiên là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thứ hai là tướng Lê Trọng Tấn, thứ ba là tướng Hoàng Văn Thái và thứ tư là tướng Nguyễn Hữu An”, tuyệt nhiên không hề nhắc đến tên mình, dù mọi người thừa biết cố Thượng tướng là một trong những tướng giỏi nhất của Việt Nam./.

VIỆT NAM KHÔNG GIỚI HẠN SỬ DỤNG INTERNET VÀ MẠNG XÃ HỘI


          Tự do báo chí, tự do trình bày các quan điểm và sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam phù hợp với sự phát triển của thế giới, khu vực cũng như sự phát triển của đất nước trong thời gian vừa qua.

          Hằng năm, tổ chức Freedom House có trụ sở tại Mỹ đã tự khoác cho mình chiếc áo nhân quyền, công bố bản báo cáo về tự do Internet của hơn 60 quốc gia trên thế giới. Trong đó, tổ chức này nhiều lần xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có tự do Internet. Đây là một đánh giá thiếu khách quan, phản ánh không đúng những gì đang diễn ra thực tế ở Việt Nam. Phóng viên VOV có cuộc trao đổi với Trung tướng, GS-TS Nguyễn Xuân Yêm, Giám đốc Trung tâm An ninh Phi truyền thống, Đại học Quốc gia Hà Nội.

          Phóng viên: Từ nhiều năm nay, tổ chức Freedom House luôn xếp Việt Nam vào nhóm các nước mà họ gọi là không có tự do Internet. Tổ chức này cho rằng, ở Việt Nam không có tự do thông tin, không có tự do mạng xã hội, cho rằng, mạng xã hội bị kiểm duyệt thông tin, người dân không được bày tỏ quan điểm cá nhân của mình trên không gian mạng. Ông có bình luận gì về những quan điểm này?

          Trung tướng Nguyễn Xuân Yêm: Cá nhân tôi cho rằng, đây là những quan điểm hoàn toàn không đúng sự thật ở Việt Nam. Chúng ta chỉ cần lấy một ví dụ, từ năm ngoái đến năm nay, cả nước tập trung cho phòng, chống dịch Covid-19. Trên các trang báo điện tử, đặc biệt là mạng xã hội có rất nhiều ý kiến, sáng kiến, những tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân gửi tới lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng rất cầu thị, tiếp thu ý kiến của nhân dân để kịp thời điều chỉnh sao cho chính sách phòng, chống dịch Covid-19 càng ngày càng hoàn thiện hơn. Ai cũng có thể thấy việc tự do trình bày ý kiến, tự do sử dụng các mạng xã hội ở Việt Nam. Nếu như ai đó nói rằng, “Việt Nam ngăn cản” hoặc “bóp nghẹt quyền công dân” là hoàn toàn không đúng thực tiễn.

          Phóng viên: Trung tướng có thể cho những dẫn chứng cụ thể để thấy việc không giới hạn sử dụng Internet và mạng xã hội ở Việt Nam?

          Trung tướng Nguyễn Xuân Yêm: Chúng ta thấy rằng, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển và sử dụng Internet cao nhất trên thế giới. Sau 20 năm xuất hiện Internet tại Việt Nam (từ năm 1997), chúng ta đã có tới hơn 60 triệu người sử dụng Internet, trong đó riêng mạng xã hội Facebook có gần 50 triệu người sử dụng, đồng thời Nhà nước Việt Nam cũng tạo điều kiện để hình thành một số mạng xã hội của riêng mình hoặc liên kết giữa Việt Nam và các nước. Ví dụ như mạng Zalo, Viber, Zingme… Điều đó cho thấy, mạng xã hội rất phổ biến ở Việt Nam. Tự do báo chí, tự do trình bày các quan điểm và sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam phù hợp với sự phát triển của thế giới, khu vực cũng như sự phát triển của đất nước trong thời gian vừa qua.

          Phóng viên: Trong bối cảnh thực hiện giãn cách để chống dịch, rõ ràng, việc sử dụng Internet và mạng xã hội ở Việt Nam có sự gia tăng đáng kể thưa ông?

          Trung tướng Nguyễn Xuân Yêm: Chúng ta biết rằng, Trung ương và các bộ, ngành, đặc biệt là cá nhân Thủ tướng rất quan tâm đến việc tạo điều kiện cho nhân dân, các cơ quan, doanh nghiệp sử dụng tối đa việc chuyển đổi số, sử dụng mạng Internet và mạng xã hội phục vụ cho công việc, học tập. Chính vì vậy, những khu vực vùng sâu, vùng xa cũng được tạo điều kiện hết mức để có thể tiếp cận Ỉnternet. Ví dụ như chương trình Sóng và máy tính cho em, cũng là một chương trình rất nhân đạo, giảm giá cước cho các thuê bao, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với Internet và mạng xã hội. Chúng tôi cho rằng, thực tế  đó minh chứng rằng, Đảng và Nhà nước chúng ta tạo điều kiện tối đa cho người dân trong việc sử dụng Internet và mạng xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

          Phóng viên: Không gian mạng tuy là ảo nhưng có tác động rất lớn đến thế giới thực. Cũng chính vì thế, việc tuân thủ các quy định của pháp luật trên không gian mạng cũng là hết sức cần thiết?

          Trung tướng Nguyễn Xuân Yêm: Chúng ta thấy rằng, mỗi một con người, trước tiên là trong cuộc sống xã hội phải ứng xử sao cho phù hợp. Vậy thì việc sử dụng mạng xã hội cũng vậy. Khi bày tâm tư, nguyện vọng, những ý kiến trên mạng xã hội thì chúng ta cũng phải có trách nhiệm, trách nhiệm đối với đất nước, trách nhiệm với cộng đồng và trách nhiệm đối với bản thân mình. Cho nên mọi lời nói, phát ngôn cũng như bày tỏ nguyện vọng trên mạng xã hội cũng cần có sự ứng xử phù hợp. Nhà nước tạo điều kiện và không cấm công dân có quyền trình bày. Tuy nhiên, khi trình bày, họ cũng phải tuân thủ những nguyên tắc. Đối với quốc gia phải tuân thủ pháp luật, đối với cộng đồng phải tuân thủ quy chế, đối với gia đình và bản thân mình phải có văn hóa ứng xử cho nó phù hợp, để làm sao những điều mà mình nói ra, mình phát biểu ra phải tạo ra một môi trường xã hội lành mạnh và con người sống thân thiện với nhau nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước.

          Phóng viên: Quốc gia nào cũng vậy, mọi hành vi sử dụng mạng xã hội để kích động thù hằn dân tộc hay chống đối chính quyền đều bị xử lý nghiêm khắc, thậm chí có hình phạt cao nhất lên đến tử hình. Như vậy là những quy định của luật pháp Việt Nam về sử dụng mạng xã hội là cần thiết và không vi phạm quyền tự do của công dân, thưa Giáo sư Nguyễn Xuân Yêm?

          Trung tướng Nguyễn Xuân Yêm: Khi nghiên cứu về an ninh quốc gia thì có chủ quyền quốc gia. Trước đây, chúng ta thường nhấn mạnh chủ quyền quốc gia liên quan đến thể chế chính trị, đến vùng đất, vùng trời, vùng biển. Ngày nay, thì chúng ta quan tâm rất nhiều đến không gian mạng. Mỗi một quốc gia, trong đó có Việt Nam đều có chủ quyền được xác lập trên không gian mạng của mình. Luật An ninh mạng, Luật an toàn thông tin của chúng ta xác định rất rõ, bất cứ một hành vi nào sử dụng mạng xã hội để vi phạm chủ quyền không gian mạng quốc gia của Việt Nam thì sẽ bị xử lý theo các quy định, từ xử lý hình sự cho đến xử phạt hành chính. Cho nên, chúng tôi muốn nhắc lại rằng, công dân hoàn toàn có quyền nêu ý kiến, nguyện vọng của mình trên mạng xã hội. Tuy nhiên, phải đảm bảo rằng, những ý kiến đó không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội và lợi ích của công dân, trong đó có lợi ích của chính bản thân mình.

          Phóng viên: Thưa ông, làm nhiễu loạn thông tin trên môi trường mạng đang được sử dụng triệt để nhằm mục đích xấu? Vậy, chúng ta làm gì để ngăn chặn ý đồ đó?

          Trung tướng Nguyễn Xuân Yêm: Việc đầu tiên là chúng ta phải kiểm soát được việc sử dụng mạng xã hội. Thứ hai, chúng ta phải tăng cường thông tin chính thống kịp thời để những  thông tin giả mạo không còn “đất sống”. Vấn đề thứ ba là bản thân mỗi người cũng phải kiểm định xem những thông tin mình nhận được đúng – sai ra sao để tự mình sáng lọc, miễn nhiễm với những thông tin sai trái, trước tiên cho bản thân mình và sau đó là ngăn ngừa những thông tin xấu đối với người thân, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp của mình.

          Phóng viên: Vâng, xin trân trọng cảm ơn ông!                                                                                                                  

          Ngày 23/9/2021, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam khi tổ chức Freedom House ngày 21/9 đã xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có tự do trên mạng internet, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định:

          “Đây không phải là lần đầu tiên tổ chức Freedom House đưa ra những đánh giá thiếu khách quan, định kiến dựa trên những thông tin sai sự thật về Việt Nam. Thực tế những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao tại Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc qua các chu kỳ. Do đó, báo cáo của Freedom House là vô giá trị và tôi thấy không cần thiết phải bình luận thêm”.