Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022

Báo chí và nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

 

 TCCS - Theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, một trong những nhiệm vụ quan trọng của báo chí nước ta hiện nay là chủ động tiến công, kiên quyết và thường xuyên “đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”, làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, góp phần tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.


1. Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết nêu rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (1).

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội ra sức xuyên tạc, chống phá nhằm loại bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta - chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - ra khỏi đời sống tinh thần xã hội. Chúng công kích những bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lê-nin; tập trung vào những nguyên lý cơ bản và những luận điểm lý luận then chốt; lợi dụng cả những người hiểu và vận dụng chưa đầy đủ chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong thực tiễn để xuyên tạc, chống phá. Chúng tấn công chủ nghĩa Mác - Lê-nin cả về lý luận và thực tiễn; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; xuyên tạc, bóp méo tư tưởng Hồ Chí Minh. Các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị thường xuyên xuyên tạc, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quá trình tổ chức thực hiện; triệt để lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của ta trong thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật để chống phá; xuyên tạc sự thật, bôi nhọ một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên...

Để “hà hơi tiếp sức” cho sự chống phá trên, chúng trực tiếp tấn công vào nền báo chí cách mạng nước ta, với chiêu bài “tự do báo chí”, vu cáo Đảng và Nhà nước “vi phạm quyền tự do ngôn luận”, âm mưu phi chính trị báo chí nước ta, tách rời báo chí khỏi sự lãnh đạo của Đảng, khiến báo chí mất phương hướng chính trị, mất tính chiến đấu. Sự chống phá của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị là hết sức thâm độc, nguy hiểm. Do đó, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng và đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị có vai trò quan trọng đặc biệt, là trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó có vai trò chủ công, tiên phong của các cơ quan báo chí.

2. Trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, báo chí cách mạng có vai trò đặc biệt quan trọng. Đảng ta nhiều lần chỉ rõ, báo chí cách mạng phải làm tốt chức năng tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát hiện, khẳng định và nhân rộng ra toàn xã hội cái hay, cái đẹp, những điển hình, những nhân tố mới; đồng thời, phải tích cực đấu tranh phê phán cái xấu, tiêu cực, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Việt Nam hiện có hệ thống báo chí phát triển với đội ngũ những người làm báo hùng hậu “khoảng 50.000 người đang làm việc trong lĩnh vực báo chí; gần 1.000 cơ quan báo chí thuộc bốn loại hình báo in, phát thanh, truyền hình và báo điện tử, trong đó có 165 cơ quan báo, 663 tạp chí, 23 cơ quan báo điện tử độc lập, 2 đài phát thanh - truyền hình quốc gia, 64 đài địa phương, 5 kênh truyền hình. Đa số các cơ quan báo chí đều đang nỗ lực để sử dụng được sức mạnh công nghệ làm báo mới” (2). Với lực lượng hùng hậu và sự đa dạng, phong phú về loại hình, báo chí cách mạng đi tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, đã và đang đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thời gian qua, báo chí nước ta đã thể hiện rõ vai trò xung kích trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nhiều tờ báo đấu tranh kịp thời, sắc bén, vạch rõ và làm thất bại nhiều âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; củng cố lòng tin của nhân dân đối với chế độ và sự lãnh đạo của Đảng.

Báo chí đã phổ biến, tuyên truyền kịp thời, rộng rãi chủ trương, quan điểm chỉ đạo bảo vệ nền tảng tư tưởng và công tác xây dựng Đảng, gắn với nhận diện và đấu tranh phòng, chống sự suy thoái, tham nhũng, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đồng thời, tuyên truyền, truyền bá các giá trị đạo đức, văn hóa, lối sống tốt đẹp của con người Việt Nam, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến trong các lĩnh vực của đời sống xã hội với tinh thần “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”.

Nhiều tờ báo mở chuyên trang, chuyên mục đăng tải các bài viết trực tiếp, trực diện đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Điển hình như chuyên mục: “Đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch” của Tạp chí Cộng sản; “Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”” của Báo Quân đội nhân dân; “Bình luận - phê phán” của Tạp chí Quốc phòng toàn dân; “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam…liên tiếp có những bài đấu tranh chất lượng, có hiệu ứng xã hội tốt.

Các cơ quan báo chí đã thường xuyên trao đổi và phối hợp hiệu quả trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, chú ý đến định hướng giáo dục, định hướng đấu tranh và tổ chức lực lượng mang tính chuyên trách; truyền tải thông tin qua nhiều báo để tuyên truyền, tương tác với công chúng, qua đó nâng cao hiệu quả đấu tranh.

Nhiều tờ báo đã tập hợp được các nhà khoa học, nhà lý luận, hoạt động thực tiễn có uy tín tham gia tọa đàm, hội thảo, viết bài phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Một số báo tổ chức tốt các diễn đàn trực tuyến, thông qua đó định hướng chính trị tư tưởng và nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân về các vấn đề “nóng”, các quan điểm sai trái, thù địch, các thông tin xấu, độc và những vấn đề mà dư luận quan tâm. Nhiều cơ quan báo chí đã phát huy hiệu quả hoạt động của các trang, nhóm, blog, kênh Youtube, tài khoản mạng xã hội… chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các thông tin xấu, độc. Việc ngăn chặn, giám sát, triệt phá các thông tin xấu, độc từ các báo, đài, các kênh báo mạng trong và ngoài nước được các cơ quan chức năng và cơ quan báo chí nước ta quan tâm đẩy mạnh, xử phạt nghiêm các vi phạm trong hoạt động báo chí.

Thực hiện nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, báo chí cách mạng đã đóng vai trò rất quan trọng, thực sự là “vũ khí sắc bén” trong lĩnh vực này, là diễn đàn tin cậy của nhân dân, góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác, tình yêu quê hương, đất nước, củng cố lòng tin vào chế độ, vào sự lãnh đạo của Đảng của các tầng lớp nhân dân, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo động lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỹ thuật số và không gian mạng, vấn đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng trở nên cấp bách và gặp nhiều khó khăn.


3. Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, hệ thống báo chí nước ta cũng như đội ngũ nhà báo cần tiếp tục nỗ lực, quyết tâm cao, phát huy vai trò là “vũ khí sắc bén” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, theo đó, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao chất lượng thông tin, tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, những thông tin tốt và tích cực, làm cho những nội dung thông tin này thực sự là chủ đạo, chi phối đời sống tinh thần - thông tin xã hội, “làm loãng” và đẩy lùi các thông tin xấu, độc, tiêu cực, các quan điểm sai trái, thù địch. Cần mở rộng và nâng cao chất lượng các chuyên trang, chuyên mục định kỳ, các tuyến bài đấu tranh tư tưởng; liên kết thông tin với các nền tảng mạng xã hội và các phương tiện truyền thông mới một cách phù hợp.

Các cơ quan báo chí, đặc biệt là các tờ báo, tạp chí lớn của Đảng và Nhà nước cần “chủ động thích ứng với các phương tiện truyền thông mới, đa dạng hóa phương thức và nội dung thông tin, tuyên truyền, bảo đảm phục vụ hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa thông tin đối nội và thông tin đối ngoại trên báo chí và các phương tiện truyền thông phù hợp với lợi ích của đất nước và nhân dân; bảo đảm lượng thông tin tốt, tích cực về đời sống xã hội là dòng chảy chính” (3).  Muốn làm được như vậy, các cơ quan báo chí cần “nắm chắc, dự báo đúng, định hướng chính xác, xử lý đúng đắn, kịp thời các vấn đề tư tưởng trong Đảng, trong xã hội” (4).

Hai là, các cơ quan báo chí cần tổ chức lực lượng trực tiếp đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, các thông tin xấu, độc bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng trên báo chí, trên các phương tiện thông tin đại chúng khác (internet, mạng xã hội,…) góp phần giữ vững trận địa tư tưởng. Tổ chức, củng cố và phát huy tốt vai trò của các lực lượng trực tiếp viết bài đấu tranh, đội ngũ cộng tác viên... đủ mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận và năng lực đấu tranh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đồng thời, có cơ chế, chính sách phù hợp để động viên, khuyến khích và bảo vệ lực lượng này trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Các tờ báo lớn của đất nước phát huy tốt hơn nữa vai trò “chủ lực” trong việc xây dựng nội dung chuyên sâu và các hình thức tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân, Báo Công an nhân dân,… là cơ quan chủ lực, có nhiệm vụ xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, tuyến bài đấu tranh trọng điểm (5) nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với đó, chủ động đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng để xuyên tạc sự thật, kích động, gây rối, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ” (6). Các cơ quan lãnh đạo, quản lý báo chí đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật, công nghệ để phát hiện, xử lý vi phạm trong hoạt động báo chí, truyền thông.

Ba là, chủ động phối kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các “binh chủng” thông tin từ Trung ương đến địa phương, các ngành, các cấp trong hệ thống chính trị. Sự phối hợp này cần bám sát thực tiễn, tích cực, chủ động, phát huy thế mạnh và vai trò của từng tờ báo, từng lực lượng, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh. Trên cơ sở đó, tạo nên “thế trận đấu tranh” rộng khắp, thống nhất, chặt chẽ trong phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam sớm tạo hành lang chính trị - pháp lý, xây dựng cơ chế cụ thể, phù hợp cho việc phối hợp giữa các lực lượng đấu tranh tốt hơn; khắc phục tình trạng sự phối hợp có lúc, có nơi còn thiếu hiệu quả.

Bốn là, thực hiện tốt định hướng dư luận xã hội, đẩy lùi các thông tin xấu, độc, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội. Quán triệt và thực hiện tốt Chỉ thị số 12/CT-TTg, ngày 12-5-2021, của Thủ tướng Chính phủ, “Về chủ động cung cấp thông tin, định hướng dư luận, đẩy lùi thông tin xấu độc” (7), coi trọng “lan tỏa thông tin tích cực, nâng cao nhận thức của nhân dân trước các thông tin sai sự thật”. 

Thực hiện tốt việc công khai, minh bạch thông tin về những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là những vấn đề, sự kiện “nóng”, nhạy cảm; khắc phục tình trạng các thông tin xấu, độc, thông tin giả, thất thiệt lan truyền trong xã hội trước, sau đó báo chí mới “chạy theo” khắc phục mang tính sự vụ. Kiên quyết chấn chỉnh và xử lý nghiêm sai phạm của các trang thông tin điện tử, phương tiện truyền thông xã hội.

4. Để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần xây dựng, rèn luyện đội ngũ nhà báo và các cơ quan báo chí thực sự vững mạnh:

Thứ nhất, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ nhà báo đáp ứng yêu cầu đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các cơ quan báo chí cần “tập trung đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý báo chí, phóng viên, biên tập viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và tinh thông nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền” (8). Họ phải thực sự chuyên tâm “rèn bút, luyện nghề” với tâm thế “bút sắc, lòng trong, tâm sáng”, “phò chính, trừ tà”, đấu tranh không khoan nhượng với những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch

Theo đó, niềm tin vào lẽ phải, vào chính nghĩa, vào tiền đồ, tương lai tốt đẹp của dân tộc, vào sức mạnh của đất nước, vào đường lối, quan điểm của Đảng; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp đổi mới đất nước; tinh thần phấn đấu vì nước, vì dân với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân cao; đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng... phải là những phẩm chất cần có của đội ngũ nhà báo. Nắm vững yêu cầu, nhiệm vụ đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị; giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ báo chí; có kiến thức về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, quản lý nhà nước và pháp luật cần thiết; có đủ trình độ đấu tranh… là những yêu cầu cơ bản về năng lực, cần được quan tâm bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ nhà báo. Chú trọng giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng lập trường kiên định, vững vàng cho đội ngũ nhà báo, nâng cao “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước các quan điểm sai trái, thù địch và trước mọi sự công kích, lôi kéo, mua chuộc.

Thứ hai, xây dựng các cơ quan báo chí thực sự vững mạnh, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, trong đó có nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Quán triệt và thực hiện có hiệu quả quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng nền báo chí, truyền thông “chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại”. Quan tâm xây dựng các cơ quan báo chí đủ mạnh, nhất là đối với các cơ quan báo chí chủ lực, chuyên sâu về lý luận chính trị.

Thực hiện có hiệu quả công tác quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông theo Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025. Thực hiện tốt việc sắp xếp tổ chức, bộ máy của các cơ quan báo chí phù hợp, bảo đảm “tinh, gọn, mạnh”, hoạt động hiệu lực và hiệu quả. Trong đó, chú trọng xây dựng một số cơ quan báo chí đa phương tiện làm nòng cốt, có vai trò định hướng dư luận xã hội và đối ngoại.

Thứ ba, tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước đối với hoạt động của các nhà báo và các cơ quan báo chí. Quan tâm xây dựng các tổ chức đảng trong cơ quan báo chí thật sự trong sạch, vững mạnh; khắc phục những biểu hiện “buông lỏng”, “xem nhẹ” công tác lãnh đạo đối với các cơ quan báo chí. Cùng với đó, cần “tăng cường trách nhiệm của cơ quan chủ quản báo chí, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan báo chí trong việc thực hiện định hướng thông tin, quản lý phóng viên, cộng tác viên của cơ quan báo chí (9). Kiên quyết “xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với các cơ quan báo chí, phóng viên đăng tải thông tin chưa được xác minh, kiểm chứng, không có cơ sở, căn cứ, gây ảnh hưởng không tốt đến dư luận xã hội” (10).

Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 12/CT-TTg, ngày 12-5-2021, của Thủ tướng Chính phủ, “Về tăng cường công tác tuyên truyền, định hướng hoạt động truyền thông, báo chí phục vụ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”; kịp thời chấn chỉnh và xử lý các vi phạm trong hoạt động báo chí, truyền thông; bảo đảm báo chí phục vụ hiệu quả nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Có cơ chế, chính sách cụ thể, thiết thực, thỏa đáng về vật chất, tinh thần để động viên, khuyến khích, nâng cao đời sống cho đội ngũ nhà báo yên tâm gắn bó với nghề và luôn giữ vững phẩm chất, đạo đức của người làm báo cách mạng./.

Một số giải pháp tăng cường đấu tranh, bảo vệ học thuyết Mác - Lênin về triết học

 Nhằm tăng cường đấu tranh, bảo vệ học thuyết Mác - Lênin về triết học, trong thời gian tới cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu như sau:

  Về nhận thức, cần nhận thức đúng và có phương pháp nghiên cứu khoa học về triết học Mác - Lênin, một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - Lênin, đấu tranh, bảo vệ triết học Mác - Lênin cũng chính là bảo bệ chủ nghĩa Mác - Lênin - cấu phần quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, không được sơ cứng, giáo điều. Đây là cơ sở lý luận, nhận thức quan trọng nhưng cũng đồng thời là vũ khí tư tưởng sắc bén của chúng ta trong cuộc đấu tranh chống lại các luận điểm xuyên tạc, phủ định không có cơ sở của các thế lực thù địch hiện nay.

Thế giới hiện nay có nhiều biến đổi sâu sắc, đan xen giữa mặt tích cực, tiến bộ, đồng thời xuất hiện nhiều nhân tố gây mất ổn định, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho sự phát triển của nhân loại, nhất là trong thế giới tư bản sau khủng hoảng tài chính 2008, chủ nghĩa tư bản rơi vào thảm họa chưa từng có. Công bằng mà đánh giá không có những thành tựu của chủ nghĩa xã hội hiện thực, không có chủ nghĩa Mác - Lênin thì giai cấp tư sản không tự điều chỉnh, thích nghi và không có chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay. Do đó, thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng của triết học Mác - Lênin vẫn là sự đánh giá đúng nhất, sự phê phán sâu sắc nhất, triệt để nhất đối với chủ nghĩa tư bản ngày nay.

Về thực tiễn, triết học Mác - Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung không phải là sự khuôn mẫu, cái định sẵn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn chỉ ra rằng thời kỳ trước đổi mới chúng ta mất phải những sai lầm trong đường lối, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng là do chúng ta không nắm vững thế giới quan và phương pháp luận triết học Mác - Lênin, giản đơn, chủ quan duy ý chí, hiểu sai, làm sai, áp đặt cho sự phát triển của Việt Nam, triết học Mác - Lênin chỉ ra rằng học thuyết của các ông là khoa học, đặt nền móng cho môn khoa học. Vì vậy, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, chúng ta phải tăng cường tổng kết thực tiễn trong nước, phải tiếp thu cái tiến bộ của chủ nghĩa tư bản nhưng phải phù hợp với xu thế phát triển và nước ta, từ tổng kết thực tiễn đó để lý giải những vấn đề mới nảy sinh không thể tìm câu trả lời sẵn có trong học thuyết Mác - Lênin. Do đó, chúng ta vừa kiên định thế giới quan duy vật, đồng thời vận dụng mềm dẻo, sáng tạo phương pháp luận biện chứng của triết học Mác - Lênin như là công cụ để đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức lý luận, nắm rõ thực tế để thành công trong bảo vệ cấu phần trong nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Về phương pháp, trước hết cần nhất quán về nguyên tắc trong đấu tranh, bảo vệ học thuyết Mác - Lênin về triết học, đó là: kiên định, trung thành với thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng; vận dụng sáng tạo phương pháp luận khoa học của triết học Mác - Lênin vào giải quyết những vấn đề thực tiễn ở nước ta; tiếp tục tổng kết thực tiễn, những thành tựu khoa học để bổ sung, phát triển, làm giàu thêm triết học Mác - Lênin; cần mạnh dạn chỉ ra những lý luận cụ thể, trong những điều kiện cụ thể đã bị lịch sử vượt qua đúng như tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ định triết học Mác - Lênin rất tinh vi, trắng trợn, trên nhiều phương diện. Vì vậy, phương pháp đấu tranh, bảo vệ của chúng ta cũng đa dạng trên nhiều phương diện. Chúng càng tinh vi, thì chúng ta càng kiên định, tỉnh táo và sắc bén hơn, bằng lý luận và thực tiễn nhằm đập tan, buộc chúng phải chấp nhận thua chúng ta trên mặt trận “tư tưởng triết học” này. Mặt khác, chúng ta cần mạnh dạn đổi mới phương pháp đấu tranh, bảo vệ, nghĩa là đối với những quan điểm sai trái, thù địch chúng ta kiên quyết, kiên trì, quyết tâm đấu tranh để giành cho được thắng lợi trọn vẹn. Đồng thời, chúng ta cần tiếp thu có chọn lọc những quan điểm có cơ sở để nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung, kể cả dám từ bỏ những kết luận của chính mình nếu như chúng không còn phù hợp nữa.

Về tổ chức, tiếp tục kiện toàn Ban Chỉ đạo bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở tất cả các cấp, các ngành, cần thiết nghiên cứu, đổi mới quy định về việc thành lập Ban Chỉ đạo 35 như hiện nay. Có thể? Thành lập Ban Chỉ đạo 35 theo ngành, lĩnh vực hay theo khu vực, giảm bớt các Ban Chỉ đạo ở những khâu trung gian không cần thiết; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định, quy chế, nhất là quy chế phối hợp trong hoạt động của các Ban Chỉ đạo, cần thiết phải cụ thể, lượng hóa theo cấp độ về tính hiệu quả trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tiếp tục xây dựng lực lượng nòng cốt có chất lượng theo hướng “chuyên nghiệp, chuyên tâm, chuyên dũng và chuyên sâu” làm nhiệm vụ này; cuối cùng nhưng cũng là khâu yếu nhất của chúng ta cần khắc phục đó là khâu tổ chức, thực hiện nhiệm vụ chính trị này, tránh chung chung, hình thức, hiệu quả không thực, khó xác định.

Tóm lại: Đấu tranh, bảo vệ triết học Mác - Lênin - bộ phận trong chủ nghĩa Mác - Lênin là nhiệm vụ cấp thiết, thường xuyên, lâu dài, thể hiện sự nhất quán của Đảng ta như Đại hội XIII của Đảng đã nêu: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng… để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[9]. Qua đó, củng cố niềm tin khoa học vào thế giới quan triết học Mác - Lênin, cơ sở cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của cán bộ, đảng viên.

Nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch đối với học thuyết Mác - Lênin về triết học

Ra đời từ những năm 40 của thế kỷ XIX, trải qua hơn 180 năm triết học Mác - Lênin luôn luôn là thế giới quan, phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn, việc nghiên cứu, học tập, nắm vững những lý luận cốt lỗi của triết học Mác - Lênin là nhu cầu cần thiết, vì nó không chỉ có ý nghĩa giúp chúng ta hiểu đúng hơn, đầy đủ hơn, mà còn cung cấp vũ khí lý luận sắc bén, tư tưởng vững  chắc, niềm tin trong việc bảo vệ cấu phần trong nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Ngày nay, các thế lực thù địch tiếp tục điên cuồng chống phá quyết liệt vào những quan điểm có tính chất nền tảng của triết học Mác - Lênin, đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, họ thâm độc hơn với nhiều chiêu trò khác nhau, bằng những phương tiện, công cụ khác nhau, chúng tấn công vào tư tưởng, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân để rồi dẫn đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ngày càng nghiêm trọng hơn. Vì vậy, chúng ta cần tỉnh táo, sáng suốt nhận diện đúng “căn bệnh và bốc đúng thuốc” sớm đấu tranh, bảo vệ thành công triết học Mác - Lênin, góp phần bảo vệ cấu phần trong nền tảng tư tưởng của Đảng. Có thể khái quát một số biểu hiện cụ thể như sau:

Một là, các thế lực thù địch tư biện cho rằng triết học Mác - Lênin chỉ đúng ở thế kỷ XIX nay không còn đúng nữa.

Tư duy tư biện là lối tư duy, nhận thức, suy luận đơn thuần không dựa vào thực tiễn, không xuất phát từ hiện thực khách quan, từ đó đi đến kết luận không chặt chẽ, không lôgic, thậm chí có những kết luận mang tính áp đặt, sai lầm. Lối tư duy này hiện nay khá phổ biến, kể cả xuất hiện trong tư duy, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Sinh thời, Lênin đấu tranh, bảo vệ quan điểm thực tiễn, yêu cầu nhận thức phải dựa trên thực tiễn, lấy thực tiễn làm cơ sở, động lực, mục tiêu, là tiêu chuẩn của nhận thức chân lý. Lênin nêu rõ: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức”[1].

 Thực tế không có gì phải bàn cải, triết học Mác - Lênin ra đời vào những năm 40 của thể kỷ XIX, nay không còn đúng nữa phải không? Đây là quan điểm tư biện, thù địch không có sơ sở thực tiễn, cần có thái độ khách quan khi đánh giá tư tưởng, giá trị của triết học Mác - Lênin trong nhận thức và cải tạo hiện thực của con người trong thế giới đương đại, thời đại cuộc cách mạng khoa học và cộng nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, đã tác động và đưa đến những thành tựu to lớn, những tiến bộ trong lĩnh vực kinh tế, công nghệ và đời sống của con người chưa từng có trong lịch sử, con người ngày càng nhận thức nhiều hơn, cải tạo nhiều hơn đối với hiện thực khách quan này. Điều này không có nghĩa là triết học Mác - Lênin không còn đúng nữa, mà thực tế ấy đã minh chứng rằng triết học Mác - Lênin đã làm cuộc cách mạng một lần nữa khi trả lời cho câu hỏi tư duy của con người có phản ánh được được tồn tại hay không? Ý thức có phản ánh được vật chất hay không? Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Tất cả điều đó đã minh chứng khả năng nhận thức của con người đối với hiện thực, và khả năng ấy chưa dừng lại mà con người còn nhận thức nhiều hơn nữa về thế giới hiện thực. Tinh thần đó Ăngghen đã chỉ rõ: “Lý luận của chúng tôi không phải một giáo điều, mà là sự giải thích quá trình phát triển, quá trình này bao hàm trong bản thân nó một loạt những giai đoạn kế tiếp nhau”[2]. Mặt khác, hiện nay ở phương Tây các nhà tư tưởng tư sản đều thừa nhận rằng không có nền triết học hiện đại nào vượt qua được triết học C.Mác, và cũng không phải ngẫu nhiên mà năm 1999, Đại học Cambridge (Anh) công bố bình chọn nhà tư tưởng số một thiên niên kỷ, kết quả là C.Mác đứng đầu, Anhxtanh đứng thứ hai. Tháng 7/2005, với câu hỏi tương tự, đã có 27.9% thính giả trong cuộc thăm dò ý kiến của chương trình In Our Time trên kênh Radio 4 của BBC đã chọn C.Mác là nhà tư tưởng ưa thích của họ, và vẫn là người đứng đầu”[3], đây là những thực tế sinh động nhất khi bàn về C.Mác và chủ nghĩa duy vật của C.Mác vẫn đúng cho dù thực tiễn có nhiều biến đổi.

Hơn thế nữa, sau khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch điên cuồng xuyên tạc, tấn công vào nền tảng triết học Mác - Lênin rất mạnh mẽ, xem như là cơ hội cuối cùng để chủ nghĩa Mác - Lênin sụp đổ, các học thuyết “chiến thắng không cần chiến tranh” lần lượt ra đời, chúng chuyển hướng chiến lược, Châu Á và Việt Nam trở thành mặt trận nóng bỏng, điều chỉnh phương thức tấn công vào thành trì các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, nhằm kết liễu hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới. Tuy nhiên, các mưu toan của các thế lực thù địch đều thất bại thạm hại, vì họ ngộ nhận, gán ghép vô nguyên tắc giữa sự sụp đổ của Liên xô và Đông Âu chính là sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, triết học Mác - Lênin nói riêng, một sự sai lầm có tính chất chiết trung, sự sụp đổ của Liên xô và Đông Âu chính là sự sụp đổ một mô hình xã hội chủ nghĩa không phù hợp, với nhiều hạn chế kéo dài chậm được nhận thức hoặc nhận thức không đúng dẫn đến quá trình cải tổ sai lầm đó chính là nguyên nhân của khủng hoảng đẩy Liên xô và Đông Âu sụp đổ. Đúng như tác giả K.Shil đã khẳng định: “Tình hình xảy ra ở Liên Xô dứt khoát không có nghĩa là chủ nghĩa xã hội khoa học đã phá sản. Ngược lại, đó là hậu quả của sự xa rời và phản bội học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học trong suốt một thời gian dài, sai lầm đó là nghiêm trọng vì căn bản nó đi ngược lại học thuyết của chủ nghĩa xã hội khoa học”[4]. Đây chính là sự khác biệt giữa sự nghiệp cải tổ của Liên Xô với sự nghiệp đổi mới, cải cách của Việt Nam, Trung Quốc và những nước xã hội chủ nghĩa khác với nhiều thành tựu to lớn, quan trọng và chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn đúng, giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin luôn theo cùng với thời đại.

Hai là, các thế lực thù địch cho rằng quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử của triết học Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật tầm thường, chủ nghĩa duy vật kinh tế thuần túy, tuyệt đối vai trò của lao động sản xuất vật chất, xem nhẹ lao động sản xuất tinh thần và quá trình sản xuất bản thân con người.

Những quan điểm nêu trên đã xuất hiện ngay thời kỳ của Lênin, phái dân túy đã tầm thường hóa những hoạt động kinh tế với học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác. Ngày nay, nhiều quan điểm xuyên tạc, thù địch, mà điển hình là quan điểm về ba làn sóng hay ba nền văn minh của AlvinTffler khi phân chia sự vận động, phát triển của các thời đại lịch sử nhằm bác bỏ quan điểm của C.Mác và cho rằng C.Mác đã sai lầm về thời đại lịch sử, thời đại ngày nay là thời đại hậu công nghiệp, thời đại của sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản, sự tồn tại và vĩnh viễn của chủ nghĩa tư bản trong tương lai.

Trước hết, chúng ta trở về với chính bản chất khoa học và cách mạng của triết học Mác - Lênin, đúng như Ăngghen đã khẳng định: “giống như Đác-uyn đã phát hiện ra quy luật của giới hữu cơ, C.Mác đã phát hiện ra quy luật phát triển của xã hội loài người”[5]. Sau này Lênin tiếp tục khẳng định: “chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị”[6]. Quan điểm duy vật về lịch sử của C.Mác đến nay vẫn đúng, vì quan điểm này nghiên cứu, phân tích  sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội trên quan điểm duy vật, và nhận thức sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội trên quan điểm biện chứng. Do đó, dù thế giới hiện nay có nhiều biến đổi to lớn, nhất là sự hiện đại của một số nước tư bản, thì chủ nghĩa duy vật lịch sử vẫn đứng vững trên đôi chân của chính mình, vẫn là lý luận khoa học để giải thích sự giới hạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, và chứng minh tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một“quá trình lịch sử - tự nhiên”.

Mặt khác, về thực tiễn đúng như những lý giải của triết học Mác - Lênin, lịch sử xã hội loài người được bắt đầu từ lao động sản xuất vật chất, hay nói cách khác lao động sản xuất vật chất là sự chuyển giao, một trong những nguồn gốc của sự hình thành xã hội loài người, đây là “bí mật” của lịch sử xã hội được C.Mác phát hiện ra, từ đó đưa đến cuộc cách mạng trong lịch sử triết học.

Ba là, các thế lực thù địch cho rằng việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin - cấu phần quan trọng làm nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động là sự sai lầm về thế giới quan và phương pháp luận.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX các phong trào, khuynh hướng cứu nước và giải phóng dân tộc Việt Nam rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, hiện thực khủng hoảng ấy tất yếu lịch sử đã đưa Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Lênin vào những năm 1920, sau năm 1924 là chủ nghĩa Mác - Lênin, đây không phải là sự tình cờ, ngẫu nhiên, mà vì cách mạng tháng Mười Nga sự kiện vĩ đại nhất trong thế kỷ XX do Đảng Bôn-sê-vích đứng đầu là lãnh tụ Lênin lãnh đạo, và chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết chắc chắn nhất được xây dựng trên nền thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng. Mặt khác, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là sự giáo điều, máy móc, mà là sự tiếp thu, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo. Điều này Hồ Chí Minh khẳng định: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm, lý luận đi đôi với thực tiễn”[7].

Với sự mẫn cảm về chính trị của Người, cách mạng Việt Nam đã bước sang trang sử mới, từ khi Đảng ta ra đời và lãnh đạo cho đến nay với những thành tựu mang tính chất thời đại, đã minh chứng việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là đúng đắn, phù hợp, thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng của triết học Mác - Lênin vẫn tiếp tục là nền tảng, lý luận soi đường, định hướng cho những thành công trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam vì chủ nghĩa xã hội.

Ngày nay nghe nói nhiều về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, đời sống, thu nhập cá nhân rất cao, những hình ảnh ấy chúng ta không hề phủ nhận. Tuy nhiên, cần có cái nhìn khách quan, đánh giá toàn diện về chủ nghĩa tư bản, với cách tiếp cận khu vực, thì khu vực trung tâm của chủ nghĩa tư bản một mãng rất nhỏ có được sự phát triển về kinh tế, trung tâm tài chính, khoa học, công nghệ của thế giới. Nhưng lại là nơi gieo mầm cho các cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc, chiến tranh, khủng bố, an ninh con người bị đe dọa, một trong những hiện tượng khá phổ biến là “xả súng vào trường học”. Ngược lại, khu vực ngoại vi một mãng rất lớn của chủ nghĩa tư bản, thì lại nghèo về kinh tế, thiếu lương thực, ô nhiểm môi trường, sự nô dịch áp bức, dịch bệnh, giáo dục, y tế rất lạc hậu, thực tế đó một lần nữa minh chứng bản chất và sự giới hạn của chủ nghĩa tư bản, và khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Điều này Đảng ta đã khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”[8]. Đây là quy luật khách quan của lịch sử loài người, trải qua nhiều thử thách của thời gian và thực tiễn, lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin với việc nghiên cứu lịch sử bằng phương pháp biện chứng vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và thời đại của nó, việc lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Việt Nam là hoàn toàn phù hợp và đúng đắn.

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG BẢO VỆ NHỮNG VẤN ĐỀ MANG TÍNH QUY LUẬT LỊCH SỬ VỀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 Bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, trong và ngoài nước các thế lực thù địch, phản động đang ráo riết chống phá công cuộc đổi mới đất nước nhằm mục tiêu xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Trên các trang mạng xã hội chúng liên tục đăng tin, bài với những luận điệu chống đối và xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc tư tưởng bạo lực cách mạng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thậm chí phủ nhận độc lập dân tộc (ĐLDT) gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam… Vì vậy, cần phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trai, thù địch để bảo vệ những vấn đề mang tính quy luật về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cách mạng Việt Nam.

1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ MANG TÍNH QUY LUẬT VỀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

1.1. Bạo lực cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng là quy luật tất yếu của lịch sử

Đầu thế kỷ XX, khi tiếng súng chống Pháp của phong trào Cần Vương tạm thời lắng xuống thì nổi lên con đường và phương pháp cứu nước do Phan Bội Châu hay xu hướng cải lương, “Bất bạo động” do nhà yêu nước Phan Châu Trinh khởi xướng. Mặc dù yêu nước của các ông còn những hạn chế nhưng những tư tưởng ấy như một luồng gió mới thổi vào xã hội Việt Nam. Trong đó, Phan Châu Trinh là người vượt qua những hạn chế kỳ thị đương thời, ông đề ra tư tưởng cải cách dân chủ theo hướng tư sản và đã tạo nên phong trào duy tân, phong trào kháng thuế đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, tư tưởng dân chủ cải lương của Phan Châu Trinh trong phong trào Duy Tân chủ trương “bất bạo động, bạo động tắc tử, bất vong ngoại, vong ngoại giả ngụ”, đề cao chủ trương cải tổ về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục một cách toàn diện. Song, tư tưởng này của ông cũng bị thực dân Pháp đàn áp. Vì ngay nội dung của tư tưởng là một hiểm họa đối với chế độ thuộc địa nửa phong kiến của thực dân Pháp. Thế nhưng một số người cho rằng nếu để cho tư tưởng cải lương bất bạo động của Phan Châu Trinh tiếp tục phát triển thì may ra cũng giành được độc lập như Ấn Độ mà không cần đổ máu, đất nước vẫn phát triển”. Đó là quan điểm sai lầm. Bởi, Đảng Cộng sản Việt Nam khi mới ra đời đã sớm xác định con đường và phương pháp cách mạng là dùng bạo lực để giành chính quyền. Đó không phải là sự “vọng ngoại” mà căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam.

Trong lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước dân tộc ta phải đứng trước những kẻ thù to lớn và hung bạo, để bảo vệ ĐLDT và sự sống còn của nhân dân, ông cha ta phải luôn luôn dùng biện pháp đấu tranh vũ trang. Điều này trở thành một truyền thống và là phương pháp của một nước nhỏ chống lại những kẻ thù xâm lược hung bạo. Thực dân Pháp khi xâm lược nước ta đã cấu kết với bè lũ phong kiến để áp bức, bóc lột nhân dân ta, mọi phản kháng dù nhỏ của nhân dân ta đều bị đàn áp. Vì vậy, để lật đổ chế độ thực dân phong kiến không thể không dùng sức mạnh của quần chúng. Từ tổng kết kinh nghiệm thực tiễn lịch sử phát triển của xã hội loài người, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin rút ra kết luận: Để giành chính quyền từ tay giai cấp thống trị, quần chúng cách mạng phải sử dụng bạo lực.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, được sự hỗ trợ của các nước đế quốc, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta. Đảng và Chính phủ ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành hàng loạt hoạt động ngoại giao (Hiệp định Sơ bộ 6/3, Tạm ước ngày 14/9) để tránh cuộc chiến tranh xảy ra. Nhưng thực dân Pháp với âm mưu xâm lược và nô dịch nước ta lần nữa nên đã không thừa nhận ngay cả khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: Việt Nam chỉ là một quốc gia tự do trong khối Liên hiệp Pháp. Chúng ta muốn hòa bình nhưng hòa bình trong độc lập, tự do và chúng ta đã nhân nhượng đến giới hạn cho phép. Không dừng lại ở đó, ngay sau khi chiến tranh nổ ra, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hàng chục lần đề nghị Pháp thương lượng hòa bình để kết thúc chiến tranh. Trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc và trả lời phỏng vấn nhà báo Mỹ: Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố rằng nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình”, “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù chuốc oán với một ai”[1]. Đó là đường lối ngoại giao hòa bình văn minh và tiến bộ; là biểu hiện sinh động của văn hóa hòa bình, không muốn chiến tranh. Nhưng tất cả đều bị từ chối. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành chín năm kháng chiến thực dân Pháp và hơn 20 năm chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước cùng quá độ lên CNXH. Đó là thắng lợi vĩ đại trong thế kỷ XX của Nhân dân và cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng ta mà chưa có đảng phái nào ở Việt Nam làm được điều đó.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam là quy luật tất yếu, là sự lựa chọn của lịch sử

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hàng loạt cuộc khởi nghĩa do giai cấp nông dân, các sĩ phu yêu nước Việt Nam đứng lên kháng Pháp, nhưng đều thất bại. Nối tiếp các phong trào khởi nghĩa chống Pháp theo hệ tư tưởng phong kiến là các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng của các đảng chính trị đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, như: đảng của giai cấp nông dân như Nghĩa hưng (năm 1907); đảng của giai cấp tư sản, địa chủ, như Lập hiến (năm 1923)... tới đảng của tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức, tiểu tư sản, như Việt Nam nghĩa đoàn, Đảng Thanh niên, Đảng An Nam độc lập (năm 1927), Việt Nam quốc dân đảng (năm 1927)… cuộc Khởi nghĩa Yên Bái ngày 09 tháng 02 năm 1930 thất bại, đã nói lên sự bế tắt về đường lối cứu nước và giải phóng dân tộc ở Việt Nam lúc bấy giờ.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, một loạt các đảng phái, như: Đại Việt quốc dân đảng, Việt Nam quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách); Đảng Dân chủ Việt Nam (ra đời ngày 30-6-1944 và tự giải tán vào ngày 20-10-1988), Đảng Xã hội Việt Nam (ra đời ngày 22-7-1946 và tự giải tán tròn 42 năm sau đó, ngày 22-7-1988)[2]… các đảng trên, có đảng mong chấn hưng đất nước, có đảng âm mưu tính biến đất nước thành nơi thử nghiệm những mưu đồ chính trị cho giai cấp, tầng lớp của họ… không vì mục đích giải phóng dân tộc, chúng dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn và thậm chí chúng cho rằng: Đảng Cộng sản Đông Dương vì quyền lợi giai cấp và ép Đảng ta phải tự giải tán. Trước khó khăn, thách thức của lịch sử và để chứng tỏ sứ mệnh của mình với toàn dân tộc, trong Thông cáo ngày 11 tháng 11 năm 1945, Đảng ta khẳng định: “Những đảng viên cộng sản là những chiến sĩ tiền phong của dân tộc, bao giờ cũng hy sinh tận tụy vì sự nghiệp giải phóng của toàn dân, sẵn sàng đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi của giai cấp, hy sinh quyền lợi riêng của đảng phái cho quyền lợi chung của dân tộc; để phá tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nước và ở trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng nước nhà…”[3]. Khi Đảng Cộng sản Đông Dương tự giải tán, thì một số đảng phái đã tự phải diệt vong hoặc bị giải tán hoặc theo bọn xâm lược ra nước ngoài… nhiệm vụ giải phóng dân tộc là một thách thức về vị trí, vai trò của đảng chính trị trong cách mạng Việt Nam.

Về mặt khách quan mà nói, ngày 03 tháng 02 tháng 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp chặt chẽ những yếu tố của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với tố chất của một đảng mácxít chân chính kiểu mới của giai cấp công nhân, có bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á; chín năm kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân cũ làm nên thắng lợi của trận Điện Biên Phủ vang dội năm châu, chấn động địa cầu. Bước vào giai đoạn cách mạng mới, Đảng đã chủ trương thực hiện hai chiến lước cách mạng, “cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau, nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội”[4]Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là đỉnh cao của bản anh hùng ca về lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Đây là một trong những chiến thắnvĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, một trong những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. “Năm tháng sẽ trôi qua nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX”[5]. Thắng lợi đó đã kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt vĩnh viễn 117 năm chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc xâm lược (chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới), hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, cả nước cùng quá độ lên CNXH.

Hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện. Những thành tựu đạt được trên tất cả các lĩnh vực là phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân ta.

3. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quy luật tất yếu của cách mạng Việt Nam và là xu thế của thời đại

Trước sự thất bại của các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, hệ tư tưởng tư sản, tiểu tư sản. Ngày 05 tháng 6 năm 1911, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước để giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và đã không ngừng tổ chức truyền bá vào nước ta, sáng lập và rèn luyện Đảng ta.

Ngày 03 tháng 02 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tư tưởng ĐLDT gắn liền với CNXH được khẳng định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là: Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản - tức là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ để thực hiện mục tiêu ĐLDT và người cày có ruộng, từng bước đưa đất nước tiến lên xây dựng CNXH.

Mục tiêu đó trở thành hiện thực trong cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Song, nền ĐLDT không được hưởng trọn vẹn, các thế lực thù địch quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn thể dân tộc đứng lên… bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chín năm kháng chiến đầy hy sinh gian khổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân và toàn thể dân tộc đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 1954) và 20 năm tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, toàn Đảng và toàn thể dân tộc Việt Nam đã làm nên đại thắng Mùa Xuân năm 1975, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên CNXH.

Bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, Cương lĩnh năm 1991 của Đảng khẳng định bài học đầu tiên của cách mạng Việt Nam là: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là bài học xuyên suốt trong quá trình cách mạng nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc”[6]Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”[7]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (1-2021) của Đảng nhấn mạnh: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[8]. Nếu xa rời mục tiêu ĐLDT và CNXH là sẽ đi chệch hướng phát triển của đất nước. Kiên định ĐLDT và CNXH để thực hiện thành công mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Bởi, ĐLDT và CNXH là con đường tất yếu khách quan, là nhu cầu của dân tộc Việt Nam, xu thế phát triển của xã hội loài người. Và chỉ có học thuyết Mác - Lênin, học thuyết khoa học và cách mạng mới khẳng định được những giá trị bền vững đó trước thời đại.

2. VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, BẢO VỆ MỘT SỐ VẤN ĐỀ MANG TÍNH QUY LUẬT LỊCH SỬ TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Trước, trong và sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội phản động ráo riết đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng đưa ra chiêu bài mặc dù không mới lắm, nhưng cực kỳ nguy hiểm và thâm độc hòng phủ nhận tư tưởng bạo lực trong cách mạng Việt Nam, đòi “đa nguyên, đa đảng”, xóa bỏ ĐLDT gắn liền với CNXH… tung lên dồn dập trên các phương tiện thông tin, truyền thông không chính thống, trên internet, mạng xã hội với thái độ hằn học và giọng điệu thù địch. Đó là những quan điểm và luận điệu sai lầm muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam. Hơn ai hết, người giảng viên lý luận chính trị phải nhận diện được những quan điểm sai trái, thù địch trong đấu tranh, phản bác để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế động XHCN.

Thực hiện Quy chế giảng viên ban hành kèm theo Quyết định số 2252-QĐ/HVCTQG, ngày 02 tháng 5 năm 2019 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, người giảng viên lý luận chính trị có nhiệm vụ góp phần xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, đặc biệt khẳng định tính tất yếu của quy luật lịch sử trên những vấn đề sau:

Thứ nhất, ở mỗi thời đại lịch sử khác nhau có các dân tộc khác nhau đi tiên phong giành độc lập; thời cận đại có các dân tộc Anh, Pháp và Mỹ; dân tộc Nga đã mở ra cho loài người một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Với ý nghĩa đó, dân tộc Việt Nam là người đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc ở thế kỷ XX.

Thứ hai, dù lịch sử đã sang trang, song “Ôn cố tri tân” hay nhận thức lại lịch sử, nhận thức đúng sự thật lịch sử để rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai là cần thiết đối với mỗi quốc gia dân tộc, do đó không được phép áp đặt những hiện tượng lịch sử bên ngoài cho điều kiện hay hoàn cảnh lịch sử của các quốc gia dân tộc khác nhau. Mọi mưu toan phủ nhận quan điểm bạo lực cách mạng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng hay phủ nhận ĐLDT gắn liền với CNXH ở Việt Nam là phủ nhận những thành tựu to lớn mà Đảng và Nhân dân ta đã giành được trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, là sự vong ân bội nghĩa với hàng triệu đồng bào, chiến sĩ hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH để có một Việt Nam phát triển như hôm nay.

Thứ ba, thế giới dù có nhiều đổi thay, song toàn Đảng và toàn thể dân tộc Việt Nam luôn kiên định ĐLDT gắn liền với CNXH; ĐLDT và CNXH không chỉ là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, cơ sở lý luận và thực tiễn cho con đường phát triển của cách mạng Việt Nam mà còn là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay. Cần phải khẳng định rằng: phải là người Việt Nam yêu nước mới thật sự hiểu hết được giá trị của những thành quả mà Nhân dân ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 92 năm qua, mới có thể nhận thức được đúng đắn và quyết tâm phấn đấu bảo vệ những thành quả đó; và chỉ có ĐLDT gắn liền với CNXH mới đem lại cho Nhân dân cơm no, áo ấm, mọi người đều được học hành và có điều kiện phát triển toàn diện; ĐLDT và CNXH là cơ sở vững chắc để xây dựng được một Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong tương lai.

Thứ tư, đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay… Những thành tựu to lớn trong cách mạng dân tộc dân chủ, giải phóng dân tộc cũng như những thành tựu bước đầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là một minh chứng hùng hồn, là luận cứ lịch sử sâu sắc nhất, là quy luật tất yếu về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam mà có rất nhiều đảng chính trị đã từng xuất hiện ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã không làm được.

Có thể nói, trong mọi hoạt động của mình, trách nhiệm của người giảng viên lý luận chính trị phải không ngừng nêu cao tinh thần đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN, không ngừng góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra để thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.