Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022

Phát huy tính chủ động, sáng tạo trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch

 Chiều 3-10, Công an TP. Hồ Chí Minh và Ban Tuyên giáo Thành ủy TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức Lễ ký kết kế hoạch phối hợp giữa hai đơn vị về thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch giai đoạn 2022-2025. Đến dự có các đồng chí: Nguyễn Hồ Hải, Phó Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh; Phan Nguyễn Như Khuê, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy TP. Hồ Chí Minh; Thiếu tướng Lê Hồng Nam, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Bí thư Đảng ủy – Giám đốc Công an TP. Hồ Chí Minh; Lê Hồng Sơn, thành ủy viên, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Thành ủy TP. Hồ Chí Minh; Thiếu tướng Trần Đức Tài, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Công an TP. Hồ Chí Minh.

Phó Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hồ Hải phát biểu tại chương trình

Phó Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hồ Hải phát biểu tại chương trình.

Nâng cao ý thức cảnh giác, hiểu biết pháp luật

Theo nội dung ký kết giữa hai đơn vị, tăng cường hơn nữa quan hệ phối hợp giữa Công an TP. Hồ Chí Minh với Ban Tuyên giáo Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tạo sự chủ động, thống nhất cao trong chỉ đạo, triển khai thực hiện các nội dung liên quan trực tiếp đến hai cơ quan và hệ thống ngành dọc của hai cơ quan. Cùng với đó là, nâng cao ý thức, trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ Công an thành phố và cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị thành phố về thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch…

Kế hoạch xác định, đề ra phạm vi, nguyên tắc, nội dung và trách nhiệm phối hợp với các nội dung, có phân công trách nhiệm cụ thể giữa hai bên. Trong đó có định hướng tư tưởng và chỉ đạo, hướng dẫn tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Bên cạnh đó là theo dõi nắm tình hình, kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền những âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Xây dựng, tổ chức lực lượng cộng tác viên Ban Chỉ đạo 35 trong các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị, kết nối và phát huy các trường của công an nhân dân trên địa bàn thành phố. Giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền thông tin tích cực, đấu tranh phản bác thông tin xấu độc trên báo chí, in-tơ-nét, mạng xã hội. Kịp thời phát hiện, kiên quyết ngăn chặn, xử lý các đối tượng đăng tải, phát tán thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Phan Nguyễn Như Khuê phát biểu tại chương trình

Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Phan Nguyễn Như Khuê phát biểu tại chương trình.

Một trong những nội dung khác là triển khai các giải pháp để bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Các biện pháp bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ;…

Hai cơ quan có trách nhiệm phối hợp và hỗ trợ nhau để phổ biến, quán triệt, chỉ đạo triển khai thực hiện kế hoạch phối hợp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở các cấp trong lực lượng Công an thành phố và Ngành Tuyên giáo; chỉ đạo các đơn vị, địa phương tích cực thực hiện có hiệu quả kế hoạch phối hợp;…

Thiếu tướng Lê Hồng Nam, Giám đốc Công an Thành phố phát biểu tại chương trình

Thiếu tướng Lê Hồng Nam, Giám đốc Công an thành phố phát biểu tại chương trình.

Tại Lễ ký kết, Thiếu tướng Lê Hồng Nam, Giám đốc Công an thành phố cho biết, thời gian qua, sự phối hợp giữa Công an thành phố và Ban Tuyên giáo Thành ủy đã góp phần tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, định hướng thông tin báo chí, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tin giả, tin sai sự thật, nhất là trong giai đoạn dịch Covid-19 diễn biến phức tạp… Từ đó, góp phần thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và Đề án 05-ĐA/TU của Ban Thường vụ Thành ủy về “tuyên truyền, lan tỏa thông tin tích cực, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên in-tơ-nét, mạng xã hội tại TP. Hồ Chí Minh”.

Theo Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Phan Nguyễn Như Khuê, nhằm phát huy những kết quả đạt được, tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, hai đơn vị sẽ cụ thể hóa các nội dung ký kết để phổ biến, quán triệt, chỉ đạo triển khai có hiệu quả kế hoạch phối hợp ở các cấp trong lực lượng Công an thành phố và Ngành Tuyên giáo. Đồng thời, chỉ đạo các đơn vị, địa phương kịp thời hướng dẫn, chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao ý thức cảnh giác, hiểu biết pháp luật, ý thức tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch. Cùng với đó là thường xuyên thực hiện công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền thông tin tích cực, đấu tranh phản bác thông tin xấu độc trên báo chí, in-tơ-nét, mạng xã hội…

Cụ thể hoá các nội dung, kế hoạch thành những giải pháp cụ thể

Phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ, Phó Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hồ Hải đánh giá cao công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xử lý thông tin xấu, độc trên địa bàn Thành phố thời gian qua. Nhấn mạnh vai trò công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, Phó Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hồ Hải yêu cầu hai đơn vị sớm cụ thể hoá các nội dung, kế hoạch thành những giải pháp cụ thể để triển khai thống nhất, đồng bộ tại địa phương, đơn vị. Phát huy tính chủ động, sáng tạo của cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang trong công tác bảo vệ tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch.

Các đại biểu chụp hình lưu niệm

Các đại biểu chụp hình lưu niệm.

Cùng với đó là tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị, Đề án 05 của Ban Thường vụ Thành uỷ TP. Hồ Chí Minh “tuyên truyền, lan tỏa thông tin tích cực, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội tại TP. Hồ Chí Minh”. Đồng chí Nguyễn Hồ Hải cũng lưu ý, cần xem đây là nhiệm vụ trọng tâm nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, các thông tin xuyên tạc, xây dựng đoàn kết trong nội bộ, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh.

Đồng chí Nguyễn Hồ Hải đề nghị cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng, tăng cường nắm bắt định hướng dư luận xã hội, kịp thời tham mưu định hướng xử lý các vấn đề mới được dư luận quan tâm. Đồng thời, đẩy lùi các thông tin xấu, độc, nhằm nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân trước các quan điểm sai trái, luận điều xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng. Cùng với thực hiện tốt việc phổ biến, tuyên truyền các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng cần bảo vệ Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch gắn với nhận diện đấu tranh phòng chống sự suy thoái, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ. Song song đó là tuyên truyền các giá trị đạo đức, văn hoá, lối sống tốt đẹp của người Việt, những gương người tốt, việc tốt trong các lĩnh vực trong đời sống xã hội, với tinh thần “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”.

Một trong những nhiệm vụ khác là thường xuyên bám sát cơ sở, nắm chắc tình hình, diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, nhất là những địa bàn trọng điểm nhằm phát hiện, phân tích, đánh giá đúng, giải quyết kịp thời những vấn đề phức tạp, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để những đối tượng xấu kích động, gây phức tạp về an ninh chính trị.

Đồng chí Nguyễn Hồ Hải tin tưởng đội ngũ cán bộ Ngành Tuyên giáo và Công an thành phố sẽ phát huy truyền thống, kế thừa những kết quả, thành tích đã đạt được; phối hợp chặt chẽ với ban, ngành, các địa phương, quán triệt, triển khai nghiêm túc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác, các quan điểm sai thù địch, giúp cho công tác đấu tranh phản bác các thông tin xấu độc trên in-tơ-nét, trên mạng xã hội ở Thành phố trong thời gian tới đạt hiệu quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Phê phán những luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 

Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam.

Vì thế, việc nhận diện kịp thời và phê phán có cơ sở khoa học, chỉ rõ mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Không ngộ nhận, thờ ơ trước những quan điểm sai trái, phản động

Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ.

Phê phán những luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Ðảng ta luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn về tương lai của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ảnh minh họa: Tuyengiao.vn 

Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH .

Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay.

Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB.

Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử

Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên.

Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB.

Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu.

Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển.

Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(1).

Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN”(2) là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi.  

Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam.

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, HN, 2021, tr.25-tr.26.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, HN, 2021, tr.35-tr.36.

Phai nhạt lý tưởng cách mạng - con đường dẫn đến “tự triệt tiêu mình”

 

Lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Những người đảng viên cộng sản chúng ta rất tự hào được sống, chiến đấu, phấn đấu cho lý tưởng cao cả đó. Tuy nhiên, những năm gần đây, do cả yếu tố khách quan và chủ quan, một bộ phận đảng viên có biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ ra.

 “Ngọn đuốc soi đường” cho những người cộng sản 

Trong dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2022), ông Nguyễn Tiến Hà, 90 tuổi, Trưởng ban liên lạc chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày tại Nhà tù Hỏa Lò xúc động kể lại: “Thường ngày từ sáng sớm, các đồng chí bị địch dẫn đi hành quyết. Trong giây phút ngắn ngủi còn lại của cuộc đời, chuẩn bị bước lên máy chém nhưng các chiến sĩ vẫn rất kiên cường, hô to: “Thực dân Pháp đưa chúng tôi ra pháp trường đây. Các đồng chí ở lại mạnh khỏe, chiến đấu bảo vệ quê hương. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam độc lập, thống nhất muôn năm!”. Lúc đó, trong nhà tù bừng bừng khí thế chiến đấu, hô vang những khẩu hiệu: “Phản đối thực dân Pháp”, “Phản đối án tử hình”...

Hẳn ai nghe lời kể của cựu tù chính trị Nguyễn Tiến Hà đều thấy khí phách ngời sáng, kiên trung của hàng vạn chiến sĩ cách mạng trong các ngục tù của thực dân, đế quốc. Họ sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, chấp nhận cái chết một cách thanh thản vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng cao đẹp của Đảng, của dân tộc.

Phai nhạt lý tưởng cách mạng - con đường dẫn đến “tự triệt tiêu mình”
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay. Ảnh minh họa: tuyengiao.vn

Nói đến lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng đó, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế hệ cán bộ, đảng viên đã không quản ngại hy sinh gian khổ, quyết chiến và quyết thắng, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Khi đất nước nằm trong ách nô lệ của thực dân, đế quốc, ai đi theo Đảng, theo cách mạng cũng nhận thấy đó là con đường gian khổ, phải chấp nhận hy sinh, phải quên mình vì đất nước, vì dân tộc. Trong cuộc sống, không ai muốn tước bỏ mạng sống của mình. Chỉ có lý tưởng cách mạng, vì nước, vì dân, người chiến sĩ cộng sản mới chịu mọi cực hình tra tấn của kẻ thù cho đến hơi thở cuối cùng. Chỉ có lý tưởng chiến đấu cao cả vì độc lập, tự do của dân tộc mới khiến biết bao chiến sĩ Thủ đô ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”; chiến sĩ Tô Vĩnh Diện mới lấy thân mình chèn cứu pháo; chiến sĩ Bế Văn Đàn mới lấy thân mình làm giá súng; chiến sĩ Phan Đình Giót mới lấy thân mình lấp lỗ châu mai... và cả hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ lặng lẽ làm nhiệm vụ trên những con tàu không số luôn sẵn sàng xả thân trước mọi hiểm nguy giữa trùng khơi biển cả. Giữa cái sống và cái chết trong tích tắc nhưng các anh vẫn không hề nao núng và không bao giờ tính toán đến lợi ích, hưởng thụ cho bản thân. Tất cả cho mục tiêu chiến đấu, chiến thắng kẻ thù xâm lược! Tất cả dâng hiến cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn.

Có thể nói rằng, Đảng ta vĩ đại, Đảng ta phát triển không ngừng lớn mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện như ngày nay là do có đội ngũ đảng viên kiên trung, gương mẫu. Lớp lớp thế hệ đảng viên luôn thấm nhuần lý tưởng cách mạng của Đảng, của Bác Hồ, trong mọi lĩnh vực đều thể hiện rõ bản chất cách mạng, tinh thần tiên phong, xông pha, xả thân vì nghĩa lớn, đồng thời cũng thể hiện rõ vai trò “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” như Bác Hồ đã dạy. Đối với những đảng viên chân chính, trong chiến đấu thì dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì nước, vì dân; trong xây dựng đất nước thì tận tâm, tận lực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phẩm chất, tinh thần cao đẹp đó của đội ngũ đảng viên đã và đang tỏa sáng trong xã hội, được nhân dân trân trọng, tin yêu, học tập và noi theo.

Xa rời lý tưởng cách mạng - con đường dẫn tới sự tha hóa, biến chất

Tuy nhiên, bên cạnh đội ngũ tiên phong của hàng triệu cán bộ, đảng viên đó cũng còn không ít cán bộ, đảng viên đã và đang phai nhạt lý tưởng cách mạng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra: Phai nhạt lý tưởng cách mạng là biểu hiện đầu tiên của tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị. Phai nhạt về lý tưởng cách mạng thường diễn ra hai khuynh hướng chủ yếu.

Thứ nhất, mơ hồ về nhận thức, lập trường ngả nghiêng, ngộ nhận về quan điểm giai cấp, hùa theo quan điểm chống đối của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, cho rằng đất nước cần phải đa nguyên, đa đảng. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên từng vào sống ra chết trong trận mạc, gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng sau này do không làm chủ được bản thân nên đã bị lôi kéo, kích động bởi các luận điệu tuyên truyền của các thế lực phản động, để rồi quay lại phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Cũng có cán bộ khi đất nước có chiến tranh vẫn được Đảng, Nhà nước lựa chọn ưu tiên đi đào tạo ở nhiều trường trong nước và nước ngoài để phục vụ Tổ quốc, nhân dân sau khi đất nước hòa bình, nhưng khi có học hàm, học vị cao lại đưa ra quan điểm, lập luận xa lạ với quan điểm chính trị cũng như mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Họ gieo rắc quan điểm cá nhân, tô hồng chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập. Họ hùa theo những phần tử cơ hội, chống đối, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hòng làm cho đất nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, do chủ nghĩa cá nhân chi phối, vì lợi ích vật chất tầm thường mà bất chấp lý tưởng, mục tiêu phấn đấu, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để tham nhũng, làm thiệt hại tài sản lớn cho đất nước, vi phạm pháp luật, làm ô uế thanh danh người cán bộ, đảng viên của Đảng. Theo số liệu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, 10 năm qua (2012-2022), cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Đáng nói là có hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý đã bị kỷ luật, thậm chí bị truy tố, xét xử theo Bộ luật Hình sự.

Suy cho cùng, số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, xử lý về tội tham nhũng có căn nguyên từ việc họ bị thẩm thấu tư tưởng đặc quyền, đặc lợi của chủ nghĩa phong kiến, luôn muốn bản thân an nhàn mà lại được đãi ngộ, hưởng thụ cao. Khi có vị trí, có điều kiện quyền lực, bên cạnh bị vật chất, đồng tiền cám dỗ thì họ lu mờ về chính trị, sa ngã vào chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, từ đó xa rời lợi ích tập thể, lợi ích của nhân dân, của đất nước... Đó là con đường dẫn họ tới xa rời, phai nhạt lý tưởng cách mạng, đồng nghĩa với “tự triệt tiêu mình”.

Trọn đời giữ gìn điều thiêng liêng, cao quý nhất

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, không có lý tưởng cách mạng làm hành trang, người cán bộ, đảng viên mất đi tính tiền phong, gương mẫu, không làm tròn vai trò dẫn dắt phong trào cách mạng và lãnh đạo nhân dân. Theo Người, Đảng cần phải có những đảng viên kiên trung với lý tưởng, đường lối của Đảng: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc”, nếu “kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Cán bộ, đảng viên muốn lãnh đạo vững thì trước hết phải có tư tưởng, lập trường vững chắc. Bác khẳng định: “Nếu chỉ có công tác thực tế mà không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt”.

Trong buổi lễ kết nạp Đảng, trước cờ Đảng, cờ Tổ quốc và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đảng viên mới đều dõng dạc tuyên thệ: “Tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì khi được phân công, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân!”. Lời thề đó là thiêng liêng, là danh dự cao nhất, rất cần thiết đối với người đảng viên cộng sản.

Để lý tưởng cách mạng luôn là linh hồn sống, là ngọn đuốc soi đường cho cán bộ, đảng viên, giải pháp quan trọng hàng đầu là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện nâng cao nhận thức về Đảng cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên bồi dưỡng nâng cao nhận thức, hành động thực tiễn cho đảng viên trẻ, đảng viên mới kết nạp, chủ động đưa họ vào những nơi khó khăn, gian khổ để rèn luyện, thử thách, qua đó xây dựng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực thực tiễn.

Chú trọng xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc của cấp ủy các cấp là việc làm rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động của mỗi tổ chức đảng, nhằm thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm vai trò lãnh đạo tập thể của cấp ủy, phát huy trách nhiệm cá nhân cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu và giải quyết tốt các mối quan hệ công tác. Quy chế làm việc của mỗi cấp ủy là cụ thể hóa các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng, các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành các nguyên tắc, chế độ quy định, hoạt động của mỗi tổ chức đảng. Trong đó quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể cấp ủy (thường vụ) và từng cấp ủy viên, cũng như quy định các mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với các tổ chức chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội. Những điều khoản quy định trong quy chế buộc tất cả thành viên trong cấp ủy phải chấp hành và thực hiện một cách nghiêm túc, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong mọi lĩnh vực công tác. Nếu các cấp ủy đảng luôn siết chặt hoạt động lãnh đạo thông qua quy chế về các lĩnh vực nhạy cảm như kinh tế, tài chính, nhân sự... thì không một cá nhân nào có thể dễ dàng lộng hành, thao túng. Giữ vững nguyên tắc Đảng cũng là một cách góp phần bảo đảm cho cán bộ, đảng viên luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Trong tình hình hiện nay, cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý luận, mục tiêu, lý tưởng của Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; cùng với đó là nghiêm túc thực hiện kỷ luật Đảng, nhất là thực hiện Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Đó là con đường làm cho Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh từ cơ sở. Đó cũng là con đường cơ bản để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện, tu dưỡng, gìn giữ phẩm chất đạo đức trong sáng, luôn lấy lý tưởng cách mạng là linh hồn sống, là kim chỉ nam, là ngọn đuốc soi đường của mình. Mỗi cán bộ, đảng viên một lòng một dạ trung thành với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng là điều kiện tiên quyết giúp họ có cơ hội học tập, công tác tốt, tích cực cống hiến và trưởng thành, xứng danh là người chiến sĩ tiên phong ưu tú đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.

Vài suy nghĩ về trách nhiệm của Đảng viên với công tác xây dựng Đảng

 

Vai trò của công tác xây dựng Đảng có ý nghĩa quan trọng - sống còn, cần được chú trọng đẩy mạnh và nâng cao, đó cũng chính là trách nhiệm của từng Đảng viên.

Trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trong Điều lệ Đảng được Đại hội X của Đảng, Đảng và Bác đều khẳng định “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Là một Đảng cầm quyền, Đảng phải đối mặt với nhiều nguy cơ, trong đó hai nguy cơ lớn nhất đã được Bác chỉ rõ là: sự sai lầm về đường lối và sự suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ, Đảng viên.


Xây dựng Đảng. (Ảnh minh họa. Nguồn: Tạp chí Cộng sản)

Chính vì vậy, vai trò của công tác xây dựng Đảng có ý nghĩa quan trọng - sống còn, cần được chú trọng đẩy mạnh và nâng cao, đó cũng chính là trách nhiệm của từng Đảng viên. Việc xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, phòng chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi Đảng viên là thiết yếu để duy trì sự lớn mạnh và phát triển của Đảng trong thời đại mới, thời đại của hội nhập quốc tế. Điều này cũng được Đảng ta nhấn mạnh trong Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII): “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.

Để làm tốt công tác xây dựng Đảng, cá nhân mỗi Đảng viên cần phải:

- Không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, không hoang mang, dao động, hoài nghi và giảm sút lòng tin vào con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn trong bất cứ tình huống nào, kể cả trong những hoàn cảnh khó khăn, phức tạp nhất. Đảng viên cần phải luôn kiên định với đường lối đổi mới của Đảng, kiên quyết đấu tranh chống các khuynh hướng giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội, vô nguyên tắc. Mỗi đảng viên cần phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, có đạo đức cách mạng trong sáng.

- Luôn đi tiên phong, gương mẫu, nghiêm chỉnh thực hiên Quy định của Ban chấp hành trung ương về những điều đảng viên không được làm. Tuân thủ các quy định pháp luật của Nhà nước, giữ nếp sống văn hóa, gần gũi lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân. Từ đó chủ động tuyên truyền vận động nhân dân tích cực thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

- Luôn chủ động và tích cực trong thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; lấy Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động của mình. Cùng tuyên truyền và học tập gương người tốt, việc tốt quanh mình để ngày một nhân rộng, tạo ra một xã hội dân chủ, văn minh.

- Luôn tự rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng. Luôn đề cao mục tiêu: “Xây dựng Đảng trọng sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”. Mạnh dạn đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tham gia ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”; chống đặc quyền, đặc lợi.

- Luôn mạnh dạn và chủ động trong tự phê bình và phê bình của Đảng viên. Khi thấy có vi phạm hoặc những biểu hiện sai trái, người đảng viên cần mạnh dạn và chủ động báo cáo ý kiến trực tiếp hoặc bằng văn bản hoặc chất vấn trong phạm vi hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng mình tham gia sinh hoạt.

- Tích cực tham gia công tác dân vận nhằm tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, vận động quần chúng nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành các nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà nước. Luôn tôn trọng, lắng nghe và lĩnh hội ý kiến của quần chúng nhân dân góp ý cho đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng, bởi trí tuệ trong dân là vô hạn, từ đó mỗi cán bộ đảng viên tự rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng để hoàn thiện mình, góp phần làm cho Đảng ta trong sạch, được nhân dân tin yêu, ủng hộ.

- Luôn quan tâm chăm lo cho quần chúng và đồng nghiệp là những người trẻ, phát hiện quần chúng ưu tú bồi dưỡng cho họ để bổ sung vào lực lượng của Đảng góp phần phát triển Đảng. Trong Di chúc của mình, Bác đã viết: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

- Mỗi Đảng viên cần tích cực nghiên cứu, tham gia đóng góp ý kiến để xây dựng các hoạt động của tổ chức Đảng một cách hiệu quả và bài bản góp phần đôn đốc, tạo điều kiện, và động viên các đảng viên khác thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng. Mỗi cơ sở tổ chức Đảng cần phải xây dựng chương trình hoạt động cụ thể hàng tháng, hàng quý và hàng năm, kịp thời đánh giá kiểm điểm những mặt đã đạt được và những tồn đọng cần khắc phục, cũng như đưa ra hướng khắc phục kịp thời hiệu quả cho từng đảng viên và cả tổ chức Đảng. Bên cạnh đó việc đánh giá, kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật đối với tổ chức cơ sở Đảng và từng Đảng viên một cách công bằng và khách quan cũng đóng vai trò hết sức quan trọng, đòi hỏi mỗi Đảng viên cần tích cực tham mưu cho lãnh đạo các cấp của Đảng để không ngừng cải tiến các chương trình hoạt động.

- Những Đảng viên là trí thức hoạt động và làm việc trong các lĩnh vực công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao ở các cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học trong và ngoài nước, cũng như trong các công ty nước ngoài cần ý thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình đồng thời khuyến khích đồng nghiệp trong việc lĩnh hội, phát triển công nghệ phục vụ cho sản xuất và phát triển kinh tế đất nước. Các công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài thường có giá rất đắt hoặc đã lỗi thời, chính vì vậy việc học hỏi và nghiên cứu công nghệ của riêng mình trở thành lợi thế cho phát triển kinh tế đất nước là hết sức quan trọng. Vận động, bồi dưỡng quần chúng là trí thức bổ sung vào hàng ngũ của Đảng. Đó cũng là một phần trong việc thực hiện công tác xây dựng phát triển Đảng của người đảng viên, giúp Đảng thực sự trở thành nơi hội tụ của tinh hoa văn hóa, trí tuệ của dân tộc, của nhân dân, luôn đi đầu trong mọi lĩnh vực từ đó nâng cao sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của Đảng và giữ được niềm tin tuyệt đối của nhân dân đã và đang dành cho Đảng ta.

NGUYỄN VĂN QUẢNG

Đưa cuộc sống vào nghị quyết

 

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nói chung, đổi mới phương thức lãnh đạo bằng nghị quyết nói riêng, là một nội dung quan trọng được Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII của Đảng tập trung thảo luận, gợi mở nhiều vấn đề mới. Đáng chú ý là các đồng chí Trung ương đã thẳng thắn đúc rút: Để sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống thì trước hết phải đưa cuộc sống vào nghị quyết!

Có nghĩa là phải lấy thực tiễn làm căn cứ, cơ sở quan trọng để xây dựng nghị quyết; là môi trường, điều kiện vận hành nghị quyết; đồng thời là thước đo, chân lý kiểm nghiệm tính khả thi, hiệu quả lãnh đạo bằng nghị quyết.

Thời gian qua, không ít tổ chức cơ sở đảng xây dựng nghị quyết chủ yếu bám vào chủ trương, giải pháp của cấp trên và xem đó như một căn cứ duy nhất và cao nhất. Nói cách khác là nghị quyết cấp trên xác định thế nào thì cấp dưới cứ thế “sao chụp”, mà quên rằng thực tiễn mới là căn cứ quan trọng hàng đầu. Thành thử, ở nhiều nơi, nghị quyết khi được ban hành thường có nội dung chung chung, phương phưởng; dù “đúng” đường lối, nhưng chưa “trúng” với đòi hỏi thực tiễn. 

Đưa cuộc sống vào nghị quyết
Ảnh minh họa: TTXVN 

Để nghị quyết sát thực tiễn, việc hết sức quan trọng là tổ chức đảng nơi ấy phải xác định bằng được, rằng địa phương, cơ quan, đơn vị mình đang cần gì, khả năng lãnh đạo đến đâu, dự báo kết quả đạt được như thế nào, vấn đề lãnh đạo trọng tâm, những ưu tiên trước mắt và chiến lược lâu dài... Có nghĩa, tinh thần nghị quyết tất yếu phải bám sát chủ trương của trên, nhưng chất liệu thực tiễn mới là phần lõi của nội dung nghị quyết. Khảo sát một số tỉnh ở địa bàn Tây Nguyên cho thấy, nhiều đảng bộ cấp huyện, xã có xu hướng quy kết con số phần trăm (%) về con số thực trên thực tế gắn với địa bàn. Ví như, nghị quyết cấp trên xác định phải giảm 5% hộ nghèo/năm thì về đến cấp huyện, cấp xã phải cụ thể 5% ấy tương ứng với bao nhiêu hộ trên địa bàn; rồi cân nhắc xem có nâng lên hay hạ xuống về chỉ tiêu hay không; thực hiện số lượng ấy bằng cách nào... Cũng ở những địa phương này, con số phần trăm được nhìn nhận, đánh giá hết sức linh hoạt, phù hợp. Đều đạt 1% chỉ tiêu, nhưng ở địa phương này là một thành tích đáng ghi nhận; nhưng tại nơi khác thì đó là khuyết điểm lớn trong công tác lãnh đạo. Có nghĩa, kết quả lãnh đạo được đánh giá thực chất, chứ không cào bằng.

Công bằng mà nói, đưa thực tiễn vào nghị quyết là việc khó, đòi hỏi sự linh động, sáng tạo, cho nên khi chủ trương đã được quyết nghị, ban hành thì không cứ xem đó là “chiếu lệnh” để bằng mọi giá hiện thực một cách cứng nhắc; hoặc dùng các thủ thuật để thổi phồng thành tích, hòng "báo công" hay "tự đắc" rằng tổ chức mình đã lãnh đạo hoàn thành 100% chỉ tiêu. Đó là tư duy và cách làm sai lệch, thậm chí là vi phạm quy định, kỷ luật Đảng. Theo nghĩa đó, nghị quyết dù đã ban hành, nhưng phải căn cứ vào diễn biến thực tiễn để không ngừng nghiên cứu, hoàn thiện, bổ sung, điều chỉnh... sao cho thật hợp lý, có tính khả thi cao.

Thực tiễn không chỉ là căn cứ xây dựng nghị quyết, là mảnh đất màu mỡ để hiện thực chủ trương mà quan trọng hơn, thực tiễn còn là tiêu chí, thước đo đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết. Ấy nhưng vẫn còn không ít tổ chức cơ sở đảng đánh giá kết quả nghị quyết nặng cảm tính, áp đặt, xa rời thực tế, thiếu định lượng... Thậm chí, có nơi tổng kết nghị quyết nhưng nội hàm, nội dung lại chẳng khác gì một báo cáo thành tích; chưa hướng trọng tâm vào việc nêu bật cách thức, phương thức, kinh nghiệm lãnh đạo. Những bài học mạnh-yếu thường được “sao chép”, chỉnh sửa lại từ nghị quyết cũ; ưu điểm thì dài dòng, nhưng khuyết điểm thì chỉ thể hiện ở một vài “gạch đầu dòng” ngắn ngủi...

Để sớm đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống thì việc cần kíp hiện nay là phải quyết liệt đổi mới tất cả các nhân tố, các khâu, các bước, từ việc xây dựng nghị quyết, tổ chức học tập, lãnh đạo tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát, đánh giá tổng kết... trên cơ sở bám sát thực tiễn sinh động. Phải đổi mới đồng bộ, nhưng có ưu tiên, chọn khâu đột phá, làm đồng thời ở tất cả các cấp trong hệ thống tổ chức đảng. Có vậy thì nghị quyết mới thật sự là văn kiện giá trị, được đúc rút, tổng kết từ thực tiễn và quay trở lại “soi đường” cho thực tiễn.

Vai trò của từng đảng viên trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh

 

  - Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, ngày 10/5/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Phải xác định rõ tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng”. Từ đó, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Đội ngũ đảng viên có vai trò trực tiếp và là nhân tố cơ bản quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, đảng viên, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng…”.

Thực tiễn cũng như lý luận cho thấy, công tác xây dựng tổ chức đảng nói chung và tổ chức đảng ở cơ sở nói riêng có vai trò, trách nhiệm rất lớn của từng đảng viên.

Trước hết, đó là việc thực hiện đúng nguyên tắc, đầy đủ các nhiệm vụ của người đảng viên. Đây là yêu cầu mang tính bắt buộc đối với mỗi đảng viên mà không thể viện lý do để từ chối hoặc thực hiện không đầy đủ. Chẳng hạn, trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, mỗi đảng viên cần mạnh dạn thể hiện quan điểm, chính kiến của mình, nhất là với các vấn đề liên quan đến việc bảo đảm tính nguyên tắc trong sinh hoạt và tổ chức của chi bộ. Tức là đảng viên không thể thụ động trong việc nắm bắt các nguyên tắc, không thể đợi mời mới phát biểu… mà phải chủ động tham gia vào các công việc chung của tổ chức đảng. Hay trong việc thực hiện các phân công cụ thể, đảng viên phải nỗ lực hoàn thành ở mức cao, không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu chung của đơn vị mà còn làm gương cho quần chúng; không thể viện dẫn các lý do riêng để thoái thác hoặc bao biện cho việc chưa hoàn thành nhiệm vụ.

Bên cạnh đó, mỗi đảng viên phải tích cực tham gia vào việc xây dựng nghị quyết, kế hoạch triển khai nghị quyết, định hướng hoạt động cùng các công tác xây dựng tổ chức đảng… của chi bộ và của đơn vị. Thực tế cho thấy, có một số đảng viên thụ động, ít mạnh dạn đề xuất các giải pháp, không có nhiều sáng kiến để thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị hay công tác xây dựng Đảng của chi bộ, mà thường chỉ đơn giản đồng ý với các ý kiến của cấp ủy, của bí thư chi bộ, trừ khi có liên quan trực tiếp đến lợi ích của bản thân. Trong khi đó, vai trò lãnh đạo của chi bộ thể hiện tính chất tập thể rõ nét, luôn cần phát huy trí tuệ của tất cả các đảng viên, nhằm góp phần thể hiện ý chí và trí tuệ tập thể. Không chỉ vậy, sự chủ động và tích cực tham gia còn góp phần làm cho đảng viên nâng cao trách nhiệm và có thêm cơ hội trau dồi kiến thức, kỹ năng về các vấn đề có liên quan đến nội dung đề xuất.

Không chỉ vậy, các đảng viên cần thể hiện tính kỷ luật, tính đảng đối với các vấn đề mang tính tranh đấu, ngay trong nội bộ. Thí dụ, thấy bí thư, cấp ủy viên có biểu hiện áp đặt, thiếu tôn trọng ý kiến của tập thể, thì cần phải thẳng thắn nêu ý kiến, vận dụng các quy định và sức mạnh tập thể để trao đổi, thậm chí phải đấu tranh để khắc phục tình trạng đó. Hoặc phát hiện đảng viên sử dụng mạng xã hội đưa những nội dung chưa phù hợp thì cần trực tiếp góp ý, trao đổi, cần thiết có thể báo cáo với cấp ủy để có biện pháp uốn nắn, giáo dục; trong trường hợp đặc biệt thì còn phải đưa ra tập thể xem xét, chấn chỉnh. Điều này yêu cầu đảng viên không được xuê xoa, cầu an, thỏa hiệp, nhất là với các vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu… của tổ chức đảng.

Ngoài ra, trong điều kiện cụ thể, từng đảng viên có thể tham gia một số hoạt động phong trào hoặc nâng cao để góp phần giúp tổ chức đảng tham gia các sinh hoạt chính trị do cấp trên tổ chức hoặc để giành thành tích đặc biệt trong các cuộc vận động. Chẳng hạn, đảng ủy cấp trên cơ sở tổ chức cuộc thi bí thư chi bộ giỏi, với thành phần dự thi là bí thư, phó bí thư, cấp ủy viên, người được quy hoạch các chức danh trên từ các tổ chức đảng cơ sở và trực thuộc, thì cần những đồng chí mạnh dạn và tích cực tham gia. Đây là dịp để học hỏi, trau dồi kiến thức, kỹ năng, đồng thời có thể đem lại những thành tích của tổ chức đảng, có thể giúp được đánh giá các mức độ hoàn thành nhiệm vụ cao trong năm cho cả tổ chức đảng và cá nhân.

Sau cùng, từng đảng viên còn phải nỗ lực tham gia vào việc duy trì thành tích đã đạt được hoặc phấn đấu nâng cao chất lượng hoàn thành nhiệm vụ theo từng năm. Chẳng hạn, đối với tổ chức đảng đã được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm trước thì năm sau phải phấn đấu giữ vững thành tích đó. Đương nhiên, ở đây không phải chạy theo thành tích hoặc cố giữ thành tích bằng mọi giá mà chính đó là một mục tiêu quan trọng để nỗ lực, bởi bên cạnh việc khẳng định kết quả năm trước là xứng đáng còn có ý nghĩa hướng đến các thành tích cao hơn, như tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu hoặc là tổ chức đảng xuất sắc 5 năm liền… Ở trường hợp ngược lại, nếu tổ chức đảng chỉ được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ thì cả tập thể cần phải phấn đấu quyết liệt để nâng chất đánh giá, trong đó chú ý khắc phục triệt để các hạn chế, yếu kém của năm trước, cả phía tổ chức đảng lẫn phía cá nhân đảng viên. Trong đó, nếu có đảng viên có khuyết điểm, chưa hoàn thành nhiệm vụ hoặc có vấn đề cần chấn chỉnh thì cả tổ chức đảng phải giúp đỡ đảng viên đó vươn lên, đồng thời không để hạn chế đó “lây lan” đến đảng viên khác…

Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 5, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn gợi ý nhiều giải pháp quan trọng như nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng phải gắn liền với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phải lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ sở và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; thường xuyên kết hợp giữa xây dựng cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh với củng cố, chấn chỉnh cơ sở đảng yếu kém; coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đi đôi với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu, vai trò tiên phong, gương mẫu trong sinh hoạt đảng; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; coi trọng chất lượng phát triển đảng viên, chú trọng hơn nữa đến việc rèn luyện, bồi dưỡng quần chúng, đối tượng cảm tình đảng, trước khi vào Đảng phải thực sự là những quần chúng ưu tú không chỉ về năng lực công tác mà phải thực sự tiêu biểu về phẩm chất, đạo đức, lối sống, có động cơ trong sáng; thường xuyên rà soát, sàng lọc, kịp thời và kiên quyết đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng…

Suy cho cùng, các giải pháp này gắn liền với từng tổ chức đảng ở cơ sở, đồng thời gắn với từng đảng viên, bởi nếu các đảng viên không tham gia hoặc vai trò, trách nhiệm của từng đảng viên không được phát huy thì các giải pháp nêu trên cũng sẽ rất khó thực hiện đầy đủ.

Vân Tâm

Độc lập dân tộc, hạnh phúc nhân dân là đôi cánh nâng đất nước bay cao, bay xa

 Một đất nước phát triển, một xã hội trong sạch, một chế độ dân chủ là ước mong nghìn đời của nhân dân ta. Người dân Việt Nam đã thực sự có hạnh phúc ngay trên Tổ quốc mình.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc Cách mạng chân chính của những người bị mất tự do và bị áp bức bóc lột được Đảng Cộng sản Việt Nam giác ngộ, tổ chức thành công. Sau tám mươi năm bị thực dân Pháp xâm lăng và đô hộ, tiếp đó là phát xít Nhật cai trị, người Việt Nam đứng lên làm cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi, lập ra Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Những người cộng sản không phải là lực lượng xã hội đầu tiên ở Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược. Năm 1858, dấu giày viễn chinh đến từ nước Pháp đã hằn in lên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cho cuộc xâm lăng Việt Nam lần thứ nhất. Không ít phong trào, cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp nổi lên ngay lúc kẻ thù đặt chân lên non sông này. Các phong trào và cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp khi ấy do những vị vua và các sĩ phu phong kiến yêu nước lãnh đạo.

Mở đầu là phong trào Cần Vương dưới ngọn cờ mang tinh thần trung quân ái quốc của vua Hàm Nghi và kết thúc là cuộc khởi nghĩa vũ trang kéo dài ba mươi năm ở mảnh đất Yên Thế do Hoàng Hoa Thám chỉ huy. Khởi nghĩa Yên Thế kết thúc cho một giai đoạn chống giặc Pháp xâm lược đặt dưới ngọn cờ của các vị vua và sĩ phu yêu nước. "Bi tráng" và "Thất bại" là hai từ khái quát nhất nói về giai đoạn lịch sử tăm tối này. Thế hệ sau Hoàng Hoa Thám đã chọn con đường khác, cách thức khác để giải phóng dân tộc và họ đã làm nên sự kiện lịch sử vĩ đại như ta đã nói tới: Cách mạng mùa Thu năm Ất Dậu 1945.

Cuộc Cách mạng nổ ra cách đây 77 năm nhưng những gì nổi bật trong mùa Thu ấy vẫn còn chưa mờ phai trong ký ức dân tộc. Ký ức về một cơn lũ lịch sử ở khắp ba miền dâng tràn ào ạt làm sụp đổ thành trì thực dân, phát xít xâm lược và phong kiến phản động. Ký ức về lá cờ đỏ sao vàng như ngọn đuốc lửa dẫn dắt những người cùng khổ đi phá kho thóc của Nhật. Ký ức về Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc để dân tộc ta từ bóng tối bước ra ánh sáng. Ký ức về ngày Quốc khánh 2/9 dưới trời thu lồng lộng và giữa nắng vàng rực rỡ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy..,

Ý chí quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy của đồng bào và chiến sĩ ta đã thể hiện hùng hồn, đậm nét trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp tiếp theo, trong hai mươi năm đánh đế quốc Mỹ xâm lược và trong công cuộc gìn giữ bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Cái giá để đất nước độc lập tự do, non sông hòa bình thống nhất là vô cùng to lớn, không sao kể xiết. Chặng đường dân tộc đi tới hôm nay thấm đẫm mồ hôi Việt, máu Việt trên những nẻo non sông khi chiến tranh và ngay cả khi đất nước đã hòa bình.

Ai có thể vô cảm được trước hàng vạn nấm mộ liệt sĩ có tên và chưa xác định được danh tính nối dài từ Nam ra Bắc. Ai có thể sung sướng hưởng thụ khi những di họa của các cuộc chiến tranh còn chưa hết trong mỗi làng thôn, khu phố, trong một thế hệ và nhiều thế hệ. Có những con người không hề biết mùi bom đạn, chất độc da cam nhưng lại phải mang di chứng và hậu quả của cuộc chiến tàn khốc trong mình... Nói như thế để vừa trân quý cuộc sống hòa bình hôm nay vừa phải biết tri ân những người đã ngã xuống và quan trọng hơn là biết sống, làm việc vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Chúng ta chấp nhận hy sinh để giành lại và gìn giữ độc lập là để mang lại hạnh phúc cho dân tộc. Độc lập phải được gắn liền với tự do và hạnh phúc của nhân dân. Đó là nguyên tắc, là mục đích không thay đổi của Cách mạng Việt Nam.

Sau Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc tới vấn đề này. Từ năm 1946, Người đã chỉ rõ: Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Người mong muốn: Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Người còn căn dặn cán bộ ta: Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là đầy tớ của nhân dân…hay: Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh…

Hạnh phúc của nhân dân là ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai cũng được học hành. Mỗi người dân là một chủ nhân của chế độ mới, còn cán bộ chính quyền phải thực sự là công bộc của dân. Họ phải lo nỗi lo của dân, khổ nỗi khổ của dân, đau nỗi đau của dân và luôn hết lòng vì nhân dân phục vụ.

Chính quyền cách mạng là chính quyền của dân, do dân và vì dân đúng nghĩa, không phải là thứ bánh vẽ hay khẩu hiệu mị dân. Nhân dân các tầng lớp trong xã hội theo Đảng làm Cách mạng tháng Tám và kháng chiến sau này với niềm tin Đảng cộng sản Việt Nam không có quyền lợi nào khác ngoài quyền lợi của dân tộc.

Cách mạng tháng Tám tỏa sáng vào dân tộc khát vọng Việt Nam được sánh vai với các nước tiến bộ trên thế giới. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đã trích Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 để mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay).

Những giá trị mang ý nghĩa nhân loại là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc cũng chẳng hề xa lạ với dân tộc Việt Nam. Chỉ tiếc, là những nước mà Hồ Chí Minh chọn trích Tuyên ngôn lại trước, sau trở thành kẻ xâm lược đất nước Việt Nam. Giá như Pháp và Mỹ thấu hiểu dân tộc Việt Nam thì chắc chắn sau mùa Thu năm 1945 ấy đã không xảy ra các cuộc chiến tranh hao người tốn của cả hai phía.

Đối chiếu với những lời Bác Hồ căn dặn, những đảng viên cán bộ chân chính không khỏi xót lòng khi phải chứng kiến sự xuống cấp của đạo đức của một bộ phận xã hội bây giờ cùng quốc nạn tham nhũng đã gây ra nhiều hậu quả cho đất nước, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền.

Như các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, cuộc chiến chống tham nhũng vẫn không thể không dựa vào dân. Dân mới đủ trăm tay nghìn mắt, dân mới có trăm phương nghìn kế, dân mới hội tụ được những sức mạnh vô tận để tiêu diệt giặc nội xâm có tên là tham nhũng.

Cách mạng tháng Tám cho ta bài học về sức mạnh của nhân dân. Khi nhân dân đã đồng lòng, quyết chí thì không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể tác oai tác quái được. Không tập hợp được nhân dân thì mọi cuộc cách mạng đều coi như đã thất bại.

Thiết nghĩ, phải đưa tinh thần Cách mạng tháng Tám vào công cuộc chống giặc nội xâm hôm nay. Đó là, phải hết sức tin dân, trọng dân, dựa vào dân để chống tham nhũng. Khi nhân dân đồng lòng thì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhất định sẽ thành công. Trong những tháng ngày chống đại dịch COVID-19, chúng ta cũng thấy rất rõ sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân.

Một đất nước phát triển, một xã hội trong sạch, một chế độ dân chủ là ước mong của nhân dân ta. Người dân Việt Nam thực sự có hạnh phúc ngay trên Tổ quốc mình khi những điều đó trở thành hiện thực. Đừng bao giờ quên, hạnh phúc, tự do của nhân dân là mục tiêu cao đẹp của Cách mạng mùa Thu năm 1945.

Độc lập dân tộc và hạnh phúc nhân dân gắn liền với nhau như đôi cánh nâng đất nước bay cao bay xa. Bao giờ Tổ quốc bay lên cao với đôi cánh tuyệt vời đó? Câu hỏi đó là dành cho mỗi người con nước Việt, dù ở trong hay ngoài nước, đưa Việt Nam cùng nhân loại tiến về phía trước.

Nguyễn Hữu Quý/Chinhphu