Thứ Ba, 5 tháng 9, 2023

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN.

 Sau Tuyên ngôn độc lập 2.9.1945, giữa bộn bề công việc cấp bách, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành nhiều thời gian suy nghĩ cho một việc dài lâu: xây dựng và hoàn thiện một Nhà nước kiểu mới sản sinh từ Cách mạng tháng Tám - một Nhà nước mà người dân là chủ thể. Và, Bác đã khẳng định ngay từ đầu: “Nước lấy dân làm gốc”.

Những luận điểm cơ bản của Bác về Nhà nước pháp quyền.
Thực ra, tư tưởng Nhà nước pháp quyền của Bác đã hình thành ngay từ những năm đầu Bác đi tìm đường cứu nước. Ngày 18.6.1919, tại Paris (Pháp) Nguyễn Ái Quốc đã gửi Tổng thống Mỹ và Trưởng đoàn các nước tham dự Hội nghị Versaille một giác thư kèm theo bản “Yêu sách của Nhân dân An Nam”. Trong bản yêu sách mà Nguyễn Ái Quốc nói là những yêu sách khiêm tốn có 8 điểm, trong đó có 2 điểm (2 và 7) nói về pháp luật. “Cải cách nền pháp lý Đông Dương bằng cách cho người bản xứ được quyền hưởng những đảm bảo về pháp luật như người châu Âu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt đang làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong Nhân dân An Nam;... Thay các chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật...”(1).
Đến năm 1921, khi chuyển “Yêu sách của Nhân dân An Nam” từ văn xuôi sang văn vần cho dễ nhớ, với tựa đề “Việt Nam yêu cầu ca”, Nguyễn Ái Quốc viết:
“Hai xin phép luật sửa sang,
Người Tây, người Việt hai phương cùng đồng,
Những tòa đặc biệt bất công,
Dám xin bỏ đứt rộng dung dân lành...
Bảy xin hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền...”(2)
Chúng ta hoàn toàn có thể hiểu được, mặc dù ngày thắng lợi của cách mạng còn xa, nhưng từ năm 1919 trong tư duy của Bác đã hình thành một luận điểm cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước khi cách mạng thành công. Đó là việc điều hành hoạt động của một xã hội, một đất nước phải bằng Hiến pháp, pháp luật. “Thần linh pháp quyền” - ngôn ngữ những năm 20 của thế kỷ XX nhưng rất đúng với tinh thần “Nhà nước pháp quyền” hiện đại. Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thường trực trong tâm trí Bác trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng. Bác hiểu thấu đáo trình tự, thủ tục việc thành lập một nhà nước. Trước tiên phải có cơ quan đại diện cho Nhân dân, đó là Quốc hội/Nghị viện, từ đó mới thành lập được Chính phủ/Nội các, các cơ quan của Chính phủ, các cơ quan tư pháp.
Theo Bác, Nhà nước kiểu mới sinh ra từ Cách mạng tháng Tám phải là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trong giác thư “Gửi Ủy ban Nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” ngày 17.10.1945, Bác viết: “Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc. Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc, phải làm dần dần... Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải làm theo đúng phương châm. Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”(3).
Bác dặn dò kỹ lưỡng cán bộ của Nhà nước cách mạng những lời tâm huyết và mong muốn những lời tâm huyết đó trở thành phương châm hành động của cán bộ các cấp chính quyền:
“Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.
Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(4).
Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp (phát biểu tại Hội thảo 60 năm Quốc hội Việt Nam 1946 - 2006 tại Hà Nội) thì, Nhà nước vì dân là tư tưởng vĩ đại của Bác, được Bác quán triệt trong toàn bộ lời nói đi đôi với việc làm của Bác trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác, và là mục tiêu phấn đấu cao nhất của Người. Ngày 15.11.1945, nói chuyện với học viên Khóa 5 Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, Bác ân cần căn dặn:
“Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết.
Phải làm sao cho dân mến... chớ vác mặt làm quan cách mạng cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ...”.
Với tầm hiểu biết sâu sắc, toàn diện mọi mặt, Bác cùng với Đảng ta đã bắt tay ngay vào việc xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước kiểu mới ngay sau Tuyên ngôn độc lập... Ngày nay theo tư tưởng của Bác, chúng ta vẫn đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước.
Tư tưởng Nhà nước pháp quyền hiện đại trong đường lối của Đảng.
Tư tưởng Nhà nước pháp quyền của Bác là cơ sở, là nền tảng lý luận để Đảng và Nhà nước ta tiếp tục nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện và vận hành hoạt động của Nhà nước ngày càng có hiệu lực, hiệu quả. Gần đây nhất, Văn kiện Đại hội XII và XIII của Đảng đã xác định và ghi thành mục, thành điểm rất trang trọng. Văn kiện Đại hội XII chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền và phải tạo ra sự chuyển biến tích cực, đạt kết quả cao hơn. Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật”(6).
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, một lần nữa khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước.
Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ich hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(7). Còn nói về bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, đó “là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân”(😎.
Thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng, cả nước đã triển khai đồng bộ nhiều công việc, trong đó có việc tiếp tục cải cách hành chính, từng bước sắp xếp lại bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng, năng lực, phẩm chất, đạo đức của cán bộ, đảng viên trong cả hệ thống chính trị. Từ đó, hiệu quả của hoạt động, hiệu lực của bộ máy có những bước tiến rõ rệt trong việc phục vụ Nhân dân, phục vụ doanh nghiệp...
Tuy nhiên, có những “khuyết tật” của không ít cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước đã bộc lộ mà Bác đã sớm phát hiện và chỉ ra để mọi người lưu ý tu luyện, khắc phục, đó là, “có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”(9)...
78 năm đã qua đi, ngày nay và ngay bây giờ những “khuyết tật” đó vẫn còn rơi rớt, tồn tại, biểu hiện dưới các dạng khác nhau mà tựu trung lại là chủ nghĩa cá nhân. Ngay bây giờ có một khuyết điểm mà trong tác phẩm “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói rõ và công luận cũng đã và đang lên tiếng phê phán, đó là “Bệnh sợ trách nhiệm”(10). Căn bệnh này thể hiện thái độ làm việc cầm chừng theo quan điểm, “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai it, không làm không sai” là căn bệnh đáng báo động, bởi nó ảnh hưởng lớn đến tiến độ và hiệu quả của công việc chung. Có nhiều “toa thuốc” để chữa trị những biểu hiện cụ thể của căn bệnh này, nhưng “toa thuốc” tổng hợp, có nhiều “vị thuốc” có tác dụng mạnh, đó là kiên quyết, kiên trì chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao tinh thần cách mạng của cán bộ, đảng viên.
Đảng ta cũng đã tuyên bố một cách minh bạch rằng, có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài; đồng thời có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín(11)... Bởi vậy, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN là một quá trình phấn đấu thường xuyên liên tục trong từng thời gian mới, hoàn cảnh mới (không phải công việc một sớm, một chiều, xong là xong, yên vị)./.
St

Xóa bỏ “Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên” ở miền núi Phú Yên

 Hơn 3 năm qua, một số đối tượng cốt cán của tổ chức này ở Tây Nguyên lén lút đến miền núi Phú Yên tuyên truyền, dụ dỗ, lôi kéo, kích động người khác tham gia “Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên”, nhưng đã bị chính quyền, đoàn thể ở cơ sở và lực lượng Công an kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi và hướng đến xóa bỏ bằng nhiều biện pháp.

SỨC MẠNH QUỐC GIA

 Năm 1945, khi mới giành lại độc lập, dân số nước ta chỉ hơn 20 triệu người. Sức nước khi ấy rất hạn chế, lại phải đối mặt với thù trong, giặc ngoài để bảo vệ nền độc lập.

Đến nay, dân số nước ta đã vượt qua mốc 100 triệu người, đứng thứ 15 thế giới về dân số.
Trong những năm qua, tiềm lực quốc gia của Việt Nam được nâng lên một cách tổng thể, đồng bộ. Về quy mô nền kinh tế, Việt Nam đang đứng thứ 37 trên thế giới. Thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam tăng hơn 2 lần sau khoảng một thập kỷ qua. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam liên tục tăng qua từng năm, hiện đứng thứ 115/191 toàn cầu.
Dân số đông là sức mạnh, là lợi thế quốc gia, là nguồn tài nguyên quý giá phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hơn 100 triệu người là tài nguyên nguồn nhân lực dồi dào, tài nguyên về chất xám, tài nguyên về thị trường tiêu thụ lớn mà rất nhiều quốc gia mơ ước. Nguồn lực con người Việt Nam chính là chiều sâu của sức mạnh quốc gia! Khác với những tài nguyên thiên nhiên, càng khai thác càng cạn kiệt thì tài nguyên nhân lực quốc gia nếu được chăm lo, biết khai thác đúng cách sẽ ngày càng giàu hơn.
Chúng ta đang sống trong một thời đại nhiều biến động, nhiều nguy cơ, khó khăn, thách thức với những vấn đề lớn đặt ra cho mỗi quốc gia. Những vấn đề toàn cầu, an ninh truyền thống và phi truyền thống diễn biến phức tạp, đe dọa ổn định và phát triển bền vững. Xung đột và chia rẽ vẫn tiếp diễn ở nhiều khu vực, căng thẳng địa chính trị gia tăng. Nằm trong khó khăn chung của kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam cũng gặp những thách thức không nhỏ, tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2023 chỉ đạt 3,72%, đòi hỏi những nỗ lực rất lớn nếu nước ta muốn đạt tăng trưởng GDP cả năm 2023 là 6,5%, nhằm tạo cơ sở cho các mục tiêu của cả giai đoạn 2021-2026 theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Chính trong lúc này, cần khơi gợi và phát huy cao độ nguồn lực con người. Trước hết, cần phải thực hiện tốt chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong việc thu hút và trọng dụng nhân tài, thực hiện các chính sách đãi ngộ, chính sách tiền lương phù hợp. Cùng với đó, phải nâng cao chất lượng công tác giáo dục, đào tạo để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao. Công tác giáo dục, đào tạo không chỉ cung cấp kiến thức, kỹ năng chuyên môn cho nhân lực mà còn phải đặc biệt quan tâm rèn giũa đạo đức, thái độ sống có trách nhiệm, bồi dưỡng văn hóa, cốt cách người Việt Nam. Cần nhân lên tình yêu Tổ quốc, lòng tự hào dân tộc, niềm tin của mỗi người Việt Nam vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là nguồn sức mạnh to lớn để đưa đất nước ta vượt qua mọi khó khăn.
Quân đội ta luôn là chỗ dựa hoàn toàn tin cậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thời gian qua, Quân đội ta tiếp tục được xây dựng vững mạnh về chính trị và tổ chức tinh, gọn, mạnh, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó, yếu tố con người luôn được đề cao. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nỗ lực thực hiện tốt những nhiệm vụ được giao; tích cực học tập về chính trị, phòng, chống “tự diễn biến", "tự chuyển hóa”; luôn đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước; góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; đồng thời sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Đất nước ta khi có hơn 20 triệu dân đã làm được cuộc Cách mạng Tháng Tám long trời lở đất để giành lại độc lập. Đến nay, khi đất nước có hơn 100 triệu dân, chúng ta có đủ tiềm lực để thực hiện được những nhiệm vụ to lớn hơn nữa nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển đất nước. Muốn vậy, mỗi người chúng ta cần phải nỗ lực lao động, học tập, góp sức vào công việc chung, để phấn đấu đến năm 2045, nước ta thành nước phát triển, thu nhập cao./.
St

GIỮ MÃI PHẨM CHẤT ANH HÙNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG: LÀM ANH HÙNG KHÓ LẮM, GIỮ ĐƯỢC ANH HÙNG CÒN KHÓ HƠN

 Cách nhà Anh hùng LLVT nhân dân Hồ Đức Vai khoảng nửa km là nhà Anh hùng Hồ Kan Lịch, nữ Anh hùng LLVT nhân dân đầu tiên của đồng bào dân tộc Pa Kô. Điều đặc biệt là bà Kan Lịch là cháu ruột của Anh hùng Hồ Đức Vai và cũng là chị ruột của Anh hùng LLVT Hồ A Nun.

Hạnh phúc 7 lần được gặp Bác Hồ
Trước khi gặp Anh hùng Hồ Kan Lịch, chúng tôi được biết bà là nguyên mẫu trong ca khúc “Người con gái Pa Kô” của nhạc sĩ Trí Thanh:
“…Tuổi thanh xuân sáng ngời dũng sĩ,
Giữa nguy nan vững lòng bền chí.
Ơi, như cành hoa sim Kan Lịch ơi,
Thắm tươi rừng núi, không quản gì no đói,
Trong lửa khói giữ bao niềm tin (ế, ê, ế ê) cho mọi người...”.
Vậy nên, chúng tôi đến nhà bà trong tâm trạng háo hức. Nhà Anh hùng Kan Lịch nằm ngay bên con đường Hồ Chí Minh. Chúng tôi nghe nói, đoạn đường Hồ Chí Minh đi qua thị trấn A Lưới được xây dựng trên chính nền đường 1B cũ - con đường từng đã in dấu chân của đồng bào dân tộc Pa Kô tham gia làm Đường 559 trong chiến tranh.
Trong căn nhà khang trang của bà Kan Lịch, bàn thờ Bác Hồ được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Bà Kan Lịch cho biết, Tết nào bà cũng làm cơm cúng Bác, mời Bác về ăn Tết với gia đình. Với Kan Lịch, Bác Hồ như một người thân trong gia đình vậy.
So với chú Hồ Vai, Kan Lịch có may mắn được gặp Bác Hồ nhiều hơn. Năm 1967, sau những trận đánh lẫy lừng, nổi bật là việc Kan Lịch là người trực tiếp bắn rơi máy bay Mỹ bằng súng trường (đây cũng là chiếc máy bay đầu tiên bị bắn rơi ở phía tây Thừa Thiên Huế), Hồ Kan Lịch vinh dự được Bác Hồ phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, trở thành nữ anh hùng đầu tiên của dân tộc Pa Kô. Lúc ấy Hồ Kan Lịch vừa tròn 25 tuổi.
Trung tuần tháng 5 - 1968, Hồ Kan Lịch được tổ chức đưa ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Gặp Bác, Bác khen Kan Lịch là người con gái dũng cảm, có lòng dạ kiên trung khiến người con của dân tộc Pa Kô vui không tả xiết.
Sau lần đầu tiên gặp Bác, Hồ Kan Lịch còn vinh dự có thêm 6 lần nữa được gặp Người, trong đó có nhiều lần được Bác mời cơm. Bà kể: Sau khi ra Hà Nội, khi tôi về Bác gửi 160 chiếc đồng hồ nữ Liên Xô làm quà cho chị em. Còn riêng tôi, Bác tháo chiếc đồng hồ đang đeo ở tay ra tặng và nói: “Cháu Kan Lịch à, đồng hồ này là nước ngoài tặng Bác, giờ Bác tặng lại cho cháu". Tiếc là, chiếc đồng hồ của Bác sau này bị thất lạc, không tìm thấy.
Ngoài ra, Bác còn tặng tôi một chiếc đài bán dẫn. Bác nói: “Cái đài này nước ngoài tặng cho Bác. Anh hùng cũng nhiều nhưng các đồng chí ý là người Kinh, còn cháu là nữ anh hùng dân tộc Pa Kô đầu tiên nên Bác tặng cho cháu để nghe tin tức trong miền Nam”. Giờ tôi đã bàn giao chiếc đài bán dẫn cho Bảo tàng Lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế, nhờ họ trưng bày, gìn giữ”.
Đảng viên phải gương mẫu đi đầu
Trong những lần gặp Bác Hồ, Người dặn dò nhiều điều nhưng bà Kan Lịch nhớ mãi một câu Bác nói: “Làm Anh hùng khó lắm, nhưng giữ được Anh hùng khó hơn. Cháu phải cố gắng làm tốt mọi công việc của mình để phát huy tác dụng của một nữ anh hùng, đừng thỏa mãn và dừng tại chỗ”.
Khắc ghi lời Bác dạy, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Hồ Kan Lịch luôn nỗ lực để không chỉ trở thành một cán bộ tốt, người vợ đảm đang, tháo vát, người mẹ, người bà tốt mà còn sống chan hòa, luôn giúp đỡ người dân trong vùng mỗi khi họ gặp khó khăn.
“Ngày còn nhỏ, thấy địch sát hại đồng bào, lòng căm thù giặc sôi sục, từ đó tôi không sợ chết, chỉ muốn đi đánh giặc… Năm lên 19 tuổi, tôi đã là Huyện đội phó. Được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao nhiệm vụ, tôi chỉ đạo chị em ở 3 xã xây dựng lực lượng du kích để vừa tham gia chiến đấu, vừa sản xuất. Đội du kích Hồng Bắc có 160 chị em, đều là đoàn viên, đảng viên, có nhiều người hơn tuổi tôi, có người đã lập gia đình. Phụ nữ Pa Kô rất gan dạ, dũng cảm, đoàn kết, luôn giúp đỡ nhau lúc khó khăn. Tuy nhiên, để chị em làm theo, là người lãnh đạo, mình phải gương mẫu đi đầu. Tôi nói và tôi làm trước, khó khăn tôi đi đầu. Nếu nói mà không làm, chị em không tin. Ví dụ khi tấn công đồn địch, tôi cầm súng đi trước, chị em nối bước theo sau”, bà Kan Lịch chia sẻ.
Nói về thành tích của mình, Anh hùng Kan Lịch cho biết, bà đã chỉ huy đánh 49 trận lớn nhỏ, bắn rơi 1 máy bay, bắt sống 2 giặc Mỹ và tiêu diệt 150 tên địch.
Sau này đất nước hòa bình, Kan Lịch về công tác tại Ban chỉ huy quân sự huyện A Lưới cho đến khi được Đảng, Nhà nước, Quân đội cho nghỉ hưu. Trở về cuộc sống đời thường, bà lại vận động bà con bản làng lên nương rẫy. Vẫn phương châm “đảng viên đi trước”, bà Kan Lịch luôn làm người đi đầu trong mọi công việc.
Giải nghĩa cho tất cả sự dũng cảm, thậm chí hy sinh tính mạng trong chiến tranh và sự tận tụy, hết lòng với bà con trong thời bình, Anh hùng LLVT Nhân dân Hồ Kan Lịch chỉ một câu rất đơn giản: “Mình là đảng viên, được Đảng và Nhà nước tin cậy, thì dù có hy sinh cũng quyết chiến đấu và làm việc đến cùng”.
Giờ đây, Anh hùng LLVT nhân dân Hồ Kan Lịch nay đã 80 tuổi và sống vui vầy, hạnh phúc cùng gia đình. Hằng ngày luôn có hai cháu gái ở bên cạnh bà, giúp bà mọi việc trong nhà, đôi khi trở thành “phiên dịch viên” tiếng dân tộc sang tiếng Kinh nếu như bà chưa nghe rõ câu hỏi của người đối diện.
Và niềm vui lớn nhất của bà đó là được nhìn thấy đất nước hòa bình, phát triển. “Đảng và Nhà nước luôn quan tâm tới đồng bào dân tộc, trong đó có người dân Pa Kô. Ngày nay, đời sống người dân ấm no hơn trước, có của ăn của để, có đường sá đi lại. Nhiều người được đi học đại học, trở thành bác sĩ, kỹ sư,.. Tôi rất mừng vì điều đó”, Anh hùng Kan Lịch nói./.
St

HÌNH THỨC DÂN VẬN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ Ý NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 Công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, góp phần củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn đặt công tác dân vận ở tầm chiến lược, đồng thời coi trọng các hình thức triển khai công tác dân vận thiết thực, cụ thể để tập hợp và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết của toàn dân tộc. Nghiên cứu về các hình thức dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa rất thiết thực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác vận động quần chúng. Theo Người “Trong bầu trời, không gì quý bằng nhân dân”, dân là quý nhất, quan trọng nhất vì dân là gốc của nước, sức mạnh của quần chúng nhân dân sẽ được tăng lên gấp nhiều lần khi được tập hợp và cùng hướng tới một mục tiêu nhất định. Muốn vậy, Đảng cần phải làm thật tốt công tác dân vận, vì “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Công tác dân vận phải thông qua các hình thức cụ thể và thiết thực để vận động, thuyết phục, tổ chức Nhân dân, làm sao cho họ hiểu, đi theo cách mạng, tích cực và sẵn sàng xả thân vì nhiệm vụ cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng để công tác dân vận đạt hiệu quả cao phải có các hình thức tiến hành vừa phong phú, vừa thiết thực để tập hợp được tất cả lực lượng của toàn thể Nhân dân. Trong đó, Đảng vừa phải tiến hành tốt các hình thức tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ Nhân dân nhưng cũng phải tổ chức có hiệu quả các công tác trong thực tế để hướng dẫn, kiểm tra, giúp đỡ nhân dân, thông qua các tổ chức và phong trào cách mạng để tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh của toàn dân vào thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng. Cụ thể là:
Thứ nhất, tuyên truyền vận động giác ngộ, thuyết phục nhân dân.
Khi đưa ra quan niệm: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại. Muốn thành công, phải biết cách tuyên truyền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, để vận động được Nhân dân phải sử dụng đa dạng các hình thức tuyên truyền. Tuy nhiên, Nhân dân có nhiều tầng lớp và nghề nghiệp, trình độ, năng lực cũng không giống nhau nên nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích cũng khác nhau. Trong tuyên truyền, giác ngộ và vận động Nhân dân cần phải xem xét trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, nguyện vọng thiết thực của họ: “Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng. Do đó mà định cách làm việc, cách tổ chức. Có như thế, mới có thể kéo được quần chúng”. Nếu công tác tuyên truyền, giác ngộ, vận động Nhân dân chỉ làm theo ý muốn chủ quan, rồi đem cột cho họ, thì chẳng khác nào “khoét chân cho vừa giầy”.
Sự đa dạng của tầng lớp dân cư, vùng miền, sự khác nhau về trình độ nhận thức, về giác ngộ cách mạng là yếu tố quyết định việc không thể chỉ sử dụng một hình thức tuyên truyền cho mọi đối tượng. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải nắm chắc đặc điểm của đối tượng tuyên truyền để quyết định sử dụng hình thức tuyên truyền phù hợp nhất. Thực tế cho thấy, Người đã căn cứ vào điều kiện cụ thể để vận dụng một cách linh hoạt, như sử dụng báo chí, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị, viết sách, viết kịch, viết báo, tổ chức các buổi nói chuyện, xem phim... Bằng các hình thức đa dạng đó, Người đã truyền bá được chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến với Nhân dân, làm cho Nhân dân tin tưởng và hăng hái đi theo cách mạng.
Thứ hai, tập hợp quần chúng nhân dân vào các tổ chức cụ thể.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ, để huy động cao độ tiềm năng, lực lượng của quần chúng nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước thì phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ về lợi ích của tất cả các thành phần trong xã hội, phải làm cho các bộ phận cư dân trong xã hội sắp xếp theo một hướng nhất định. Vì vậy, phải đưa Nhân dân vào các tổ chức, các hội, nhóm. Người nói: “Có hội hè rồi trước là có tình thân ái, sau thì khuyên nhau học hành. Chúng ta đã biết “cách mệnh” tinh thần, “cách mệnh” kinh tế, thì “cách mệnh” chính trị cũng không xa”. Người đã xây dựng các hình mẫu về cách thức đoàn kết, tập hợp, tổ chức quần chúng, như thành lập Đảng Cộng sản để lãnh đạo cách mạng; thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất để tập hợp, giáo dục quần chúng; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng chính quyền nhân dân để quản lý, điều hành xã hội.
Người yêu cầu đưa quần chúng nhân dân vào trong các tổ chức và đoàn thể cách mạng phù hợp với nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính… qua đó để giáo dục, giác ngộ quần chúng. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ Tám (tháng 5/1941), Người kêu gọi: “Dân ta phải mau mau tổ chức lại. Nông dân phải vào “Nông dân Cứu quốc hội”. Thanh niên phải vào “Thanh niên Cứu quốc hội”. Phụ nữ vào “Phụ nữ Cứu quốc hội”. Trẻ con vào “Nhi đồng Cứu quốc hội”. Công nhân vào “Công nhân Cứu quốc hội”. Binh lính vào “Binh lính Cứu quốc hội”. Các bậc phú hào văn sĩ vào “Việt Nam Cứu quốc hội””. Đồng thời, phải sắp xếp thành hệ thống trình tự các công việc và phụ trách các bước công việc cụ thể, hợp lý, khoa học. Người chỉ rõ: “Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp”.
Thứ ba, thông qua các hoạt động thực tiễn để tìm hiểu, hướng dẫn và giúp đỡ quần chúng nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, công tác dân vận là một nghệ thuật về tiếp cận và vận động con người nên không chỉ tuyên truyền suông bằng sách báo, mít tinh, khẩu hiệu mà phải bằng hành động cụ thể, thiết thực trong thực tiễn. Do vậy, Người luôn yêu cầu Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải làm việc một cách thật sự, phải cùng lao động, cùng hòa mình vào cuộc sống hàng ngày của Nhân dân, phải sâu sát cơ sở, am hiểu thực tiễn. Đến với Nhân dân để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, hướng dẫn Nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách và giúp dân giải quyết các công việc cụ thể, đồng thời đề xuất hoặc điều chỉnh các chính sách cho phù hợp. Người cho rằng những cán bộ “chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh” thì không thể hiểu được Nhân dân, không thể hướng dẫn, giúp đỡ được Nhân dân và đó là một sai lầm rất to, rất có hại, vì vậy: “Cán bộ chính quyền và cán bộ đoàn thể địa phương phải cùng nhau bàn tính kỹ càng, cùng nhau chia công rõ rệt, rồi cùng nhau đi giải thích cho dân hiểu, cổ động dân, giúp dân đặt kế hoạch, tổ chức nhân công, sắp xếp việc làm, khuyến khích, đôn đốc, theo dõi, giúp đỡ dân giải quyết những điều khó khăn...”. Đối với cán bộ canh nông, phải hợp tác mật thiết với cán bộ địa phương, đi sát dân, thiết thực bày cho dân cách trồng trọt chăn nuôi. Những hội viên các đoàn thể phải xung phong thi đua, làm kiểu mẫu cho dân, giúp dân hiểu, dân mới làm được. Quá trình thực hiện, các lực lượng phải luôn theo dõi giúp đỡ, kiểm tra nhân dân thực hiện.
Trong thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với Nhân dân để vừa hòa vào dân, động viên phong trào, biểu dương thành tích và cố gắng của Nhân dân, vừa trực tiếp kiểm tra, nghiêm khắc phê bình những khuyết điểm để mỗi cán bộ, đảng viên và người dân thấy rõ mà sửa chữa, làm cho chất lượng, hiệu quả công việc vì thế mà tốt hơn.
Thứ tư, thông qua “nêu gương” để Nhân dân tin tưởng, noi theo.
“Nêu gương’ là một vấn đề luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm sâu sát. Theo Người, khi làm công tác vận động quần chúng không được dùng mệnh lệnh, áp đặt ý chí, phải biết khích lệ, biểu dương và lắng nghe kinh nghiệm trong dân, học hỏi trí tuệ của dân, bàn bạc cùng Nhân dân thực hiện nhiệm vụ. Cán bộ, đảng viên phải làm gương cho quần chúng nhân dân, để quần chúng nhân dân noi theo. Một việc làm tốt của cán bộ, đảng viên ở một địa phương, đơn vị chỉ ảnh hưởng, tác động đến địa phương, đơn vị đó, nhưng những cán bộ, đảng viên, người đứng đầu, có uy tín, có chức vụ thì càng cần phải nêu gương vì họ là những người được nhiều người biết đến, khi họ làm tấm gương thì sẽ có tác dụng khích lệ lớn. Trong tác phẩm “Đời sống mới” (tháng 3/1947), Người viết: “Nếu miệng thì tuyên truyền bảo người ta siêng làm, mà tự mình thì ăn trưa, ngủ trễ; bảo người ta tiết kiệm, mà tự mình thì xa xỉ, lung tung, thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích” và cũng luôn nhấn mạnh: “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
Đặc biệt, đối với cán bộ, đảng viên, Người yêu cầu: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Khi cán bộ, đảng viên nêu gương thì Nhân dân sẽ tự giác làm theo thậm chí không cần nói. Do đó, khi làm công tác dân vận phải làm gương trong mọi công việc để dân tin theo. Người thường dạy bảo: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Nhân dân sẽ mất niềm tin vào những cán bộ nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đằng làm một nẻo. Vì thế, Người chủ trương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Người luôn viết thư khen ngợi, động viên, khuyến khích những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập, lao động, sản xuất, chiến đấu và đề nghị có mục “gương người tốt, việc tốt” trên báo để cổ vũ, động viên, khích lệ mọi người học tập, noi theo.
Thứ năm, thông qua tổ chức các phong trào cách mạng để đoàn kết, tập hợp, phát huy sức mạnh của Nhân dân.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác dân vận phải tổ chức nhiều phong trào rộng lớn để tập hợp, đoàn kết và phát huy mọi tiềm năng, trí tuệ, sự sáng tạo của Nhân dân, hướng vào thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Với phương châm: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”, Người chỉ rõ, công tác dân vận phải kịp thời biểu dương, khen thưởng những cá nhân, tập thể có cách làm hay, những giải pháp hiệu quả, thiết thực. Từ đó, nhân rộng ra thành phong trào chung của toàn xã hội.
Có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu về công tác dân vận khi vận dụng được tất cả các nhiệm vụ của dân tộc thành các phong trào quần chúng, phong trào của cả nước mà người dân đều được tham gia thi đua vì lợi ích của chính mình, như phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; hũ gạo cứu đói; tuần lễ vàng; phong trào bổ túc văn hóa xóa nạn mù chữ; phong trào đời sống mới; phong trào thi đua ái quốc, phong trào thi đua giết giặc, phong trào trồng cây, phong trào rèn luyện sức khỏe, phong trào thi đua lao động, sản xuất mỗi người làm việc bằng hai vì đồng bào miền Nam ruột thịt... Đó thực sự là các phong trào thi đua yêu nước được phát triển rộng rãi trên mọi lĩnh vực, đã đoàn kết và động viên được tất cả các lực lượng, trí tuệ, sáng kiến của Nhân dân để thực hiện thành công các nhiệm vụ của cách mạng nước ta.
Bước vào thời kỳ đổi mới, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, các hình thức dân vận của Đảng ta càng được khẳng định đầy đủ hơn cả về lý luận và thực tiễn. Từ Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đến Đại hội Đảng lần thứ XIII, Đảng ta đều bổ sung, cụ thể hóa tư tưởng của Người thành quan điểm, đường lối về công tác dân vận, trong đó có các hình thức dân vận. Tại Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta đã chỉ rõ cần thực hiện tốt phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nghị quyết cũng nhấn mạnh: “Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Sâu sát cơ sở, tăng cường đối thoại, tiếp xúc với nhân dân, lắng nghe tâm tư, kịp thời giải quyết nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các mô hình, điển hình về công tác dân vận…”. Đồng thời, cần vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận phù hợp với nhiệm vụ cách mạng hiện nay nhằm huy động sức mạnh của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận có giá trị lý luận và thực tiễn vô cùng to lớn trong sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Từ đây, phong trào quần chúng được khởi phát, làm nên những thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Công tác dân vận cần làm cho mỗi người dân, nhất là thế hệ trẻ, nhận rõ những thuận lợi và khó khăn, đoàn kết phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hơn lúc nào hết, hệ thống chính trị và toàn dân ta cần quán triệt sâu sắc trong nhận thức và hành động về hình thức dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh, với truyền thống cách mạng của Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sẽ có nhiều hình thức dân vận đa dạng và phong phú góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân vận, phát huy cao độ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa sự nghiệp đổi mới của Nhân dân ta giành nhiều thắng lợi mới./.
St

QUAN ĐIỂM “ĐẢNG TA LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 Trong bài phát biểu tại Lễ Kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” - đây là luận điểm sâu sắc, nhất quán và xuyên suốt trong tư tưởng của Người về Đảng Cộng sản Việt Nam; là kết tinh những giá trị đặc sắc của danh dự, sự đoàn kết, trí tuệ, bản lĩnh và trong sáng của mỗi đảng viên và tổ chức Đảng. Chính vì lẽ đó, Đảng ta luôn kế thừa và vận dụng sáng tạo những quan điểm của Người vào việc xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Nội dung và ý nghĩa sâu sắc trong quan điểm “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” là sự phản ánh bản chất tốt đẹp của một đảng cách mạng chân chính. Đồng thời, khẳng định vai trò, sứ mệnh của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Với vai trò là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, “Đảng ta phải thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đảng có sứ mệnh vẻ vang là lãnh đạo công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, mang đến ấm no, hạnh phúc cho toàn thể dân tộc, vì vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm nhắc nhở: “Đảng ta là một đảng cách mạng, ngoài lợi ích của nhân dân và giai cấp công nhân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”. Vì nước, vì dân; vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành lẽ sống cao cả, thiêng liêng, làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, luôn “dĩ công vi thượng”. Đó là yếu tố quyết định để Đảng ta trở thành biểu tượng của trí tuệ, danh dự, lương tâm, trách nhiệm; là thước đo giá trị của một Đảng cầm quyền chân chính và liêm khiết.
Sức mạnh của Đảng không chỉ biểu hiện ở lòng nhiệt tình cách mạng mà còn biểu hiện ở năng lực lãnh đạo, ở trình độ trí tuệ của Đảng. Để có tầm nhìn, trí tuệ, Đảng phải nắm vững lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, bởi vì không có lý luận cách mạng thì không nắm bắt được quy luật, không nhận thức một cách tự giác toàn bộ hoạt động của mình, dễ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, mù quáng trong hành động. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”. Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”, là “cái cẩm nang thần kỳ”, “là mặt trời soi sáng”, là kim chỉ nam đúng đắn cho giai cấp công nhân và toàn thể Nhân dân Việt Nam đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc và mang đến ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân.
Ngoài phương pháp tư duy khoa học biện chứng, cách mạng, Đảng còn phải tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, kỷ luật nghiêm minh, lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thực hiện tốt nguyên tắc này tạo thành sức mạnh đoàn kết, thống nhất của Đảng: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ kỷ luật”. Việc thường xuyên chỉnh đốn và đổi mới là nhằm làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng được bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Người chỉ rõ: “Phải biết rằng tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình thế, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn hơn vượt đi trước”.
Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi”. Trong bản Di chúc Người đã căn dặn: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”. Chỉ có luôn đổi mới và chỉnh đốn, Đảng ta mới loại bỏ được những yếu tố lạc hậu, bổ sung giá trị, nguồn lực mới, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Sự vận dụng, bổ sung và phát triển quan điểm “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” trong giai đoạn hiện nay
Để xây dựng Đảng thực sự trở thành Đảng “là đạo đức, là văn minh”, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII khẳng định: “Phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta”. Và coi đây là sự phát triển rõ nét trong tư duy lý luận của Đảng, dựa trên nền tảng của một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua đó, tiếp tục nhấn mạnh vai trò, vị trí, tầm quan trọng của xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.
Về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Phải kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Vai trò, tầm quan trọng của việc kiên định nguyên tắc xây dựng Đảng được Đảng ta khẳng định và nhấn mạnh: “Sự chặt chẽ về nguyên tắc là vấn đề sống còn của Đảng và bảo đảm quan trọng nhất cho sức sống, sự trong sạch và vững mạnh của Đảng”. Giữ vững và phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta được coi là vấn đề mang tính quyết định đến năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, là tư tưởng nhất quán trong quá trình lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để thực hiện được nguyên tắc đó, Đảng ta phải không ngừng nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu của mỗi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp.
Để xây dựng Đảng thực sự tiêu biểu về đạo đức, là văn minh trong điều kiện mới, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII yêu cầu: “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần Đảng ta là đạo đức, là văn minh cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”. Xây dựng Đảng về đạo đức luôn là việc làm thường xuyên, quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, trong đó, việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên được xem là khâu then chốt, một mục tiêu mà Đảng ta cần phấn đấu, làm cho Đảng thực sự tiêu biểu cho “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại”. Xây dựng Đảng về đạo đức thể hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ. Trong phương hướng, nhiệm vụ đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng văn hóa Đảng, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc” cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Để củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII đề ra các giải pháp trọng tâm là: “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”; “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”; đồng thời, “Chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân vận”. Trong đó, cần chú ý việc phát huy vai trò, sự tham gia của Nhân dân trong xây dựng, ban hành tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, giữa các vùng, miền; quan tâm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội. Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc người dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của người dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên.
Trải qua 93 năm qua, dưới ngọn cờ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo dân tộc ta, Nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác… đó là kết quả hội tụ của nhiều nhân tố, mà trước hết và trên hết là sự đoàn kết, thống nhất của Đảng, toàn quân và toàn dân ta - qua đó tiếp tục khẳng định Đảng ta thực sự là một đảng cách mạng, chân chính “là đạo đức, là văn minh”./.
St

KHẮC PHỤC “CĂN BỆNH” NÉ TRÁNH, ĐÙN ĐẨY TRÁCH NHIỆM

 Quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta xác định: Cán bộ, công chức là công bộc của Nhân dân và có trách nhiệm phục vụ Nhân dân. Tuy nhiên, hiện nay, ở không ít nơi, cán bộ, công chức lại co cụm, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, không làm đúng, đầy đủ chức trách, nhiệm vụ của mình. “Căn bệnh” này khiến việc giải quyết nhiều công việc chính đáng của người dân, doanh nghiệp bị đình trệ; làm kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

“Căn bệnh” né tránh, nể nang, đùn đẩy trách nhiệm đã được lãnh đạo Ðảng, Nhà nước nhận diện và chỉ rõ, đó là thường gặp ở những cán bộ có bổn phận thực thi, giải quyết những vấn đề, công việc thuộc phạm vi mình phụ trách nhưng lại trốn tránh trách nhiệm, tìm cách đẩy sang cho người khác, đẩy lên cho cấp trên, đẩy cho cấp dưới… Vậy điều gì khiến “căn bệnh” này tồn tại và thời gian gần đây càng trở nên nổi cộm, gây bức xúc dư luận? Phân tích, tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, “căn bệnh” này sinh ra từ nhận thức về quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, ý thức, trách nhiệm về vị trí công tác của một số cán bộ, công chức chưa cao.
Một số cán bộ lãnh đạo có tư tưởng sợ “mất phiếu”, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Trường hợp khác do năng lực, trình độ chuyên môn yếu, không đáp ứng được nhiệm vụ nên e dè, làm gì cũng sợ sai. Ngoài ra, hệ thống văn bản, quy định của Đảng, Nhà nước thường xuyên thay đổi, có sự chồng chéo, thiếu đồng bộ nên nhiều khi cán bộ, công chức chưa tiếp thu được đầy đủ, kịp thời, không dám làm vì sợ sai…
Sau 37 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy vậy, hiện tại, nước ta vẫn là nước đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp, có khoảng cách khá xa với các nước phát triển. Kìm hãm sự phát triển của đất nước, như đã nói ở trên, có trách nhiệm của “căn bệnh” né tránh, nể nang, đùn đẩy trách nhiệm.
Nhận thức rõ điều này, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành, thực hiện nhiều chủ trương, chính sách và quy định pháp luật nhằm nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, công chức; đặc biệt, lãnh đạo Ðảng, Nhà nước đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu các cấp, ngành, đơn vị phải kịp thời đề ra những giải pháp ngăn chặn và tháo gỡ... Mới đây nhất (ngày 16/8), chủ trì phiên họp thứ 24 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để thảo luận, cho ý kiến về kết quả hoạt động của Ban Chỉ đạo 6 tháng đầu năm 2023 và nhìn lại công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay; xác định nhiệm vụ trọng tâm công tác những tháng cuối năm và thời gian tới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục chỉ đạo: “Các cơ quan chức năng làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng thêm một số quy chế cần thiết khắc phục ngay tình trạng né tránh, nể nang, đùn đẩy”.
Rõ ràng, để đất nước phát triển nhanh, bền vững thì việc cấp thiết và quan trọng là cần quyết tâm, quyết liệt, kiên trì chữa trị dứt điểm “căn bệnh” né tránh, nể nang, đùn đẩy trách nhiệm bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau. Trong đó, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ, đó là phải có những quy chế, chính sách kịp thời, đúng đắn. Quy chế cần cụ thể, cá thể hóa quyền hạn, trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong từng khâu, tuyệt đối không để xảy ra việc đùn đẩy, né tránh trách nhiệm.
Trường hợp đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm để xảy ra chậm trễ hoặc không quyết định những vấn đề, công việc thuộc thẩm quyền thì phải kiểm điểm, xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân liên quan theo đúng quy định. Bên cạnh đó, kịp thời rà soát, thay thế hoặc điều chuyển sang công việc khác đối với cán bộ, công chức năng lực yếu, không dám làm, né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, để trì trệ và không đáp ứng yêu cầu công việc. Ở chiều ngược lại, cần có chính sách khuyến khích và cơ chế phù hợp bảo vệ những cán bộ có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn và yêu cầu cán bộ, đảng viên phải hết sức nêu cao tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ, công việc được giao, dù là việc lớn hay việc nhỏ, việc đơn giản hay phức tạp, nhiệm vụ bình thường hay quan trọng, bí mật. Ðảng ta cũng đã ban hành nhiều quy định liên quan đến trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Hơn lúc nào hết, các công bộc của Nhân dân cần chấm dứt ngay việc đùn đẩy, nể nang, né tránh trách nhiệm, thay vào đó là tiên phong, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.
Khắc phục “căn bệnh” né tránh, nể nang, đùn đẩy trách nhiệm, đồng nghĩa với việc xóa bỏ được những cản trở để đất nước ta phát triển nhanh và bền vững./.
St

GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI - ĐƯỜNG LỐI NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG SUỐT QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG

 Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là tư tưởng bao trùm, đường lối nhất quán, xuyên suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

1. Quan niệm và tính tất yếu giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình cách mạng Việt Nam
Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là đặt lợi ích quốc gia - dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở vị trí cao nhất, bao trùm, thống nhất hữu cơ, quyện chặt nhau, trở thành mục tiêu, lý tưởng, sợi chỉ đỏ xuyên suốt, nhất quán trong tư tưởng chỉ đạo, đường lối chiến lược, phương pháp và nghệ thuật lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Lợi ích quốc gia - dân tộc bao gồm cả lợi ích cơ bản và lợi ích phát triển. Lợi ích cơ bản là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Lợi ích phát triển là tiềm lực, sức mạnh tổng hợp của quốc gia - dân tộc; môi trường chính trị - xã hội đất nước ổn định; môi trường hòa bình, hữu nghị, hợp tác, an ninh, an toàn trong khu vực và trên thế giới; uy tín, vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế; giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam được phát huy. Khi mất độc lập tự chủ thì giành lại độc lập dân tộc, khôi phục chủ quyền quốc gia là lợi ích tối thượng, ưu tiên cao nhất. Khi đã giành được độc lập dân tộc thì lợi ích quốc gia - dân tộc thể hiện ở việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, các lợi ích chiến lược của đất nước phù hợp luật pháp quốc tế, xây dựng quốc gia hùng cường, giàu mạnh, có vị thế xứng đáng trên thế giới, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam phấn đấu xây dựng gồm 8 đặc trưng: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[1]. Đặc trưng thứ nhất có tính bao trùm, đó là xây dựng một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội còn hàm nghĩa bảo đảm mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được nhận thức và xử lý phù hợp điều kiện lịch sử cụ thể từng giai đoạn. Ở đây có nhiều lớp quan hệ cần phải giải quyết, như: giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giữa hội nhập quốc tế và giữ vững độc lập tự chủ, giữa bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, giữa phát triển kinh tế thị trường và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa kiên định mục tiêu cuối cùng và hiện thực hóa mục tiêu đó trên từng chặng đường, bước đi cụ thể.
Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình cách mạng Việt Nam xuất phát từ quy luật khách quan, từ đòi hỏi của thực tiễn, từ lựa chọn tất yếu của lịch sử. Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam nằm dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, các quyền dân tộc cơ bản bị tước đoạt, nhân dân rơi vào cảnh lầm than, nô lệ. Giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người là bài toán lớn mà lịch sử đặt ra cần có đáp số. Nhiều lực lượng chính trị theo các lập trường tư tưởng khác nhau đã đứng lên khởi xướng các phong trào yêu nước sôi động, mạnh mẽ, nhưng rốt cuộc đều thất bại, đẩy cách mạng Việt Nam rơi vào tình trạng bế tắc, khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc. Thất bại của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX nằm ở một lý do rất căn bản là thiếu một tổ chức chính trị đủ sức hoạch định đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn mà ở đó giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Với vai trò là người tìm đường, dẫn đường, thiết kế tương lai, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam hội nhập vào dòng chảy chung của thời đại, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam có sức hấp dẫn lớn đối với quảng đại quần chúng, quy tụ mọi lực lượng yêu nước làm nên thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới và hội nhập quốc tế.
Đảng Cộng sản Việt Nam bước lên vũ đài chính trị, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khiến cho các lực lượng chính trị ở Việt Nam phân hóa sâu sắc. Một bộ phận những người yêu nước chân chính theo lập trường dân tộc chủ nghĩa, từ việc chứng kiến bản lĩnh, trí tuệ, đức hy sinh của những người cộng sản, nhất là các cuộc tranh luận trong nhà tù đế quốc và các cuộc đấu tranh giáp mặt với kẻ thù, đã bị thuyết phục, rồi chuyển biến lập trường tư tưởng, tự nguyện chấp nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, nhiều người trở thành đảng viên cộng sản. Các lực lượng chính trị bám gót đế quốc làm tay sai, thực hiện chia cắt đất nước, đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân, đã bị lịch sử đào thải. Khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị được dịp tấn công chế độ xã hội chủ nghĩa từ nhiều phía, cổ xúy cho nền dân chủ phương Tây, nhưng nhân dân Việt Nam vẫn kiên định ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà lịch sử đã lựa chọn.
Thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong thế kỷ XX chính là thắng lợi của ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử hơn 35 năm đổi mới tiếp tục khẳng định đường lối đúng đắn, sáng suốt của Đảng mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt chính là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Càng những lúc gặp khó khăn, thách thức, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam càng kiên định lập trường tư tưởng, giữ vững con đường đã lựa chọn. Năm 1991, khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ dây chuyền, hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng trầm trọng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định rõ ràng, đanh thép về tinh thần kiên định mục tiêu, lý tưởng của mình. Các nhiệm kỳ đại hội của Đảng trong thời kỳ đổi mới đều rút ra bài học có tính nguyên tắc là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không được ngả nghiêng dao động trong bất kỳ tình huống nào.
2. Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với tinh thần kiên định và sáng tạo, thể hiện nhất quán, xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam
Mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, nhất quán trong mọi thời kỳ của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (năm 1930) đã nêu rõ “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[2]. Đại hội I của Đảng (tháng 3-1935) tiếp tục khẳng định đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong chuyến thăm Pháp (năm 1946), khi trả lời phỏng vấn báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công khai nêu rõ: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”[3], “Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình”[4]. Cương lĩnh chính trị tại Đại hội II của Đảng (tháng 2 - 1951) tuyên bố: “Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội”[5]. Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) đã đề ra đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng trên hai miền của đất nước: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Đại hội IV của Đảng (tháng 12-1976) đề ra đường lối đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Ngay từ khi bắt đầu khởi xướng công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà nhằm làm cho mục tiêu đó đạt được bằng những hình thức, biện pháp phù hợp. Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) công bố “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, trong đó xác định rõ: “Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh”[6]. Các Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới cùng với việc ra sức tìm tòi, sáng tạo lý luận luôn khẳng định phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt, nhất quán, là cái bất biến, nhưng ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể lại được triển khai một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn.
Trong công cuộc đấu tranh giành chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1930-1954), độc lập dân tộc là mục tiêu trước mắt, còn chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lâu dài. Dựa vào tư tưởng của Cương lĩnh đầu tiên, trong thời kỳ vận động giải phóng dân tộc (1930-1945), Đảng chủ trương đặt vấn đề dân tộc lên trên hết, tạm gác cách mạng ruộng đất và các lợi ích giai cấp, nhờ đó xây dựng được khối đoàn kết dân tộc rộng rãi làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy vậy, nền độc lập dân tộc non trẻ bị đe dọa trước xâm lược Pháp. Do đó, trong giai đoạn 1945-1954, đường lối của Đảng tiếp tục đề cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, còn cách mạng ruộng đất và lợi ích giai cấp được giải quyết có chừng mực, phù hợp, không làm phương hại đến khả năng tập hợp lực lượng cho thực hiện kháng chiến chống xâm lược. Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, phương hướng đi tới sau khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, đồng thời chuẩn bị một số tiền đề cơ bản cho chuyển tiếp sang thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhất là tiền đề chính trị, tư tưởng. Mục tiêu, phương hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, có ý nghĩa tạo động lực lôi cuốn nhân dân tham gia kháng chiến, tin tưởng vào bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ hướng tới.
Trong điều kiện đất nước bị chia cắt làm hai miền (1954-1975), sáng tạo lý luận của Đảng là chủ trương tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền đất nước: miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm đem lại cuộc sống ấm no, tự do cho nhân dân miền Bắc, làm căn cứ địa vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, chống đế quốc Mỹ và tai say, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Đây là một sáng tạo lý luận đặc sắc, một hình thức sinh động giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong một điều kiện lịch sử cụ thể. Trong mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối của Đảng xác định cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đóng vai trò quyết định nhất đối với sự nghiệp cách mạng cả nước, là hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; cách mạng miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, góp phần bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội còn giúp kết nối với cả hệ thống xã hội chủ nghĩa, tạo hậu phương rộng lớn ủng hộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam, trước hết là sự giúp đỡ to lớn, chí tình, chí nghĩa của Liên Xô và Trung Quốc. Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, chống đế quốc xâm lược, bảo vệ hòa bình, cho nên, sự nghiệp cách mạng chính nghĩa của nhân dân Việt Nam được cả nhân loại tiến bộ ủng hộ.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đổi mới không phải là xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà làm cho mục tiêu đó đạt được bằng những hình thức, biện pháp có hiệu quả, phù hợp quy luật khách quan. Đổi mới, xây dựng đất nước nhằm làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, quốc gia - dân tộc hùng cường, có vị thế xứng đáng trên thế giới; tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần, vật chất - kỹ thuật, sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa bao gồm từ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ các lợi ích chiến lược của đất nước, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Cùng với kiên trì đường lối đổi mới là phải phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, gồm cả biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và tác động chuyển hóa bởi “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
3. Tiếp tục giương cao ngọn cờ lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ phát triển mới của đất nước
Kiên định và sáng tạo trong giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đại hội XIII của Đảng (tháng 01-2021) đã cụ thể hóa tinh thần Cương lĩnh với tầm nhìn, mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, phấn đấu đến năm 2025 là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tính thống nhất biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ mới được thể hiện tập trung ở mục tiêu nêu trên, nhằm xây dựng đất nước giàu mạnh, hùng cường, có vị thế cao trên trường quốc tế, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Hoàn thiện nền kinh tế thị trường hiện đại, đầy đủ, hội nhập quốc tế để phát triển sức sản xuất, phân bổ có hiệu quả nguồn lực, tạo ra của cải ngày càng dồi dào, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, kinh tế thị trường không hoàn toàn vận động cùng chiều với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, do vậy, gắn với phát triển kinh tế thị trường phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường sinh thái. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sáng tạo và đột phá lý luận quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm bảo đảm quản trị có hiệu quả sự hiện thực hóa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong từng giai đoạn của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ mới thể hiện ở sự kết hợp chặt chẽ giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đổi mới là tìm tòi những hình thức, phương pháp phù hợp để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đồng thời tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần, vật chất - kỹ thuật, phát huy sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ môi trường hòa bình, giữ vững ổn định chính trị - xã hội là điều kiện tối quan trọng bảo đảm cho đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Tính thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thể hiện ở sự quyện chặt giữa kiên trì mục tiêu cuối cùng với tìm mọi biện pháp đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữa bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc với bảo vệ Đảng, bảo vệ nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữa phát triển kinh tế thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa hội nhập quốc tế và tăng cường năng lực tự chủ chiến lược.
Kiên trì, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc phù hợp với luật pháp quốc tế, đồng thời là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, góp phần bảo vệ hòa bình, vun đắp tình hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Hội nhập quốc tế không chỉ có mặt thuận lợi mà còn chịu tác động bởi cả những mặt tiêu cực, nhất là các trào lưu tư tưởng, văn hóa, lối sống tư sản, âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Do đó, cùng với chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, khai thác mặt thuận lợi là phải chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống các âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để bảo vệ độc lập dân tộc, tự chủ quốc gia, ổn định chính trị - xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa./.
St

PHÒNG, CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA" ÁNH SÁNG SOI ĐƯỜNG TRONG CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

 Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, các lực lượng tham gia cần kết hợp nghiên cứu khoa học để nắm vững nguồn gốc, bản chất của các trào lưu tư tưởng sai trái, cơ hội, xét lại để vạch trần cho quần chúng nhân dân nhận diện rõ bản chất và tác hại của chúng trên các phương tiện thông tin. Đồng thời, bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.

Tấm gương mẫu mực trong nghiên cứu khoa học
C.Mác, Ph.Ăngghen đã khắc phục được những hạn chế của các đại biểu tư tưởng trong lịch sử và đương thời, có phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học. Với sự hội tụ đầy đủ các nhân tố chủ quan trong chuyển đổi lập trường giai cấp, cùng với trí tuệ uyên bác của mình, C.Mác, Ph.Ăngghen đã kế thừa thành tựu khoa học tự nhiên, tiền đề lý luận một cách chọn lọc. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã gạt bỏ hiện tượng bên ngoài để tìm ra bản chất, những mâu thuẫn kinh tế-xã hội nảy sinh trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nghiên cứu thực tiễn, tìm ra nguyên nhân do chưa có hệ tư tưởng độc lập, tiên tiến; chưa được giác ngộ ý thức giai cấp, còn bị ảnh hưởng nặng nề của trào lưu tư tưởng cơ hội, xét lại nên cản trở, dẫn đến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở những nước tư bản phát triển, như: Đức, Anh, Pháp bị thất bại.
Sự vĩ đại trong nghiên cứu khoa học của các ông đã đạt được thành quả là sáng lập, phát triển nên học thuyết thực sự khoa học, cách mạng-vũ khí tư tưởng, lý luận của giai cấp công nhân. Ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, C.Mác và Ph.Ăngghen, sau này là V.I.Lênin đã vừa bảo vệ, vừa phát triển các nguyên lý cách mạng và gắn với đấu tranh quan điểm sai trái để ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của những trào lưu tư tưởng cơ hội, xét lại, đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời là văn kiện đầu tiên của chủ nghĩa cộng sản, đánh dấu sự ra đời Chủ nghĩa Mác, công khai về mục tiêu, lý tưởng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân quốc tế. Trước đó, C.Mác, Ph. Ăngghen đã phải mất nhiều năm nghiên cứu thực tiễn để tìm hiểu vai trò của giai cấp công nhân-lực lượng xã hội tương lai giữ vai trò lãnh đạo lật đổ xã hội tư bản và xây dựng xã hội mới.
Ở thời kỳ V.I.Lênin, ông có sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu thực tiễn với phát triển lý luận, tiêu biểu như các tác phẩm: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”; “Quyền dân tộc tự quyết”, “Nhà nước và cách mạng”... Ở mỗi tác phẩm đều kết cấu nội dung logic, sử dụng hiệu quả các phương pháp khoa học là so sánh, phân tích, logic-lịch sử. Trong bối cảnh sau khi Ph.Ăngghen qua đời thì Quốc tế II bị lũng đoạn (ngoại trừ Đảng Xã hội-Dân chủ Nga), còn lại các đảng khác đều bị phân hóa thành ba phái nên V.I.Lênin đã thấy rõ sự cần thiết phải đấu tranh, với bút chiến rất mẫu mực để vạch trần bộ mặt thật của nó. Các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin để lại là những di sản khoa học đồ sộ, có giá trị lý luận và thực tiễn, mẫu mực về đấu tranh tư tưởng nên mãi mãi trường tồn trong thời đại hiện nay.
Gắn kết nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận
Tấm gương mẫu mực trong gắn kết nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận của các ông thể hiện ở nội dung, hình thức, phương pháp, kỹ năng và kết quả thực tế.
Về nội dung thể hiện sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, cơ hội, xét lại dựa trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, xuất phát từ những nguyên lý gốc đã được chỉ ra trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”; bám sát những biến đổi mới của thực tiễn, của cơ sở kinh tế, lựa chọn trọng tâm, trọng điểm, nắm vững bản chất sai trái về khoa học và phản động về chính trị của những quan điểm sai trái ở mỗi thời điểm cụ thể. Ở tác phẩm: “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, với kết cấu 4 chương thì dành riêng chương 4 để đấu tranh phê phán quan điểm sai trái và các chương khác đều lồng ghép nội dung phê phán.
Về hình thức thể hiện, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong nhiều tác phẩm dù không đặt tên hoặc có một số ít tác phẩm sử dụng từ “đấu tranh” hoặc “phê phán” ở tên tác phẩm nhưng nội dung đều phản ánh rõ sự gắn kết chặt chẽ giữa khoa học với phê phán quan điểm sai trái, cơ hội, xét lại rất thuyết phục.
Về phương pháp thể hiện rất toàn diện, nhuần nhuyễn, như: Khái quát, phân tích, diễn giải, logic-lịch sử, so sánh để chỉ ra tính chất sai trái của các luận điểm mà những đối tượng cơ hội, xét lại đưa ra và chứng minh tính đúng đắn của các nguyên lý cách mạng.
Về kỹ năng sử dụng ngôn ngữ khoa học của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong các tác phẩm thể hiện tính đanh thép, “rõ danh tính đối tượng cần phê phán”, sắc sảo về bút lực, bảo đảm tính luận chiến, luận cứ, luận chứng và có thái độ chính trị kiên quyết.
Khi thực tiễn có sự thay đổi, cần bổ sung các nguyên lý cho phù hợp và xuất hiện quan điểm đối lập thì C.Mác và Ph.Ănghgen lại kết hợp nghiên cứu khoa học, chỉ rõ nguồn gốc và mục đích chính trị, tính chất sai trái về khoa học của quan điểm cơ hội, xét lại để tuyên truyền, giác ngộ giai cấp công nhân tránh bị ảnh hưởng tiêu cực. Tiêu biểu như tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô ta”, nhằm vạch trần quan điểm cơ hội, xét lại của chủ nghĩa Látxan sai trái về khoa học, với mục đích chính trị đưa ra “luật sắt về tiền công” nhằm bênh vực, che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân... Với phương thức đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng của C.Mác, Ph.Ăngghen thì tư tưởng của Látxan đã bị vạch trần, phá sản và qua đó khẳng định vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Ở thời kỳ V.I.Lênin, sau khi Ph.Ăngghen mất và Quốc tế II bị lũng đoạn thì ông cho rằng tất yếu cần đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại, bởi: “Chủ nghĩa cơ hội là kẻ thù chính của chúng ta. Chủ nghĩa cơ hội trong tầng lớp trên của phong trào công nhân, đó là chủ nghĩa xã hội tư sản chứ không phải là chủ nghĩa xã hội vô sản”(*).
Công lao to lớn của V.I.Lênin là đã bổ sung, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác, bảo vệ bản chất khoa học và cách mạng nên với tên gọi mới là “Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Ở mỗi tác phẩm, mà tiêu biểu như: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”, “Nhà nước và cách mạng”, “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causky”, “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản”... V.I.Lênin cũng kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu thực tiễn để phát triển lý luận và gắn nghiên cứu khoa học với đấu tranh chống lại quan điểm cơ hội, xét lại, chủ nghĩa chống cộng. Kết quả, các đối tượng có tư tưởng cơ hội, xét lại đã từng bước bị vô hiệu hóa, giảm sự ảnh hưởng tiêu cực đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.
Ý nghĩa soi đường trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay
Thứ nhất, về giá trị gắn kết giữa nội dung nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận không được tách rời nhau. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã để lại chìa khóa giải quyết các vấn đề khoa học là phải có tư duy biện chứng, nắm vững tính quy luật khách quan của cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản là rất quyết liệt, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Trong những năm qua, xuất hiện rất nhiều luận điểm sai trái, nhiều thế lực, đối tượng tham gia và kết hợp sử dụng các loại phương tiện với số lượng ngày càng gia tăng, như: Huy động các đài phát thanh, hãng thông tấn, báo chí, nhà xuất bản ở nước ngoài, nhiều trang web, blog cá nhân tham gia chống phá Đảng, Nhà nước và thành tựu của nhân dân ta đã đạt được sau gần bốn thập niên thực hiện công cuộc đổi mới.
Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, các lực lượng tham gia cần kết hợp nghiên cứu khoa học để nắm vững nguồn gốc, bản chất của các trào lưu tư tưởng sai trái, cơ hội, xét lại để vạch trần cho quần chúng nhân dân nhận diện rõ bản chất và tác hại của chúng trên các phương tiện thông tin. Đồng thời, bảo vệ, phát triển học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.
Thứ hai, kế thừa phương pháp, kỹ năng sử dụng bút chiến của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch. Với tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen, “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causky” của V.I.Lênin... là những tác phẩm mẫu mực thể hiện rõ phương pháp bút chiến. Các lực lượng tham gia cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay cần kế thừa để đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái, phản khoa học, nhằm bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới. Mỗi bài viết cần sử dụng tổng hợp các phương pháp, các luận cứ, luận chứng, tận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật-công nghệ hiện đại để góp phần đấu tranh, vô hiệu hóa những luận điệu cơ hội, xét lại nhằm phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng trong hệ tư tưởng của Đảng ta.
Thứ ba, kế thừa giá trị về lựa chọn giải pháp trụ cột trong kết hợp giữa nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Việc làm thường xuyên là giáo dục nâng cao nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng ta về sự cần thiết đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Bên cạnh đó, cần nhận diện kịp thời về bản chất, mục đích chính trị và tính chất phi khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng và đường lối đổi mới của Đảng ta.
Cần phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, các nhà khoa học, lực lượng đấu tranh chuyên sâu ở các bộ, ngành, cơ quan, địa phương, đơn vị, cơ sở giáo dục-đào tạo, cơ sở nghiên cứu thực hiện tốt giải pháp gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu khoa học; tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận với đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với đó, cần phát huy tính tích cực chính trị của các lực lượng xã hội, nhất là cán bộ, đảng viên, các nhà khoa học làm nòng cốt trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, chúng ta phải luôn kiên định với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay./.
St