Thứ Tư, 6 tháng 9, 2023

EU cần đánh giá khách quan về tình hình nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam


Ngày 31/7/2023 vừa qua, Liên minh châu Âu (EU) công bố Báo cáo thường niên về nhân quyền và dân chủ trên thế giới năm 2022. Xem xét một cách toàn diện những đánh giá đề cập đến Việt Nam cho thấy nhiều nội dung phiến diện, thiếu khách quan, đồng thời cũng tạo nhận thức lệch lạc về tình hình đất nước, con người Việt Nam, là cái cớ để các thế lực xấu vin vào chống phá.

Với gần 200 trang, báo cáo của EU đánh giá tình hình nhân quyền, dân chủ trên toàn thế giới. Quy kết thiếu thực tiễn tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, báo cáo này đánh giá rằng, những hạn chế đối với các quyền chính trị và dân sự ở Việt Nam vẫn tiếp tục diễn ra trong năm 2022, đặc biệt là đối với quyền tự do biểu đạt và lập hội. Báo cáo cho rằng, không gian dành cho xã hội dân sự liên tục bị thu hẹp. Một số luật và nghị định mới đưa ra các hạn chế hơn nữa trong các lĩnh vực an ninh mạng, hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tự do tôn giáo đã được ban hành hoặc đang trong quá trình chuẩn bị. Các nhà báo, blogger và các nhà bảo vệ nhân quyền, cũng như các nhà hoạt động môi trường tiếp tục bị bắt và bị truy tố với những “cáo buộc mơ hồ” về tội chống lại an ninh quốc gia hoặc trốn thuế và bị kết án tù dài hạn trong các phiên tòa có ít hoặc không có sự tiếp cận của công chúng. Báo cáo cũng cáo buộc, các phiên xử không công bằng, bao gồm cả việc từ chối đại diện pháp lý; các điều kiện hành chính và vật chất khắc nghiệt trong trại giam; vẫn còn những lo ngại về quyền của các nhóm thiểu số tôn giáo và việc quản lý quyền sử dụng đất. Báo cáo quy kết tự do truyền thông vẫn còn bị hạn chế nghiêm trọng: Báo in, phát thanh – truyền hình, truyền thông trực tuyến và điện tử bị kiểm soát chặt chẽ; quyền truy cập vào các trang web độc lập về chính trị bị chặn và các công ty truyền thông xã hội buộc phải đóng tài khoản hoặc xóa nội dung chỉ trích chính phủ…Ngay sau khi bản báo cáo này được công bố, “té nước theo mưa”, Đài Á châu tự do (RFA) cắt ghép nhiều nội dung, liên tục tuyên truyền xuyên tạc tình hình nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam. Phó Giám đốc Phân ban châu Á của HRW, ông Phil Robertson cũng mượn gió bẻ măng: “Chính phủ Việt Nam sử dụng đi sử dụng lại điều 117 để bịt miệng bất cứ công dân nào dám sử dụng mạng Internet để chỉ trích chính phủ hoặc lên tiếng ủng hộ dân chủ, nhân quyền”!  Đặc biệt, các thế lực thù địch, tổ chức phản động được dịp “theo đóm ăn tàn” xuyên tạc, suy diễn, không ngừng phát tán, chia sẻ thông tin tiêu cực trên không gian mạng để nói xấu, đả phá tình hình quyền con người, chế độ xã hội, bôi nhọ Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Nhận xét về những báo cáo thường niên kiểu này của EU, ông Tore Vincents Olsen – là phó giáo sư về lý thuyết chính trị tại Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Aarhus, Đan Mạch cho rằng, các giá trị của EU về tôn trọng nhân phẩm, tự do, dân chủ, bình đẳng, pháp quyền và tôn trọng nhân quyền còn nhiều tranh cãi.

Ông cũng khẳng định, có nhiều chỉ trích đánh giá còn thiếu cơ sở thực tiễn, nhiều nhà quan sát cũng đồng ý rằng các giá trị, trích dẫn quá chung chung để làm cơ sở rút ra đánh giá quan trọng. Hay ngay cả Trợ lý chương trình đánh giá thường niên này của EU, bà Elenna Ventura cũng thừa nhận, khái niệm này (dân chủ) thiếu một định nghĩa chắc chắn và đánh giá phản ảnh thiếu linh hoạt, phân tích xem xét các khía cạnh còn thiếu định lượng và định tính liên quan đến việc củng cố thực tiễn, chuẩn mực và thể chế dân chủ. Đặc biệt, Việt Nam đã gia nhập 25 công ước của ILO, liên quan đến các lĩnh vực thương lượng tập thể, phòng chống phân biệt đối xử, lao động trẻ em và lao động cưỡng bức. Những nỗ lực, thành tựu quan trọng của Việt Nam trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật và thể chế về quyền con người minh chứng mạnh mẽ thực hiện đảm quyền con người nói chung. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, chiến tranh xung đột dân tộc, sắc tộc, tình hình thiên tai, bão lụt gây thiệt hại nặng nề trên toàn thế giới và Việt Nam, với sự nỗ lực, cố gắng vượt bậc, Việt Nam đạt được những thành tựu ấn tượng. Trong khi thế giới suy thoái, tăng trưởng âm, kinh tế Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng 8,02% trong năm 2022, là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Trang liberationnews.org (Mỹ) kết luận: Thành công của Việt Nam trong phòng, chống dịch COVID-19 “không đơn giản là một phép màu”, mà đó là “kết quả của một chính phủ xã hội chủ nghĩa đặt người dân lên trên lợi ích kinh tế”. Đó là mô hình “để không ai bị bỏ lại phía sau”.Việt Nam với chế độ chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững, con người thân thiện, nhân văn, yêu chuộng hòa bình, đã vinh dự lọt vào tốp là những quốc gia đáng sống và môi trường đầu tư, làm việc. Bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam khẳng định: “Việt Nam đã đạt được tăng trưởng đáng kể trong phát triển con người, có những bước tiến bộ trong thực hiện chính sách chăm lo phát triển con người toàn diện”. Trái ngược với những đánh giá tiêu cực mà báo cáo của EU đưa ra, thành tựu về quyền con người của Việt Nam được Liên hợp quốc thừa nhận. Việc trúng cử, trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền, cơ quan quan trọng hàng đầu của Liên hợp quốc trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt quyền của người dân. Những thành tựu đó là minh chứng sinh động của cả một quá trình nỗ lực, phấn đấu bền bỉ, không mệt mỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trên tất cả các lĩnh vực, khẳng định luôn tôn trọng, bảo vệ thúc đẩy dân chủ, quyền con người.

 

Lật tẩy chiêu trò “thương vay, khóc mướn”

 


Để thực hiện âm mưu chống phá, can thiệp vào công việc nội của Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền và cổ vũ cho hoạt động chống phá đất nước, các cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, những phần tử cơ hội ở trong, ngoài nước tiếp tục thực hiện chiêu trò “thương vay, khóc mướn” xung quanh phiên tòa xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trương Văn Dũng. 

Ngày 13/7/2023, TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Trương Văn Dũng (tên gọi khác là Trương Văn Ly, sinh năm 1958, nơi đăng ký HKTT số 16 Đê La Thành, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội) về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Sau hơn nửa ngày xét xử, HĐXX tuyên y án sơ thẩm với án phạt 6 năm tù giam. Trong khi dư luận đồng tình, ủng hộ trước bản án nghiêm minh, đúng người, đúng tội mà HĐXX đã tuyên phạt đối với bị cáo Trương Văn Dũng thì một số cá nhân, tổ chức chống phá trong và ngoài nước lại thực hiện các chiêu trò “thương vay, khóc mướn”, đòi chính quyền Việt Nam phải thả tự do cho Trương Văn Dũng với lý do “vô tội”, “dân oan”! Điển hình trong số đó là tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch – HRW) và Ân xá quốc tế (Amnesty International – AI) đã đăng tải các bài viết kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho Trương Văn Dũng vì họ cho rằng hành vi của Trương Văn Dũng chỉ là “những việc làm ôn hòa thực hiện quyền căn bản của công dân”. Trong khi đó, bà Ming Yu Hah, Phó Giám đốc khu vực của Ân xá quốc tế xuyên tạc rằng: “Cơ quan chức năng Việt Nam lại sử dụng sai trái hệ thống tư pháp để đàn áp tiếng nói bất đồng. Hoạt động trả lời phỏng vấn báo đài nước ngoài không thể bị án tù”… Đây là những luận điệu quen thuộc mà các tổ chức như HRW, AI, tổ chức khủng bố Việt Tân… vẫn tiến hành bấy lâu nay nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới danh nghĩa dân chủ, nhân quyền. Những tổ chức này lấy cớ phỏng vấn những “nhà bất đồng chính kiến”, sử dụng lời lẽ xuyên tạc, tố cáo của các số này để tạo cớ cổ vũ, đòi thả tự do cho những đối tượng phạm tội, có hành vi chống phá đất nước như Trương Văn Dũng hay trước đây là Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Thúy Hạnh. Thực chất, trước khi bị bắt giam, Trương Văn Dũng thường xuyên tham gia các hoạt động kích động, gây rối trật tự dưới vỏ bọc là “người yêu nước”, “yêu cây xanh”, “nhà bảo vệ môi trường” do các cá nhân, tổ chức, hội nhóm chống phá trong, ngoài nước tổ chức. Trương Văn Dũng cũng là thành viên của các hội nhóm chống phá đất nước như: “NoU”, “Quỹ 50K”, “Hội bầu bí tương thân”, các hội nhóm “dân oan”. Không những thế, Trương Văn Dũng thường xuyên trả lời phỏng vấn trên một số báo đài thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam như RFA, VOA… Dũng tàng trữ các tài liệu, vật phẩm, đăng tải bài viết trên các trang mạng xã hội có nội dung tuyên truyền, đả kích, xuyên tạc sự thật nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mặc dù đã được lực lượng chức năng gọi hỏi, triệu tập và răn đe nhiều lần nhưng Trương Văn Dũng không lấy đó làm bài học, tiếp tục dấn sâu con đường phạm tội. Được sự hậu thuẫn về vật chất, tinh thần từ những cá nhân, tổ chức chống phá bên ngoài, Trương Văn Dũng lại “ngựa quen đường cũ” khi tiếp tục tiến hành các hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước một cách công khai, thường xuyên, thể hiện rõ sự thách thức pháp luật. HĐXX nêu rõ, bị cáo có hành vi tàng trữ tài liệu dạng sách với tiêu đề “Những mảnh đời sau song sắt” và 11 tài liệu dạng sách với tiêu đề “Chính trị bình dân” có mục đích thông tin xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân… Bên cạnh đó, bị cáo Dũng còn sử dụng 31 băngrôn, biểu ngữ được in trên vải bạt và 11 tài liệu được in trên giấy với nhiều kích thước khác nhau có nội dung chống Nhà nước Việt Nam. Với hàng loạt hành vi vi phạm pháp luật của Trương Văn Dũng, Cơ quan An ninh điều tra, Công an TP Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự ngày 6/5/2022 và ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét đối với Trương Văn Dũng vào ngày 20/5/2022 về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Trong các phiên tòa xét xử sơ thẩm vào ngày 28/3/2023 và phiên tòa xét xử phúc thẩm vào ngày 13/7/2023, dù tài liệu, chứng cứ mà HĐXX đưa ra là rõ ràng, bị cáo Trương Văn Dũng vẫn có thái độ không thành khẩn, quanh co không nhận tội. Do đó, việc TAND cấp cao tại Hà Nội tuyên y án 6 năm tù giam như bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trương Văn Dũng là khách quan, thể hiện tính nghiêm minh, thượng tôn của pháp luật, được dư luận đồng tình, ủng hộ. Thực tế, chiêu trò “thương vay, khóc mướn” đòi trả tự do cho Trương Văn Dũng mà các cá nhân, tổ chức chống phá đăng tải là nhằm truyền bá cái gọi là giá trị “dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương Tây, từ đó phủ nhận nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như nhằm hạ thấp uy tín, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tiễn đã minh chứng rằng, mọi hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí khi cổ vũ, “thương vay, khóc mướn” cho những kẻ phạm tội như Trương Văn Dũng chỉ là màn kịch trá hình, thực chất là vì lợi ích của chính những tổ chức phản động.

“Đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”, thiết nghĩ rằng không chỉ bị cáo Trương Văn Dũng mà những người đã, đang lầm đường, lạc lối, đang chấp hành các bản án của pháp luật về các tội danh xâm phạm an ninh quốc gia hãy chấp hành nghiêm các hình phạt, biết ý thức giáo dục, cải tạo để sớm có cơ hội nhận chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước Việt Nam và sớm được trở về với gia đình, xã hội.

 

“Ngoại giao cây tre” vì độc lập, tự cường và hữu nghị

 


Dựa trên tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, kết hợp với truyền thống văn hóa đặc sắc và chính sách ngoại giao hòa bình của dân tộc, trường phái “ngoại giao cây tre” của Việt Nam không chỉ phù hợp với điều kiện Việt Nam và đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, mà còn phù hợp với mọi thời đại.

 

Ðó là nhận định của nhà báo Khamvisan Keosouphan, nguyên Trợ lý Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Ðảng Nhân dân Cách mạng Lào khi chia sẻ với phóng viên TTXVN. Là một nhà báo thường xuyên theo dõi về Việt Nam, ông Khamvisan có ấn tượng mạnh khi đọc bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về chủ trương xây dựng trường phái “ngoại giao cây tre” của Việt Nam. Theo ông, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm rõ bản chất và đường lối ngoại giao Việt Nam, đó là nền ngoại giao được đúc kết trong suốt quá trình hàng nghìn năm xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước của dân tộc Việt Nam, dựa trên nguyên tắc bất biến và tư tưởng xuyên suốt là độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia. Ðó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước, văn hóa dân tộc, truyền thống Việt Nam với tinh hoa văn hóa và kinh nghiệm ngoại giao thế giới. Trong đó, luôn đề cao mục tiêu độc lập dân tộc, tinh thần hòa hiếu, hữu nghị; dùng ngoại giao để ngăn chặn, đẩy lùi xung đột; gắn với thực tiễn của thế giới, đưa Việt Nam hòa nhập dòng chảy của thời đại… Trong khi đó, Giáo sư Go Ito, thuộc Ðại học Meiji (Nhật Bản) nhận định, cách gọi “ngoại giao cây tre” là một phép ẩn dụ thú vị. Theo ông, những nét chính của đường lối ngoại giao này là khả năng phục hồi, tính linh hoạt và sự khiêm tốn. Giáo sư nhấn mạnh, sự linh hoạt tồn tại trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, trong việc duy trì mối quan hệ với các nước. Chuyên gia Nhật Bản cho rằng, Việt Nam đang trong một môi trường thuận lợi để đạt được vị thế quan trọng trong ASEAN, đồng thời có sự gắn kết về chính trị và kinh tế với các nước trong khu vực, như Nhật Bản và Hàn Quốc. Theo Giáo sư Go Ito, Việt Nam là quốc gia Ðông Nam Á gần Nhật Bản nhất, đồng thời kết nối với bán đảo Ðông Dương, đây là một yếu tố quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Nhật Bản. Chủ tịch Hội Hữu nghị Israel-Việt Nam, cựu Ðại sứ Israel tại Việt Nam Amikam Levy cho rằng, đường lối “ngoại giao cây tre” là một chính sách, sáng kiến tuyệt vời, cho thấy phong cách lãnh đạo và cam kết của Ðảng Cộng sản Việt Nam vì lợi ích của nhân dân Việt Nam. Bày tỏ ngưỡng mộ về trường phái “ngoại giao cây tre”, ông Levy cho đây là sự kết hợp tài tình, bởi cây tre luôn linh hoạt và mạnh mẽ, có tính cộng đồng cao; cây tre mềm dẻo, nhưng cũng mạnh mẽ, đáng tin cậy. Chủ tịch Hội Hữu nghị Israel-Việt Nam bày tỏ ấn tượng tốt đẹp về vai trò của Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước đạt được những thành tựu kinh tế-xã hội vượt bậc. Theo nhà ngoại giao Israel, lãnh đạo Việt Nam có tầm nhìn và tinh thần cống hiến vì lợi ích của người dân, đưa đất nước trở nên hùng mạnh./.

 

Tái diễn luận điệu xuyên tạc trong dịp Quốc khánh 2/9

 


Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2/9 đã đi vào lịch sử dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam. Song hằng năm, vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, đi ngược lại niềm tự hào của toàn dân tộc, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội lại tăng cường hoạt động chống phá.

Các đối tượng sử dụng mạng xã hội để đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh, bình luận với những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về bản chất cách mạng, về giá trị và ý nghĩa thời đại của sự kiện lịch sử này, tạo nên góc nhìn phiến diện, lệch lạc.Nhiều bài viết nêu quan điểm sai lệch về thành quả cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; bác bỏ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xem nhẹ giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Quốc khánh 2/9.Trong dịp Quốc khánh 2/9 năm nay, trên một số diễn đàn, có những người tự cho mình danh nghĩa “nhà nghiên cứu” hay “phân tích lịch sử”, đưa ra những nhận định, đánh giá trái với sự thật, họ còn lồng ghép các dữ liệu lịch sử và so sánh khiên cưỡng với một số sự kiện khác để tạo ra cách nhìn sai trái. Có trường hợp vin cớ việc chúng ta xử lý nhiều vụ án tham nhũng gần đây để đánh đồng vấn đề tham nhũng là “lỗi hệ thống”, từ đó kích động rằng, nhân dân hy sinh làm cách mạng để cho quan chức nắm quyền, tham nhũng, vơ vét của cải! Những phần tử xấu được dịp hùa vào miệt thị, cho rằng đất nước đã giành độc lập 78 năm nhưng đến nay nhân dân “chưa được tự do”, quyền và lợi ích cơ bản của người dân “bị chà đạp”, xuyên tạc “cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột vẫn tiếp diễn”! Các luận điệu bôi nhọ những sự kiện lịch sử trọng đại như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945, Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975… là thủ đoạn “đến hẹn lại lên” của các thế lực thù địch, phản động, những kẻ cơ hội chính trị. Họ cố tình ngụy tạo, đưa ra các thông tin sai lệch, quan điểm sai trái hòng phủ bóng đen lên con đường mà đất nước ta, dân tộc ta đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng. Họ cố tình thổi phồng các tồn tại, tiêu cực trong đời sống xã hội hiện nay, đặc biệt là vấn đề suy thoái, tham nhũng trong bộ phận cán bộ, đảng viên để đổ lỗi cho chế độ, hạ thấp và phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng; đồng thời không ngừng ca ngợi lối sống tư bản, hưởng thụ, ca ngợi kiểu tự do thái quá nhằm tạo ra suy nghĩ lệch lạc rằng, đất nước ta đi theo con đường CNXH là sai lầm. Thủ đoạn này không mới nhưng việc nhắc đi nhắc lại, nhất là các dịp ngày lễ lịch sử của dân tộc sẽ tạo ra sự nhũng nhiễu thông tin trên mạng xã hội, ảnh hưởng đến quan điểm, suy nghĩ của một bộ phận người thiếu hiểu biết. Việc các thế lực phản động, cơ hội mang dòng máu Việt Nam nhưng lại cố tình xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp bản chất, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 là hành vi đi ngược lại lợi ích đất nước, phủ nhận khát vọng của dân tộc, vong ơn trước xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Những luận điệu xuyên tạc và những con người đang đi ngược dòng sự thật ấy chỉ có thể gây nhiễu về thông tin chứ không thể ngăn cản bởi dòng chảy lịch sử của dân tộc. Hằng năm, cứ mỗi dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh 2/9, người Việt Nam dù đang bất kỳ nơi đâu trong nước hoặc ở xa Tổ quốc cũng không khỏi xúc động bồi hồi, ôn lại khí thế hào hùng, sôi sục, náo nức của những ngày mùa thu cách mạng, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Quốc khánh chính là dịp để bất cứ người dân Việt Nam nào, đồng bào cả nước cũng như kiều bào ở nước ngoài cùng hướng về Tổ quốc thân yêu; cùng tưởng nhớ, tri ân hàng triệu cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta đã ngã xuống trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; cùng tưởng nhớ và biết ơn công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Là dịp để các thế hệ hôm nay và mai sau cùng nhau nhìn lại chặng đường gian khổ, hào hùng của cha ông để nâng cao lòng tự hào dân tộc, trau dồi tinh thần yêu nước, cống hiến sức mình cho quê hương, đất nước.

 

Trí thức… mê muội!

 

Trí thức… mê muội!

Đảng ta luôn coi trí thức là một bộ phận của lực lượng cách mạng, là một trong những nhân tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Tiếc thay, bên cạnh tuyệt đại đa số những trí thức có tâm, có tài, luôn nỗ lực đóng góp công sức, trí tuệ để xây dựng và phát triển đất nước vẫn nảy nòi ra những kẻ có ăn có học, mang danh học hàm học vị này nọ mà đầu óc mê muội, tâm địa đen tối, trở mặt theo đòi bè lũ phản động, chống phá Đảng, Nhà nước, phản quốc, hại dân…

 

Quốc gia hiếu học, luôn coi trọng tri thức, nhân tài, từ xa xưa ông cha ta đã quan niệm “phi trí bất hưng”. Năm 1484, Thân Nhân Trung đã khẳng định trên bia Tiến sĩ ở Quốc Tử Giám “Hiền tài là nguyên khí quốc gia,…”. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng trí thức. Người đã viết “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần có nhân tài”. Kế tục, phát triển truyền thống tốt đẹp này lên tầm cao mới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7, khóa X khẳng định, trong thời đại ngày nay, “cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển”. Từ chủ trương đúng đắn, nhân văn, mang tầm chiến lược này, thời gian qua đội ngũ trí thức ở nước ta tăng lên nhanh chóng cả về chất lượng và số lượng. Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm, chú trọng việc quy tụ tập hợp đội ngũ trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, chăm lo đào tạo đội ngũ trí thức là cán bộ khoa học, công nghệ, lãnh đạo, quản lý. Đội ngũ trí thức nước ta đã có vai trò quan trọng và tích cực trong việc cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần làm sáng tỏ con đường phát triển của đất nước và giải đáp những vấn đề mới phát sinh trong sự nghiệp đổi mới; sáng tạo những công trình có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, nhiều sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh; từng bước nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của đất nước, vươn lên tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới, làm động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực tiễn gần một thế kỷ qua đã khẳng định: Đảng ta luôn coi trí thức là một bộ phận của lực lượng cách mạng, là một trong những nhân tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Tuy nhiên, thật đáng buồn khi thời gian gần đây, một số đối tượng mang danh trí thức, từng làm việc trong các cơ quan nhà nước nhưng vị kỷ, bị kẻ xấu, các tổ chức phản động lôi kéo dẫn đến bất chấp đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bất chấp pháp luật, sử dụng không gian mạng phát tán nhiều thông tin sai lệch, công khai công kích, chống phá Việt Nam, cho rằng Đảng, Nhà nước “đàn áp trí thức”, kêu gọi “trở cờ”, đứng lên chống đối…

Mới đây, trang Fanpage Chân Trời Mới Media chuyên nghề phản động, xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam đã đăng tải bài viết của Mạc Văn Trang với tiêu đề “An ninh tư tưởng triệt phá giới trí thức”. Trong bài viết, người mang danh là PGS.TS đã “trở cờ” tuyên bố bỏ Đảng đã viện dẫn thông tin “50.000 nhà khoa học Nga đã bỏ nước ra đi” để quy chụp: “Thì ra ở đâu cũng vậy, khi chế độc độ tài dung túng cho lực lượng “AN NINH TƯ TƯỞNG” (Khoa giáo, an ninh mạng, An ninh nội địa, cho đến CA phường/xã) thấy ai viết cái gì họ cho là “nhạy cảm” là có quyền “mời làm việc” hoặc “đến gặp nói chuyện” để răn đe; ai viết gì đụng chạm đến “chế độ” là có thể quy tội “Tuyên truyền chống phá nhà nước”, bị tù đày.” Viện dẫn những vụ việc diễn ra trong lịch sử với góc nhìn lệch lạc của người “ăn phải bả dân chủ” chống đối, cơ hội, Mạc Văn Trang cho rằng: Thì ra chả có LUẬT PHÁP gì, an ninh thấy “nhạy cảm” là “xử lý”. Nhưng có ông to “bảo kê” thì thoát nạn. Quả là “vô pháp”!…” rồi đi đến kết luận: “Tóm lại, một khi chế độ độc tài toàn trị để cho “an ninh tư tưởng” lộng hành thì giới trí thức chỉ có lụn bại, văn hoá, khoa học xuống dốc. Đảng CSVN có bao nhiêu nghị quyết về “thu hút nhân tài”, kêu gọi trí thức Việt kiều về xây dựng đất nước, nhưng từ Ngô Bảo Châu đến bao nhiêu trí thức trẻ “lớn lên dưới mái trường XHCN” còn chả chịu ở lại trong nước, thì Việt kiều nào dám về?”. Những vụ việc liên quan Lộc Vàng, Trần Mạnh Hảo, Trần Văn Thuỷ, Vũ Thư Hiên, Nguyên Ngọc, Nguyễn Duy, Nguyễn Đình Cống và mới đây là Đặng Tiến… mà Mạc Văn Trang cố ý đưa ra làm ví dụ, trên thực tế, đều có vấn đề về tư tưởng và việc xử lý, ít nhất là ở mức độ không đưa những tác phẩm của các cá nhân nêu trên vào sách giáo khoa hay báo chí là đúng đắn và cần thiết. Môi trường giáo dục cần lành mạnh, nhân văn, không thể để học sinh phải học sản phẩm của một tên phản động, trở cờ hay những phần tử chống đối, lưu vong, phản quốc, hại dân. Luật An ninh mạng ra đời là tất yếu khách quan xuất phát từ bối cảnh tình hình an ninh mạng trong nước và yêu cầu bảo vệ an ninh Quốc gia, bí mật Nhà nước, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, phù hợp với thông lệ quốc tế và quy định của Hiến pháp. Luật An ninh mạng không cấm hoặc ngăn cản quyền tự do ngôn luận, quyền bày tỏ quan điểm của công dân mà chỉ nghiêm cấm thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Đảng ta luôn nhấn mạnh quan điểm nhất quán là lấy “Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nòng cốt” trong lực lượng cách mạng toàn dân. Tuy nhiên, để bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng Đảng vững mạnh, đất nước phát triển, dân tộc trường tồn thì cần dứt khoát đấu tranh, xử lý nghiêm minh những phần tử mang danh trí thức mà đầu óc mê muội, tâm địa đen tối.

 

 Ý THỨC, TRÁCH NHIỆM TRONG KỶ LUẬT PHÁT NGÔN

Hiện nay, bên cạnh phần lớn người dân luôn ý thức gương mẫu, trách nhiệm khi phát ngôn thì đang xuất hiện tình trạng một số người, trong đó có cả cán bộ, công chức có những phát ngôn tùy tiện gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của Ðảng, Nhà nước, đòi hỏi trách nhiệm cao hơn từ các cơ quan chức năng cũng như sự vào cuộc của toàn xã hội để ngăn chặn hiệu quả.

Cán bộ, công chức là những người làm việc trong các cơ quan của Ðảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, và thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức giao. Hoạt động của cán bộ, công chức gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trao cho. Bởi vậy những phát ngôn của họ thường tác động không nhỏ tới đời sống xã hội, tới việc thực thi các chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước trong thực tiễn.

Nhận thức được tầm quan trọng đó, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh coi cán bộ là cái gốc của mọi công việc: "Cán bộ là những người đem chính sách của Ðảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Ðồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Ðảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng".

Người đặt ra yêu cầu người cán bộ phải là người có tư cách đạo đức trong sáng, gương mẫu, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân. Qua những lời nói của những cán bộ có trách nhiệm, nhân dân cũng noi gương theo Ðảng, tin tưởng và làm theo.Lời dặn dò của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được mọi người dân, cán bộ, công chức thấm nhuần và áp dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, bên cạnh phần lớn người dân, cán bộ, công chức gương mẫu, bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn lắng nghe dân, hết lòng phụng sự nhân dân thì vẫn còn tình trạng một số người, trong đó có cả cán bộ, công chức có những phát ngôn tùy tiện, thiếu chuẩn mực.

Ðôi khi do thiếu kinh nghiệm, do sơ suất, thiếu thông tin hay do ngộ nhận, phát ngôn của họ đã gây ra những dư luận xấu, để lại những hậu quả lâu dài, có thể trở thành "tử huyệt" để các phần tử xấu lợi dụng.

Cùng với đó đang tồn tại tình trạng một số cán bộ, công chức có biểu hiện "hai mặt": Khi ở cơ quan, đơn vị thì phát ngôn và làm theo đúng quan điểm, đường lối của Ðảng, nhưng khi bước ra khỏi cơ quan, đơn vị thì lại có phát ngôn bừa bãi, lệch lạc, đi ngược với lợi ích của quốc gia, dân tộc, của tổ chức nơi đang công tác.

Thậm chí có cá nhân có biểu hiện lợi dụng tự do, dân chủ, phát ngôn tùy tiện, không mang tính xây dựng hoặc sử dụng những thông tin không chính thống, sai sự thật để quy kết, luận bàn thiếu trách nhiệm, thiếu tính xây dựng các vấn đề của đất nước, gây bức xúc dư luận.

Theo số liệu của Ban Tổ chức Trung ương, giai đoạn 2016-2020, gần 8.300 đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị đã bị xử lý kỷ luật. Trong đó, có 477 đảng viên nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói không đi đôi với làm, hứa nhiều, làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về hưu...

Ðặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ hiện nay, những phát ngôn thiếu chuẩn mực của những cá nhân nêu trên rất dễ có nguy cơ bị các thế lực phản động, thù địch lợi dụng bóp méo, xuyên tạc, khoét sâu vào một số bất cập, hạn chế, bé xé thành to để tấn công Ðảng, Nhà nước và chế độ, gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên, làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Ðảng, làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, đặc biệt là thế hệ trẻ, trở thành một trong những nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Ðảng và chế độ.

Nguyên nhân của tình trạng này là do một bộ phận công dân trong xã hội bản lĩnh chính trị không vững vàng, thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập để chủ nghĩa cá nhân ích kỷ phát triển lấn lướt, nhận thức, giác ngộ về tư tưởng, đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước còn yếu kém.

Bên cạnh đó là những tác động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, cộng với các thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Lợi dụng những khó khăn, yếu kém, sự tha hóa của một số cán bộ, công chức, các thế lực thù địch tìm mọi cách khoét sâu thêm mâu thuẫn, tìm cách làm suy yếu Ðảng, lôi kéo, mua chuộc cán bộ, chia rẽ nội bộ.

Về phía tổ chức đảng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở một số nơi chưa được coi trọng đúng mức, hoạt động kém hiệu quả. Việc học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Ðảng có lúc, có nơi còn hạn chế, chưa thật nghiêm túc, chưa truyền đạt được tính khoa học, tính cách mạng, tính thiết thực tới cán bộ, công chức.

Thẳng thắn nhìn vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, với quan điểm "xây" và "chống", thời gian qua, Ðảng, Nhà nước đã ban hành nhiều quy chế, quy định về kỷ luật phát ngôn, nhất là đối với cán bộ, công chức. Ðảng nhận định thực trạng nêu trên là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, cùng với đó là nguy cơ từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước rất ngắn, khiến những đối tượng nêu trên có thể sa vào vũng lầy của người chống Ðảng. Thậm chí có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc.

Chính vì vậy, sau Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, Quyết định số 37-QÐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm, mới đây, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XIII đã ban hành Quyết định số 69-QÐ/TW ngày 6/7/2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Trong đó, Ðiều 28 "Vi phạm quy định tuyên truyền, phát ngôn", chỉ rõ các hành vi: Viết bài, duyệt đăng bài, sao chép, tán phát bài viết, thông tin không chính xác; lợi dụng quyền bảo lưu ý kiến, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, phản biện xã hội để viết bài, trả lời phỏng vấn hoặc sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội và các hội, nhóm, câu lạc bộ, diễn đàn để truyền bá quan điểm trái chủ trương, quy định của Ðảng, pháp luật của Nhà nước,...

Việc bổ sung những quy định này giúp nhận diện rõ các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong tuyên truyền, phát ngôn, phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Từ đó cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn, xử lý nghiêm minh, giữ vững kỷ luật kỷ cương, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng.

Thời gian tới, để giữ vững lòng tin của nhân dân đối với Ðảng, bảo đảm kỷ luật phát ngôn, cần phải tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các đối tượng, tổ chức vi phạm kỷ luật phát ngôn, Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng.

Bên cạnh việc thực hiện nghiêm các quy định pháp luật, nâng cao vai trò trách nhiệm công dân đối với xã hội, các cấp ủy, tổ chức đảng cần phải đổi mới hơn nữa nội dung sinh hoạt, thường xuyên đưa cán bộ, công chức, đảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ lý luận chính trị, thường xuyên trau dồi kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Kết hợp đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tăng cường phổ biến, quán triệt, nâng cao ý thức tuân thủ kỷ luật phát ngôn của Ðảng. Lấy giải pháp "xây" làm căn cơ, cần phải siết chặt quy trình công tác cán bộ, sao cho việc bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng, bổ nhiệm được những cán bộ, công chức vừa có đức vừa có tài, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong sâu sát với quần chúng, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, cấp thiết để xây dựng Ðảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Ðồng thời, bản thân mọi công dân trong xã hội, nhất là các cán bộ, công chức phải nâng cao nhận thức, phát ngôn đúng chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn. Ðối với những vấn đề có tính chất phức tạp, vấn đề mới, chuyên môn sâu, được đông đảo dư luận quan tâm, cần phải cẩn trọng, suy nghĩ thấu đáo trước khi phát ngôn.

Cùng với đó cán bộ, công chức cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, hiểu đúng dân chủ và kỷ luật trong phát ngôn. Chủ động nghiên cứu, học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao "sức đề kháng" trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, để không bị suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Ðẩy mạnh tự phê bình và phê bình nhằm góp phần nâng cao năng lực bản thân cũng như ý thức, trách nhiệm của mình đối với xã hội, đất nước./.


 NHẬN DIỆN ĐẤU TRANH VỚI CÁC THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới.

Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động).

Qua thực tiễn tình hình trong nước, có thể nhận thấy âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng cơ bản vẫn tập trung vào một số nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội. Kích động hoạt động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền và “tự do Internet”, khuyến khích các đối tượng này chống phá quyết liệt hơn bằng cách trao các giải thưởng, đề cử vinh danh hay đưa Việt Nam vào danh sách “kẻ thù của Internet”, vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền.

Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau; đặc biệt phát triển các kênh truyền thông bằng tiếng dân tộc thiểu số (Mông, Khơ me…) hướng tới đối tượng tuyên truyền là đồng bào dân tộc thiểu số.

Cổ súy tư tưởng chống phá, định kiến của một số người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phát tán, giật tít các bài viết của các đối tượng này lên Internet, mạng xã hội. Lợi dụng lợi ích cá nhân của một bộ phận người dân trong giải quyết vấn đề đất đai, các vụ án kinh tế… để kích động lôi kéo người dân tham gia vào các hoạt động gây rối, mất an ninh chính trị trên mạng xã hội, từ đó lan truyền, hiện thực hóa trên thực địa... Sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng; trước khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền, phát tán ồ ạt những tin bài xuyên tạc, bóp méo sự thật, hướng lái dư luận thông qua những tiêu đề “giật gân”, “câu khách”.

Thu hút, lôi kéo người dân vào tổ chức; thâm nhập vào các diễn đàn, mạng xã hội dành cho giới trẻ để phát hiện, lôi kéo đầu mối; sử dụng các hình thức liên lạc qua mạng để móc nối, huấn luyện và chỉ đạo cơ sở phản động thực địa. Sử dụng truyền thông mạng xã hội để lừa gạt, lôi kéo nhân dân, hình thành và công khai hóa tổ chức núp dưới danh nghĩa các tổ chức xã hội dân sự hay tổ chức phản biện xã hội.

Cùng với đó, chúng lợi dụng các sự kiện chính trị, kinh tế, quân sự… trên thế giới (xung đột quân sự Nga-Ukraine, đảo chính quân sự ở Niger…), sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các vụ án về kinh tế, hoạt động khẳng định chủ quyền biển đảo, biên giới... đề dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả; xuyên tạc tình hình chính trị, xã hội, kinh tế trong nước và có thời điểm tổ chức hoạt động tuyên truyền chống phá thành “chiến dịch” dưới nhiều hình thức.

Lợi dụng hạn chế, bất cập trong công tác quản lý kiểm duyệt nội dung trên các nền tảng mạng xã hội để tuyên truyền xuyên tạc; lợi dụng chính sách của mạng xã hội, thành lập hàng nghìn hội nhóm tổ chức chính trị phản động, trong đó bao gồm cả hội nhóm công khai, bí mật với số lượng thành viên tham gia lớn, lôi kéo, thu hút, mời chào thành viên tham gia, hoạt động có đường hướng, tôn chỉ, mục đích cụ thể. Tạo lập các trang mạng, tài khoản mạng xã hội giả mạo các cơ quan của nhà nước, các đồng chí lãnh đạo, các cá nhân có ảnh hưởng... để đăng tải thông tin phản động; xuyên tạc, lợi dụng sự hiếu kỳ của người dân và sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân để kích động cộng đồng mạng tham gia phát tán thông tin xấu độc.

Trước tình hình diễn biến trên không gian mạng ngày càng phức tạp cùng với các hoạt động chống phá có tổ chức, xây dựng và lên kế hoạch tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị, theo chúng tôi cần thực hiện một số vấn đề mang tính giải pháp sau:

Thứ nhất, sử dụng thông tin chính thống đóng vai trò dẫn dắt định hướng dư luận. Các ban ngành đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan thông tấn báo chí cần phát huy được vai trò trong cung cấp thông tin chính thống kịp thời và chính xác, tránh tạo khoảng trống thông tin để các đối tượng phản động lợi dụng phát tán các thông tin xuyên tạc, để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận với thông tin chính thống trước khi tiếp cận với thông tin phản động. Hệ thống các kênh truyền thông của các cấp từ Trung ương đến địa phương cần được xây dựng đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ giữa các kênh truyền thông để tạo ra sức ảnh hưởng lớn với dư luận.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng. Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài Quân đội có thế mạnh trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng và trên báo chí, Trong đó lực lượng của Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì đề xuất xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp có cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền với nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội, yêu cầu thực hiện đúng theo pháp luật Việt Nam, hợp tác trong việc xóa bỏ các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phối hợp lực lượng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cung cấp trao đổi thông tin kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh các đối tượng lợi dụng Internet mạng xã hội để tổ chức các hoạt động phát tán tin giả, thông tin sai sự thật nguy hại đến chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thứ ba, nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động đấu tranh. Xây dựng và khai thác có hiệu quả các trọng tâm nghiên cứu công nghệ thông tin trên từng lĩnh vực, từ đó có kế hoạch để triển khai các nhiệm vụ truyền thông, đấu tranh với thông tin xấu bảo đảm sự bài bản, tính chính xác, hiệu quả. Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp, ứng dụng sức mạnh của khoa học, công nghệ thông tin để tăng cường khả năng theo dõi, bám nắm, giám sát tình hình; hỗ trợ cho công tác quản lý, đánh giá chất lượng các hình thức đấu tranh. Nghiên cứu, xây dựng nội dung, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ hoạt động triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc.        

Xây dựng hệ thống kênh chỉ đạo điều hành đồng bộ từ chỉ huy đến cấp thực hiện, kênh liên lạc giữa các lực lượng tham gia đấu tranh. Hệ thống cho phép điều hành tổ chức các nhiệm vụ triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc trên Internet, mạng xã hội đồng thời là kênh để cán bộ thực hiện có thể chia sẻ kinh nghiệm cách thức tổ chức xử lý thông tin xấu độc. Trang bị cho lực lượng đấu tranh các hệ thống hiện đại để giám sát phát hiện thông tin phát hiện kịp thời các thông tin xuyên tạc trước khi bị phát tán ra nhiều tài khoản mạng xã hội tiếp cận đến số lượng lớn cộng đồng mạng.

Thứ tư, nâng cao nhận thức, vai trò cán bộ, đảng viên và quần chúng trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nâng cao hơn nữa nhận thức, vai trò, trách nhiệm, tiền phong, gương mẫu nêu gương trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Phát huy tính hiệu quả, thiết thực việc sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền tải, nhân rộng những yếu tố tích cực, tấm gương tiêu biểu, người tốt, việc tốt, những giá trị văn hóa nhân văn, tinh thần tương thân, tương ái của quốc gia, dân tộc. Đồng thời, tích cực đấu tranh chống các thông tin sai trái, phản động, bịa đặt trên mạng xã hội, phê bình, phản đối các hành vi lợi dụng Internet, mạng xã hội để chia sẻ, thông tin, bình luận, đăng tải những hình ảnh phản cảm, thiếu tinh thần trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm với những khó khăn, mất mát của nhân dân./.


 BẢO VỆ HÒA BÌNH LÀ NHIỆM VỤ TỐI THƯỢNG CỦA QUỐC PHÒNG VIỆT NAM 


Đây cũng là nhiệm vụ tối thượng của Quốc phòng Việt Nam trong thời đại mới được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong cuốn sách mới ra mắt.

Mới đây, cuốn sách "Một số vấn đề về: đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Bí thư Quân uỷ Trung ương đã được ra mắt. Trong cuốn sách này, tư tưởng cốt lõi được Tổng Bí thư nhấn mạnh, đó là bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hoà bình.

Cuốn sách tập hợp 39 bài nói, bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đề cập về những vấn đề lớn, cơ bản về quốc phòng, đặc biệt là tiếp tục khẳng định vấn đề cốt tử, có tính nguyên tắc, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự nghiệp quốc phòng trong mọi tình huống.

Với sự am hiểu, trách nhiệm đối với nền quốc phòng Việt Nam, Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương qua cuốn sách đã thể hiện việc tiếp cận đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng qua việc tìm câu trả lời cho các câu hỏi về tính chất chiến tranh trong tương lai, xu thế phát triển của khoa học - kỹ thuật; Mặt trận nào, lĩnh vực nào sẽ là trọng tâm. Một trong những điểm được coi là đột phá trong tư duy của Người đứng đầu của Đảng đối với vấn đề quốc phòng chính là tư tưởng "bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hoà bình".

Khái quát những vấn đề lý luận dựa trên thực tiễn phát triển của nền quốc phòng Việt Nam, cuốn sách định hướng rất rõ về xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.

Trong thời gian tới, những nội dung lý luận trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương sẽ tiếp tục được quán triệt trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, làm nền tảng cho việc triển khai thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quân sự quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới./.

 Cần tiếp tục hoàn thiện Luật phòng, chống tham nhũng bảo đảm ngày một chặt chẽ trong công tác phòng chống

Cần tiếp tục sửa đổi để quy định một cách toàn diện, bao quát, nhất là quy định cụ thể các biện pháp để bảo đảm thực hiện việc công khai, minh bạch đầy đủ, kịp thời các hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị để mọi người biết. Cần quy định rõ các nguyên tắc, hình thức, nội dung, thời gian, trách nhiệm thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, để từ đó hạn chế sự tham nhũng.

Cần quy định các biện pháp hữu hiệu để quản lý, xác minh các tài sản, thu nhập của những người có chức vụ, quyền hạn; cần có các cơ quan, tổ chức chuyên trách quản lý, xác minh các bản kê khai tài sản, thu nhập xem có đúng không, có trung thực, chính xác không. Đặc biệt, cần quy định một cơ chế hữu hiệu theo dõi sự biến động tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và trách nhiệm giải trình, làm rõ tài sản, thu nhập gia tăng không hợp lý, không rõ ràng.

Hoàn thiện các quy định tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng.

 BẢO VỆ HÒA BÌNH LÀ NHIỆM VỤ TỐI THƯỢNG CỦA QUỐC PHÒNG VIỆT NAM 


Đây cũng là nhiệm vụ tối thượng của Quốc phòng Việt Nam trong thời đại mới được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong cuốn sách mới ra mắt.

Mới đây, cuốn sách "Một số vấn đề về: đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Bí thư Quân uỷ Trung ương đã được ra mắt. Trong cuốn sách này, tư tưởng cốt lõi được Tổng Bí thư nhấn mạnh, đó là bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hoà bình.

Cuốn sách tập hợp 39 bài nói, bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đề cập về những vấn đề lớn, cơ bản về quốc phòng, đặc biệt là tiếp tục khẳng định vấn đề cốt tử, có tính nguyên tắc, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự nghiệp quốc phòng trong mọi tình huống.

Với sự am hiểu, trách nhiệm đối với nền quốc phòng Việt Nam, Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương qua cuốn sách đã thể hiện việc tiếp cận đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng qua việc tìm câu trả lời cho các câu hỏi về tính chất chiến tranh trong tương lai, xu thế phát triển của khoa học - kỹ thuật; Mặt trận nào, lĩnh vực nào sẽ là trọng tâm. Một trong những điểm được coi là đột phá trong tư duy của Người đứng đầu của Đảng đối với vấn đề quốc phòng chính là tư tưởng "bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hoà bình".

Khái quát những vấn đề lý luận dựa trên thực tiễn phát triển của nền quốc phòng Việt Nam, cuốn sách định hướng rất rõ về xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.

Trong thời gian tới, những nội dung lý luận trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương sẽ tiếp tục được quán triệt trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, làm nền tảng cho việc triển khai thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quân sự quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới./.

 KHÔNG MƠ HỒ, LẪN LỘN GIỮA TƯ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ VỚI NGÔN LUẬN TỰ DO, BÁO CHÍ TỰ DO (P1)

Một trong những luận điệu thiếu thiện chí của một số tổ chức, cá nhân đối với Việt Nam là xuyên tạc ở đất nước Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, lập luận của họ đa phần có sự đánh tráo khái niệm giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do.
 Ý nghĩa chân chính của tự do ngôn luận, tự do báo chí
Vốn dĩ tự do là quyền cơ bản của con người, nhưng cùng với đó là nhận thức và hành xử phù hợp với cộng đồng, quốc gia, dân tộc, để tôn trọng quyền tự do của người khác và tuân thủ pháp luật. Điều 29 trong “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.
Tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai khái niệm trong cùng lĩnh vực, chỉ khác nhau về cấp độ. Báo chí là diễn đàn trong một xã hội phát triển, để mọi công dân, mọi tầng lớp, mọi độ tuổi, giới tính, ngành nghề khác nhau được quyền phát ngôn, bày tỏ tư tưởng, ý kiến, thể hiện hành động và báo chí trở thành nơi mà tự do ngôn luận thể hiện tập trung, mạnh mẽ và được lan tỏa nhiều nhất.
Cũng chính vì thế, tự do báo chí trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi nơi, mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị-xã hội. Dù ở nền báo chí tư bản hay báo chí xã hội chủ nghĩa, thì báo chí đều có những chức năng chung như: Thông tin, phản ánh, hình thành và định hướng dư luận xã hội, giáo dục, giải trí...
Những chức năng cơ bản này tạo ra cho báo chí một trách nhiệm xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội, hướng tới những giá trị hạnh phúc phổ quát của con người. Vì vậy, khi thực hiện quyền tự do báo chí cũng phải gắn với các chức năng đó, không đi ngược lại các giá trị chân lý, đạo đức, văn hóa, không chống lại an ninh chung của cộng đồng, không trái với xu thế tiến bộ của nhân loại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời giải thích rất rành mạch về tự do ngôn luận, tự do báo chí như sau: “Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí chân chính phải đặt trên nền tảng một xã hội dân chủ, tốt đẹp, nhân văn, mọi hoạt động báo chí đều phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân.
Không có tự do báo chí thuần túy, tuyệt đối, đứng bên ngoài xã hội, cộng đồng, thể chế chính trị và bị bóp nghẹt trong chế độ độc tài, khi nhà cầm quyền đã trở thành vật cản bước tiến xã hội. Không có quyền nào vượt lên ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển xã hội do chế độ kinh tế đó quy định. Chỉ có tự do báo chí trong xã hội dân chủ, khi giai cấp cầm quyền có vai trò tiến bộ dẫn dắt xã hội.
Trong thực tiễn, hầu hết mọi thể chế chính trị khác nhau đều coi việc chống lại nhà cầm quyền là vi phạm pháp luật và không có nơi nào có văn bản coi tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối. Khi là Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng nói: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.

 TẾT ĐỘC LẬP TRONG TÔI.

Dù không trực tiếp có mặt trong những thời khắc lịch sử năm 1945 nhưng những thế hệ đi sau chúng tôi vẫn không nén được cảm xúc, bồi hồi mỗi khi cả nước tưng bừng kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9.    

Khi còn nhỏ, tôi được dạy rằng, Quốc khánh 2/9 là ngày sinh của đất nước, cả dân tộc ta giành được độc lập tự do, là ngày Tết Độc lập. Khi ấy, đối với lũ trẻ, chỉ hiểu ngày này là một ngày lễ lớn, được nghỉ học, nghỉ làm, cả phố xóm treo cờ, hân hoan chào mừng. Lớn hơn một chút, tôi hiểu được, để có được Ngày Độc lập ấy, thế hệ cha ông đã phải đánh đổi bằng máu xương, mồ hôi và trí lực... Vì giá trị thiêng liêng đó, ngày lịch sử trọng đại này được người dân chờ đón, như một nét văn hóa của cuộc sống hiện đại.

Ký ức của tôi nối dài cho đến hiện tại không hề thay đổi. Những ngày này, phụ bố treo cờ Tổ quốc, nghe thấy tiếng bác tổ trưởng tổ dân phố hào hứng đi nhắc nhở từng nhà, nhìn thấy mái nhà ai cũng tung bay cờ đỏ sao vàng, từ hẻm nhỏ đến phố lớn ngập trong sắc cờ, hoa, biểu ngữ…, đúng là không khí “vui như Tết”.

Tết Độc lập trong tôi, và hẳn là trong lòng mọi người khác nữa, ngoài không khí nô nức đi xem lễ thượng cờ, xem diễu binh ở quảng trường Ba Đình, còn là bữa cơm sum họp gia đình. Vào ngày vui của đất nước, đại gia đình tôi có truyền thống họp mặt đầy đủ, những người đi làm xa, những người bận rộn hay vắng mặt đều quây quần bên mâm cơm. Người lớn sẽ nói chuyện về những tháng ngày xưa cũ, kể cho nhau nghe về những câu chuyện họ được nghe hoặc những kỷ niệm chính họ trải qua về cuộc chiến giành độc lập dân tộc, về ký ức những ngày đất nước mới thống nhất… Có lẽ vì đó là câu chuyện chân thực của bố mẹ, của các bác, của cậu, dì nên chạm đến trái tim tôi, khơi dậy nhiều cảm xúc.

Quả thực, sự kiện Ngày Độc lập vẫn luôn sống động, gần gũi khi trở thành nét văn hóa thường niên, nhắc nhở thế hệ sau về đạo lý uống nước nhớ nguồn, có trách nhiệm đối với lịch sử dân tộc.

Lớn lên, được nghe nhiều, hiểu nhiều, đi nhiều mới thấm thía những giá trị của “độc lập”, tôi càng xúc động, tự hào về Ngày Quốc khánh, rung cảm sâu lắng trước khung cảnh phố phường bừng sáng bởi cờ đỏ sao vàng. Xúc động, tự hào vì đất nước qua bao gian khó vẫn quật cường vươn lên, kinh tế phát triển, đời sống mọi người ấm no, hạnh phúc hơn.

Hiểu được giá trị của cuộc sống thì mới càng biết cách gìn giữ. Và, bằng nhiều cách khác nhau, mỗi người trẻ chúng tôi đang thể hiện tình yêu đất nước theo những cách riêng, từ các công việc đơn giản, thiết thực nhất.

Trước đây, dưới những mái trường, thầy và trò thực hiện nghi thức chào cờ vào mỗi sáng thứ 2 đầu tuần và nghi thức ấy vẫn được duy trì đến bây giờ. Tôi không quên được cảm xúc của mình khi hát theo bản quốc ca trầm hùng vang dội và nhìn lá cờ Tổ quốc tung bay. Tôi tin là mỗi thanh niên đứng dưới cờ đều có chung cảm xúc như tôi, đó là niềm tự hào dân tộc.

Sau này đi làm trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, nghề nghiệp cho tôi cơ hội may mắn được gặp gỡ các nhân vật lịch sử, các cựu chiến binh, những con người đã trải qua thăng trầm của đất nước. Tôi được nghe, được nhìn, được lắng lại để chiêm nghiệm về giá trị thiêng liêng của từ “độc lập”.

Tôi tin rằng, tại nhiều nơi khác nhau, những người Việt trẻ giống như tôi, cho dù không có những trải nghiệm tự thân trong quá khứ để cảm nhận được hết cảm xúc lớn lao của Ngày Độc lập, nhưng luôn học cách gìn giữ, phát huy những giá trị đó. Bắt đầu từ việc nỗ lực hoàn thành những nhiệm vụ, công việc thường nhật, đến việc đóng góp phát triển kinh tế, góp sức xây dựng một cộng đồng xã hội bền vững hơn… Bằng bản lĩnh, trí tuệ của tuổi trẻ, kết nối để tạo nên một thế hệ tốt đẹp, lành mạnh và lan tỏa tinh thần dân tộc đến cả những thế hệ sau này. Mỗi người có một cách yêu nước khác nhau nhưng tình cảm cho dân tộc, cho Tổ quốc chỉ là một, tình cảm đó luôn hiện hữu trong mỗi con người Việt Nam.

Nhìn lớp lớp cờ đỏ sao vàng tung bay trên các con phố, tôi bất giác gợi lên những câu ca mộc mạc, sâu lắng trong bài hát “Lá cờ” của nhạc sĩ trẻ Tạ Quang Thắng: “Một thời chiến đấu, cha tôi anh hùng. Một thời gian khó, mẹ tôi đảm đang. Vẫn giữ nụ cười và tiếng hát át tiếng bom. Để rồi nay bước trên con đường đời, dù bao gian khó, chông gai đời tôi, đứng dưới bóng cờ, là con tim ngân lên tiếng ca: Đoàn quân Việt Nam đi…”./. 


Cục diện thế giới nhìn từ cuộc xung đột Nga - Ukraine

 

Cuộc xung đột Nga - Ukraine, từ khi khởi đầu đến nay vẫn tiếp tục diễn biến khó lường, đã và đang tác động sâu sắc tới cục diện thế giới. Nhiều dự báo khác nhau về kết cục của cuộc xung đột và cục diện thế giới trong tương lai được đưa ra, song vẫn là những câu hỏi chưa có lời kết. Trong một thế giới đầy biến động đó, việc các nước vừa và nhỏ chủ động, linh hoạt hơn trong phát huy vai trò nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Nhìn từ góc độ quan hệ quốc tế, cuộc khủng hoảng Nga - Ukraine hiện nay có lẽ là một biểu hiện cụ thể, khó tránh khỏi trong tiến trình cạnh tranh chiến lược ngày càng gia tăng giữa các nước lớn ở khu vực châu Âu - Đại Tây Dương. Bản chất của cuộc xung đột là mâu thuẫn giữa việc Nga muốn khôi phục địa vị “siêu cường” thế giới, trước hết tại khu vực châu Âu, với nhu cầu bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine và tham vọng của Mỹ/đồng minh muốn duy trì một trật tự do Mỹ/Liên minh châu Âu (EU)/Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã thiết lập tại khu vực. Nằm trên lục địa Âu - Á, với vị trí hết sức quan trọng là “vùng đệm tự nhiên” giữa Đông và Tây, như cựu Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Zbigniew Brezinsky từng nhấn mạnh, ai kiểm soát được Ukraine sẽ kiểm soát được lục địa Âu - Á, Ukraine trở thành chiến trường giữa một bên là Nga cùng một số nước không hẳn là đồng minh, với một bên là Mỹ và đồng minh trong một cuộc “chiến tranh ủy nhiệm”. Ý chí và quyết tâm của cả hai bên khiến “chiến dịch quân sự đặc biệt” của Nga tại Ukraine trở thành một cuộc chiến tranh truyền thống tàn khốc mà đến nay chưa tìm được lối thoát.

Điều này cũng đúng với mối quan hệ giữa một bên là Trung Quốc và bên kia là Mỹ cùng đồng minh, trong đó Trung Quốc quyết tâm thiết lập một trật tự thế giới mới, trước hết là ở khu vực châu Á, trên con đường tiến tới trở thành “siêu cường” toàn cầu. Đây là những mâu thuẫn đối kháng, không có nhượng bộ, vì vậy xung đột xảy ra như một hệ quả tất yếu, diễn ra ở những khu vực gắn với lợi ích địa - chiến lược thiết thân nhất của cả Nga và Trung Quốc, mà trước hết là những khu vực cận biên của hai nước.

Hiện vẫn khó có thể dự đoán sát kết quả của cuộc xung đột Nga - Ukraine, tuy nhiên có thể thấy, Nga dường như đang “đơn độc”. Mặc dù số đông áp đảo chưa chắc đã là bên chiến thắng như đã từng thấy trong lịch sử hào hùng bảo vệ nền độc lập của nước Nga, song tính chính danh trong mỗi thời kỳ một khác. Chưa thể dự đoán được điều gì, nhưng nếu cuộc xung đột càng kéo dài, nhiều dự đoán cho rằng, Nga có thể gặp khó khăn, trở ngại hơn trên nhiều mặt.

Cục diện thế giới từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến nay có thể chia làm hai giai đoạn: 1) Giai đoạn “đơn cực”, với Mỹ là “siêu cường” duy nhất, đơn phương áp đặt chiến lược trên toàn cầu ngay sau sự kiện ngày 11/9/2001; 2) Giai đoạn “hỗn độn”, với sự phục hồi của Nga và sự “trỗi dậy” của Trung Quốc, có thể lấy mốc từ năm 2014 khi Nga sáp nhập bán đảo Crime và Trung Quốc mở rộng sự hiện diện quân sự tại Biển Đông. Bên cạnh đó là sự suy giảm vai trò của các thể chế và luật pháp quốc tế trước những hành vi vụ lợi của các nước lớn. Chính vì vậy, giới nghiên cứu bắt đầu bàn về một trật tự thế giới mới với các cụm từ, như “vô cực” (hỗn loạn, vô tổ chức), “đa cực, đa trung tâm” (sự nổi lên của Nga và Trung Quốc, có xu hướng ngày càng liên kết chặt chẽ với nhau, thách thức vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ), “lưỡng cực” (Mỹ và Trung Quốc được đặt ở vị thế ngang bằng). Cũng có lập luận cho rằng không còn khái niệm “cực” trong một thế giới mà lợi ích các nước đã tùy thuộc nhau sâu sắc…

Cũng có quan điểm cho rằng, thế giới đang diễn ra tiến trình “thế giới phân ba” với sự dẫn dắt của Mỹ, Trung Quốc và Nga. Trong cục diện này, Trung Quốc và Mỹ “chia đôi” châu Á - Thái Bình Dương, gắn với lập trường “châu Á là của người châu Á” của Trung Quốc; còn Ngagiành ảnh hưởng chi phối tại châu Âu. Cả Mỹ, Trung Quốc và Nga đều muốn trở thành siêu cường lớn nhất, chi phối toàn cầu. Tuy nhiên trong tiến trình này, về tổng thể, Mỹ vẫn được xem là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất, nhưng vị thế trên trường quốc tế tiếp tục đà suy giảm và vị thế số một thế giới về kinh tế của Mỹ có khả năng bị soán ngôi vào năm 2030. Trung Quốc là cường quốc có tiềm năng, thực lực mạnh nhất để cạnh tranh với Mỹ, trở thành “một cực” quan trọng nhất trong thập niên tới nhờ sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng nhanh và ngày càng khẳng định vị thế quan trọng trong tham gia giải quyết nhiều vấn đề quốc tế. Nga tiếp tục có những bước chuyển quan trọng, từng bước khẳng định lại vai trò nước lớn trong các vấn đề quốc tế, tuy nhiên dường như ngày càng khó khăn trong củng cố nền tảng sức mạnh quốc gia, đặc biệt kể từ sau khi Nga tiến hành “chiến dịch quân sự đặc biệt” ở Ukraine, cùng với việc kinh tế và quan hệ đối ngoại gặp nhiều khó khăn do các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây.

Tương lai của cục diện thế giới, trật tự quan hệ quốc tế trên toàn cầu có thể được định hình trong vài thập niên tới. Tiến trình này có nhiều đặc điểm, thể hiện qua một số nét chính sau:

Thứ nhất, diễn ra trên phạm vi toàn cầu, ở mọi khu vực, song “trận địa” chính nằm ở khu vực châu Âu - Đại Tây Dương và châu Á - Thái Bình Dương, với trọng điểm là các khu vực cận biên của Nga và Trung Quốc. Đối với Nga, kết quả của cuộc xung đột Nga - Ukraine có lẽ là nhân tố quyết định đến chiến lược của Nga. Trong khi đó, đối với Trung Quốc, kết quả của tiến trình giải quyết vấn đề eo biển Đài Loan (Trung Quốc) và vấn đề Biển Đông là những nhân tố chính yếu góp phần quyết định triển khai sức mạnh của Trung Quốc.

Thứ hai, ba chủ thể chính trong tiến trình định hình cục diện thế giới, trật tự quan hệ quốc tế trên toàn cầu thời gian tới, bao gồm: 1) Quốc gia; 2) Liên quốc gia; 3) Phi quốc gia. Trong đó, chủ thể quốc gia đóng vai trò quyết định, tập trung vào các nước lớn. Ở phạm vi toàn cầu, có thể thấy: 1) Ba chủ thể quốc gia lớn nhất là Mỹ, Trung Quốc và Nga; các chủ thể quốc gia tầm trung, bao gồm: Anh, Pháp, Đức (châu Âu) hay Nhật Bản, Ấn Độ, Australia (châu Á); 2) Chủ thể liên quốc gia, bao gồm: Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực, như EU, NATO, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) hay Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)…; 3) Chủ thể phi quốc gia là những tổ chức, tập hợp có tính văn hóa, dân tộc, kinh tế - xã hội, được thừa nhận hoặc không thừa nhận bởi quốc tế hoặc quốc gia, nhưng có ảnh hưởng đáng kể đến trật tự quan hệ quốc tế ở cả tầm toàn cầu, khu vực hay quốc gia.

Thứ ba, đây là một tiến trình lâu dài, toàn diện trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế và an ninh, thể hiện trong chính sách, chiến lược của mọi chủ thể. Tuy nhiên, lựa chọn lĩnh vực nào làm phương tiện, biện pháp chính lại tùy thuộc vào chính sách và thế mạnh của từng chủ thể cũng như tình hình cụ thể của chủ thể được áp dụng. Mỹ có xu hướng nhấn mạnh những “mối đe dọa an ninh” để tập hợp lực lượng và tận dụng ưu thế sức mạnh quân sự trong điều tiết các mối quan hệ quốc tế, trong khi Trung Quốc nhấn mạnh phát triển kinh tế - xã hội để tập hợp lực lượng và sử dụng ưu thế kinh tế để điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế.

Trong cuộc chiến “thế giới phân ba” này, Nga được cho là có nhiều điểm hạn chế hơn điểm mạnh: Bị bao vây, cấm vận toàn diện; hầu như không có đồng minh thực sự; tính chính danh của việc triển khai “chiến dịch quân sự đặc biệt” tại Ukraine chưa thực sự thuyết phục được cộng đồng quốc tế; sự bền vững của cơ sở sức mạnh tổng hợp quốc gia vẫn là một câu hỏi... Trung Quốc hiện nắm giữ một số điểm mạnh nền tảng, như sức mạnh của nền kinh tế, khoa học - công nghệ, tinh thần dân tộc mạnh mẽ, tuy nhiên, Trung Quốc cũng có điểm hạn chế là không có đồng minh thực chất, bền vững và tính chính danh trong việc áp đặt các chiến lược đối ngoại trong khu vực và trên thế giới. Mỹ tiếp tục là nhân tố hùng mạnh nhất, tuy nhiên, khoảng cách so với Trung Quốc ngày càng bị thu hẹp; sức hút về mô hình phát triển vốn tạo nên hệ “giá trị Mỹ” đứng trước sự hoài nghi ngày càng tăng; phạm vi lợi ích trải rộng dẫn đến sự phân tán sức mạnh, nhất là hiện nay Mỹ gần như đã xa rời tư duy chiến lược truyền thống “chiến đấu và chiến thắng cùng một lúc ở hai mặt trận lớn”. Thế nhưng, Mỹ lại có mạng lưới liên minh, đồng minh, đối tác đông đảo nhất, đặc biệt trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh, là điều mà cả Nga và Trung Quốc đều thiếu vắng.

Theo một số chuyên gia nghiên cứu quốc tế, Trung Quốc đang là bên hưởng lợi nhiều nhất trong cuộc xung đột địa - chiến lược kéo dài này, bởi ngoài những mối lợi cụ thể như thương vụ mua số lượng lớn dầu mỏ và vũ khí tối tân với giá rẻ từ Nga, Trung Quốc dường như đang gặp nhiều thuận lợi trên con đường “chinh phục” châu Á - Thái Bình Dương. Điều này có cơ sở nếu nhìn trong lịch sử, Trung Quốc thường mở rộng thành công ảnh hưởng tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương mỗi khi Mỹ và Liên Xô (trước đây)/Nga vướng bận vào cuộc cạnh tranh địa - chiến lược. Tuy nhiên, trong khi đặt ưu tiên cao vào Nga và châu Âu, dường như Mỹ cũng đặt giới hạn cho sự can dự của mình, không để xao nhãng mục tiêu chính là Trung Quốc và châu Á - Thái Bình Dương. Hơn nữa, cũng khó có thể chắc chắn sức mạnh tổng hợp quốc gia của Mỹ sẽ suy yếu, khi cuộc khủng hoảng chính trị Nga - Ukraine hiện nay đã và đang mang lại cho Mỹ không ít lợi thế mà trong điều kiện bình thường Mỹ khó có thể đạt được, đó là châu Âu lệ thuộc nhiều hơn vào Mỹ và NATO đang mở rộng nhanh chóng, giúp vai trò lãnh đạo của Mỹ trên bình diện toàn cầu được tăng cường.

Cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc - Nga cũng thúc đẩy hình thành những xu hướng tập hợp lực lượng mới tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Bên cạnh việc NATO đang được mở rộng, một số nước châu Âu từ bỏ đường lối trung tập truyền thống có lịch sử hàng trăm năm để gia nhập NATO nhằm đối phó với “mối đe dọa từ Nga”; xu hướng tập hợp lực lượng mới tại châu Á - Thái Bình Dương cũng dần rõ hơn với sự củng cố, mở rộng và nâng cấp cấu trúc “trục và nan hoa” của Mỹ cùng sự hình thành của Nhóm “Bộ tứ”, nâng cấp các “nan hoa” Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc), Australia, Hàn Quốc… và sự liên kết các “nan hoa” với nhau trong những vòng cung kiềm chế Trung Quốc. Mỹ vẫn chiếm thế thượng phong trong các tập hợp lực lượng mang tính quốc phòng - an ninh, còn Trung Quốc có thế mạnh trong các tập hợp về kinh tế - xã hội, trong khi Nga chưa thực sự có được thế mạnh nào. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng một liên minh thực sự sẽ được hình thành giữa Nga và Trung Quốc nếu Mỹ tiếp tục duy trì cùng lúc hai mặt trận đối đầu như hiện nay. Và tiến trình này, nếu tiếp tục gia tăng cũng kéo theo sự củng cố vững chắc một liên minh do Mỹ dẫn đầu, hạt nhân là Nhóm “Bộ tứ” tại châu Á - Thái Bình Dương.

Tùy thuộc vào kịch bản nào sẽ kết thúc đối với cuộc xung đột Nga - Ukraine và tiền lệ nào đặt ra đối với Trung Quốc tại khu vực châu Á mà cục diện toàn cầu có thể được định hình trong tương lai. Tuy nhiên, có lẽ vấn đề Ukraine đang đi đến chặng cuối và cục diện thế giới lâu dài sẽ phụ thuộc chủ yếu vào cuộc cạnh tranh chiến lược giữa hai chủ thể Mỹ và Trung Quốc tại châu Á - Thái Bình Dương. Theo giới chuyên gia, kết quả của cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc sẽ là nhân tố quyết định trật tự quan hệ quốc tế mới hơn là cạnh tranh chiến lược Mỹ - Nga. Các cuộc tiếp xúc kín đáo giữa Mỹ và Nga nhiều khả năng sẽ dày đặc và sâu sắc hơn để hai bên có thể tìm kiếm một giải pháp chính trị trung dung, có thể chấp nhận được.

Với những diễn biến hiện nay, Mỹ và đồng minh đang phải tập trung cao độ cho cuộc xung đột Nga - Ukraine, vì vậy dù muốn hay không, châu Á - Thái Bình Dương cũng sẽ bị xao nhãng và đây chính là cơ hội để Trung Quốc củng cố, phát triển một môi trường đối ngoại tích cực; từ đó áp đặt ở mức độ nhất định chiến lược của Trung Quốc tại Đông Á - Thái Bình Dương. Giới quan sát cho rằng, khả năng Trung Quốc thành công không phải là nhỏ nếu cục diện khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục diễn biến như hiện nay, trong đó “vai trò trung tâm” của ASEAN cũng gặp nhiều thách thức trước sự co kéo của các nước lớn.

Điểm hạn chế nhất tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương hiện nay là sự thiếu vắng những thể chế có tính ràng buộc giúp bảo đảm an ninh thông qua việc ngăn chặn, xử lý khủng hoảng khi xảy ra. Việc NATO thúc đẩy sự hiện diện tại Nhật Bản mới đây là dấu hiệu đáng chú ý, tác động hai chiều thuận - nghịch tới cục diện khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Điều này khiến “vai trò trung tâm” của ASEAN đứng trước nhiều thách thức, đồng thời đặt ra những câu hỏi lớn về cách hành xử, lựa chọn chính sách của ASEAN nói chung, các nước thành viên ASEAN nói riêng.

Là trọng điểm tranh chấp chiến lược nước lớn, Đông Nam Á tập trung hai “siêu cường” Mỹ, Trung Quốc và nhiều “cường quốc” khu vực, như Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, Hàn Quốc… Nga tham gia “cuộc chơi” với vai trò đồng minh trên thực tế của Trung Quốc. Sự cạnh tranh chiến lược tại Đông Nam Á có thể giúp phân định vai trò của Mỹ và Trung Quốc trong thời gian tới và sau đó, kéo theo hình thái cục diện thế giới mới. Tại Đông Nam Á, có hai điểm tranh chấp chiến lược lớn là Biển Đông và Tiểu vùng sông Mekong. Trong khi cả Mỹ và Trung Quốc đều coi cạnh tranh chiến lược tại Biển Đông là nhân tố quyết định, thì Trung Quốc tìm cách gia tăng sức ảnh hưởng tại Tiểu vùng sông Mekong, coi đây là điểm mấu chốt để mở rộng ảnh hưởng đến toàn bộ Đông Nam Á. Tính toán này được cho là không phải không hợp lý, nếu suy xét rộng hơn nguyên tắc “đất thống trị biển” trong luật biển quốc tế. Trung Quốc dường như đang thành công trong tính toán này trước sự “thờ ơ” của Mỹ, trong khi ASEAN dường như chưa đủ sự thống nhất và vai trò của các cường quốc khác tại khu vực ở Tiểu vùng sông Mekong vẫn còn nhỏ lẻ, tách biệt.

Đây chính là không gian chiến lược quan trọng nhất đối với toàn bộ ASEAN. Trong một vài thập niên gần đây, không gian này thực chất đang bị thu hẹp khá nhanh chóng. ASEAN đang đứng trước thách thức rất lớn kể từ khi ra đời đến nay, đòi hỏi cần có tư duy và hành động mang tính đột phá. Bên cạnh đó, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược nước lớn, nhất là Mỹ - Trung Quốc, còn chưa ngã ngũ, với việc cả hai bên tăng cường thúc đẩy, thu hút tập hợp lực lượng, ASEAN cũng có cơ hội lớn để có thể chủ động củng cố, phát huy vai trò “trung gian”, đóng vai trò “trung tâm” thực sự trong tiến trình định hình cục diện khu vực, toàn cầu, trước hết là tại châu Á - Thái Bình Dương. Đây cũng là điều mà ASEAN đã từng thành công trong những thời điểm khó khăn. ASEAN với “phương cách” riêng có, đang là một tổ chức khu vực được đánh giá thành công nhất, một “điểm sáng” trong tổng thể bức tranh khu vực và thế giới còn nhiều hỗn độn, phức tạp./.

                                                                                        ST

Tôn trọng và đảm bảo quyền văn hóa của các dân tộc thiểu số


Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao đời sống văn hóa cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa và vùng biên giới.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 53 dân tộc thiểu số. Mỗi dân tộc thiểu số mang trong mình những giá trị văn hóa độc đáo, từ ngôn ngữ, chữ viết, lễ hội, kiến trúc, trang phục cho đến các tập tục, phong tục, và cách sống. Những yếu tố này tạo nên sự phong phú và đa dạng trong bức tranh văn hóa chung của đất nước đồng thời cung cấp tính độc đáo, giá trị đặc trưng cho văn hóa quốc gia. Vì vậy, phát triển văn hóa vùng dân tộc thiểu số có ý nghĩa quan trọng đối với văn hóa chung của đất nước.

Đảm bảo quyền văn hóa của các dân tộc thiểu số giúp xây dựng một xã hội đa văn hóa và tôn trọng sự đa dạng; đồng thời tạo điều kiện cho giao lưu, hòa nhập, và hiểu biết giữa các dân tộc trong đất nước, góp phần thúc đẩy đại đoàn kết toàn dân tộc.

Những năm qua, Nhà nước đã đầu tư xây dựng và nâng cấp các thiết chế văn hóa, tổ chức các sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhằm tạo điều kiện cho người dân tham gia vào các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và giải trí, gìn giữ các giá trị văn hóa của dân tộc mình, tạo cơ hội kinh doanh và quảng bá du lịch cho các vùng dân tộc thiểu số.

Đến nay, đã có hơn 80 lễ hội truyền thống tiêu biểu của các dân tộc: Ê-đê, Mường, Thái, Tày, Vân Kiều, Cơ Tu, Mông, Nùng, Dao, Ba Na, Chứt, Khmer, X’tiêng, Khơ Mú, Lào, Giáy, Lô Lô, Co, Mạ, Bố Y, Pà Thẻn, Ơ Đu, Rơ Măm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phục dựng, bảo tồn và phát triển đúng mục đích, phù hợp với từng dân tộc.

Hơn 30 làng, bản, buôn truyền thống của 25 dân tộc thuộc các tỉnh đại diện cho vùng, miền trên cả nước được hỗ trợ đầu tư bảo tồn gắn với phát triển du lịch.

Xây dựng 14 mô hình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu của đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm khai thác tiềm năng từ văn hóa truyền thống tiêu biểu của dân tộc, từ đó nhân rộng, phát triển để xây dựng các làng văn hóa du lịch, điểm văn hóa du lịch, tạo đà chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh tốc độ giảm nghèo cho địa bàn vùng dân tộc thiểu số.

Hiện nay, có một số mô hình tiêu biểu gắn văn hóa với phát triển du lịch như: Bảo tồn và phát triển nghề dệt truyền thống của dân tộc Lự ở xã Bản Hon, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu; mô hình bảo tồn và phát huy các làn điệu dân ca, dân vũ của dân tộc Pà Thẻn, Phù Lá, La Ha, Si La gắn với phát triển du lịch tại các tỉnh: Điện Biên, Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang; mô hình câu lạc bộ hát Soọng Cô của dân tộc Sán Dìu gắn với công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong xây dựng nông thôn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc…

Tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức nhiều sự kiện văn hóa với nội dung phong phú, đặc sắc của 54 dân tộc thuộc 63 tỉnh, thành phố, trong đó có 22 lễ hội là điểm nhấn góp phần tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời quảng bá hình ảnh Làng với nhân dân trong nước và quốc tế.

Những kết quả nổi bật này đã góp phần quan trọng nâng cao đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa và vùng biên giới, tạo ra một môi trường thuận lợi cho bảo tồn và phát triển văn hóa đặc trưng của từng dân tộc, đồng thời thúc đẩy sự đa dạng văn hóa và tạo sự đoàn kết trong xã hội.

Nhằm tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, trong đó có phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng, một trong những dấu ấn quan trọng nhất là Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 88/QH14 phê duyệt Đề án tổng thể và Nghị quyết số 120/QH14 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030.

Trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I từ 2021 -2025.

Trong Chương trình có Dự án 6: Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch, nhằm phát huy vai trò của văn hóa các dân tộc thiểu số đóng góp chung vào sự phát triển bền vững đất nước.

Các văn bản này thể hiện sự tôn trọng, đảm bảo và thúc đẩy các quyền về văn hóa cho đồng bào dân tộc thiểu số được ghi nhận trong các Công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc mà Việt Nam là thành viên.

                                                                     Thu Trang