Thứ Năm, 7 tháng 9, 2023

Chiêu thức chống phá mới của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa

 Những năm qua, bằng nhiều thủ đoạn, vừa công khai, trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, nền văn hóa mới của dân tộc nhưng không mang lại kết quả, các thế lực thù địch đang có sự điều chỉnh thủ đoạn chống phá hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.

Chúng cho rằng, vấn đề trước tiên, cốt yếu nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Đồng thời, xây dựng hệ thống lý luận khác, có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một xã hội mới, theo mong ước của chúng.

Như vậy, mục tiêu tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch không hề thay đổi. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, chúng đã và đang sử dụng những chiêu thức mới, tiếp cận theo hướng quan hệ “mềm dẻo”, thân thiện hơn, hợp tác toàn diện, thâm nhập sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó tác động, phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Trước hết, cần nhận rõ chiêu thức mới của các thế lực thù địch là, chủ động thâm nhập, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua con đường quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế, đối ngoại, giáo dục và đào tạo. Đây là những lĩnh vực được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, mở rộng trong quá trình hội nhập quốc tế.

Trên lĩnh vực kinh tế, chúng âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư để làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng XHCN, thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hội dân sự” kiểu phương Tây.

Đây chính là môi trường, điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện, công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đặc biệt, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những tồn tại, vướng mắc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo, thành tựu phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội; cổ súy, tung hô việc phát triển nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, làm mất phương hướng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, gây bất ổn về tư tưởng, xuất hiện tình thế mới về chính trị.

Lợi dụng tình thế đó, chúng sẽ kích động đòi “dân chủ kinh tế”, yêu cầu Đảng, Nhà nước phát triển kinh tế thị trường theo kiểu phương Tây.

Đồng thời, kêu gọi “dân chủ hóa chính quyền”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, tạo áp lực về chính trị - xã hội, thậm chí gây bạo loạn, lật đổ, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Chúng thực hiện chính sách “thân thiện giả hiệu”, thâm nhập sâu vào hoạt động của nền kinh tế, tạo điều kiện, cơ hội tiếp cận rộng rãi với các đối tượng, tầng lớp nhân dân để xây dựng lực lượng, kích động, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Cùng với âm mưu, thủ đoạn thâm nhập vào lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch đẩy mạnh “tiến công” trên lĩnh vực đối ngoại.

Chúng chủ trương, một mặt, thông qua hoạt động ngoại giao chính thức, “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực nhằm quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, thân phương Tây, tạo lực lượng nòng cốt cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trên, bên trong.

Mặt khác, chúng đa dạng các kênh quan hệ để tìm kiếm cơ hội, tiếp cận sâu hơn, dùng vật chất, tiền bạc mua chuộc, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

Trong đó, vấn đề hợp tác, giao lưu về giáo dục và đào tạo, nhất là việc đi học tập, đào tạo tại các nước tư bản của thế hệ trẻ được chúng hết sức quan tâm, bởi đây là “con đường” ngắn nhất, thuận lợi nhất để xâm nhập, tác động, chuyển hóa tư tưởng ở Việt Nam hiện nay.

Thông qua việc học tập ở nước ngoài, chúng truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị,... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ XHCN ở nước ta.

Một trong những chiêu thức vô cùng nguy hiểm mà các thế lực thù địch sử dụng hòng làm chuyển hóa, tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là, thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” theo mô thức phương Tây.

Chúng núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, hình thành “kênh phản biện” để cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đồng thời, lợi dụng các diễn đàn tư tưởng, thông qua hoạt động hợp tác, nghiên cứu khoa học,... để tuyên truyền về “xã hội dân sự”, đề cao dân chủ tư sản, nhằm chuyển hóa lập trường, tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Trên cơ sở đề cao “xã hội dân sự”, các thế lực thù địch âm mưu phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN, về đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới; làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, xây dựng xã hội “dân chủ”, “tự do” theo kiểu phương Tây.

Để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền tác động hướng lái truyền thông. Đây là những vấn đề rất “nhạy cảm”, luôn được chúng triệt để lợi dụng để xuyên tạc, vu cáo, chống phá ta. Một số nước phương Tây còn áp đặt “dân chủ và bảo vệ nhân quyền” là yếu tố không thể thiếu trong chính sách ngoại giao và quan hệ quốc tế.

Những năm qua, các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp, huy động tối đa các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam.

Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động gây bạo loạn, dẫn đến mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Đặc biệt, chúng luôn tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước ta.

Đồng thời, thành lập nhiều tổ chức và đưa người vào Việt Nam để theo dõi, tìm hiểu, thu thập thông tin về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tiến hành móc nối, cài cắm, truyền bá tư tưởng sai trái, vu cáo, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam.

Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu các thế lực thù địch là nhất thiết phải thực hiện “dân chủ” trong đời sống xã hội. Trước hết là thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp đó thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội.

Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội.

Quá trình “dân chủ hóa” truyền thông là đưa dân chủ vào mạng truyền thông quốc gia và đội ngũ cán bộ, phóng viên báo chí, truyền thông. Con đường xâm nhập để hướng lái truyền thông của các thế lực thù địch là tác động thông qua các hoạt động hợp tác giáo dục, hội thảo, giao lưu, “mượn” các phương tiện truyền thông của Nhà nước, các địa phương, cơ quan, đơn vị để tuyên truyền cho chúng.

Lợi dụng sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), các thế lực thù địch sẵn sàng mạnh tay đầu tư tài chính cho quảng cáo, đầu tư, tài trợ các chương trình nhằm tác động, dẫn dắt giới truyền thông hoạt động theo ý đồ của chúng, đưa truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Mặt khác, chúng còn lợi dụng các trang mạng xã hội, Facebook, blogger và một số báo, đài phương Tây, hệ thống phương tiện truyền thông của lực lượng phản động người Việt lưu vong,… để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, kêu gọi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông, gây nhiễu loạn tư tưởng, mất phương hướng trong đời sống xã hội.

Ngoài ra, các thế lực thù địch còn tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối, xây dựng nhân tố bên trong để tác động tư tưởng, phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện xâm lăng văn hóa để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta...

Đây là những con đường mà các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng nhiều biện pháp tiến hành thường xuyên hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần không ngừng nâng cao cảnh giác để giữ vững môi trường hòa bình phát triển đất nước, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được xây dựng ngày càng vững chắc

 

Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được xây dựng ngày càng vững chắc, tiềm lực, lực lượng và thế trận quốc phòng được tăng cường, sức mạnh quốc phòng của đất nước được nâng cao, nhất là trên những địa bàn trọng điểm.

Cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý đối với sự nghiệp quốc phòng nói chung, đối với quân đội và khu vực phòng thủ nói riêng được vận dụng ngày càng có hiệu quả, từng bước hoàn thiện. Công tác quản lý nhà nước về quốc phòng được triển khai toàn diện; sự kết hợp giữa quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng trên cả nước, từng địa phương và ở một số địa bàn chiến lược chặt chẽ hơn.

Công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh được mở rộng, hệ thống giáo trình và đội ngũ giáo viên ngày càng được bổ sung, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, các cấp, các ngành và toàn xã hội đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Hội đồng giáo dục quốc phòng - an ninh các cấp và Ban chỉ huy quân sự thuộc các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức luôn được kiện toàn, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và hoạt động có nền nếp. Việc thực hiện đào tạo cán bộ chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn đã được triển khai tích cực, bước đầu có chất lượng.

Xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần được tăng cường, nhất là xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở sơ sở, xây dựng thế trận lòng dân; tăng cường dự trữ cơ sở vật chất cho quốc phòng; kết hợp kinh tế với quốc phòng có chuyển biến quan trọng. Các khu kinh tế - quốc phòng của quân đội ngày càng phát huy tác dụng tốt, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh ở địa phương, nhất là địa bàn trọng yếu.

Việc ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ vào lĩnh vực quốc phòng đã có hiệu quả thiết thực, trực tiếp là sản xuất, cải tiến vũ khí, trang bị cho quân đội, hiện đại hóa chỉ huy, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu.

Lực lượng quốc phòng được quan tâm xây dựng, sức mạnh quân sự nhà nước được tăng cường; khả năng huy động nhân tài, vật lực và động viên khi có tình huống quốc phòng và chiến tranh kịp thời hơn; sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang, nhất là quân đội được nâng lên.

Thế trận quốc phòng toàn dân ngày càng được xây dựng hoàn chỉnh, vững chắc, thế bố trí chiến lược thường xuyên được điều chỉnh hợp lý. Mặc dù đất nước, quân đội còn nhiều khó khăn nhưng Nhà nước và quân đội đã quan tâm đầu tư xây dựng các công trình quốc phòng có hiệu quả, nhất là các công trình phòng thủ biển đảo và thềm lục địa, các địa bàn chiến lược. Kết hợp thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân thường xuyên được quan tâm đúng mức.

Nhận thức về xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố có chuyển biến quan trọng, khu vực phòng thủ được xây dựng toàn diện, cả về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Chất lượng xây dựng khu vực phòng thủ có chuyển biến quan trọng, cơ chế được hoàn thiện, tiềm lực được tăng cường, thế trận được củng cố, diễn tập khu vực phòng thủ được thường xuyên đổi mới.

 HÌNH TƯỢNG TỔ QUỐC TRONG VĂN HỌC HÔM NAY

Như mạch nguồn xuyên suốt và cảm hứng sáng tạo bất tận, hình tượng Tổ quốc Việt Nam vẫn là một dòng chảy bất tận trong huyết quản các nhà văn, nhà thơ Việt Nam từ thời chiến đến thời bình hôm nay.

1. Thời kháng chiến giải phóng dân tộc, các nhà thơ đã nói rất hay về Tổ quốc, gần gũi và thiêng liêng: “Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt/ Như mẹ cha ta như vợ như chồng/ Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, dòng sông” (Chế Lan Viên). Tổ quốc hùng vĩ mà thân thương hiện hình trong dáng núi, hình sông: “Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy/ Những cuộc đời đã hóa núi sông ta” (Nguyễn Khoa Điềm). Tổ quốc bình dị, đơn sơ trong khóm lúa gốc sim: “Nếu kẻ thù chiếm được/ Một gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn/ Thì Tổ quốc sẽ ra sao Tổ quốc?” (Hữu Thỉnh)... 

2. Trong văn học hôm nay, Tổ quốc được thể hiện ra sao?

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt những trang sử vàng của Tổ quốc là phẩm chất anh hùng, tinh thần quật khởi, ý chí tự chủ, tự cường, không chịu khuất phục trước bất cứ kẻ xâm lược nào. Điều ấy đã trở thành một hằng số lịch sử để trở thành tài sản văn hóa vô giá của dân tộc. Tên tuổi các bậc tiên liệt Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung... như những ngọn núi sừng sững từ đó chảy ra những dòng mạch của lòng yêu nước, yêu hòa bình, yêu tự do, của bản lĩnh tự quyết. Họ bước vào truyền thuyết được dân gian kiến tạo, điêu khắc thêm những vẻ đẹp huyền thoại mang tính anh hùng ca. Ký hiệu học văn hóa gọi đó là những mẫu gốc, đi vào các thể loại văn chương, nhất là ở thể tài tiểu thuyết lịch sử lại tỏa thêm những ánh sáng mới.

Thế nên văn học Việt Nam, so với các nền văn học khác thường bội thu về tiểu thuyết lịch sử. Cũng là quy luật, giàu có “mẫu gốc” sẽ đẻ ra nhiều khu rừng những mẫu con”. Đầu thế kỷ 20 có các tiểu thuyết: “Thăng Long ký” (Nguyễn Khắc Phục), “Hội thề” (Nguyễn Quang Thân), “Tám triều Vua Lý” (Hoàng Quốc Hải)... Mấy năm gần đây có “Phùng Vương”, “Ngô Vương” (Phùng Văn Khai), “Trần Quốc Toản”, “Trần Khánh Dư” (Lưu Sơn Minh)...

Lịch sử còn là văn hóa, phong tục, tập quán, là những ứng xử của cha ông với xã hội, thiên nhiên... Về phương diện này, các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly, Đội gạo lên chùa...) không chỉ tái hiện một cách xuất sắc lịch sử mà còn làm sống dậy cuộc sống văn hóa thời xưa một cách sinh động. Các tiểu thuyết: “Thông reo Ngàn Hống”, “Nguyễn Du” (Nguyễn Thế Quang) phục dựng các chân dung (Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du) cũng là những mẫu hình văn hóa cho hôm nay tìm hiểu, học tập. Kết hợp cảm hứng Tổ quốc anh hùng quật khởi với ý thức tự chủ cùng cảm hứng văn hóa phong tục thì “Hùng binh” (Đặng Ngọc Hưng) thành công trong việc tái hiện một thời oanh liệt của cha ông trong việc bảo vệ quần đảo Hoàng Sa cùng lễ khao lề thế lính thiêng liêng, rất mực nhân văn.

Hình tượng Tổ quốc hôm nay thật mới mẻ trong “Biển bây giờ vẫn khát” (Trần Khánh Toàn). Không chỉ bao la, lộng lẫy, biển cũng đầy những cạm bẫy (của cả thiên nhiên và con người) mà những người lính cảnh sát biển thông minh, bản lĩnh đã vượt qua. Tổ quốc hiện lên trong “Bửu Sơn Kỳ Hương” của Lý Lan với bao dáng vẻ văn hóa đặc sắc vùng Nam Bộ cùng phong cách sống phóng khoáng, yêu thiên nhiên, yêu tự do.

Địa bàn miền núi phía Bắc Tổ quốc đã được nhiều tên tuổi văn chương đưa vào những trang văn để đời nay lại hiện lên với bao dáng vẻ mới lạ từ sự khám phá của các tài năng mới. Biên cương Tổ quốc hùng vĩ và thân thương, gần gũi và thiêng liêng trong “Đường biên cương dệt mùa xuân”, “Dặm dài Tổ quốc” (Phạm Vân Anh).

Cùng là cây bút văn xuôi nổi tiếng, Phạm Duy Nghĩa miêu tả cảnh quê hương vùng cao tinh tế, trữ tình (Người bay trong gió xanh), Đỗ Bích Thúy lại đi sâu miêu tả phong tục, khám phá tâm lý con người vùng cao chân chất, tràn đầy sức sống trong “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá”, “Bóng của cây sồi”... Miêu tả vẻ đẹp đậm tính thơ, giàu chất cổ tích của làng quê đồng bằng xứ Bắc tiêu biểu có Nguyễn Quang Thiều với “Hương khúc nếp cuối cùng”, “Chiều hoa tầm xuân”...

Nguyễn Ngọc Tư làm bừng sống dậy văn hóa miệt vườn kênh rạch với những con người vùng châu thổ Nam Bộ hồn hậu, vị tha trong “Qua cầu nhớ người”, “Cải ơi”, “Dòng nhớ”... Miền đất Tây Nguyên nhiều nắng, nhiều gió nhưng cũng đầy những trăn trở bao nỗi éo le của các cảnh đời còn nhiều thiệt thòi hiện lên xa xót trong văn xuôi Nguyên Hương (Tinh thần thượng võ, Mẹ con đậu đũa). Vùng đất miền Trung thời tiết khắc nghiệt nhưng trong văn Quế Hương lại nhẹ nhàng, da diết có chút khắc khoải của điệu Nam ai (Gặp lại ấu thơ)...

Chuyển sang cơ chế thị trường, đất nước như cơn “trở dạ” vặn mình để hoài thai những sự sống mới. Bộ tiểu thuyết dài “Cõi nhân gian” (4 tập) của Nguyễn Phúc Lộc Thành đề cập tới con người doanh nhân với cả một thế giới nhân vật đa dạng, phức tạp... Kiến tạo những mô hình của sự tiêu cực, đen tối, ma mãnh của “thế giới ngầm” nhưng vẫn toát lên một niềm tin vào thắng lợi của sự đổi mới, chỉ tiếc tác phẩm chưa vươn tới sự phân tích tâm lý một cách sắc sảo, nhân vật thiếu một logic nội tâm.

3. Cảm hứng lớn về Tổ quốc thường tìm đến trường ca dài hơi để gửi gắm tư tưởng, như một tất yếu, hình tượng biển cường tráng vạm vỡ trong sự đa nghĩa luôn xuất hiện. Trường ca “Tổ quốc nhìn từ biển” (Nguyễn Việt Chiến) được dư luận đánh giá cao nhờ một điểm nhìn mới mẻ về đất nước quật khởi, là tráng ca, hoan ca, có cả bi ca: “Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa/ Đã mười lần giặc đến từ biển Đông/ Những ngọn sóng hóa Bạch Đằng cảm tử/ Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng...”.

Cùng chủ đề, Nguyễn Hữu Quý trong “Hạ thủy những giấc mơ” lại chọn điểm nhìn làng quê Việt nhìn ra Hoàng Sa, Trường Sa. Hình tượng Tổ quốc hiện lên đa chiều, vừa là ngôi làng bé nhỏ, gần gũi vừa là biển cả mênh mông, xa vời: “Hạ thủy giấc mơ xanh/ chia tay những nàng tiên cá/ con tàu bay về miền rơm rạ/ đậu xuống ao làng”.

Diễn đạt hình tượng Tổ quốc trong những đau đáu, nung nấu, trăn trở vươn mình đứng dậy cùng thế giới, trường ca “Dạ, tôi là Sáu Dân (Thanh Thảo), từ điểm nhìn của một nguyên thủ quốc gia (Thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã thể hiện một tầm nhìn, một tâm huyết về tương lai tươi sáng của dân tộc. Gần 3 năm (2020-2022) đất nước căng mình chống dịch Covid-19 “như chống giặc”.

Với tinh thần chiến sĩ, văn chương lại “lên đường”, do đặc thù thể loại, trường ca vẫn là thể xung kích. Các tác phẩm “Giữa mùa đại dịch” (Lê Anh Dũng), “Corona” (Xuân Trường), “Hồi sinh” (Lữ Mai)... không chỉ tái hiện không gian “chiến trường” đặc biệt, cơ bản hơn làm nổi bật tình người Việt Nam đoàn kết, nhân ái, vị tha, thật giàu có niềm tin.

Thơ trẻ hôm nay viết về Tổ quốc vẫn hay, đầy hứa hẹn. Ví như thơ của Hoàng Anh Tuấn trong bài “Chơi hội chọi dê”: “Chọi dê mở giữa lòng mường/ Đạp mây phủ núi, vén sương giăng rừng/ Bàn chân ngấm rượu đỏ phừng/ Rộn ràng kèn trống, tưng bừng cồng chiêng”. Một lễ hội của người Tày rộn rã nhưng diễn tả tài hoa trong lục bát Việt.

Tổ quốc hùng vĩ và trong sáng, thân thương và đơn sơ, giản dị trong “Biên cương gửi nhớ” của nhà thơ nữ tài năng Phạm Vân Anh: “Ở nơi này tìm thấy một tình yêu/ Trong thế núi dáng sông/ Bên nhà dựng sát nhà, mái kề liền mái/ Dưới vầng mặt trời ngày lại ngày giục con gà gáy sáng/ Trên con đường sắc đỏ trải mênh mông”. Những khám phá tinh tế, mới mẻ ấy giúp chúng ta tin hình tượng Tổ quốc tiếp tục tỏa sáng, thăng hoa trong những sáng tác mới.

4. Về thi pháp, gần đây nổi lên hai hướng chính là kiến tạo biểu tượng và sử dụng ngôn ngữ đậm chất thơ. Thực ra, con đường kiến tạo chung của văn học là bằng biểu tượng nhưng không phải tác giả nào cũng thành công bởi biểu tượng luôn vừa mang nét nghĩa chung của cộng đồng, truyền thống vừa mang nét cá tính, ý nghĩa riêng, mới mẻ. Nếu không có cái riêng, cái mới thì chỉ là sự phục dựng lại những mô hình cũ.

Một số tác phẩm đã nhắc ở trên nói chung đã vượt thoát ra cái chung để nói lên tiếng nói riêng. Ở khu vực tiểu thuyết lịch sử, ngay tên gọi đã cho thấy hướng kiến tạo biểu tượng chính là nhân vật trung tâm (Phùng Vương, Hồ Quý Ly, Nguyễn Du...). Cái mới ở đây là cố gắng vươn tới sự phân tích tâm lý nhân vật, cao hơn là phân tích tâm lý cộng đồng (tộc người) để lý giải vì sao có hành động ấy, sự kiện ấy. Nhiều tác phẩm ở thể tài khác đã tự xây dựng một biểu tượng riêng. Tổ quốc hóa thân vào biển, vào dải biên cương, vào cây sa mộc, vào lễ hội...

Rõ ràng sự kiến tạo hình tượng mới mẻ như thế đòi hỏi vốn sống, sức tưởng tượng, liên tưởng... Tên trường ca “Sa mộc” thật gợi, gợi về nơi biên cương, về sự vươn cao, về ý chí... Đó chính là Tổ quốc biểu hiện cụ thể ở những phẩm chất của loài cây xanh thường chỉ mọc ở miền núi đá...

Chất thơ ngoài thể hiện ở hình ảnh, chọn từ đặt câu (tu từ) chủ yếu thể hiện ở tình cảm, tâm trạng, nhất là khai thác mạch nguồn văn hóa. Chất thơ của văn hóa luôn bay lên cùng huyền thoại, lãng đãng ẩn hiện trong các phong tục cổ xưa. Do vậy, một thủ pháp ưa thích là đẩy hình tượng vào không gian huyền thoại, nhờ vậy mới có thể “hạ thủy” được “những giấc mơ”, mới có thể bay “ngang bình minh”... để nhìn ngắm, chiêm nghiệm...

Nhưng đòi hỏi năng lực phân tích tinh tế và khái quát cao. Có vậy bạn đọc mới cảm thấy không còn là “tiếng đàn môi” mà là tiếng của tình yêu khắc khoải, da diết, vẳng xa hơn là tiếng của ngày xưa với những tập tục đầy mê hoặc. Mới hiểu sâu hơn không chỉ là hương vị cái bánh khúc mà đó là hương vị đồng đất quê hương, hương vị tình người, tình đời... Những hướng tiếp cận này trở về truyền thống để tạo ra sự khác lạ, phù hợp với hướng đi chung của văn chương thế giới trong thời buổi hội nhập và toàn cầu hóa./.


Quân đội đã thực hiện có hiệu quả chức năng tham mưu, đề xuất những chủ trương thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới,

 

Quân đội đã thực hiện có hiệu quả chức năng tham mưu, đề xuất cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ về những chủ trương thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tăng cường thế trận quốc phòng, khả năng tác chiến phòng thủ, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu, đề xuất để Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định đường lối, nhiệm vụ quân sự - quốc phòng, kế hoạch phòng thủ đất nước, phương án tác chiến chiến lược, tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân. Trong đó đã coi trọng đề xuất hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, hệ thống quan điểm, giải pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới. Tăng cường khả năng phòng thủ biển, đảo, phối hợp với các lực lượng, các mặt đấu tranh khác để xử lý các tình huống kịp thời, phù hợp, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia trên vùng biển đảo. Tổ chức có hiệu quả xây dựng các công trình trên tuyến biên giới đất liền, kết hợp với phân giới cắm mốc, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia. Phối hợp với các lực lượng giữ gìn trật tự xã hội, không để xảy ra bạo loạn lật đổ, bạo loạn vũ trang, giải quyết kịp thời các vụ biểu tình, gây rối, giữ vững an ninh chính trị, phòng chống có hiệu quả chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Duy trì tốt khả năng sẵn sàng chiến đấu, tổ chức tốt việc huấn luyện, diễn tập trong các khu vực phòng thủ, thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và chuẩn bị các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

 CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - BIỂU TƯỢNG CỦA TINH HOA VÀ KHÍ PHÁCH DÂN TỘC VIỆT NAM

Nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh là nói đến biểu tượng của tinh thần yêu nước, khí phách anh hùng và khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam. Tất cả những gì tốt đẹp nhất của dân tộc ta trong hàng nghìn năm lịch sử đều được kết tinh, hun đúc, sống dậy, tràn đầy sức mạnh hơn bao giờ hết trong cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, trong thời đại Hồ Chí Minh. 

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh hàm chứa những giá trị tinh thần cao quý như độc lập, tự do, hạnh phúc, loại bỏ bất công, bất bình đẳng, hòa bình và công lý, một thế giới mới chống lại đói nghèo, bệnh tật, dốt nát.

Chủ nghĩa yêu nước, giá trị hàng đầu, nhất quán, sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam xuất hiện từ thời cổ đại, phát triển qua các giai đoạn lịch sử, đến thời đại Hồ Chí Minh, là một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam và nếu dùng từ “đạo” với nguyên nghĩa của nó là “đường”, là hướng đi thì đích thực là đạo Việt Nam”(1). Trải qua các giai đoạn lịch sử từ cái nôi Văn Lang - Âu Lạc đến thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc chống đô hộ Hán, Đường, qua kháng chiến chống xâm lược thế kỷ X đến thế kỷ XVIII, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có cách biểu hiện cao thấp, sắc thái khác nhau, nhưng ngày càng phát triển cả bề rộng và sâu, đậm đà cốt cách Việt Nam. Đến giai đoạn lịch sử cận đại, khi triều Nguyễn lên ngôi, giai cấp phong kiến Việt Nam từng bước từ bỏ ngọn cờ yêu nước, giai cấp tư sản không đủ sức giương cao ngọn cờ yêu nước, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được giai cấp công nhân nâng lên một tầm cao mới.

Được ánh sáng khoa học, cách mạng và nhân văn của chủ nghĩa Lênin (chủ nghĩa Mác - Lênin) soi sáng, Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản. Từ đó trở đi, Người cùng với Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam - Đảng do Người sáng lập và rèn luyện - phát kiến lại chủ nghĩa yêu nước truyền thống, đưa vào những nội dung mới, chất lượng mới, trở thành một bộ phận của tinh thần quốc tế, kết hợp nhuần nhuyễn, phát huy một cách hài hòa với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong toàn bộ tiến trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa yêu nước là thứ của quý, động lực tinh thần lớn nhất cho cách mạng, kháng chiến và xây dựng. Người khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(2). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước “có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh phát kiến lại chủ nghĩa yêu nước truyền thống không phải bằng lý luận, sách vở thuần túy mà chủ yếu thông qua thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Người sử dụng liên tục chủ nghĩa yêu nước như một vũ khí và rèn luyện vũ khí ấy ngày càng sắc bén trong trường kỳ cách mạng và kháng chiến. Người chỉ rõ: “Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân ta đã mấy năm trường chịu đựng trăm đắng nghìn cay, kiên quyết đánh cho tan bọn thực dân cướp nước và bọn Việt gian phản quốc, kiên quyết xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, một nước Việt Nam dân chủ mới”(4).

Sau gần 90 năm (1858-1945), dân tộc ta đánh Pháp, Nhật và chế độ phong kiến với tinh thần Hồ Chí Minh trong lời hiệu triệu: “Dân ta một cổ hai tròng. Đã làm trâu ngựa cho Tây, lại làm nô lệ cho Nhật. Trước tình cảnh đau đớn, xót xa ấy, ta có chịu khoanh tay chờ chết không? Không, quyết không! Hơn 20 triệu con Lạc cháu Hồng quyết không chịu làm vong quốc nô lệ mãi!... Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm”(5). Cuối cùng, chúng ta đã thắng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân tộc ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa… Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!(6).

Khi thực dân Pháp trở lại cướp nước ta một lần nữa, lời hịch của ông cha ta tự ngàn xưa vang vọng trong lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Chúng ta phải đứng lên… Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”(7). Sau chín năm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn, đem thân làm giá súng”, chúng ta đã viết nên thiên sử vàng Điện Biên, lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Hơn hai mươi năm tiếp theo, khi đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ở cả miền Nam và miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ hào khí Việt Nam, khảng khái tuyên bố rằng đế quốc Mỹ có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(8). “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn… Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”(9). Cuối cùng, Mỹ phải cút, ngụy phải nhào, Tổ quốc thống nhất, giang sơn thu về một mối. Chúng ta “có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”(10).

Nhiều dân tộc trên thế giới bị xâm lược và đứng lên chống xâm lược, không riêng Việt Nam, nhưng như Việt Nam thì không nhiều. Nhiều người nước ngoài không hiểu nổi sức mạnh của dân tộc Việt Nam là gì? Vì sao dân tộc Việt Nam thời trung đại, không những không bị Hán hóa, mà còn giành được độc lập dân tộc? Ba lần đánh bại quân Mông, Nguyên, những kẻ luôn luôn chiến thắng từ Á sang Âu? Từ một nước nông nghiệp, khoa học kỹ thuật kém phát triển, đã vùng lên giải phóng, đánh bại các cuộc xâm lược của các đế quốc hùng mạnh là Pháp và Mỹ? Còn nhiều câu hỏi vẫn phải tiếp tục tìm câu trả lời hoàn toàn thuyết phục.

Việt Nam đất không rộng, người không đông, vũ khí súng đạn không nhiều, không lớn, luôn phải đối mặt với những cường quốc to lớn hơn mình gấp nhiều lần. Vậy khí phách của dân tộc Việt Nam là gì? Câu trả lời nằm ở chỗ một dân tộc biết đặt tâm lý tinh thần độc lập tự cường lên hàng đầu; luôn coi trọng luân lý biết hy sinh lợi ích cá nhân mình, làm lợi cho quần chúng. Những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh kéo dài hàng nghìn năm đã nhào nặn tâm hồn Việt Nam, đạo lý và khí phách Việt Nam. Chúng ta tự hào về một dân tộc rắn rỏi, kiên trung, hiên ngang, có tinh thần độc lập tự chủ, lạc quan, sáng tạo, thương người, chính nghĩa, đại nghĩa, trước “sóng cả không ngã tay chèo”.

Những giá trị đó có tự ngàn xưa, được vun bồi, kết tinh, sống dậy trong Hồ Chí Minh, phát sáng hào quang. Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng rực rỡ của cuộc chiến đấu giành tự do; là mẫu mực xuất chúng về mọi đức tính nhân đạo, tượng trưng cho tinh thần của dân tộc “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(11); “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(12); “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp mình đã”(13). Để khởi nghĩa thắng lợi, Người khái quát và nâng cao tinh thần, khí phách của dân tộc: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(14).

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tuyệt vời về nhiệt tình, chí khí cách mạng kiên cường, khí phách anh hùng, tinh thần độc lập tự do, một lòng kiên trì cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ, lâu dài, phức tạp, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; thắng không kiêu, bại không nản. Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ phẩm chất của một nhà yêu nước chân chính, một chiến sĩ cách mạng vô sản dũng cảm kiên cường, triệt để, suốt đời hy sinh phấn đấu với niềm tin và tư thế của một người chiến thắng. Đó là khí phách và khát vọng của những người được sứ mạng lịch sử trao cho là đánh đổ xã hội cũ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng xã hội mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy dân làm gốc.

Nguyễn Trãi viết: “Lấy đại nghĩa thắng hùng tàn/Dùng chí nhân thay cường bạo”.

“Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Càn khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt tối rồi lại minh

Để mở nền muôn thuở thái bình

Để rửa nỗi nghìn thu sỉ nhục”.

Đó là một khía cạnh đặc trưng thuộc tinh hoa và khí phách của dân tộc Việt Nam - tinh hoa và khí phách về khát vọng đổi mới, hạnh phúc và phát triển bền vững, thái bình. Hồ Chí Minh tiếp nối, phát triển, nâng cao khát vọng đó với tâm nguyện đến ngày thắng lợi sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, hơn mười ngày nay. Trong Di chúc, Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(15).

Thế giới khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chiến sĩ cộng sản theo chủ nghĩa quốc tế, đồng thời tượng trưng cho dân tộc mình, một dân tộc trải qua hàng nghìn năm lịch sử, từ thời cổ trung đại đến cận hiện đại đã tiến hành liên tục các cuộc đấu tranh anh hùng để bênh vực những giá trị đạo đức cao cả, chân chính không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà cả với nhân loại, đó là quyền sống, độc lập, tự do, hạnh phúc, công lý cho mọi dân tộc và vì mọi người, bình đẳng giữa các dân tộc, thế giới hòa bình.

Năm 1980, trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới, Rômét Chanđra nhấn mạnh: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”(16).

Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ phẩm chất của một nhà yêu nước chân chính, một chiến sĩ cách mạng vô sản dũng cảm kiên cường, triệt để, suốt đời hy sinh phấn đấu với niềm tin và tư thế của một người chiến thắng. Đó là khí phách và khát vọng của những người được sứ mạng lịch sử trao cho là đánh đổ xã hội cũ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng xã hội mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy dân làm gốc.

Hai mươi năm sau, năm 2000, trên cương vị Chủ tịch danh dự Hội đồng Hòa bình thế giới, phát biểu trong Hội thảo quốc tế “Việt Nam trong thế kỷ XX”, Rômét Chanđa có một phát hiện độc đáo khác: “Trong nửa sau thế kỷ XX, có một từ đã xuất hiện trong tiếng nói của những người bảo vệ và kiến tạo hòa bình trên thế giới, một từ mà cùng một lúc mang rất nhiều ý nghĩa: đấu tranh, dũng cảm, anh hùng; và nó còn có ý nghĩa là chiến thắng, độc lập, tự do. Từ đó là Việt Nam. Và có một cái tên luôn luôn gắn với từ này - từ chỉ tên của một đất nước. Đó là Hồ Chí Minh… Người là niềm cảm hứng cho cuộc đấu tranh bất khuất của dân tộc mình, và cũng là nguồn cảm hứng cho tất cả các dân tộc đang đấu tranh cho những điều tốt đẹp nhất của nhân loại. Lời nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã vang vọng khắp mọi nơi và nó đã được phụ nữ, nam giới trên khắp các châu lục, những người đang chiến đấu để giành lấy những mục tiêu thiêng liêng đó, hưởng ứng”(17).

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, “một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”(18).

Vĩnh biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định: “Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn nghìn năm lịch sử. “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó là lời kêu gọi cứu nước khẩn thiết hiện nay của Tổ quốc, là lời hịch của ông cha ta vang vọng tự ngàn xưa, là nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta đối với muôn đời con cháu”(19). Người “là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta”(20).

Đánh giá, ghi nhận của Đảng ta và bè bạn quốc tế là sự khái quát cao, cô đọng, súc tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu tượng cho tinh hoa và khí phách của nhân dân Việt Nam anh hùng.

Cần biết phân hóa kẻ thù để bảo vệ vững chắc Tổ quốc và thành quả cách mạng

 

Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc và thành quả cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi phải biết phân hóa kẻ thù, tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà sử dụng các hình thức, phương pháp, sách lược đấu tranh để từng bước giải quyết các mâu thuẫn, giữ vững mục tiêu chiến lược, thực hiện nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.  “Vn biến” chỉ sự linh hoạt, sáng tạo về sách lược, “bất biến” mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “bất biến” phải xoay quanh cái trc “bt biến” ca nó. Mi quan h bin chng gia “bt biến” và “vn biến” đã được Người nhn thc và gii quyết trit để, nht quán và đầy sáng to trong các giai đon lch s cách mng khác nhau. Mc tiêu chiến lược - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là bt di bt dch; nhưng tùy hoàn cnh c th trong nước và quc tế, tùy tng giai đon lch s mà đề ra nhng sách lược uyn chuyn, phù hp, khéo lựa chiều liên minh, thảo hiệp để tập trung lực lượng đánh thắng kẻ thù cơ bản, từng bước giải quyết các mâu thuẫn để bảo vệ thành quả cách mạng.

Sau khi Cách mng Tháng Tám thành công, đất nước gặp rất nhiều khó khăn, vận mệnh của dân tộc như “ngàn cân treo si tóc”: nn đói hoành hành, tài chính kit qu, chính quyn còn non tr li phi cùng mt lúc đương đầu vi thù trong, gic ngoài. Nhn rõ mâu thun gia hai tp đoàn đế quc Anh - Pháp và M - Tưởng trong vn đề Đông Dương và căn c vào âm mưu, hành động c th ca của chúng đối vi chính quyn cách mng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương thc hin sách lược hòa vi Tưởng để kháng chiến chng Pháp. V phía ta, đồng ý cho mt s tên tay sai ca Tưởng tham gia chính ph liên hip lâm thi. Đây là gii pháp linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả nhất nhằm thêm bn, bt thù có li cho cách mng, là sng vn biến” trong tình thế đất nước đang lâm nguy để bảo vệ Tổ quốc và thành quả cách mạng mới giành được.

Tư tưởng đó được quán triệt và vận dụng sáng tạo trong các cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược, góp phần đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, thống nhất đất nước.

Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phải do Đảng lãnh đạo.

 

Theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải do Đảng lãnh đạo. Người chỉ rõ: “Đảng và Chính phủ phải đoàn kết và lãnh đạo toàn dân, ra sức củng cố và xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời đấu tranh để thống nhất nước nhà, trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình, góp phần bảo vệ công cuộc hoà bình ở Á Đông và trên thế giới”[1]. Người tin tưởng rằng: với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chính phủ, với sự đoàn kết nhất trí, lòng tin tưởng vững chắc và tinh thần tự lực cánh sinh của mình, sự giúp đỡ của các nước anh em, với sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới nhất là nhân dân các nước Á - Phi, nhân dân ta nhất định khắc phục được mọi khó khăn, làm tròn được nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng và Chính phủ đã đề ra.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8,  Nxb CTGQ, Hà Nội 1996, trang 483.

Phát huy sức mạnh tổng hợp trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

             Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đó là sức mạnh của toàn dân tộc, của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở, là sức mạnh của nhân tố chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá - xã hội, sức mạnh truyền thống với hiện đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân, coi đó là lực lượng chủ chốt để bảo vệ Tổ quốc. Người căn dặn: “Chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội…”[1].



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9,  Nxb CTGQ, Hà Nội 2000, trang 140.